Tải bản đầy đủ (.docx) (2 trang)

Phân tích bản chất hai mặt của quản lý kinh tế, và giải thích tại sao cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước lại là giải pháp cơ bản để đổi mới quản lý doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam hiện nay

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (80.96 KB, 2 trang )

Câu 3
Phân tích bản chất hai mặt của quản lý kinh tế,
và giải thích tại sao cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước lại là giải pháp
cơ bản để đổi mới quản lý doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam hiện nay
-------------------Quản lý kinh tế là hoạt động điều hoà, phối hợp các hoạt động sản xuất &
trao đổi vật chất để nâng cao hiệu quả của các hoạt động đó, mang lại lơi ích cho
chủ sở hữu; nó mang bản chất hai mặt: mặt tổ chức kỹ thuật và mặt kinh tế xã hội.
* Bản chất hai mặt của quản lý kinh tế
- Quản lý kinh tế ra đời trước hết là tất yếu về tổ chức - kỹ thuật, vì:
+ Hoạt động kinh tế bao giờ cũng được tiến hành trong một kiện vật chấtkỹ thuật nhất định
+ Ở một điều kiện vật chất-kỹ thuật nhất định, để sản xuất được và sản xuất
có hiệu quả thì người ta phải căn cứ vào điều kiện kỹ thuật hiện tai của sản xuất để
tổ chức sản xuất, không thể tùy tiện
+ Khi nhiều người cùng tham gia vào một quá trình sản xuất được tổ chức
thì tất yếu phải có người tách ra (không trực tiếp sản xuất) để làm nhiệm vụ điều
hòa phối hợp các hoạt động sản xuất trong tổ chức- Đó là hoạt động quản lý kinh tế
+ Khi điều kiện vật chất-kỹ thuật của sản xuất thay đổi, thì viêc tổ chức sản
xuất cũng thay đổi, do đó việc tổ chức quản lý phải thay đổi theo
Như vậy quản lý kinh tế ra đời, tồn tại và biến đổi trước hết là do mặt tổ
chức kỹ thuật của sản xuất và do kỹ thuật của sản xuất quy định.
- Quản lý kinh tế ra đời không chỉ là một tất yếu về tổ chức - kỹ thuật,
mà còn là một tất yếu về kinh tế-xã hội, do quan hệ sở hữu quy định
+ Quản lý kinh tế hiệu quả không phải vì hiểu quả, mà là vì để mang lại lợi
ích cho chủ sở hữu; là cách để thực hiện sở hữu trên thực tế, vì bản chất của sở hữu
thể hiện trước hết ở lợi ích.
+ Do đó, sở hữu khác nhau thì tổ chức quản lý khác nhau, sở hữu thay đổi
thì tổ chức quản lý kinh tế phải thay đổi “chủ nào thì rào giậu ấy”
Ý nghĩa thực tiễn của vấn đề:
+ Trong thực tiễn, để tổ chức quản lý kinh tế hiệu quả thì phải từ quy trình
kỹ thuật của sản phẩm (phải từ việc) để tổ chức sản xuất và tổ chức quản lý (phải
từ việc để định tổ chức định cán bộ).


+ Muốn giải thích triệt để sự ra đời, thay đổi của một hình thức tổ chức
quản lý kinh tế thì phải xuất phát từ hai mặt đó..!


* Cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước là giải pháp cơ bản để đổi mới
quản lý doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam hiện nay. Vì
+ Các biện pháp đã làm như đổi mới kỹ thuật, sắp xếp, hợp nhất, sát
nhập…không tạo chuyển biến cơ bản vì chưa đề cập đến mặt sở hữu (chưa đề cập
đến mặt bản chất kinh tế xã hội của quản lý)
+ Cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước đã làm cho kết cấu sở hữu của
doanh nghiệp nhà nước thay đổi (từ sở hữu đơn nhất chuyển thành sở hữu hỗn
hợp). Khi mặt bản chất kinh tế - xã hội của quản lý thay đổi thì tổ chức quản lý của
doanh nghiệp phải thay đổi cơ bản
+ Tổ chức quản lý nội bộ doanh nghiệp thay đổi..
+ Quản lý của nhà nước đối với doanh nghiệp thay đổi.
Mục tiêu cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước là nhằm: tạo ra loại hình
doanh nghiệp có nhiều chủ sở hữu, trong đó có đông đảo người lao động, để sử
dụng có hiệu quả vốn, tài sản của nhà nước và huy động thêm vốn xã hội vào phát
triển sản xuất, kinh doanh; tạo động lực mạnh mẽ và cơ chế quản lý năng động, có
hiệu quả cho doanh nghiệp nhà nước; phát huy vai trò làm chủ thực sự của người
lao động, của cổ đông và tăng cường sự giám sát của xã hội đối với doanh nghiệp;
bảo đảm hài hoà lợi ích của nhà nước, doanh nghiệp và người lao động. Cổ phần
hoá doanh nghiệp nhà nước không được biến thành tư nhân hoá doanh nghiệp nhà
nước.
Nhà nước có chính sách để giảm bớt tình trạng chênh lệch về cổ phần ưu
đãi cho người lao động giữa các doanh nghiệp thực hiện cổ phần hoá. Có quy định
để người lao động giữ được cổ phần ưu đãi trong một thời gian nhất định. Sửa đổi,
bổ sung cơ chế ưu tiên bán cổ phần cho người lao động trong doanh nghiệp để gắn
bó người lao động với doanh nghiệp; dành một tỷ lệ cổ phần thích hợp bán ra ngoài
doanh nghiệp.

Sửa đổi phương pháp xác định giá trị doanh nghiệp theo hướng gắn với thị
trường; nghiên cứu đưa giá trị quyền sử dụng đất vào giá trị doanh nghiệp, thí điểm
đấu thầu bán cổ phiếu và bán cổ phiếu qua các định chế tài chính trung gian. nhà
nước ban hành cơ chế, chính sách phù hợp đối với doanh nghiệp nhà nước đã
chuyển sang công ty cổ phần. Sửa đổi chính sách ưu đãi đối với các doanh nghiệp
cổ phần hoá theo hướng ưu đãi hơn đối với những doanh nghiệp khi cổ phần hoá
có khó khăn.
------------------------



×