Tải bản đầy đủ (.docx) (22 trang)

TRƯỜNG đại học KINH tế TP

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (131.94 KB, 22 trang )

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TR Ị

BÀI THU HOẠCH MÔN TRIẾT HỌC
ĐỀ TÀI: VIỆC KẾT HỢP CÁC MẶT ĐỐI LẬP VÀ VẬN DỤNG
LÝ LUẬN NÀY VÀO VIỆC GIẢI QUYẾT CÁC MÂU THUẪN
NẢY SINH TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH HOẶC
TRONG ĐỜI SỐNG HẰNG NGÀY.

Người hướng dẫn khoa học:

TS Trần Nguyên Ký

SVHT: Nguyễn Ngọc Hoài Thương
Lớp : DH45DC022


MỤC LỤC
1. Đặt vấn đề.
2. Nội dung.
a) Tư tưởng biện chứng mácxít về sự kết hợp các mặt
đối lập.
b)Vận dụng lý luận kết hợp các mặt đối lập vào việc
giải quyết các mâu thuẫn nảy sinh trong hoạt động
kinh doanh, trong đời sống hằng ngày.
3. Kết luận.
4. Tài liệu tham khảo.


1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Đất nước ta đã và đang trong quá trình đổi mới, phát triển nền kinh tế thị trường định


hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế, kinh tế khu vực. Đây là một đường lối
đúng đắn, phù hợp với xu thế quốc tế hóa, toàn cầu hóa kinh tế hiện nay, song để thực
hiện đã và đang gặp không ít khó khăn. Bởi vì, một mặt, do ảnh hưởng của tư duy cũ,
vẫn tồn tại quan niệm tuyệt đối hóa sự đối lập giữa xã hội xã hội chủ nghĩa và xã hội
tư bản chủ nghĩa, giữa kinh tế thị trường và chủ nghĩa xã hội, chấp nhận cái này thì
phải loại bỏ cái kia; mặt khác, toàn cầu hóa kinh tế hiện nay thực sự đang bị chủ
nghĩa tư bản chi phối. Nếu thực thi việc phát triển kinh tế thị trường định hướng xã
hội chủ nghĩa và hội nhập kinh tế quốc tế không tốt, sẽ dẫn tới nguy cơ mất định
hướng xã hội chủ nghĩa, thậm chí mất độc lập chủ quyền dân tộc.
Để tránh nguy cơ đó và nhằm thúc đẩy công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội
(CNXH) ở nước ta hiện nay, một trong những giải pháp cần thực hiện là kết hợp biện
chứng các mặt đối lập. Đây là một giải pháp thực tiễn xuất phát từ việc vận dụng lý
luận biện chứng mácxít về mâu thuẫn và giải quyết mâu thuẫn.
Bên cạnh đó, trong xã hội vẫn còn tồn tại quan niệm không đúng về mâu thuẫn, về
các mặt đối lập, coi đây là những hiện tượng bất bình thường cần phải loại trừ. Quan
niệm phiến diện này cản trở quá trình giải quyết mâu thuẫn nảy sinh trong xã hội. Nó
gây khó khăn cho việc kết hợp đúng đắn các mặt đối lập nhằm đem lại những lợi ích
thiết thực cho công cuộc xây dựng CNXH ở nước ta.
Điều đó chứng tỏ, trong công cuộc xây dựng CNXH ở nước ta hiện nay, việc kết hợp
các mặt đối lập một cách biện chứng, có nguyên tắc theo tinh thần của V.I.Lênin, là
một đòi hỏi cấp thiết. Đồng thời nó cũng cho thấy vấn đề kết hợp các mặt đối lập cần
phải được làm sáng tỏ hơn nữa trên bình diện lý luận biện chứng mácxít. Việc này có
ý nghĩa quan trọng thiết thực đối với công cuộc đổi mới, quá trình xây dựng, phát
triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập kinh tế quốc tế của
nước ta hiện nay.
Vì vậy việc kết hợp các mặt đối lập một cách biện chứng theo tinh thần của V.I.Lênin
mang một vấn đề quan trọng. Và đề tài của bài thu hoạch này là: việc kết hợp các mặt
đối lập và vận dụng lý luận này vào việc giải quyết các mâu thuẫn nảy sinh trong
hoạt động kinh doanh hoặc trong đời sống hằng ngày.



2. NỘI DUNG:
a) TƯ TƯỞNG BIỆN CHỨNG MÁCXÍT VỀ SỰ KẾT HỢP CÁC MẶT ĐỐI LẬP
Trong lý luận biện chứng mácxít, vấn đề mâu thuẫn nói chung, vấn đề kết hợp
biện chứng các mặt đối lập nói riêng luôn được chú ý xem xét giải quyết. Kế thừa
tư tưởng biện chứng của Hêghen, các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác-Lênin
luôn khẳng định mâu thuẫn sự vật, biểu hiện ở cuộc đấu tranh và thống nhất các
mặt đối lập, là nguồn gốc, động lực của sự phát triển sự vật đó. Giải quyết vấn đề
này, C. Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin một mặt khẳng định vai trò của cuộc đấu
tranh giữa các mặt đối lập, mặt khác cũng khẳng định vai trò của sự thống nhất
giữa chúng. Chính từ cơ sở đó, với tư cách là những nhà “triết học thực tiễn”,
những nhà “duy vật chiến đấu”, các ông đã đi đến tư tưởng biện chứng về sự kết
hợp các mặt đối lập trong thực tiễn cách mạng. Nói một cách khác, trong tư tưởng
biện chứng của C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin về mâu thuẫn, khi quan niệm
nguồn gốc của mọi sự vận động, phát triển của sự vật khách quan đều bắt nguồn
từ mâu thuẫn bên trong, các ông luôn chú trọng giải quyết những vấn đề liên quan
đến mâu thuẫn, đó là vấn đề thống nhất, vấn đề đấu tranh và vấn đề kết hợp các
mặt đối lập. Trong đó vấn đề kết hợp các mặt đối lập đã được các ông xem xét với
tính cách là một biểu hiện hoạt động của chủ thể con người trong việc giải quyết
một số mâu thuẫn xã hội cụ thể nhất định, trên cơ sở nhận thức sự đấu tranh và
thống nhất giữa các mặt đối lập trong mâu thuẫn này. Vì thế, việc xem xét tư
tưởng của C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin về vấn đề thống nhất và đấu tranh giữa
các mặt đối lập được các ông thể hiện trong phép biện chứng duy vật là điều cần
thiết để hiểu rõ về vấn đề kết hợp các mặt đối lập.
Đề câp đến vấn đề đâí tranh giữa các mặt đối lập, C.Mác, Ph.Ăngghen cho rằng,
sở dĩ các mặt đối lập luôn đấu tranh với nhau vì bắt nguồn từ bản chất các mặt đối
lập. Chính sự đối lập, trái ngược căn bản giữa những mặt, những yếu tố, những
khuynh hướng vận động trong một sự vật, hiện tượng đã tạo nên sự đấu tranh giữa
chúng.
Chính với nhận thức như vậy, khi phân tích phép biện chứng của Hêghen, C.Mác,

Ph.Ăngghen đã phê phán sai lầm của Hêghen ở chỗ đã không chú ý tới vấn đề đấu
tranh giữa các mặt đối lập, thậm chí muốn dung hòa, xoa dịu, làm mờ đi cuộc đấu
tranh của chúng. Trong phép biện chứng duy tâm của Hêghen, một mặt ông coi
“mâu thuẫn là nguồn gốc của mọi sự vận động và của tất cả mọi sự sống” và “tất
cả mọi vật đều có tính chất mâu thuẫn trong bản thân nó”, mặt khác, khi phải đề
cập tới việc giải quyết mâu thuẫn, ông lại cố tình quên đi khía cạnh đấu tranh của
các mặt đối lập, khẳng định sự giải quyết mâu thuẫn thông qua sự thống nhất của


chúng trong ý niệm. C.Mác, Ph.Ăngghen đã vạch rõ sai lầm duy tâm đó của
Hêghen như sau:
Sai lầm chủ yếu của Hêghen là chỗ ông biết mâu thuẫn của hiện tượng là sự thống
nhất trong bản chất, trong ý niệm, kỳ thực bản chất của mâu thuẫn ấy cố nhiên là
một cái gì đó sâu sắc hơn, cụ thể đó là mâu thuẫn có tính bản chất.
Khi khẳng định cuộc đấu tranh giữa các mặt đối lập sẽ dẫn tới việc giải quyết mâu
thuẫn của bản thân sự vật, hiện tượng khách quan, làm cho sự vật, hiện tượng phát
triển, C.Mác và Ph.Ăngghen cũng cho rằng vai trò của từng mặt đối lập trong mâu
thuẫn là không giống nhau. Trong hai mặt đối lập, tùy vào từng hoàn cảnh, thời
điểm cụ thể sẽ có một mặt thể hiện tính tất yếu của sự phát triển. Trong quá trình
đấu tranh, chuyển hóa giữa chúng, mặt đối lập này sẽ chiến thắng mặt đối lập kia,
từ đó thúc đẩy sự phát triển của sự vật. Vì thế, hai ông vạch rõ, không thể có một
sự thỏa hiệp giữa hai mặt đối lập dẫn tới xóa nhòa mâu thuẫn, kìm hãm sự phát
triển.
Có thể thấy rõ những tư tưởng của C.Mác, Ph.Ăngghen về vai trò của đấu tranh
giữa các mặt đối lập trong quá trình giải quyết mâu thuẫn, thông qua sự phân tích
của hai ông về mâu thuẫn giữa hai giai cấp: tư sản và vô sản, biểu hiện trong các
tác phẩm “Tuyên ngôn của Đảng cộng sản” và “Tư bản”. Trong các tác phẩm này,
các ông đã chỉ rõ chính giai cấp vô sản mới là người đại diện cho phương thức sản
xuất mới, tiến bộ. Cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản chống tư sản chính là cuộc
đấu tranh vì sự phát triển, tiến bộ xã hội.

Tiếp thu tư tưởng biện chứng của C.Mác và Ph.Ăngghen, V.I.Lênin sau này cũng
đã nhấn mạnh tới vấn đề đấu tranh giữa các mặt đối lập; đến mối quan hệ giữa
cuộc đấu tranh của chúng đối với sự phát triển của sự vật, hiện tượng khách quan.
Theo V.I.Lênin, thì sự phát triển chẳng qua “là một cuộc “đấu tranh” giữa các mặt
đối lập”. Chính cuộc đấu tranh này đã dẫn đến việc mâu thuẫn bên trong của sự
vật được diễn ra liên tục và mang tính khách quan, tự thân. V.I.Lênin viết:
Sự phát triển của sự vật ấy “(Respective (cũng như) của hiện tượng), sự vận động
của chính nó, đời sống của chính nó”, và…”Những khuynh hướng (và…những
mặt) mâu thuẫn bên trong của sự vật ấy” “Sự đấu tranh Respective sự triển khai
của các mặt đối lập ấy”, của những khuynh hướng mâu thuẫn.
Đối với V.I.Lênin, một quan niệm biện chứng thực sự bắt buộc người ta phải thừa
nhận “…những khuynh hướng mâu thuẫn, bài trừ lẫn nhau; đối lập trong tất cả các
hiện tượng và quá trình của giới tự nhiên (kể cả tinh thần và xã hội)”.


Như vậy, có thể khẳng định rằng, trong tư tưởng của các nhà kinh điển của chủ
nghĩa Mác-Lênin, vai trò của sự đấu tranh giữ các mặt đối lập trong mâu thuẫn đối
với sự phát triển của sự vật được đánh giá rất cao. Chính cuộc đấu tranh giữa các
mặt đối lập đã dẫn tới sự việc giải quyết mâu thuẫn và qua đó làm cho sự vật phát
triển. Chính vì thế, về mặt phương pháp luận, cần phải nhận thức được rằng, trong
quá trình giải quyết một mâu thuẫn xã hội cụ thể nào đó, đòi hỏi chủ thể hoạt động
phải có thái độ tôn trọng cuộc đấu tranh giữa các mặt đối lập trong mâu thuẫn, tạo
điều kiện để các mặt đối lập thực hiện tốt cuộc đấu tranh nhằm thúc đẩy sự phát
triển của sự vật, hiện tượng. Hơn nữa, trong lĩnh vực xã hội, hai mặt đối lập
thường biểu hiện ra là một mặt đại diện cho cái tiến bộ, tích cực chiến thắng mặt
đối lập đại diện cho cái lạc hậu, tiêu cực.
Trong lý luận biện chứng mácxít, vấn đề thống nhất giữa các mặt đối lập giữa các
mặt đối lập trong mâu thuẫn cũng được chú ý xem xét. Với tư cách một phương
diện trong mối quan hệ giữa các mặt đối lập của mâu thuẫn, sự thống nhất các mặt
đối lập thể hiện tính ràng buộc, quy định lẫn nhau, làm điều kiện cho sự tồn tại

của nhau. Sẽ thật sai lầm nếu cho rằng các nhà lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin
chỉ coi trọng tới khía cạnh đấu tranh mà không coi trọng sự thống nhất giữa các
mặt đối lập. Trái lại, khi giải quyết vấn đề mâu thuẫn, C.Mác, Ph.Ăngghen không
dừng lại ở việc đánh giá mặt đấu tranh của các mặt đối lập, mà các ông còn ghi
nhận sự thống nhất khăng khít của chúng. Có thể thấy rằng, C.Mác và
Ph.Ăngghen đã đi tới sự phân tích, nhận thức các mặt đối lập, đánh giá quá trình
đấu tranh giữa các mặt đối lập trong mối quan hệ hữu cơ, thống nhất chặt chẽ giữa
chúng. Chẳng hạn, khi xem xét cuộc đấu tranh giữa vô sản và tư sản, các ông luôn
đặt chúng trong sự thống nhất, ràng buộc lẫn nhau, trong chỉnh thể của phương
thức sản xuất tư bản chủ nghĩa.
Đặc biệt, đến V.I.Lênin, vấn đề thống nhất của các mặt đối lập biện chứng được
xem xét một cách cụ thể hơn cả. Chúng ta dễ dàng nhận thấy rằng, mỗi khi đề cập
đến phép biện chứng duy vật, đến vấn đề mâu thuẫn biện chứng với mối quan hệ
của các mặt đối lập trong mâu thuẫn, V.I.Lênin luôn nhắc tới khía cạnh thống nhất
trong mối quan hệ đó. Theo V.I.Lênin, phép biện chứng chẳng qua là:
Học thuyết vạch ra rằng những mặt đối lập làm thế nào mà có thể và thường là
(trở thành) đồng nhất-trong những điều kiện nào chúng là đồng nhất, bằng cách
chuyển hóa lẫn nhau và tại sao lý trí con người không nên xem những mặt đối lập
ấy là chết, cứng đờ, mà là sinh động, có điều kiện, năng động, chuyển hóa lẫn
nhau.
Thậm chí, V.I.Lênin đã khẳng định rõ ràng:


Có thể định nghĩa vắn tắt phép biện chứng là học thuyết về sự thống nhất giữa các
mặt đối lập. Như thế là nắm được hạt nhân của phép biện chứng, nhưng điều đó
đòi hỏi phải có sự giải thích và một sự phát triển thêm.
Trong lý luận về mâu thuẫn của V.I.Lênin, sự thống nhất các mặt đối lập biện
chứng là một thực tế khách quan chứ không phải do sự suy nghĩ chủ quan của con
người tạo ra. Không những thế, sự thống nhất của chúng đóng một vai trò đặc biệt
quan trọng đối với sự đấu tranh, sự bài trừ lẫn nhau của các mặt đối lập và qua đó

có vai trò quan trọng đốii với sự phát triển của sự vật. Ở đây, khi đặt vấn đề về
tính khách quan và vai trò của sự thống nhất các mặt đối lập, V.I.Lênin cũng cảnh
báo về thái độ xem nhẹ mặt này trong quan hệ giữa các mặt đối lập. Người viết:
“Thường người ta không chú ý đầy đủ đến mặt này của phép biện chứng (…): sự
đồng nhất của các mặt đối lập được coi như một tổng số các thí dụ (…), mà không
được coi như là quy luật của nhận thức (và như là quy luật của thế giới khách
quan).” Theo V.I.Lênin:
Sự đồng nhất của các mặt đối lập (“Sự thống nhất” của chúng, nói như vậy có lẽ
đúng hơn? Tuy ở đây sự phân biệt giữa từ đồng nhất và thống nhất không quan
trọng lắm. Theo một nghĩa nào đấy, cả hai đều đúng), đó là sự thừa nhận (sự tìm
ra) những khuynh hướng mâu thuẫn, bài trừ lẫn nhau, đối lập, trong tất cả hiện
tượng và quá trình của giới tự nhiên (kể cả tinh thần và xã hội). Điều kiện của một
sự nhận thức về tất cả các quá trình của thế giới trong sự “tự vận động” của chúng,
trong sự phát triển tự phát của chúng, trong đời sống sinh động của chúng là sự
nhận thức chúng với tích cách là sự thống nhất các mặt đối lập.
Rõ ràng, theo V.I.Lênin, khi nói tới mâu thuẫn của sự vật, nói tới các mặt đối lập
tạo thành mâu thuẫn, với cuộc đấu tranh của chúng thì cũng phải nói tới sự thống
nhất tất yếu giữa các mặt đối lập này. Đấu tranh là đấu tranh của hai mặt đối lập
trong thể thống nhất. Thống nhất là sự thống nhất của hai mặt đối lập đang không
ngừng bài trừ nhau, đấu tranh biểu hiện như là điều kiện cần để có thể thực hiện
được cuộc đấu tranh giữa chúng và qua đó mới có thể thực hiện được sự phát triển
của bản thân sự vật. Một sự vật chỉ có thể tồn tại và phát triển nếu bản thân nó
chứa đựng một sự thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập của nó, Ở đây, có
một sự gắn bó chặt chẽ giữa thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập. Thống
nhất là điều kiện đấu tranh, muốn đấu tranh thì phải thống nhất, đồng thời thống
nhất là để dẫn tới đấu tranh. Đấu tranh là nội dung bên trong của thống nhất, còn
thống nhất là hình thức chuyển tải đấu tranh. Chỉ trên cơ sở gắn bó hữu cơ giữa
thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập thì mâu thuẫn đó mới có điều kiện giải
quyết, từ đó làm cho sự vật phát triển. Theo nghĩa đó, cũng có thể khẳng định sự
thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập trong mâu thuẫn, hay nói gọn, chính



mâu thuẫn khách quan (sự tồn tại và sự giải quyết nó) là nguồn gốc của sự phát
triển. Nếu như chỉ có đấu tranh thì sự vật sẽ không có lý do để tồn tại với tư cách
là sự vật. Còn nếu chỉ có thống nhất thì sự vật không thể phát triển được.
Khi đánh giá về tác động của sự thống nhất và đấu tranh giữa hai mặt đối lập đối
với quá trình vận động và phát triển, cũng cần thấy rằng, mặc dù gắn bó chặt chẽ
với nhau, song tác động của chúng đối với sự phát triển của sự vật ở đây không
phải lúc nào cũng như nhau, cân bằng với nhau, V.I.Lênin cho rằng:
Sự thống nhất (phù hợp, đồng nhất, tác dụng ngang nhau) của các mặt đối lập là
có điều kiện, tạm thời, thoáng qua, tương đối. Sự đấu tranh của các mặt đối lập,
bài trừ lẫn nhau là tuyệt đối, cũng như sự phát triển, sự vận dộng là tuyệt đối.
Ở đây, cần lưu ý rằng, “tính tạm thời, thoáng qua,tương đối” của sự thống nhất
cũng như tính liên tục, tuyệt đối của sự đấu tranh giữa các mặt đối lập trong nhận
định trên của V.I.Lênin không đơn giản chỉ biểu hiện ở khía cạnh thời gian như
một số ý kiến. Chẳng hạn, trong một số sách giao khoa triết học ở nước ta đã từng
giải thích rằng sở dĩ sự thống nhất của các mặt đối lập có tính tương đối là do nó
chỉ diễn ra ở một thời điểm nào đó. Còn sự đấu tranh giữa các mặt đối lập mang
tính tuyệt đối vì nó diễn ra liên tục, trong suốt quá trình tồn tại của sự vật. Cách
giải thích như vậy là không thỏa đáng. Bởi lẽ, quan điểm như vậy không cho
người ta thấy được vai trò của sự thống nhất giữa các mặt đối lập là điều kiện, nền
tảng cho sự đấu tranh, bài trừ giữa chúng. Với quan điểm như vậy, rõ ràng đã tách
rời giữa sự thống nhất và sự đấu tranh giữa các mặt đối lập. Quan điểm này sẽ đưa
cho người ta nhận thức rằng khi nào các mặt đối lập tiến hành đấu tranh với nhau
thì giữa chúng không có sự thống nhất, và ngược lại, khi chúng thống nhất là lúc
giữa chúng không có đấu tranh. Cách hiểu như vậy thực ra lại không biện chứng
mà trái lại, là siêu hình.
Đánh giá vấn đề này, cần lưu ý tư tưởng của V.I.Lênin khi ông so sánh giữa sự
thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập với hai trạng thái đứng im và vận
động của sự vật, V.I.Lênin coi sự đấu tranh giữa các mặt đối lập là tuyệt đối cũng

như sự vận động, phát triển là tuyệt đối. Điều đó có thể suy ra rằng, sự thống nhất
giữa các mặt đối lập, giống như sự đứng im của sự vật cũng là tương đối, song
không phải theo nghĩa đơn thuần về mặt thời gian. Nghĩa là, tương tự như đối với
trạng thái đứng im có tính tương đối của sự vật, được người ta hiểu đó chỉ là đứng
im xét theo ở từng mối quan hệ xác định cụ thể; sự thống nhất có tính tương đối
giữa các mặt đối lập trong một mâu thuẫn khách quan cũng cần được hiểu ở từng
phương diện cụ thể xác định. Cụ thể là, trong mối quan hệ giữa các mặt đối lập
của một mâu thuẫn khách quan, nhìn tổng thể, giữa chúng luôn có sự đấu tranh


với nhau. Tuy nhiên, ở từng phương diện cụ thể, ở từng phạm vi không gian, thời
gian cụ thể, giữa các mặt đối lập đó vẫn có biểu hiện thống nhất với nhau. Điều đó
quy định tính tương đối của sự thống nhất của chúng với nhau.
Chính sự nhận thức về mối quan hệ hữu cơ giữa thống nhất và đấu tranh của các
mặt đối lập như thế, cùng với quan niệm đúng đắn về sự thống nhất, sự đấu tranh
với tư cách những phạm trù triết học sẽ giúp người ta tránh rơi vào thái độ cực
đoan trong đời sống thực tiễn. Chẳng hạn, thái độ coi mâu thuẫn, đấu tranh là hiện
tượng không bình thường, kìm hãm sự phát triển của xã hội. Xã hội muốn phát
triển thì phải có sự thống nhất (sự thống nhất được hiểu là sự nhất trí, sự thống
nhất về ý chí). Từ đó đi tới hành động thủ tiêu mâu thuẫn, thủ tiêu đấu tranh; hoặc
nếu có đấu tranh lại biểu hiện ở những hành động bạo lực…Cách hiểu sai lầm dẫn
tới hành dộng cực đoan như thế thực ra đã đồng nhất khái niệm thống nhất, đấu
tranh của phép biện chứng với quan niệm thống nhất và đấu tranh ở đời thường.
Trong lý luận biện chứng mácxít, bêm cạnh vấn đề đấu tranh và thống nhất, vấn
đề kết hợp giữa các mặt đối lập cũng được đặt ra và giải quyết. Đây là biểu hiện
hoạt động tích cực, chủ động của chủ thể trên cơ sở nhận thức mâu thuẫn khách
quan, nhận thức sự thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập. Chính xuất phát
từ việc nhận thức sự thống nhất khách quan, từ những điểm chung vốn có giữa các
mặt đối lập, đồng thời cũng xuất phát từ nhu cầu hoạt động thực tiễn xã hội của
mình, con người có thể chủ động tiến hành kết hợp các yếu tố, thậm chí cả các

mặt đối lập nào đó nhằm giải quyết được những mâu thuẫn xã hội cụ thể, đem lại
lợi ích cụ thể cho chủ thể con người.
Có thể nói, khi đề cập đến vấn đề thống nhất giữa các mặt đối lập trong một mâu
thuẫn biện chứng, người ta có thể và phải tiếp cận từ ba góc độ cụ thể sau:
Thứ nhất, xem xét sự thống nhất giữa các mặt đối lập từ góc độ bản thể luận, tức
sự thống nhất khách quan vốn có của chúng. Ở góc độ này, mâu thuẫn của sự vật
được biểu hiện ra với tư cách một thể thống nhất hoàn chỉnh. Đương nhiên, đó
không phải là sự thống nhất có tính tuyệt đối, mà trái lại là một sự thống nhất
tương đối, thống nhất trong sự khác biệt, kể cả sự đối lập.
Thứ hai, xem xét sự thống nhất giữa các mặt đối lập, từ góc độ nhận thức luận. Ở
góc độ này, sự thống nhất giứa các mặt đối lập được xem như đối tượng nhận thức
của con người. Nhiệm vụ của chủ thể ở đây là phải phát hiện, vạch ra những mặt
đối lập đang tồn tại, ẩn náu bên dưới cái vỏ thống nhất hoàn chỉnh. Điều này rõ
ràng là một công việc không đơn giản, không chỉ tùy thuộc vào nhân tố chủ quan,
vào chủ thể mà còn phụ thuộc vào chính bản thân mâu thuẫn. Bởi vì, mâu thuẫn
không tự bộc lộ ra, mà nó tồn tại bên trong cái “vỏ bọc” thống nhất với những


hình thức cụ thể của nó. Để nhận thức nó, cần phải tiến hành thao tác nhận thức
như V.I.Lênin đã chỉ dẫn: “phân đôi cái thống nhất”. Có biết “phân đôi” một cái
vốn thống nhất thì mới có khẳ năng phát hiện và nắm bắt được các mặt đối lập tạo
thành mâu thuẫn.
Điều này V.I.Lênin viết như sau: “Sự phân đôi của cái thống nhất và sự nhận thức
các bộ phận mâu thuẫn của nó (…), đó là thực chất (một trong những “bản chất”,
một trong những đặc trưng hay đặc điểm cơ bản nhất) của phép biện chứng”. Cố
nhiên, “sự phân đôi” ở đây không phải là hoạt động chủ quan tùy tiện mà phải dựa
trên cơ sở tôn trọng tính khách quan của mâu thuẫn biện chứng. Nhiệm vụ của chủ
thể ở đây là phải vạch ra được sự tồn tại của các mặt đối lập trong thể thống nhất
vốn có của chúng.
Thứ ba, xem xét sự thống nhất giữa các mặt đối lập từ góc độ thực tiễn. Ở góc độ

này, trên cơ sở nhận thức sự thống nhất (và đương nhiên bao hàm cả sự đấu tranh)
giữa các mặt đối lập của một mâu thuẫn nhất định, chủ thể có thể thực hiện việc
kết hợp các mặt đối lập để từ đó tạo điều kiện giải quyết mâu thuẫn được tốt. Dĩ
nhiên, vì đây là biểu hiện hoạt động của chủ thể cho nên, việc kết hợp các mặt đối
lập cũng xuất phát từ nhu cầu, lợi ích của chủ thể. Có thể khẳng định sự kết hợp
các mặt đối lập phản ánh mối quan hệ biện chứng giữa điều kiện khách quan, tính
tất yếu khách quan với nhân tố chủ quan. Một mặt, con người với tư cách chủ thể
tiến hành hoạt động kết hợp các mặt đối lập nhằm giải quyết một mâu thuẫn xã
hội cụ thể theo hướng có lợi cho bản thân; song mặt khác, đó lại không phải là
hoạt động chủ quan tùy tiện, mà phải trên cơ sở nhận thức đúng và tuân theo
những nhu cầu khách quan, cũng như những điều kiện khách quan của việc giải
quyết mâu thuẫn đó.
Việc kết hợp các mặt đối lập trong lĩnh vực xã hội, không phải là hành động được
tiến hành với bất cứ yếu tố, mặt đối lập nào, trong bất kỳ điều kiện nào. Càng
không nên hiểu việc kết hợp này là một hành động mang tính chất chủ quan, thuần
túy, thậm chí là tùy tiện, vô nguyên tác của chủ thể hành động. Việc kết hợp các
mặt đối lập ở đây, với tư cách là hoạt động tích cực của nhận tố chủ quan, phải
được dựa trên cơ sở khách quan cụ thể, đó là những đòi hỏi tất yếu của việc kết
hợp và ở cả những điều kiện khách quan cho phép để có thể tiến hành việc kết hợp
này, Đồng thời, việc kết hợp các mặt đối lập trong đời sống xã hội cũng phải thể
hiện được tính định hướng rõ ràng. Cụ thể là việc kết hợp này phải làm sao cho
quá trình vừa thống nhất, vừa đấu tranh giữa các mặt đối lập trong một chỉnh thể
mâu thuẫn xã hội cụ thể, mặt đối lập đại diện cho sự tiến bộ sẽ dần dần chiến
thắng được mặt đối lập đại diện cho sự lạc hậu. Có như vậy, việc giải quyết mâu


thuẫn xã hội mới đem lại động lực thúc đẩy sự phát triển của xã hội, phù hợp với
quy luật phát triển khách quan của xã hội.
Sỡ dĩ như vậy là vì trong thực tế xã hội, không giống như ở giới tự nhiên, những
mâu thuẫn xã hội thường được biểu hiện thông qua thái độ, nguyện vọng của các

lực lượng xã hội. Các mặt đối lập trong chỉnh thể mâu thuẫn xã hội thường biểu
hiện ra là một mặt đại diện cho cái cũ, là lực cản sự phát triển xã hội, còn mặt kia
đại diện cho cái mới, cái thúc đẩy xã hội phát triển. Trong sự phát triển xã hội, cái
mới và cái cũ không tách rời nhau mà gắn bó với nhau, đan xen nhau, vừa thống
nhất, vừa đấu tranh với nhau. Vai trò của cái mới đối với sự phát triển xã hội chỉ
được phát huy trên cơ sở phủ định biện chứng, biết kế thừa cái cũ. Bởi vì, bản
thân cái cũ, dù là nhân tố, về căn bản, kìm hãm sự phát triển, song không vì thế
mà không còn chứa đựng những yếu tố có thể góp phần vào sự phát triển của xã
hội. Do đó, việc kết hợp các mặt đối lập – giữa cái cũ và cái mới – với tính cách là
một hoạt động tích cực chủ quan nhằm giải quyết mâu thuẫn xã hội khách quan
không thể không tiến hành và hơn nữa, không thể tiến hành một cách tùy tiện. vô
nguyên tắc, không tuân theo quy luật khách quan.
Có thể nói, lý luận Mác-Lênin về mối quan hệ biện chứng giữa điều kiện khách
quan và nhân tố chủ quan hoàn toàn xa lạ với quan điểm tả khuynh, nóng vội, chủ
quan, duy ý chí cũng như sự bảo thủ, trì trệ, thụ động trong hoạt động thực tiễn. Ở
đây, hoạt động của con người chỉ tự do trong giới hạn nhận thức và làm theo tất
yếu khách quan.
Theo tinh thần của lý luận biện chứng mácxít, khi đề cập đến việc giải quyết mâu
thuẫn biện chứng mácxít nói chung, đương nhiên phải nhận thức được rằng đó là
quá trình tự giải quyết. Tuy nhiên, đối với loại mâu thuẫn biện chứng xã hội lại có
những biểu hiện đặc thù của việc giải quyết mâu thuẫn đó. Do chỗ xã hội, trong đó
có cả quy luật xã hội, mâu thuẫn xã hội; một mặt tồn tại khách quan, độc lập với ý
thức váy chí con người; song mặt khác, xét cho cùng, lại chính do con người tạo
ra, thông qua sự tồn tại của bản thân con ngời cũng như những hoạt động tự giác
của họ. Mà khi đã nói tới hoạt động của con người thì không thể không nói đến lợi
ích, động cơ của hoạt động đó. Bới vì, hoạt động của con người (cá nhân, nhóm,
giai cấp, nhân loại…) bao giờ cũng gắn liền với những lợi ích cụ thể. Cũng vì hoạt
động của con người luôn gắn với lợi ích cho nên mâu thuẫn xã hội nảy sinh từ
hoạt động con người, suy cho cùng, chính là mâu thuẫn về mặt lợi ích, giữa những
lợi ích nhất định. Vì vậy, việc giải quyết mâu thuẫn xã hội, rõ ràng không giống

như với việc giải quyết mâu thuẫn trong tự nhiên. Việc giải quyết mâu thuẫn xã
hội được thực hiện thông qua hoạt động của con người. Việc giải quyết mâu thuẫn
này sẽ tốt hơn, tạo động lực thúc đẩy xã hội phát triển mạnh mẽ hơn, khi thông


qua hoạt động tự giác, tích cực của con người. Ở đây, thuật ngữ tự giải quyết có
nghĩa là quá trình giải quyết một mâu thuẫn xã hội cụ thể nào đó diễn ra một cách
khách quan đối với con người, đối với một lực lượng xã hội nhất định. Con người
không thể xóa bỏ một mâu thuẫn xã hội, cũng như thủ tiêu quá trình tự giải quyết
của nó. Trái lại, con người chỉ có thể tác động, làm chậm lại hoặc thúc đẩy nhanh
hơn quá trình giải quyết mâu thuẫn xã hội đó, tùy vào mức độ nhận thức và làm
theo tính tất yếu khách quan của việc giải quyết mâu thuẫn xã hội này. Qua đó,
con người có thể kìm hãm hoặc thúc đẩy sự phát triển của xã hội. Đó là biểu hiện
của mối quan hệ biện chứng giữa khách quan và chủ quan trong đời sống xã hội,
trong sự phát triển của xã hội. Hoạt động giải quyết mâu thuẫn xã hội của chủ thể
chỉ đúng, và qua đó đem lại lợi ích cho chủ thể, khi hoạt động đó xuất phát từ bản
thân mâu thuẫn, lấy bản chất khách quan của mâu thuẫn làm cơ sở. Phương pháp
giải quyết mâu thuẫn xã hội mà chủ thể tiến hành cũng phải phù hợp với bản chất
khách quan của mâu thuẫn đó. Tuy nhiên, việc giải quyết mâu thuẫn xã hội, thực
chất lại là biểu hiện hoạt động của chủ thể con người. Do đó, quá trình giải quyết
mâu thuẫn cũng in dấu ấn của chủ thể. Điều đó được biểu hiện ở phương pháp giải
quyết mâu thuẫn mà chủ thể sử dụng trong việc giải quyết một mâu thuẫn xã hội
cụ thể. Trên cơ sở tôn trọng nguyên tắc giải quyết mâu thuẫn thông qua sự đấu
tranh giữa các mặt đối lập, chủ thể có thể chủ động tìm ra một phương pháp giải
quyết mâu thuẫn thích hợp nhất để có thể giải quyết tốt nhất một mâu thuẫn xã hội
cụ thể, đem lại hiệu quả cao nhất cho chủ thể. Chính trong quá trình hoạt động tự
giác như vậy, trong điều kiện cho phép, chủ thể có thể sử dụng phương pháp kết
hợp các mặt đối lập, coi đó như một hình thức cụ thể để các mặt đối lập thực hiện
sự đấu tranh của chúng, dẫn tới việc giải quyết một mâu thuẫn xã hội cụ thể theo
hướng có lợi cho chủ thể.

Cũng chính vì thế, việc tiến hành kết hợp các mặt đối lập để giải quyết mâu thuẫn
xã hội, rõ ràng không thể là một giải pháp duy nhất và cũng không phải là giải
pháp có thể áp dụng đối với mọi trường hợp. Trong đời sống xã hội, mâu thuẫn xã
hội với tính cách là mâu thuẫn giữa người với người về mặt lợi ích, là cội nguồn
cho sự phát triển xã hội, được thể hiện ra rất nhiều hình thức, nhiều loại cụ thể,
Mỗi một loại lại có những đặc điểm, tính chất…khác nhau, và do đó quy định
hình thức, biện pháp giải quyết mâu thuẫn khác nhau. Ngay trong quá trình vận
động, phát triển của một mâu thuẫn, tùy thuộc vào tương quan giữa các mặt đối
lập của nó, tùy thuộc vào điều kiện, hoàn cảnh trong đó mâu thuẫn nảy sinh và
phát triển, mà có thể có những hình thức, biện pháp giải quyết mâu thuẫn cụ thể.
Chẳng hạn, đối với loại mâu thuẫn đối kháng, phương pháp giải quyết nhìn chung
là sử dụng bạo lực, thực hiện loại trừ một mặt đối lập nào đó. Tuy nhiên, trong
điều kiện cụ thể, khi giữa hai lực lượng xã hội cụ thể tồn tại với tư cách là hai mặt


đối lập của nhau, mặc dù xét về bản chất vẫn có sự đối kháng về lợi ích với nhau,
song lại xuất hiện một số điểm chung nào đó về lợi ích, thì khi đó có thể thực hiện
hình thức “kết hợp các mặt đối lập”. Điều đó cho phép việc giải quyết mâu thuẫn
giữa chúng được thực hiện tốt hơn, đem lại lợi ích cho chủ thể nhiều hơn. Đương
nhiên, ở đây đòi hỏi chủ thể thực hiện việc kết hợp phải có đủ khả năng (cả trí tuệ
và bản lĩnh chính trị) cần thiết, đáp ứng được yêu cầu của việc thực hiện giải pháp
này. Trong trường hợp này, mặc dù về cơ bản, mâu thuẫn đó vẫn là mâu thuẫn đối
kháng; song ở một khía cạnh cụ thể nào đó, vẫn có thể cho phép kết hợp các mặt
đối lập. Ví dụ, trong việc giải quyết mâu thuẫn giữa tư sản và vô sản, trong điều
kiện giai cấp vô sản đã giành được chính quyền, song vẫn cầm tới kinh nghiệm
làm ăn kinh tế, quản lý kinh tế của nhà tư bản, đồng thời có một chính quyền vô
sản vững mạnh, thì điều đó cho phép tiến hành kết hợp giữa tư sản và vô sản để
giải quyết mâu thuẫn này được tốt hơn.
Đối với loại mâu thuẫn xã hội không đối kháng, thể hiện ở quan hệ giữa những
nhân tố, lực lượng xã hội có lợi ích cơ bản nhất trí với nhau, chủ thể hoạt động

hoàn toàn có thể tiến hành kết hợp các mặt đối lập. Bởi lẽ, ở đây, giữa các mặt đối
lập tạo thành mâu thuẫn dễ dàng xuất hiện những điểm chung, tương đồng cho
phép tiến hành việc kết hợp này nhằm đạt mục đích mong muốn. Tuy nhiên, nếu
trong trường hợp chủ thể mắc sai lầm nghiêm trọng và kéo dài; khi chủ thể không
còn đủ năng lực trí tuệ và bản lĩnh chính trị cần thiết để thực hiện sự kết hợp đúng
đắn, khoa học; thì khi đó lại xuất hiện yêu cầu khách quan giải quyết mâu thuẫn
bằng phương pháp loại trừ các mặt đối lập.
Thực tế, sự khủng hoảng của chủ nghĩa xã hội thực hiện vừa qua đã cho thấy, khi
Đảng cộng sản cầm quyền mắc sai làm chủ quan nghiêm trọng và kéo dài thì mâu
thuẫn giữa quần chúng nhân dân và với đảng của giai cấp công nhân, vốn không
mang tính đối kháng đã dần dần xuất hiện những biểu hiện đối kháng. Do đó, thay
vì giải quyết mâu thuẫn một cách hòa bình, bằng biện pháp thuyết phục thì cũng
đã xuất hiện cách giải quyết bằng bạo lực.
Tóm lại, việc kết hợp các mặt đối lập trong quá trình giải quyết một mâu thuẫn xã
hội cụ thể chỉ có thể tiến hành được khi có đầy đủ những điều kiện khách quan và
chủ quan cho phép. Tuyệt đối đây không phải là một giải pháp có tính phổ biến, có
thể thực hiện trong mọi trường hợp, với mọi điều kiện.
Thứ nhất, về mặt khách quan: việc kết hợp các mặt đối lập chỉ có thể tiến hành
trong các điều kiện cụ thể sau:
1. Giữa các nhân tố, các lực lượng xã hội, tồn tại với tư cách là những mặt đối lập
của nhau phải có những điểm chung, tương đồng có thể đi tới sự điều hòa, thỏa


hiệp trong một giới hạn nhất định. Trong trường hợp này, chủ thể hoạt động có
thể thực hiện việc kết hợp các mặt đối lập, với những thỏa hiệp nhất định ở đây
không phải là xóa bỏ đi những nguyên tắc đấu tranh giữa các mặt đối lập. Đây
chỉ là hành động đưa cuộc đấu tranh giữa các mặt đối lập vào trong một hình
thức cụ thể, có lợi cho chủ thể mà thôi. Trong trường hợp giữa các mặt đối lập
hoàn toàn không có điểm chung, tương đồng, mâu thuẫn xã hội này hoàn toàn
mang tính đối kháng thì việc kết hợp không thể thực hiện được một cách đúng

đắn và đem lại hiệu quả mong muốn cho chủ thể,
2. Việc kết hợp các mặt đối lập chỉ có thể thực hiện trong điều kiện hoàn cảnh xã
hội thuận lợi (bao gồm cả điều kiện trong nước và quốc tế). Cụ thể đó phải là
những điều kiện hoàn cảnh cho phép chủ thể thực hiện việc kết hợp theo mong
muốn. Thậm chí đó còn là những điều kiện hoàn cảnh như một đòi hỏi tất yếu
khách quan, buộc chủ thể phải tiến hành giải quyết mâu thuẫn bằng phương
thức kết hợp này. Chẳng hạn, những biến đổi về kinh tế quốc tế hiện nay, về sự
phát triển như vũ bão của cách mạng khoa học và công nghệ hiện nay… là
những điều kiện khách quan cho phép chủ thể hoạt động có thể thực hiện sự
kết hợp các mặt đối lập.
Thứ hai, về mặt chủ quan: việc kết hợp các mặt đối lập chỉ thực hiện được và đạt
kết quả mong muốn khi chủ thể có đủ năng lực và bản lĩnh chính trị cần thiết đáp
ứng được yêu cầu của sự kết hợp này, Đòi hỏi chủ thể ở đây phải có khả năng sớm
nắm bắt được yêu cầu khách quan cũng như thời cơ thuận lợi của việc kết hợp, từ
đó tiến hành tổ chức kết hợp một cách khéo léo, khoa học nhằm hướng cuộc đấu
tranh giữa hai mặt đối lập trong mâu thuẫn theo hướng có lợi cho chủ thể. Có thể
khẳng định, trong chừng mực nào đó, vai trò của chủ thể trong việc kết hợp các
mặt đối lập ở đây có ý nghĩa quyết định.
Cũng cần nhấn mạnh ở đây rằng, do việc kết hợp các mặt đối lập là hành động của
chủ thể trong quá trình giải quyết mâu thuẫn xã hội khách quan, cho nên, đương
nhiên quá trình này ngay từ đầu đã thể hiện và cần phải thể hiện tính định hướng
của nó. Nghĩa là, việc kết hợp các mặt đối lập sẽ được tiến hành nhằm đáp ứng
nhu cầu, lợi ích của chủ thể hoạt động. Song đồng thời, để việc kết hợp này không
rơi vào tình trạng là biểu hiện của hoạt động chủ quan thuần túy, không còn tồn tại
với tư cách là sự phản ánh tính tất yếu khách quan, lại đòi hỏi việc kết hợp phải
được tiến hành một cách khoa học, phù hợp với bản chất các mặt đối lập. Cụ thể
là, việc tiến hành các mặt đối lập phải đảm bảo sao cho các mặt đối lập vẫn thực
hiện được cuộc đấu tranh của chúng mà vẫn đáp ứng được yêu cầu của chủ thể.
Bởi vì, xuất phát từ bản chất đối lập nhau, các mặt đối lập khi tồn tại trong một
chỉnh thể tất yếu sẽ đấu tranh với nhau. Vấn đề ở đây là phải làm sao để cuộc đấu



tranh đó, thông qua việc kết hợp, sẽ diễn ra theo chiều hướng có lợi cho chủ thể.
Nói cách khác, việc kết hợp với tư cách hoạt động chủ quan vẫn phải đảm bảo
nguyên tắc đấu tranh giữa các mặt đối lập chứ không phải kết hợp đi tới sự thủ
tiêu cuộc đấu tranh của chúng. Đây chính là điểm khác biệt cơ bản giữa hoạt động
kết hợp các mặt đối lập một cách đúng đắn, có tính khoa học, với những kết hợp
phi khoa học, kết hợp sai lầm chủ quan.
Ở đây, nếu xét về hình thức, có thể chia hoạt động kết hợp ra làm ba loại:
Thứ nhất, đó là sự kết hợp khoa học, biện chứng, đúng đắn. Đây là sự kết hợp có
nguyên tắc, đảm bảo nguyên tắc đấu tranh giữa các mặt đối lập. Sự kết hợp này
phản ánh đúng đắn tính biện chứng trong mối quan hệ giữa các mặt đối lập là vừa
thống nhất lại vừa đấu tranh.
Thứ hai, đó là sự kết hợp mang tính chiết trung. Sự kết hợp này được thực hiện
một cách tùy tiện, vô nguyên tắc. Chủ thể kết hợp đã thự hiện sự kết hợp hoàn
toàn dựa vào ý chí chủ quan, kết hợp bất cứ cái gì, trong bất kỳ điều kiện hoàn
cảnh nào. Đây là sự kết hợp được tiến hành không dựa trên cơ sở thống nhất
khách quan giữa các mặt đối lập, Nó được tiến hành ngay cả đối với những mặt
đối lập không có mối liên hệ nào, cũng không có điểm chung, tương đồng nào với
nhau. Sự kết hợp chiết trung không đem lại những giá trị đích thực cho sự phát
triển và tiến bộ xã hội.
Thứ ba, đó là sự kết hợp mang tính cải lương. Đây là sự kết hợp các mặt đối lập
không đảm bảo nguyên tắc đấu tranh giữa chúng với nhau. Sự kết hợp này thể
hiện sự nhượng bộ, thỏa hiệp vô điều kiện, sự thiếu bản lĩnh của chủ thể để có thể
đưa sự kết hợp tới kết quả mong muốn. Kết quả tất yếu của sự kết hợp này là sự
thất bại của chủ thể hành động. Trong công cuộc cải tổ ở Liên Xô những năm 80,
thể kỷ XX, chính với những hành động kết hợp vô nguyên tắc, mang tính cải
lương, biểu hiện trong chính sách đối ngoại của Đảng, nhân dân Xô Viết đối với
phương Tây, đã trở thành một nguyên nhân quan trọng đưa Liên Xô tới chỗ sụp
đổ.

Như vậy, có thể khẳng định rằng, trong quá trình giải quyết một mâu thuẫn xã hội
cụ thể, tùy vào nội dung, tính chất của mối quan hệ giữa các mặt đối lập, cũng như
tùy vào điều kiện hoàn cảnh khách quan (trong nước và ngoài nước), năng lực của
chủ thể hoạt động… có thể tiến hành việc kết hợp các mặt đối lập nhằm để giải
quyết một mâu thuẫn xã hội cụ thể một cách tốt nhất, đem lại lợi ích cao nhất cho
chủ thể.


Từ sự phân tích tư tưởng biện chứng mácxít về sự kết hợp các mặt đối lập ở trên
cho phép rút ra kết luận sau đây: Kết hợp các mặt đối lập là một hoạt dộng tự giác,
tích cực của chủ thể thực tiễn trong quá trình giải quyết một số mâu thuẫn xã hội
cụ thể trong những điều kiện khách quan và chủ quan cụ thể nhằm đem lại lợi ích
nhất định cho chủ thể. Đó chính là hoạt động kết hợp các nhân tố, lực lượng xã hội
tồn tại vơi tư cách là những mặt đối lập của nhau, dựa trên cơ sở nhận thức về tính
thống nhất vốn có giữa những nhân tố, lực lượng xã hội này, đồng thời tôn trọng
sự đấu tranh khách quan của chúng.
Có thể khẳng định tư tưởng kết hợp các mặt đối lập trong quá trình giải quyết mâu
thuẫn, được thể hiện rõ trong tư duy biện chứng của các vị sáng lập chủ nghĩa
Mác- Lênin. Ngay ở tác phẩm “Sự khốn cùng của triết học”, một tác phẩm được
C.Mác xuất bản vào năm 1847, giai đoạn đánh dấu sự trưởng thành về tư tưởng
của C.Mác, Người đã chỉ ra sư cần thiết phải kết hợp các mặt đối lập trong hoạt
động thực tiễn xã hội, nhằm giải quyết một mâu thuẫn xã hội khách quan cụ thể.
C.Mác cho rằng, Pruđông đã nhìn thấy mâu thuẫn trong chế dộ tư hữu biểu hiện ra
giữa thiện và ác, tốt và xấu song lại không thấy được mối quan hệ thống nhất vốn
có giữa các mặt đối lập đó. Điều đó làm cho Pruđông không có khả năng kết hợp
các mặt đối lập này nhằm tái hiện sự thống nhất của chúng trong nhận thức và
hoạt động thực tiễn. Trái lại, Pruđông lại đem đối lập, tách rời hoàn toàn chúng, đề
ra cách giải quyết mâu thuẫn mang tính siêu hình, đó là thực hiện việc giữ lại mặt
tốt và thủ tiêu mặt xấu. Điều đó theo C.Mác, không phải là giải quyết mâu thuẫn
mà là thủ tiêu mâu thuẫn.

Khẳng định tính tất yếu của việc kết hợp biện chứng các mặt đối lập, trong “Tuyên
ngôn của Đảng Cộng Sản”, C.Mác, Ph.Ăngghen cho rằng người cộng sản cần phải
tỏ thái độ sẵn sàng hợp tác với các đảng phải đối lập vì lợi ích của phong trào
công nhân. Ở đây, cũng cần thấy rằng, tư tưởng kết hợp các mặt đối lập của
C.Mác và Ph.Ăngghen hoàn toàn không phải là một sự thỏa hiệp, dung hòa một
cách vô nguyên tắc, nghĩa là xóa bỏ nguyên tắc đấu tranh của các mặt đối lập. Trái
lại, thái độ của các ông trong việc ủng hộ với hợp tác với các đảng đối lập được
đặt trên nền tảng của nguyên tắc đấu tranh, vì mục tiêu chiến lược của phong trào
cộng sản. Do nhận thức được sự hạn chế của các Đảng đối lập, C.Mác và
Ph.Ăngghen cho rằng sự ủng hộ này chỉ trong chừng mực các phong trào này còn
phù hợp và đáp ứng được lợi ích, mục tiêu của phong trào cộng sản.
Còn đối với V.I.Lênin, trong điều kiện trực tiếp lãnh đạo nước Nga tiến lên chủ
nghĩa xã hội, V.I.Lênin chính là người đầu tiên vận dụng tư tưởng kết hợp các mặt
đối lập trong giải quyết mâu thuẫn xã hội vào thực tiễn của đất nước. Người đã
cho thấy vấn đề kết hợp các mặt đối lập là một yêu cầu tất yêu khách quan đối với


công cuộc xây dựng xã hội chủ nghĩa ở nước Nga lúc bấy giờ. Theo V.I.Lênin,
trong quá trình giải quyết mâu thuẫn xã hội, một tư duy biện chứng phải thể hiện
bằng khả năng biết kết hợp các mặt đối lập.
Sở dĩ cần phải và có thể làm như vậy là vì trên thực tế, giữa các mặt đối lập luôn
tồn tại một số điểm chung, tương đồng nào đó, bên cạnh những điểm dị biệt, trái
ngược nhau. Chính những điểm chung này cho phép kết hợp giữa các mặt đối lập
đó, trong những điều kiện, hoàn cảnh nào đó. Bằng việc kết hợp các mặt đối lập
đó lại, có thể giúp cho việc giải quyết mâu thuẫn diễn ra tốt hơn, có thể giúp cái
mới chiến thắng cái cũ, nhờ đó thúc đẩy nhanh sự phát triển xã hội. Bởi lẽ, sư kết
hợp có nguyên tắc này không thủ tiêu sự đấu tranh của các mặt đối lập, động lực
của sự phát triển, mà trái lại, làm cho sự đấu tranh vẫn tiếp tục được thực hiện
dưới một hình thức mới mẻ.
V.I.Lênin cho rằng, việc kết hợp các mặt đối lập không phải chỉ là một biểu hiện

của tư duy biện chứng trong việc nhận thức, giải quyết mâu thuẫn nói chung, mà
quan trọng hơn, đây phải được coi như một chính sách thực tiễn quan trọng của
Đảng và Nhà nước Xô Viết. Mục đích của chính sách thực tiễn này chính là nhằm
kết hợp được như thế nào đó các mặt đối lập đang tồn tại khách quan trong đời
sống xã hội. Qua đó, tạo điều kiện giải quyết mâu thuẫn tốt hơn, thúc đẩy nhanh
quá trình phát triển lên chủ nghĩa xã hội. Người cho rằng, đó chính là biểu hiện
của việc vận dụng chủ nghĩa Mác, vận dụng phép biện chứng của chủ nghĩa Mác
vào thực tiễn cách mạng.
Trên thực tế, những chính sách mà Đảng và Nhà nước Xô Viết, đứng đầu là
V.I.Lênin, đã thi hành trong quá trình xây dựng và bảo vệ đất nước những năm
đầu Cách mạng tháng Mười, chính là biểu hiện của việc vận dụng phép biện
chứng về sự kết hợp các mặt đối lập. Chẳng hạn, khi Cách mạng tháng Mười mới
thành công, nhằm để có điều kiện và thời gian củng cố chính quyền cách mạng
non trẻ, Đảng và Nhà nước Xô Viết đã không ngần ngại tiến hành sự thỏa hiệp với
giai cấp tư sản Pháp để chống lại sự xâm lược của đế quốc Đức. V.I.Lênin cho
rằng, sự thỏa hiệp tạm thời này có lợi cho chủ nghĩa xã hội nên cần được ủng hộ,
dù rằng cả hai bên Nga và Pháp “đều muốn treo cổ nhau lên”, Người viết:
Nhưng tạm thời, lợi ích của chúng tôi thống nhất với nhau. Để chống lại bọn tham
tàn Đức đánh chúng tôi, chúng tôi, vì lợi ích của cách mạng xã hội chủ nghĩa Nga
và quốc tế, đã lợi dụng những lợi ích đối chọi nhau, cũng không kém tham tàn,
của bọn đế quốc khác.
Tuy nhiên, trong tư tưởng của V.I.Lênin về việc thực hiện các mặt đối lập để giải
quyết nhiệm vụ thực tiễn của cách mạng, tiêu biểu và đặc sắc nhất phải kể tới, đó là


chính sách kinh tế mới (NEP). Trong chính sách này, V.I.Lênin đã cho chúng ta thấy
một cách rõ nét nhất về tính tất yếu của sự kết hợp các mặt đối lập giữa chủ nghĩa tư
bản (CNTB) và chủ nghĩa xã hội (CNXH) trong quá trình phát triển xã hội từ xã hội
tư bản chủ nghĩa lê xã hội chủ nghĩa, cũng như cách thức kết hợp như thế nào để có
thể đem lại lợi ích tốt nhất cho chủ nghĩa xã hội, phục vụ cho công cuộc xây dựng

chủ nghĩa xã hội ở nước Nga. Chính sách này đã cho phép chủ nghĩa tư bản, cũng
như sự tự do buôn bán tồn tại trong nền kinh tế của nước Nga Xô Viết sau thời kì nội
chiến (1918-1921). Trong điều kiện vai trò kiểm soát nền kinh tế thuộc về Nhà nước
Xô Viết, thì sự có mặt của chủ nghĩa tư bản, của giai cấp tư sản cho phép nước Nga
Xô Viết non trẻ thoát khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội sau nội chiến và đạt được
những tiến bộ ban đầu trên con đường đi lên chủ nghĩa xã hội.


b) VẬN DỤNG LÝ LUẬN KẾT HỢP CÁC MẶT ĐỐI LẬP VÀO VIỆC GIẢI
QUYẾT MÂU THUẪN NẢY SINH TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH
HOẶC TRONG ĐỜI SỐNG HẰNG NGÀY.
 Trong hoạt động kinh doanh:
Trong công cuộc đổi mới đất nước ta hiện nay, với xu hướng công nghiệp hóa,
hiện đại hóa nền kinh tế. Đồng thời với nó là sự phát triển nhanh chóng của kinh
tế thị trường. Cùng với tình hình trong nước là nền kinh tế thế giới phát triển
nhanh chóng với những thay đổi to lớn và sâu sắc, sự phát triển như vũ vão của
cách mạng khoa học và công nghệ… Chính những biến đổi này đã gây ra tác
dụng to lớn, ảnh hưởng mạnh mẽ tới sự phát triển và hoạch định chiến lược của
các tập đoàn, doanh nghiệp, công ty trên thế giới. Sự biến đổi cũng đã đặt ra cho
các tập đoàn, công ty, doanh nghiệp những yêu cầu khách quan. Tất cả là điều
kiện khách quan cho phép chủ thể hoạt động thực hiện kết hợp các mặt đối lập…
các mặt đối lập trong hoạt dộng doanh nghiệp là vô cùng đa dạng, dưới đây chỉ
là một vài nét cơ bản nhất và gần gũi nhất của việc kết hợp các mặt đối lập trong
hoạt động doanh nghiệp.
- Nền tảng của việc kết hợp các mặt đối lập trong hoạt động doanh nghiệp
Theo triết học Mác-Lênin, trong quá trình giải quyết một mâu thuẫn cụ thể, tùy
vào nội dung, tính chất của mối quan hệ giữa các mặt đối lập, cũng như tùy
thuộc vào hoàn cảnh khách quan, năng lực của chủ thể hoạt động… có thể tiến
hành việc kết hợp các mặt đối lập nhằm để giải quyết một mâu thuẫn xã hội cụ
thể hơn một cách tốt nhất, đem lại lợi ích cao nhất cho chủ thể.

- Kết hợp thị trường và kế hoạch trong hoạt động kinh doanh
Trong đổi mới kinh tế, gắn liền với việc xây dựng một nền kinh tế đa dạng hóa
về sở hữu, đa thành phần kinh tế, là vấn đề xây dựng cơ chế thị trường. Đây là
hai mặt của nền kinh tế thị trường, việc tồn tại một nền kinh tế hàng hóa nhiều
thành phần tất yếu làm nảy sinh yêu cầu về sự điều tiết cơ chế thị trường. Với tư
cách là cơ chế kinh tế khách quan tồn tại tất yếu trong nền kinh tế nhiều thành
phần, cơ chế thị trường thể hiện những giá trị tích cực của nó. Vậy việc linh hoạt
thay đổi và thích ứng đối với cơ chế thị trường có thể kết hợp với kế hoạch trong
nền kinh tế tập trung bao cấp?
Chúng ta nhận thức được rằng kế hoạch là điều không thể thiếu đối với làm kinh
tế. Tự bản thân công tác kế hoạch hóa không thể thiếu với hoạt động kinh tế. Chỉ
có kế hoạch hóa cao độ, tuyệt đối hóa kế hoạch tới mức phủ nhận thị trường mới


là sai lầm. Do đó, sự kết hợp cơ chế thị trường và kế hoạch của doanh nghiệp
nghĩa là xóa bỏ kế hoạch hóa cao độ, tiến hành cơ chế quản lý kinh doanh, thực
hiện tự chủ, độc lập của doanh nghiệp.
Ở đây cần tránh rơi vào nhận thức sai lầm cố hữu trước đây là tuyệt đối hóa sự
đối lập giữa cơ chế thị trường và kế hoạch doanh nghiệp. Cho rằng cơ chế thị
trường nghĩa là không có kế hoạch, còn nếu đề cao kế hoạch ắt sẽ không theo cơ
chế thị trường. Tư duy biện chứng ở đây là mặc dù giữa cơ chế thị trường và kế
hoạch có những biểu hiện ngược nhau lên doanh nghiệp, song không vì thế mà
chúng không thống nhất.
Ở thời kỳ kinh tế thị trường hiện nay, các doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp
nhà nước cần nắm bắt rõ mối liên hệ giữa kế hoạch và cơ chế thị trường. Từ đó,
ứng dụng tư tưởng kết hợp các mặt đối lập vào thực tế để nâng cao khả năng
cạnh tranh và quản lý doanh nghiệp, ví như khi nhu cầu thị trường thay đổi
nhanh chóng khiến cho kế hoạch ban đầu đã trở nên sai lầm, Đây là lúc xảy ra
sự đấu tranh giữa hai mặt đối lập. Cần có sự kết hợp hoàn hảo giữa hai mặt đối
lập, chủ thể quyết định ở đây cần có bản lĩnh chính trị và khả năng điều chỉnh

hợp lý để qua sự kết hợp này phát triển doanh nghiệp một cách hợp lý.
- Đối lập giữa lợi nhuận và rủi ro trong hoạt động doanh nghiệp
Trong kinh doanh, lợi nhuận và rủi ro là hai mặt không thể tách rời nhau được.
Bất kỳ một hoạt động nào của doanh nghiệp đều tồn tại sự rủi ro. Lợi nhuận
càng lớn, rủi ro càng cao. Nhưng hiển nhiên sự phát triển của một doanh nghiệp
là lợi nhuận. Như vậy, trong suốt quá trình thành lập, tồn tại và phát triển, rủi ro
là cái doanh nghiệp luôn đối mặt. Một doanh nghiệp phát triển là doanh nghiệp
kết hợp hoàn hảo giữa hai mặt rủi ro và lợi nhuận.
Trước một mức lợi nhuận khổng lồ, doanh nghiệp có tính đến rủi ro? Hiện tại có
một loại chi phí trong kinh tế gọi là chi phí rủi ro. Đây là một ví dụ điển hình
cho việc kết hợp hai mặt đối lập một cách thành công, mà qua đó, doanh nghiệp
tối đa hóa lợi nhuận có được.
- Hầu hết những sự kết hợp các mặt đối lập trong hoạt động doanh nghiệp là sự
kết hợp có tính khoa học, tích cực, chủ động, mang lại lợi ích tối đa cho kinh
doanh. Các doanh nghiệp là những chủ thể có khả năng và nắm bắt phương
pháp một cách triệt để. Nhờ đó doanh nghiệp có thể phát triển bền vững và
lâu dài.
- Quán triệt phương pháp kết hợp các mặt đối lập:


Phương pháp luận biện chứng của sự kết hợp các mặt đối lập ở đây là: trên cơ sở
những điểm chung giữa các mặt, nhân tố xã hội với tư cách là những mặt đối lập
của nhau, việc kết hợp chúng lại trong một chỉnh thể để nhằm mục đích hướng
cuộc đấu tranh của chúng đem lại lợi ích cho chủ thể. Điều đó có nghĩa là: kết
hợp các mặt đối lập không phải là thủ tiêu cuộc đấu tranh của chúng mà là tạo
điều kiện cho chúng đấu tranh trong một hình thức cụ thể. Bởi vì, theo Lê-nin:
“sự phát triển là một cuộc đấu tranh giữa các mặt đối lập”.
Vận dụng vào thực tiễn, khi kết hợp các mặt đối lập trong hoạt động doanh
nghiệp, phải kết hợp có nguyên tắc giữa chúng. Ví dụ: khi kết hợp giữa kinh tế
tư bản chủ nghĩa và kinh tế theo định hướng chủ nghĩa xã hội để phát triển

doanh nghiệp, cần phải luôn nhớ rằng, dù là thống nhất và bổ sung cho nhau,
nhưng bản chất giữa chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa xã hội vẫn là trái ngược
nhau. Do đó, phải luôn thận trọng, lợi dụng những mặt tích cực của chủ nghĩa tư
bản để xây dựng doanh nghiệp, cũng như hợp tác trong giới hạn, khuôn khổ của
nền kinh tế thị trường định hướng chủ nghĩa xã hội. Cần phải thực hiện tốt công
tác kiểm kể, kiểm soát mọi hoạt động kinh tế của doanh nghiệp, cần phải có giải
pháp đưa ra đối với tình trạng trước mắt… Đặt biệt, khi Việt Nam đã gia nhập
WTO, bên cạnh những thay đổi chúng ta cần phải có để đáp ứng cho nhu cầu hội
nhập, ta còn cần phải chủ ý để có những giải pháp đúng đắn trước những vấn đề
mới trong việc bảo vệ môi trường, bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn bản sắc văn
hóa và truyền thống tốt đẹp của dân tộc, chống lại lối sống thực dụng, chạy theo
đồng tiền, từ đó doanh nghiệp mới thực sự phát triển bền vững.
 Trong đời sống hằng ngày: Quy luật mâu thuẫn trong quá trình học tập của
sinh viên
Học là một quá trình tăng triển về mặt tri thức và áp dụng tri thức ấy vào thực
tiễn cuộc sống. Quy luật mâu thuẫn không cho phép chúng ta nghĩ mình đã
có đầy đủ tri thức để giải quyết mọi vấn đề. Quy luật mâu thuẫn đòi chúng ta
vượt qua tất cả mọi định kiến tiêu cực khi muốn loại trừ một số tri thức và
chỉ chấp nhận một loại tri thức nào đó. Quy luật mâu thuẫn đòi chúng ta
không được ngủ quên trong một vài tri thức nhất định nào đó, mà là khả năng
mở ra đón nhận sự phong phú vô tận của tri thức nhân loại. Quy luật mâu
thuẫn phù hợp với quy luật của tư duy. Sự tiếp thu tri thức giữa các môn học,
các ngành học cần được nhìn nhận trong mối liên hệ tương tác qua lại.
Không có loại tri thức riêng rẽ một mình, học trong một chỉnh thể thống nhất
các môn, vận dụng khả năng tổng hợp để tiếp thu tri thức và biết phân tích để
ghi nhớ tri thức.


3. KẾT LUẬN
Trong nhận thức và thực tiễn cần phải tôn trọng mâu thuẫn, phát hiện mâu thuẫn,

phân tích đầy đủ các mặt đối lập, nắm được bản chất, nguồn gốc, khuynh hướng
của sự vận động và phát triển. Trong việc nhận thức và giải quyết các mâu thuẫn
cần phải có những quan điểm lịch sử cụ thể, tức là biết phân tích cụ thể từng loại
mâu thuẫn, cần phân biệt đúng vai trò, vị trí các loại mâu thuẫn trong từng hoàn
cảnh, điều kiện nhất định; những đặc điểm của mâu thuẫn để có phương pháp giải
quyết phù hợp. Không nên sợ mâu thuẫn, không né tránh mâu thuẫn. Điều này đặc
biệt quan trọng đối với sinh viên nói chung trong hoạt động nâng cao kiến thức và
nhận thức cũng như cho công việc sau này, không được né tránh mâu thuẫn mà
phải luôn sẵn sàng đối đầu và giải quyết chúng, có như vậy mới hoàn thiện được
chính bản thân mình, để sau này là người có ích cho xã hội.
4. TÀI LIỆU THAM KHẢO
Bài thu hoạch có trích dẫn và tham khảo một số tài liệu:
- “Sự kết hợp các mặt đối lập trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt
Nam hiện nay” – TS. Trần Nguyên Ký
- Tiểu luận “Sự kết hợp các mặt đối lập trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã
hội ở Việt Nam hiện nay” của Huỳnh Quốc Nghi (Lớp 25 – Khóa 37 – ĐH
Kinh Tế TP. Hồ Chí Minh)



×