Tải bản đầy đủ (.pdf) (142 trang)

Biện pháp quản lý công tác xã hội hóa giáo dục mầm non ở quận thanh xuân thành phố hà nội trong giai đoạn hiện nay

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (6.25 MB, 142 trang )

DANH MỤC
CHỮVIÊT TẮT TRONG LUẬN VĂN

BCH TW Đảng

: Ban chấp hành Trung ương Đảng

CNH - HĐH

: Công nghiệp hoá, hiện đại hoá

G D -Đ T

: Giáo dục đào tạo

GDMN

: Giáo dục mầm non

HĐND

: Hội đồng nhân dân

LLXH

: Lực lượng xã hội

MN

: Mầm non


NQ

: Nghị quyết

QLGD

: Quản lý giáo dục

ƯBND

: ủy ban nhân dân

XHH

: Xã hội hoá

XHHGD

: Xã hội hoá giáo dục

XHHGDMN

: Xã hội hoá giáo dục mầm non


MỤC LỤC
Mở đầu
1. Lý do chọn đề tài

1


2. Mục đích nghiên cứu của đề tài

3

3. Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

3

4. Đối tượng và khách thể nghiên cứu

3

5. Giả thuyết khoa học

4

6. Phạm vi nghiên cứu

4

7. Phương pháp nghiên cứu

4

8. Kết cấu của đề tài

5

Chương 1: c ơ SỞ LÝ LUẬN CỦA VÂN ĐỂ NGHIÊN c ứ u


6

1.1. Khái quát lịch sử nghiên cứu vấn đề

6

1.2. Các khái niệm cơ bản của đề tài

10

1.2.1. Khái niệm về quản lý

10

1.2.2. Khái niệm về quản lý giáo dục

12

1.3.

Xã hội hoá giáo dục mầm non

18

1.3.1. Xã hội hoá giáo dục

18

1.3.2. Xã hội hoá giáo dục mầm non


23

1.3.3. Nội dung và nguyên tắc chỉ đạo thực hiện XHHGDMN

25

1.3.4. Con đường thực hiện xã hội hoá giáo dục mầm non.

37

1.3.5. Đặc trưng của xã hội hoá giáo dục mầm non.

42

1.3.6. Vai trò của xã hội hoá giáo dục mầm non

44

1.4.

47

Quản lý xã hội hoá giáo dục mầm non

1.4.1. Đặc điểm quản lý xã hội hoá giáo dục mầm non

47

1.4.2. Quản lý xã hội hoá giáo dục mầm non.


48

1.4.3. Biện pháp quản lý xã hội hoá giáo dục mầm non.

49

Chương 2: TH ựC TRẠNG QUẢN L Ý CÔNG TÁC XÃ HỘI HOÁ GIÁO
DỤC MẦM NON Ở QUẬN THANH XUÂN

50

2.1. Khái quát tình hình tự nhiên, kinh tế-xã hội ảnh hưởng tới công tác xã hội
hoá giáo dục

50

2.1.1. Tình hình tự nhiên, kinh tế-xã hội của Quận Thanh Xuân

50

2.1.2. Khái quát về tình hình phát triển sự nghiệp giáo dục-đào tạo Quận
Thanh Xuân

54

2.2. Tình hình phát triển giáo dục mầm non ở Quận ThanhXuân

57



2.2.1. Qui mô phát triển và chất lượng giáo dục mầm non
2.2.2. Đầu tư kinh phí xây dựng cơ sở vật chất và trường chuẩnQuốc gia

57
60

2.2.3. Về đội ngũ cán bộ và giáo viên mầm non
2.3.

Thực trạng quản lý công tác xã hội hoá giáo dục mầm non ở Quân Thanh Xuân

62
64

2.3.1. Chủ trương của cấp uỷ, chính quyền

64

2.3.2. Công tác tham gia quản lý chỉ đạo xã hội hoá của ngành giáo dục

65

2.3.3. Đánh giá thực trạng nhận thức về xã hội hoá giáo dục mầm non ở Quận
Thanh Xuân

66

2.3.4. Thực trạng việc thực hiện nội dung xã hội hoá giáo dục mầm non ở
Quận Thanh Xuân


68

2.4. Thực trạng và các biện pháp quản lý xã hội hoá giáo dục mầm non
của Quận

70

2.4.1. Thực trạng nhận thức về tầm quan trọng của các biện pháp quản lý xã
hội hoá giáo dục mầm non ở Quận

70

2.4.2. Mức độ thực hiên các biện pháp quản lý xã hội hoá giáo dục mầm non ở Quân 71
2.4.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện các biện pháp quản lý xã hội
hoá giáo dục mầm non ở Quận

73

2.5. Đánh giá kết quả thực trạng quản lý công tác xã hội hoá giáo dục mầm
non ở Quận Thanh Xuân

74

2.5.1. Những thành tựu

74

2.5.2. Những hạn chế, tồn tại


76

Chương 3:

CÁC BIỆN PHÁP QUẢN L Ý TẢNG CƯỜNG CÔNG TÁC

XÃ HỘI HOÁ GIÁO DỤC MẦM NON Ở QUẬN THANH XUÂN

80

3.1. Những định hướng về xã hội hoá giáo dục ở Quận Thanh Xuân, Thành
phố Hà Nội

80

3.1.1. Quan điểm và định hướng phát triển XHH giáo dục

80

3.1.2. Phương hướng phát triển xã hội hoá giáo dục mầm non của Quận đến
năm 2010 và những vấn đề đặt ra cho công tác giáo dục

82

3.2. Các biện pháp quản lý nhằm tăng cường công tác xã hội hoá giáo dục mầm non

ờ Quận Thanh Xuân-Thành phố Hà Nội

85


3.2.1. Nhóm biện pháp nâng cao nhận thức theo hướng tích cực về công tác xã
hội hoá giáo dục mầm non

85

3.2.2. Nhóm biện pháp phát huy tác dụng các loại hình trường, lớp mầm non
vào đời sống cộng đồng

93


3.2.3. Nhóm biện pháp huy động các lực lượng xã hội tham gia công tác xã
hội hoá giáo dục mầm non

100

3.2.4. Nâng cao hiệu quả hoạt động của 3 môi trường giáo dục Nhà trường, gia
đình và xã hội

106

3.2.5. Nhóm biện pháp đổi mới, tăng cường quản lý xã hội hoá, thực hiện dân
chủ hoá giáo dục mầm non

109

3.3. Mối quan hệ giữa các nhóm biện pháp

113


3.4. Khảo nghiệm tính khả thi của các nhóm biện pháp quản lý tăng cường
công tác xã hội hoá giáo dục mầm non

113

3.4.1. Qui trình khảo nghiệm qua lấy ý kiến chuyên gia

113

3.4.2. Kết quả khảo nghiệm tính cấp thiết và tính khả thi

114

3.4.3. Mối tương quan giữa tính cấp thiết và tính khả thi

116

K Ế T LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ

117

1. Kết luận

117

2. Khuyến nghị

120

TÀI L IỆ U THAM KHẢO


122

PHỤ LỤC


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Bước vào ngưỡng cửa của thế kỷ XX I, nhân loại đã và đang quá độ
chuyển từ nền văn minh công nghệ sang nền văn minh trí tuệ. Mỗi quốc gia,
mỗi cộng đồng dân tộc đang đứng trước những thời cơ và thách thức lớn. Sự
hiện diện vị thế của mỗi quốc gia, của cộng đồng dân tộc trên trường quốc tế
phụ thuộc vào việc biết nắm thời cơ, vượt qua thử thách để vươn lên xây dựng
một thể chế chính trị, xã hội bền vững và phát triển. Nhân tố và cũng là động
lực hết sức quan trọng đối với tiến trình phát triển bển vững đó chính là yếu tố
con người và vấn đề giáo dục (GD).
Nhận thức sâu sắc vị trí, vai trò của sự nghiệp GD đối với sự phát triển của
đất nước. Đảng và Nhà nước ta xác định: “giáo dục là quốc sách hàng đầu”,
“đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho sự phát triển”, định hướng xây dựng một
nền GD có tính nhân dân, tính dân tộc, tính khoa học và tính hiện đại, thực
hiện công bằng xã hội trong giáo dục, tạo cơ hội để mọi người đều được học
hành. Vì vậy xã hội hoá giáo dục (XHHGD) là một chủ trương lớn có tầm
chiến lược của Đảng và Nhà nước ta, nhàm tạo ra và phát huy mọi nguồn lực
trên cơ sở có sự tham gia của toàn xã hội để phát triển một nền giáo dục tiến
tiến, chất lượng ngày càng cao.
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X khẳng định: “Giáo dục và đào tạo cùng

với khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu, là nền tảng và động lực
thúc đẩy công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Nâng cao chất lượng giáo
dục toàn diện, thực hiện “chuẩn hoá hiện đại hoá, xã hội hoá ”, chấn hưng

nền giáo dục Việt Nam. Đê cao trách nhiệm của gia đình, nhà trường và xã
hội...Đổi mới mạnh m ẽ giáo dục mầm non và giáo dục p h ổ thông. Thực hiện
xã hội hoá giáo dục. Huy động nguồn lực vật chất và trí tuệ của xã hội tham
gia chăm lo sự nghiệp giáo í/Ị/c”[21,tr.95] Trên ý nghĩa đó, chúng ta thấy rằng
mục tiêu của cải cách GD và mục tiêu của XHHGD đều cùng chung một định

1


hướng: Đào tạo con người phát triển toàn diện cả về nhân cách, bản lĩnh chính
trị lẫn kỹ năng nghề nghiệp, nhằm đáp ứng được những đòi hỏi của mô hình
xã hội, xã hội chủ nghĩa và con đường đi tới hoàn thiện mô hình xã hội đó.
Giáo dục mầm non (GDMN) là bậc học đầu tiên trong hệ thống giáo dục
quốc dân, là bậc học đặt nền tảng cho sự phát triển nguồn lực cho con người,
phục vụ trực tiếp cho mục tiêu phổ cập giáo dục ở các bậc học. Việc chăm lo
phát triển GDMN là trách nhiệm chung của các cấp chính quyền, của mỗi
ngành, mỗi gia đình và toàn xã hội dưới sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý
của Nhà nước.
Hiện nay, ngành GDMN ở nước ta đã có những tiến bộ nhiều mặt trong
việc nâng cao chất lượng giáo dục trẻ. Tại các thành phố, quận, huyện...
ngành GDMN phát triển khá mạnh mẽ cả về chất lượng và số lượng. Đặc biệt
trong xã hội đang thực hiện chủ trương kế hoạch hoá gia đình của Nhà nước,
các bậc cha mẹ đã có niềm tin vào các trường mầm non (MN) và có nhu cầu
bức thiết đưa con cái đến trường.
Muốn phát triển GDMN, không còn con đường nào khác là phải thực hiện
tốt công tác XHHGD, một sự nghiệp lớn được kế tục một cách nhất quán qua
nhiều thế hệ. Mỗi giai đoạn nhất định, đều có chính sách, mục tiêu, biện pháp
và cách thức tiến hành khác nhau, nhằm đạt được những mục tiêu định hướng
của xã hội, gia đình và chính ước vọng của trẻ em. Thời kỳ công nghiệp hoá,
hiện đại hoá (CHN, HĐH) đất nước đang đặt ra những vấn đề về trách nhiệm

của ngành giáo dục, của mỗi người dân và cộng đồng theo định hướng của
Đảng và Nhà nước về GDMN, mà chúng ta phải tiếp tục nhận thức, tìm kiếm
theo định hướng lớn này.
Quán triệt tư tưởng XHHGD được định hướng từ các Nghị quyết Đại hội
Đảng, những năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ Quận Thanh Xuân,
công tác XHHGD được tiến hành tích cực với nhiều hình thức phong phú,
cùng với việc vận động xã hội đóng góp nhân lực, tài lực, vật lực, huy động
các nguồn đầu tư cho GD. Đặc biệt là ngành học MN thực hiện đa dạng hoá
các loại hình trường lớp, gắn kết giáo dục nhà trường với cộng đồng xã hội.
2


Do vậy, sự nghiệp GDMN của Quận đã thu được những thành tựu đáng tự hào
về sự phát triển qui mô, số lượng và chất lượng giáo dục-đào tạo (GD-ĐT).
Tuy nhiên những thành tích đã đạt được, việc thực hiện xã hội hoá giáo
dục mầm non (XHHGDMN) ở Quận Thanh Xuân nói chung vẫn còn gặp
không ít khó khăn, trở ngại như: ở một số phường, xã, cấp uỷ, chính quyền,
đoàn thể, phụ huynh chưa nhận thức được vị trí, tầm quan trọng của GDMN.
Không ít quan niệm khác nhau cho rằng nội dung chính của XHHGD là huy
động kinh phí trong nhân dân hoặc có nơi quan niệm XHHGD là để dân lo là
chính dẫn đến việc đầu tư nguồn lực cho phát triển giáo dục chưa được quan
tâm đúng mức. Mặt khác việc quản lý nhà nước về công tác XHHGDMN còn
thiếu một số biện pháp phù hợp, hiệu quả. Chính từ thực trạng trên, tác giả
chọn đề tài: “Biện pháp quản lý công tác xã hội hoá giáo dục mầm non ở
Quận Thanh Xuân - Thành phố Hà Nội trong giai đoạn hiện nay” Với đề
tài này, mong muốn được góp tiếng nói nhỏ bé của mình nhằm đẩy mạnh sự
phát triển toàn diện GDMN của Quận Thanh Xuân trong giai đoạn tiếp theo.
2. Mục đích nghiên cứu của đề tài
Nghiên cứu thực trạng và các biện pháp thực hiện xã hội hoá sự nghiệp
GDMN ở Quận Thanh Xuân, từ đó đề xuất một số biện pháp quản lý nhằm

tăng cường công tác XHHGDMN trên địa bàn Quận.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
- Hệ thống hoá một số vấn đề lý luận cơ bản về quản lý giáo dục, xã hội
hoá giáo dục nói chung và xã hội hoá sự nghiệp giáo dục mầm non nói riêng.
- Phân tích thực trạng quản lý công tác xã hội hoá giáo dục mầm non tại
Quận Thanh Xuân trong những năm qua.
- Đề xuất một số biện pháp quản lý nhằm tăng cường công tác xã hội hoá
giáo dục mầm non của Quận trong giai đoạn tới.
4. Đối tượng và khách thể nghiên cứu
- Khách thể nghiên cứu: Công tác xã hội hoá giáo dục mầm non ở Quận
Thanh Xuân

3


- Đối tượng nghiên cứu: Các biện pháp quản lý tăng cường công tác xã
hội hoá giáo dục Quận Thanh Xuân - Hà Nội.
5. Giả thuyết khoa học
Xã hội hoá (XHH) là một vấn đề tất yếu khách quan trong sự nghiệp phát
triển giáo dục ở nước ta. Việc quản lý công tác XHHGD ở Quận Thanh Xuân
nói chung, XHHGDMN nói riêng trong thời gian qua tuy đã đạt được những
kết quả nhất định, song vẫn còn có những hạn chế, bất cập. Nếu đề xuất được
các giải pháp quản lý phù hợp, khả thi hơn sẽ đẩy mạnh và phát huy tốt hơn
việc quản lý công tác XHHGDMN ở Quận trong giai đoạn tới.
6. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài chỉ giới hạn nghiên cứu vấn đề xã hội hoá giáo dục mầm non trên
địa bàn Quận Thanh Xuân - Thành phố Hà Nội trong giai đoạn hiện nay.
Đề tài tập trung nghiên cứu công tác xã hội hoá giáo dục mầm non trên
các mặt cơ bản sau:
- Sự lãnh đạo của Cấp uỷ, chính quyền đối với công tác XHHGDMN.

- Vai trò của Phòng giáo dục-đào tạo trong công tác XHHGDMN.
- Sự phối hợp của các cơ quan, đoàn thể, phường xã, các tổ chức xã hội để
phát triển giáo dục mầm non.
7. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu lý luận: Phân tích, tổng hợp, khái quát hoá
những vấn đề lý luận cơ bản của đề tài làm cơ sở cho nghiên cứu thực tiễn các
giải pháp nhằm tăng cường công tác XHHGDMN ở Quận.
Vận dụng các phương pháp xã hội học như: điều tra, khảo sát, thâm nhập
thực tiễn, trao đổi với các đối tượng nghiên cứu, tham khảo các văn bản tổng
kết của các điển hình tiên tiến trong GD-ĐT. Xem xét đánh giá các báo cáo
sơ kết, tổng kết về tình hình quản lý XHHGDMN tại Quận. Từ đó phân tích,
tổng hợp, rút ra đánh giá và những bài học kinh nghiệm tạo tiền đề cho việc
đề xuất các biện pháp quản lý nhằm tăng cường công tác xã hội hoá giáo dục
mầm non trong giai đoạn mới.

4


8. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, danh mục các tài liệu tham
khảo, luận văn được trình bày trong 3 chương
Chương 1: Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu
Chương 2: Thực trạng quản lý công tác xã hội hoá giáo dục mầm non ở
Quận Thanh Xuân
Chương 3: Các biện pháp quản lý nhằm tăng cường công tác xã hội hoá
giáo dục mầm non ở Quận Thanh Xuân-Thành phố Hà Nội trong giai đoạn
hiện nay.

5



Chương 1: c ơ SỞ LÝ LUẬN CỦA VÂN ĐỂ NGHIÊN c ứ u
1.1 Khái quát lịch sử nghiên cứu vấn đề
Tiến trình phát triển của xã hội loài người từ khi có giai cấp và hình thành
Nhà nước cho đến nay, chúng ta thấy: GD là sản phẩm của xã hội, đồng thời
là một trong những nhân tố đánh dấu những nấc thang trình độ văn minh của
các thời đại trong lịch sử. Sự tồn tại và phát triển của giáo dục chịu sự chi
phối của sự phát triển kinh tế-xã hội, và ngược lại với chức năng của mình,
giáo dục có vai trò hết sức to lớn trong việc tái sản xuất sức lao động xã hội;
khơi dậy, thức tỉnh và phát huy tiềm năng sáng tạo của mỗi con người, tạo ra
môi trường cho sự phát triển kinh tế-xã hội. Chính vì điều đó mối quan hệ
biện chứng giữa GD và cộng đồng xã hội thường xuyên được diễn ra cùng với
quá trình phát triển của xã hội loài ngưòi.
Với tầm quan trọng như vậy, ngày nay GD luôn được coi là quốc sách
hàng đầu của nhiều quốc gia trên thế giới. Việc quan tâm, đầu tư, huy động
mọi nguồn lực và mọi điều kiện cho phát triển GD là sách lược lâu dài của
nhiều quốc gia. Mặc dù bản chất của GD ở các nước có khác nhau nhưng đều
cho thấy XHH sự nghiệp GD là cách làm nhổ biến, kể cả những nước có nền
công nghiệp hiện đại-kinh tế phát triển cao.
Qua các tài liệu nghiên cứu cho thấy XHHGD không phải là vấn đề hoàn
toàn mới, nó có có nguồn gốc lâu đời và là bước phát triển của một chủ
trương phát triển GD được thực hiện từ nhiều năm qua. Trải qua nhiều thời kỳ
đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam, với tư tưởng “lâỳ dân

làm gốc ”, “Sự nghiệp cách mạng là sự nghiệp của quần chúng” đã được Đảng
ta vận dụng sáng tạo và thực hiện các quan điểm “giáo dục là sự nghiệp của

quần chúng” là sức mạnh tiềm tàng cho sự phát triển nền GD nước nhà.
Dưới thời phong kiến và Pháp thuộc, giai cấp thống trị và thực dân chỉ mở
rất ít trường học, chủ yếu dành cho con em quý tộc phong kiến và con nhà

giàu. Con em nhân dân lao động không được chính quyền quan tâm, người
dân muốn được học phải tự lo dưới hình thức học ở trường tư do các thầy đồ
tự mở lớp hoặc do dân tự tổ chức nên hầu hết chịu cảnh mù chữ.
6


Cách mạng tháng Tám thành công là tiền đề tiên quyết để Đảng ta thực
hiện các quan điểm “giáo dục là sự nghiệp của quần chúng”. Ngay từ những
ngày đầu của nước Việt Nam độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra “Lời kêu
gọi chống nạn thất học”. Trong lời kêu gọi Người nêu rõ phương châm, nhiệm
vụ chống nạn thất học, chống nạn mù chữ: “Những người đ ã biết chữ hãy dạy

cho những người chưa biết chữ... Những người chưa biết chữ hãy gắng sức
mà học cho biết, vợ chưa biết chữ thì chồng bảo, em chưa biết chữ thì anh
bảo, cha mẹ chưa biết thì con cái bảo, người ăn người làm không biết chữ thì
chủ nhà bảo; các người giàu có thì mở lớp học tư gia dạy cho những người
không biết c/ỉí?’[36,tr.39]. Hưởng ứng lời kêu gọi chống nạn thất học của Hồ
Chủ tịch cả nước đã trở thành một xã hội học tập. Tiêu biểu, sôi động nhất đó
là phong trào Bình dân học vụ, từ thành thị đến nông thôn, từ miền xuôi đến
miền núi, từ khu hậu địch cho đến những nơi chiến tuyến... người người đi
học, nhà nhà đi học; trường, lớp chỉ là những nhà, lán đơn sơ. Tư tưởng giáo
dục “ai cũng được học hành ” của Hồ Chí Minh đã thực sự đi vào cuộc sống.
Đất nước hoàn toàn thống nhất, cả hai miền Nam-Bắc cùng thực hiện một hệ
thống GD và đã đạt được những thành quả nhất định. Song do cơ chế tập trung,
quan liêu bao cấp, nền GD của chúng ta không khai thác triệt để bài học phát
huy sức mạnh của toàn dân tộc để phát triển GD. Thay vì thực hiện “sự quản lý
giáo dục của Nhà nước” chúng ta đã “Nhà nước hoá giáo dục” làm cho giáo dục
bị rơi vào thế bị động, không thu hút được các nguồn lực của toàn xã hội tham
gia vào các hoạt động GD. Tình trạng cơ sở vật chất của GD xuống cấp, lạc hậu,
sự phát triển GD không đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế, xã hội của đất

nước, chưa bắt kịp với xu thế phát triển chung của thời đại.
Sự định hướng mang tính cách mạng và năng động đối với nền kinh tế
quốc gia, tất yếu đặt ra những cơ hội và thách thức đối với sự phát triển GD.
Đòi hỏi sự nghiệp GD-ĐT cũng phải đổi mới cách nhìn nhận về vị trí và vai
trò của mình đối với công cuộc đổi mới đất nước. Bên cạnh đó việc đa dạng
hoá phát triển GD lại một lần nữa ngày càng phát huy ưu thế của nó, Đảng ta

7


đã khẳng định “xã hội hoá” là một trong những quan điểm để hoạch định hệ
thống các chính sách xã hội. Nghị quyết Hội nghị lần thứ 2 Ban Chấp hành
Trung ương Đảng khoá VIII (tháng 12-1996) chỉ rõ: “giáo dục và đào tạo là

sự nghiệp của Đảng, của Nhà nước và của toàn útá/2”[18,tr.30]. Chủ trương
của Đảng là “huy động toàn xã hội làm giáo dục, động viên các tầng lớp nhân

dân cùng góp sức xây dựng nền giáo dục quốc dân dưới sự quản lý của Nhà
nước”[ 18,tr.61]. Đến Nghị quyết TW 6 khoá IX Đảng ta khẳng định: "Đẩy
mạnh xã hội hoá sự nghiệp giáo dục, xây dựng xã hội học tập, coi giáo dục là
sự nghiệp của toàn dân là một giải pháp quan trọng đ ể tiếp tục phát triển giáo
dục"[20,tr.89]. Đặc biệt Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng (42006) đã chỉ rõ: “Thực hiện xã hội hoá giáo dục. Huy động nguồn lực vật

chất và trí tuệ của x ã hội tham gia chăm lo sự nghiệp giáo dục. Phối hợp chặt
ch ẽ giữa ngành giáo dục với các ban, ngành, các tổ chức chính trị-xã hội, xã
hội - nghề nghiệp... đ ể mở mang giáo dục, tạo điều kiện học tập cho mọi
thành viên trong xã /zộ/.”[21,tr.97]
Để thực hiện chủ trương XHH, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 90/CP
ngày 21/08/1997 về “Phương hướng và chủ trương xã hội hoá các hoạt động
giáo dục, y tế, văn hoá”; Nghị định số 73/1999/NĐ-CP về Chính sách XHH

nhằm khuyến khích, huy động các nguồn lực trong nhân dân, trong các tổ chức
thuộc mọi thành phần kinh tế để phát triển các hoạt động XHH lĩnh vực GD , y
tế, văn hoá, thể thao. Ngày 18/04/2005 Chính phủ ban hành Nghị quyết số
05/NQ-CP về đẩy mạnh XHH các hoạt động GD, y tế, văn hoá, thể dục thể thao.
Viện Khoa học GD nước ta những năm qua cũng có nhiều đề tài nghiên cứu về
công tác XHHGD, tổng kết kinh nghiệm để phát triển lý luận và đề xuất chính
sách nhằm hoàn thiện về nhận thức lý luận và thực tiễn; ban hành một số văn
bản hướng dẫn thực hiện công tác XHHGD; Bộ Giáo dục và đào tạo xây dựng đề
án “Quy hoạch phát triển xã hội hoá giáo dục giai đoạn 2005-2010” v.v....
Trong thời kỳ đổi mới, cùng với các văn kiện, nghị định, thông tư, nghị
quyết của Đảng, Nhà nước về công tác GD; các cơ quan liên bộ, các nhà khoa

8


học, nhà quản lý giáo dục (QLGD) đã họp bàn và nghiên cứu về vấn đề
XHHGD. Giáo sư-Viện sĩ Phạm Minh Hạc đã khẳng định: “Xã hội hoá công tác

giáo dục là một tư tưởng chiến lược, một bộ phận của đường lối giáo dục, một
con đường phát triển giáo dục nước ta”[27,tr.330]. Hay Giáo sư Phạm Tất Dong
cũng nhấn mạnh “phát triển giáo dục theo tinh thần xã hội hoá” và đề cao việc
huy động toàn dân vào sự nghiệp cách mạng, coi đó là tư tưởng chiến lược của
Đảng, “tư tưởng đó được tổng kết lại không chỉ là một bài học kinh nghiệm tầm

cỡ lịch sử, mà trở thành một nguyên lý cách mạng của Việt Nam”[ì6]
Vấn đề XHHGD cũng đã được nghiên cứu cả về lý luận, thực tiễn cũng có
rất nhiều những bài viết về XHHGD như nhóm tác giả Bùi Gia Thịnh, PGS.
Võ Tấn Quang, Tiến sĩ Nguyễn Thanh Bình trong cuốn “Xã hội hoá giáo dục,
nhận thức và hành động”[45]. Tiến sĩ Khoa học Nguyễn Mậu Bành, GS-TS
Khoa học Thái Duy Tuyên, TS. Đào Huy Ngân... Bên cạnh đó nhiều đề tài

luận văn đã đề cập và nêu ra nhiều giải pháp công tác XHHGD như: Luận văn
của tác giả Phạm Thuý Hiền với đề tài: “Vấn đ ề xã hội hoá giáo dục mầm non

với sự nghiệp phát triển giáo dục”', Luận văn thạc sĩ của Trần Hồng Diễm về:
“Biện pháp tăng cường công tác xã hội hoá sự nghiệp giáo dục mầm non trên
địa bàn thành p h ố Bắc Ninh”...
Như vậy phát triển sự nghiệp GD-ĐT là một trong những động lực quan
trọng thúc đẩy sự nghiệp CNH, HĐH đất nước, là điều kiện để tạo ra và phát
huy lợi thế cạnh tranh của Việt Nam về nguồn lực con người trong quá trình
toàn cầu hoá. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng Cộng sản Việt
Nam (tháng 4-2006) đã xác định: “Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện;

đổi mới cơ cấu tổ chức, cơ c h ế quản lý, nội dung, phương pháp dạy và học;
thực hiện “chuẩn hoá ”, hiện đại hoá, xã hội hoá ”, chấn hưng nền giáo dục
Việt Nam”. [21,tr.95] Hiện nay cơ cấu hệ thống GD nước ta hiện nay đã có
những biến đổi và thay đổi rất lớn xét cả qui mô đào tạo cũng như chất lượng
đào tạo. Sự phát triển của cơ cấu hệ thống GD thực chất phản ánh tính chất
XHHGD, là sự thể hiện sinh động việc thực hiện mục tiêu “cả nước trở thành

một xã hội học tập”, “ai cũng được học hành”, “mọi người đi học, học

9


thường xuyên, học suốt đời”... Có thể nói - triết lý của nền GD nước ta đã và
đang xây dựng, đó là một nền GD dựa trên bốn trụ cột: ‘7ỉọc đ ể biết, học đ ể

làm, học đ ể cùng sống với nhau và học đ ể làm n g ư ờ i Chính bốn trụ cột này
phải được đặt trên nền tảng xây dựng một xã hội học tập và mọi thành viên
trong cộng đồng dân tộc, quốc gia được học tập suốt đời.

Trong hệ thống giáo dục quốc dân, GDMN là ngành học thể hiện tính xã
hội hoá cao hơn hết. GDMN thể hiện sinh động nguyên tắc Nhà nước, xã hội
và nhân dân cùng làm. Để đẩy mạnh hơn nữa sự nghiệp phát triển GDMN,
Thủ tướng Chính phủ đã tổ chức hội nghị bàn về công tác GDMN. Hội nghị
đã đề ra các giải pháp cơ bản, trong đó nhấn mạnh: Tiếp tục đẩy mạnh biện
pháp XHHGDMN; đa dạng hoá các loại hình GDMN; kiến nghị Nhà nước
cần có chính sách để đầu tư cho GDMN; ban hành Quyết định số
161/2002/QĐ-TTg về một số chính sách phát triển giáo dục mầm non. Nhiệm
vụ phát triển GDMN đến năm 2010 được khẳng định: “Nhà nước tiếp tục

tăng cường đầu tư phát triển giáo dục mầm non, đồng thời đẩy mạnh xã hội
hoá sự nghiệp giáo dục mầm non, mở rộng hệ thống nhà trẻ và trường lớp
mẫu giáo trên mọi địa bàn dân CM’...”[44,tr. 109]
Trong những năm qua, công tác XHHGDMN đã có những bước tiến quan
trong, tuy nhiên hiện nay vẫn còn rất nhiều ý kiến khác nhau về công tác
XHHGD nói chung và XHHGDMN nói riêng. Hơn nữa việc nghiên cứu xã
hội hoá giáo dục vào thực tế cuộc sống còn nhiều điểm bất cập và chưa thực
sự thấu đáo. Ở Quận Thanh Xuân chưa có tác giả nào nghiên cứu về
XHHGDMN, luận văn này sẽ đi sâu nghiên cứu cơ sở lý luận của công tác
quản lý XHHGD, trên cơ sở đó đề ra các biện pháp quản lý công tác
XHHGDMN trên địa bàn Quận Thanh Xuân hiện nay.
1.2. Các khái niệm cơ bản của đê tài
1.2.1. Khái niệm về quản lý
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin thì xã hội là một lĩnh vực
đặc thù của thế giới vật chất, có kết cấu tổ chức xác định và có những qui luật
vận động nội tại, khách quan của nó. Kết cấu tổ chức và qui luật vận động của
xã hội được biểu hiện thông qua các hoạt động thực tiễn, hoạt động xã hội
rộng lớn, có ý thức, có nhận thức của con người.

10



Trong xã hội, ngoài sự hiện diện của tập hợp người còn có những mối
liên hệ nối liền giữa con người, những bộ phận khác nhau trong nó thành một
hệ thống chỉnh thể duy nhất. C.Mác viết: “Xã hội không phải là những cá thể

người, mà biểu hiện tổng s ố những mối liên hệ và quan hệ của chúng, trong đó
những cá thể đố tồn tại với nhau.”[34,tr.214] và xã hội là “sản phẩm của sự tác
động lẫn nhau giữa người và wgMi3i”[34,tr.402]. Bên cạnh đó, chúng ta thấy xã
hội là một hệ thống tập hợp người đa mục đích, các thành viên trong xã hội vừa
có tính qui định lẫn nhau, đồng thời vừa có tính phủ định lẫn nhau. Sự khẳng
định hoặc phủ định lẫn nhau giữa các tổ chức, các nhóm người hoặc của các cá
nhân trong xã hội, xét đến cùng là do nguyên nhân về các lợi ích của họ. Có
thể đó là những lợi ích về kinh tế, về chính trị, về nhân quyền, v.v... do đó
thường đưa đến những nghịch lý mâu thuẫn về lợi ích, vừa hợp tác, vừa cạnh
tranh, thậm trí dẫn tói xung đột với nhau. Trong khi đó nhu cầu tất yếu chung
của một xã hội là phải có tính tổ chức, trật tự, có sự chế ước lẫn nhau trong các
cộng đồng xã hội; phải có sự điều khiển, phân công lao động, sắp xếp vị trí và
vai trò của các chủ thể trong xã hội. Do đó, quản lý xã hội là nhu cầu tất yếu
của xã hội, là thể thức không thể thiếu được để xã hội tồn tại và phát triển.
Nghiên cứu về lý luận quản lý, các nhà nghiên cứu với những cách tiếp
cận khác nhau, đã đưa ra rất nhiều quan niệm về quản lý. Frederics Wiliam
Taylor - Mỹ (1856-1915), người đầu tiên nghiên cứu về quá trình lao động đã
nêu ra hệ thống tổ chức lao động nhằm khai thác tối đa thời gian lao động, sử
dụng hợp lý nhất công cụ và phương tiện lao động nhằm tăng năng suất lao
động cho rằng: “Quản lý là nghệ thuật biết rõ ràng chính xác cái gì cần làm

và làm cái gì đó th ế nào bằng phương pháp tốt và rẻ nhất” [15,tr.89].
A.Fayon, nhà lý luận quản lý kinh tế người Pháp cho rằng: “Quản lý là đưa xí


nghiệp tới đích, c ố gắng sử dụng tốt các nguồn lực của nó ” [15,tr.30]
Khi nghiên cứu về cơ sở khoa học quản lý, nhiều chính trị gia, các chuyên
gia kinh tế, văn hoá, giáo dục, xã hội học đều đưa ra những định nghĩa khác
nhau về quản lý, sở đĩ như vậy là do phạm vi, quy mô, kết cấu tổ chức xã hội-

11


hoạt động của con người mà các nhà nghiên cứu đề cập. c . Mác đã chỉ ra:
“7ứí cả mọi lao động trực tiếp hay lao động chung tiến hành trên qui mô

tương đối lớn, thì ít nhiều cũng cần đến một sự chỉ đạo đ ể điều hoà những
hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận
động của toàn bộ cơ c h ế sản xuất, khác với sự vận động của những khí quan
độc lập của 1ĨÓ”. Còn theo Harold Kootz thì quản lý được hiểu “/(2 một hoạt
động thiết yếu, nó đảm bảo sự phối hợp những nỗ lực của cá nhân nhằm đạt
được các mục đích của nhỏnỉ'' [29,tr.33]. Trong tập bài giảng “Lý luận đại
cương về quản lý” của Nguyễn Quốc Chí - Nguyễn Thị Mỹ Lộc, định nghĩa
kinh điển nhất của hoạt động quản lý là: ‘T á c động cố định hướng, có chủ

đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý ịngười bị
quản lý)- trong một tổ chức-nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục
đích của tổ chức.” [11 ,tr. 1]
Một xã hội, một tổ chức hay một cộng đồng muốn phát triển tốt thì trước
hết phải có một cơ chế quản lý tốt. Cơ chế quản lý ấy phải chi phối và tác
động vào mọi lĩnh vực hoạt động của hệ thống tổ chức, xã hội và làm cho nó
vận động theo chiều hướng tích cực mà chủ thể quản lý đã định hướng từng
bước. Giáo sư Nguyễn Ngọc Quang cho rằng: “Quản lý là quá trình tác động

của chủ thể quản lý đến đối tượng nhằm điều khiển, hướng dẫn các quá trình

xã hội, hành vỉ hoạt động của con người đ ể đạt tới mục đích, đúng với ý chí
của nhà quản lý và phù hợp với quy luật khách <7«ỂZA2”[38,tr.24]. Đây là khái
niệm phù hợp, phản ánh khá đầy đủ cơ chế, chức năng quản lý đề ra.
Như vậy, quản lý là những nội dung và phương thức hoạt động cơ bản mà
nhờ đó chủ thể quản lý tác động đến đối tượng quản lý, nhằm thực hiện một
mục tiêu nhất định. Do đó, có thể coi chức năng quản lý là những “nhiệm vụ
lớn” có tính nghề nghiệp mà các nhà quản lý bất cứ ngành nào cũng phải thực
hiện trong quá trình quản lý.
1.2.2. Khái niệm về quản lý giáo dục

12


Tiến trình phát triển của xã hội loài người từ khi có giai cấp và hình thành
Nhà nước cho đến nay, chúng ta thấy: GD là một hoạt động xã hội rộng lớn
và hết sức quan trọng, có liên quan trực tiếp đến lợi ích, quyền lợi và nghĩa vụ
của mọi thành viên trong xã hội, mọi tổ chức kinh tế-xã hội của mỗi quốc gia.
Đồng thời, GD là một nhân tố có tác động mạnh mẽ đến tiến trình hưng thịnh
hay suy vong của một thể chế chính trị, một triều đại và của cả một thời đại.
Vì thế ngay từ thời kỳ cổ đại các nhà triết học, giáo dục học, sử gia đã sớm
nhận thức được tầm quan trọng của nó.
Nhà triết học cổ đại Hy Lạp-Platon (429-347 tr CN), ông đã nêu: “Muốn

kiến thiết một quốc gia phải lấy giáo dục làm nền tảng và phải theo đuổi công
trình ấy suốt cả đời”. Khổng Tử (551-479 tr CN), nhà giáo dục lớn thời cổ đại
của Trung Quốc, ông coi GD là nằm trong hệ thống “Thứ - Phú - Giáo” đòi
hỏi những nhà chính trị, những người cầm quyền không được sao nhãng. Sử
gia nổi tiếng của nước Pháp - Jules Machalet (1789-1874), ông khẳng định:
“Thành phần thứ nhất của chính trị là gì? - Giáo dục,
Thành phần thứ hai của chính trị là gì? - Giáo dục,

Thành phần thứ ba của chính trị là gì? - Giáo dục”
Như vậy, qua các công trình nghiên cứu của các nhà nghiên cứu về xã hội
học, về GD từ thời kỳ cổ đại cho đến nay cho thấy: GD là một hiện tượng xã
hội có lịch sử lâu đời và tồn tại song hành cùng với sự phát triển của xã hội
loài người. GD là sản phẩm của xã hội, đồng thời là một trong những nhân tố
đánh dấu những nấc thang trình độ văn minh của các thời đại trong lịch sử.
Trong sách “Giáo dục học” của A.Ilinna, nhà giáo dục học Xô viết cho
rằng: “...giáo dục là một quá trình truyền thụ kinh nghiệm lịch sử - xã hội

cho các th ế hệ mới, nhằm chuẩn bị cho họ bước vào cuộc sông xã hội và bước
vào lao động sản xuất” [40,tr.6]
Còn cố giáo sư Hà Thế Ngữ của nước ta cũng đưa ra khái niệm về giáo
dục tương tự. Ông viết: “Giáo dục là quá trình đào tạo con người một cách cổ

mục đích, nhằm chuẩn bị cho con người tham gia đời sống xã hội, tham gia

13


lao động sản xuất, bằng cách tổ chức việc truyền thụ và lĩnh hội những kinh
nghiệm lịch sử-xã hội của loài người”[4ì,ư.32]
Giáo dục được hiểu là hoạt động có tổ chức, có mục đích, có kế hoạch, có
hệ thống của GD, nhằm tạo ra sức mạnh có tính chất đa dạng về thể chất, về
tinh thần của con người, đáp ứng được những nhu cầu phát triển kinh tế và xã
hội. Giáo dục còn là quá trình hình thành cho con người những tri thức khoa
học về thế giới quan, về lý tưởng, đạo đức, thái độ thẩm mỹ. Trên cơ sở đó
hình thành nhân sinh quan, phát triển đức, trí, thể, mỹ của từng con người cụ
thể. Bên cạnh đó, GD có sứ mệnh cao cả rèn luyện nhân cách cho từng cá
nhân ở từng đối tượng cụ thể, làm cho mỗi con người trở thành những chủ thể
có kỹ năng và bản lĩnh khi đối diện với những vấn đề đặt ra của thế giới và

của bản thân. Họ sẽ hiện diện với môi trường sống không chỉ bằng kiến thức,
trí nhớ mà cả sự lựa chọn về đạo đức và hệ giá trị. Như vậy, theo nghĩa chung
nhất: "Giáo dục là quá trình truyền đạt và lĩnh hội những tri thức, kỹ năng, kỹ

xảo và những kinh nghiệm nhằm chuẩn bị cho con người bước vào cuộc sống
lao động và sinh hoại xã hội; là một nhu cầu tất yếu của xã hội loài người,
dảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của con người và xã hội" [35,tr.7].
Trong thời đại ngày nay các quốc gia trên thế giới cũng như Việt Nam đều
ghi nhận và thừa nhận vị trí và vai trò to lớn của GD đối vói sự phát triển của xã
hội loài người, đối với việc hình thành và phát triển nhân cách và phẩm giá của
con người. Đảng ta, vófi quan điểm đổi mới từ Đại hội lần thứ VI đến Đại hội lần
thứ X luôn khẳng định: “giáo dục vừa là mục tiều, vừa là động lực của sự phát

triển kinh tế-xã hội; giáo dục là quốc sách hàng đầu; đẩu tư cho giáo dục là đầu
tư cho phát triển bền vững. ” Do đó QLGD đã trở thành chương trình nghị sự, trở
thành mối quan tâm thường xuyên của Đảng, Nhà nước ta.
Quản lý giáo dục là một bộ phận của quản lý xã hội cùng với sự đi lên của
tổ chức xã hội, khoa học quản lý ngày càng phát triển mạnh mẽ và có ý nghĩa
quyết định trong mọi mặt của đời sống kinh tế xã hội. Khoa học QLGD đã
hình thành phát triển khá sớm, trở thành yếu tố quan trọng, góp phần nâng

14


cao chất lượng giáo dục. Để phát huy sức mạnh tổng hợp và các chức năng
đặc biệt của hoạt động GD, các nhà khoa học quan tâm đặc biệt đến vấn đề
QLGD - tức là vấn đề điều khiển quá trình GD, rèn luyện con người nói
chung, đặc biệt là hệ thống nhà trường, nơi GD và rèn luyện thế hệ trẻ nói
riêng và cho mọi người có nhu cầu học tập thường xuyên.
Theo M.I.Kônzacôvi: “Quản lý giáo dục là tác động có hệ thống, có k ế


hoạch, có ỷ thức và hướng đích của chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau đến
tất cả các mắt xích của hệ thống, nhằm mục đích đảm bảo việc hình thành
chung của xã hội cũng như những quy luật của quá trình giáo dục, sự phát
triển thể lực và tâm lý trẻ em” [33,tr.234]
Giáo sư. Tiến sĩ Khoa học Lê Du Phong khái niệm quản lý Nhà nước về
giáo dục: “Quản lý Nhà nước về giáo dục là quản lý theo ngành do một cơ

quan Trung ương đại diện cho Nhà nước là Bộ Giáo dục và đào tạo thực hiện.
Đó là việc xây dựng chiến lược, qui hoạch, k ế hoạch, cơ c h ế và chính sách
phát triển giáo dục-đào tạo của đất nước, phù hợp với sự phát triển kinh tế-xã
hội nước nhà và của thời đại cũng như tổ chức thực hiện thành công các vấn
đ ề đó, nhằm nâng cao không ngừng trình độ dân trí của dân và tạo cho đất
nước một đội ngũ nhân lực có trình độ cao, bảo đảm thành công sự nghiệp
công nghiệp hoá, hiện đại /ỉ0<á”.[32,tr.71]
QLGD là quá trình tác động của chủ thể quản lý vào toàn bộ hoạt động
của giáo dục nhằm thúc đẩy GD phát triển theo mục tiêu mà Đảng và Nhà
nước đã xác định. QLGD được biểu hiện thông qua quản lý mục tiêu đào tạo,
chương trình đào tạo, quản lý cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ dạy và
học, quản lý đội ngũ cán bộ, giáo viên, quản lý người học và chất lượng giáo
dục, đào tạo... Do đó có thể nhận thấy “QLGD là hoạt động điều hành các
nhà trường để giáo dục vừa là sức mạnh, vừa là mục tiêu của nền kinh tể”
Như vậy, có thể thống nhất quan niệm: Quản lý giáo dục là hoạt động

điều hành, phối hợp các lực lượng giáo dục nhằm đẩy mạnh công tác giáo
dục, đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển của xã hội.

15



Sự phát triển của nền kinh tế thị trường nhiều thành phần ở nước ta, một
mặt tạo ra những nguồn lực mófi cho sự phát triển kinh tế; mặt khác, cũng tạo ra
điều kiện và nhu cầu mới về đa dạng hoá các hình thức GD và đào tạo của cộng
đồng dân cư, các tầng lớp người dân và các thành phần kinh tế trong xã hội. Do
vậy, các nhà QLGD phải có chủ trương hết sức đúng đắn và thực thi có hiệu
quả cơ chế quản lý mới đối với sự nghiệp GD-ĐT, một khi đã xác định, coi GD
là “quốc sách hàng đầu”, “đầu tư cho GD là đầu tư cho sự phát triển bền vững”.
Trong chiến lược phát triển kinh tế-xã hội của Đảng và Nhà nước thì cái được
và cái chưa được, thành tựu và những hiện tượng tiêu cực trong GD-ĐT của
nước ta hiện nay, phải phụ thuộc vào việc thực hiện cơ chế QLGD, của hệ
thống chính quyền Nhà nước, từ Trung ương đến các cơ sở và năng lực của đội
ngũ cán bộ QLGD ở các cấp học, các ngành học. Định hướng cơ bản của công
cuộc đổi mới cơ chế QLGD ở nước ta bước vào thế kỷ XXI, có thể được hiểu là
phải đẩy nhanh quá trình xây dựng, hoàn thiện và củng cố tổ chức bộ máy quản
lý của Nhà nước về GD-ĐT từ Trung ương đến tỉnh, thành phố, Quận, huyện.
Thực hiện phân cấp QLGD một cách hợp lý giữa Trung ương và địa phương,
đảm bảo Nhà nước quản lý thống nhất về hệ thống GD quốc dân, đồng thòi
nâng cao tính chủ động, tự chủ của các cơ sờ GD-ĐT địa phương.
Tính đến năm học 2005-2006 cả nước có hơn 10.400 cán bộ QLGD làm
việc ở Bộ, Sở, Phòng giáo dục và đào tạo, Phòng Lao động-Thương binh xã
hội. Có khoảng 80.000 cán bộ QLGD làm việc tại Ban giám hiệu các trưcmg,
Ban chủ nhiệm các Khoa, lãnh đạo các phòng, ban của hơn 35.000 trường học
các loại. Đội ngũ cán bộ QLGD chiếm khoảng 10% trong tổng số cán bộ,
công chức, viên chức ngành giáo dục. Trong đó khoảng 18% ở giáo dục mầm
non, 65% ở giáo dục phổ thông và giáo dục thường xuyên, 6% ở giáo dục
nghề nghiệp, cao đẳng, đại học, 11 ở cơ quan giáo dục các cấp.*
Để nâng cao chất lượng, năng lực của đội ngũ cán bộ QLGD, Đảng và
Nhà nước ta đã hết sức quan tâm đến việc xây dựng cơ sở vật chất, phát triển
* Con số và tỷ lệ này dựa trên Báo cáo trước Quốc hội về đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý trong lĩnh vực
giáo dục, đào tạo và dạy nghề, của Bộ Trường Giáo dục-đào tạo Nguyễn Thiên Nhân ngày 7 -1 1 -2 0 0 6


16


các cơ sở trường học để đào tạo, bồi dưỡng cán bộ QLGD các cấp, các ngành
học. Hiện nay chúng ta đã có Học viện Quản lý giáo dục và Trường Cán bộ
quản lý giáo dục và đào tạo II trực thuộc Bộ GD-ĐT. Các tỉnh, thành phố trực
thuộc Trung ương đều có các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng cán bộ QLGD của Hà
Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, tỉnh Phú Thọ, Thái Bình, có 33 khoa QLGD
thuộc các trường đại học, cao đẳng sư phạm địa phương, 2 trung tâm đào tạobồi dưỡng cán bộ quản lý thuộc trường đại học của tỉnh Thanh Hoá và thành
phố Hải Phòng. Chương trình đào tạo-bồi dưỡng được cụ thể hoá, hiện đại hoá
đối với từng đối tượng cán bộ quản lý ở các trường: Mầm non, trường tiểu
học, Trung học cơ sở, Trung học phổ thông, Dân tộc nội trú, Trung cấp
chuyên nghiệp, Trung tâm giáo dục thường xuyên, Trung tâm kỹ thuật tổng
hợp-hướng nghiệp, Đại học và cao đẳng, thanh tra viên giáo dục tiểu học và
trung học cơ sở, nữ cán bộ quản lý giáo dục...
Hàng năm hoặc từng thời kỳ của chu kỳ, Bộ Giáo dục và đào tạo, các sở
Giáo dục của các tỉnh, thành phố đã xây dựng kế hoạch và qui hoạch đào tạo
bồi dưỡng đội ngũ cán bộ QLGD. Thực hiện thí điểm chương trình đào tạo
cán bộ quản lý với những cấp học, ngành học khác nhau, v.v...
Thực hiện công cuộc đổi mới, sự nghiệp giáo dục và đào tạo nước ta đạt
được những thành tựu đáng kể ở trên tất cả các lĩnh vực như: thực hiện phân
cấp QLGD; đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ nhà giáo và cán bộ QLGD; đa dạng
hoá các hình thức GD-ĐT; nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục; đầu tư
xây dựng cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ dạy và học, thực hiện chương
trình kiên cố hoá trường học, lớp học; thực hiện một loạt các chính sách
khuyến khích người học và người dạy; thiết lập các mối quan hệ quốc tế trên
nhiều mặt trên lĩnh vực đào tạo nguồn nhân lực cũng như các trang thiết bị
dạy và học tiên tiến, hiện đại... Những thành tựu lớn lao đó, đặc biệt là công
tác QLGD đã và đang tạo ra nguồn nhân lực có phẩm chất cách mạng và năng

lực, từng bước đáp ứng được những nhu cầu phát triển của nền kinh tế thị
trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, sự nghiệp CNH, HĐH đất nước.
Đồng thời những bước tiến, sư đổi mới của công tác QLGD tao ra sức manh
! R U N G Ĩ À M Ĩ H Ò N G TIN THƯ y . Ẻ N

17


nội sinh trong chính ngay bản thân sự nghiệp giáo dục và đào tạo trong tiến
trình tổ chức thực hiện XHHGD, một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước.
1.3. Xã hội hoá giáo dục mầm non
1.3.1. Xã hội hoá giáo dục
Trước khi đi vào khái niệm “Xã hội hoá giáo dục”, chúng ta cần làm rõ
thuật ngữ xã hội hoá (XHH). XHH - thuật ngữ này đã được các nhà kinh tế
học, xã hội học, giáo dục học từ những năm cuối thế kỷ X IX và những năm
đầu thế kỷ X X sử dụng, nhằm biểu đạt một số những vấn đề thuộc các lĩnh
vực nghiên cứu của mình.
Năm 1989, G.En Daweit cho rằng: “A27 hội hoá được hiểu chung như là

một quá trình biện chứng, trong đó mối người với tư cách là thành viên của
xã hội trở nên có năng lực hành động trong xã hội đố và mặt khác, thông qua
quá trình này duy trì và tái sản xuất xã hội”
Theo Côlin Fasen, thì: “Aứ hội hoá là một quá trình động viền mọi tầng

lớp nhân dân tham gia một cách tích cực và chủ động vào một lĩnh vực xã hội
nào đó, huy động hợp lý và sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực của Nhà nước
và của nhân dân nhằm đạt được các mục tiêu phát triển xã hội.”
Tháng 10 năm 1998, Hội thảo quốc gia xây dựng chiến lược vận động xã
hội cho chương trình nước sạch và vệ sinh môi trường Bộ Y tế - UNICEF tổ
chức tại Đại Lải, cho rằng: “A27 hội hoá là quá trình tập hợp tất cả các liên


minh xã hội nhằm nâng cao nhận thức và nhu cầu của người dân về một
chương trình phát triển trong một lĩnh vực nhất định đ ể hỗ trợ cho việc cung
ứng các nguồn lực và các dịch vụ, và đ ể tăng cường sự tham gia của cộng
đồng một cách tự lực và bền vững.”
Những quan điểm trên đây đã nêu lên nội dung cơ bản của khái niệm
XHH. Cho dù các định nghĩa đó được đề cập ở mức độ nông sâu khác nhau,
nhưng cốt lõi của vấn đề ở chỗ làm cho chúng ta thấy rằng: Xã hội hoá là quá

trình cá nhân nhờ hoạt động, giao lưu, giao tiếp, tiếp thu giáo dục... mà học
hỏi được cách sống trong cộng đồng, trong đời sống xã hội và phát triển được

18


khả năng đảm nhiệm các vai trò xã hội với tư cách vừa là cá thể vừa là một
thành viên của xã hội.
GD được coi là một lĩnh vực đặc thù của đời sống xã hội, nó vừa nằm trong
lĩnh vực thuộc hình thái ý thức xã hội, kiến trúc thượng tầng vừa nằm trong các
quan hệ xã hội, quan hệ sản xuất thuộc hạ tầng cơ sở. Sự tồn tại và phát triển
của GD chịu sự chi phối của sự phát triển kinh tế-xã hội, và ngược lại với chức
năng của mình, GD có vai trò hết sức to lớn trong việc tái sản xuất sức lao động
xã hội; khơi dậy, thức tỉnh và phát huy tiềm năng sáng tạo của mỗi con người,
tạo ra môi trường cho sự phát triển kinh tế-xã hội. Chính vì vậy, mọi hoạt động
của GD cho dù ở bất cứ thời điểm lịch sử nào đều mang tính chất và bản chất
xã hội. Còn XHHGD ở mức độ nào, diễn ra theo những định hướng ra sao...
điều đó phụ thuộc vào kết cấu quan hệ xã hội, phụ thuộc vào yêu cầu và nhu
cầu phát triển kinh tế-xã hội của các thể chế chính trị của từng quốc gia.
XHHGD thực chất là xã hội hoá các hoạt động GD, XHH sự nghiệp giáo
dục. XHH sự nghiệp giáo dục là quá trình hướng mọi hoạt động của GD tham

gia vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Đồng thời xã hội tiếp nhận GD như
là công việc của chính mình và của mọi cá nhân, các tổ chức đoàn thể, các
cấp chính quyền đều có trách nhiệm tham gia. Có thể nói một cách khái quát:

Xã hội hoá giáo dục là quá trình mà cả cộng đồng và xã hội cùng tham gia
vào giáo dục. Trong đó, mọi tổ chức, gia đình và công dân có trách nhiệm
chăm lo sự nghiệp giáo dục, phối hợp với nhà trường thực hiện mục tiêu giáo
dục, xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh và an toàn.
XHHGD, thuật ngữ này ở cấp độ nào đó đồng nghĩa với thuật ngữ “xã hội
học tập” Hai thuật ngữ này lần đầu tiên xuất hiện trong Báo cáo của UNESCO
có tựa đề “Học để tồn tại; Thế giới giáo dục hôm nay và ngày mai”. Nội dung
của nó bao gồm hai khía cạnh song hành, quan hệ mật thiết vói nhau. Đó là,
thứ nhất: Mọi tổ chức, mọi tập thể, mọi cá nhân theo khả năng của mình đều
có thể cung ứng cơ hội học tập cho cộng đồng. Thứ hai: Mọi người dân trong
cộng đồng đều có thể tận dụng cơ hội để có cơ hội học tập và tham gia phát
triển giáo dục cộng đồng, nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống cho bản thân.

19


XHHGD là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước ta, là quan điểm có tính
chiến lược trong việc xây dựng và tổ chức thực hiện đường lôi phát triển GD. Từ Nghị
quyết Hội nghị lần thứ 2 (Khoá Vffl) đêh phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã
hộí 5 năm giai đoạn 2006-2010, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng (tháng
4-2006) đã chỉ rõ: ''Thực hiện xã hội hoá giáo dục-Huy động nguồn lực vật chất và trí

tuệ của xã hội tham gia chăm lo sự nghiệp giáo dục. Phối hợp chặt chẽ giữa ngành giáo
dục với các ban, ngành, các tổ chức: chính trị-xã hội, xã hội-nghề nghiệp... đ ể mở mang
giáo diỊc, tạo điều kiện học tập cho mọi thành viên trong xã hội” [21,tr.97]
XHHGD không phải là một giải pháp tình thế nhất thòi chỉ được tổ chức

thực hiện trong một thời gian nhất định, mà là một tư tưởng chiến lược cách
mạng lâu dài. Chính vì vậy XHHGD đã được đưa vào văn bản pháp luật, tại
Điều 12, Luật giáo dục năm 2005 ghi rõ: “Phát triển giáo dục, xây dựng xã

hội học tập là sự nghiệp của Nhà nước và của toàn dân. Nhà nước giữ vai trò
chủ đạo trong phát triển sự nghiệp giáo dục; thực hiện đa dạng hoá các loại
hình trường và các hình thức giáo dục; Khuyến khích, huy động và tạo điều
kiện đ ể tổ chức, cá nhân tham gia phát triển sự nghiệp giáo dục.”
Bản chất xã hội của XHHGD là tổ chức thực hiện xây dựng một nền GD
xã hội chủ nghĩa cửa dân, do dân và vì dân. Giảm bớt được những gánh nặng và
sự “khoán trắng” về đầu tư ngân sách của nhà nước vào GD. Bên cạnh đó
XHHGD chính là: “giáo dục cho tất cả mọi người; tất cả mọi người cho sự
nghiệp giáo dục”, đó là đưa GD gắn với xã hội, vói cộng đồng và GD phục vụ
cho mục tiêu xã hội, phục vụ cộng đồng. Cơ sở tư duy của XHHGD là đặt GD
vào đúng vị trí của nó. GD là bộ phận không thể tách rời của hệ thống xã hội.
GD cùng với khoa học và công nghệ là động lực phát triển kinh tế-xã hội.
Nội dung hoạt động XHHGD được Đảng và Nhà nước đề cập hết sức phong
phú; như từ việc huy động các LLXH đầu tư các nguồn lực bao gồm vật lực, tài
lực cho GD; Tham gia vào quá trình đa dạng hoá các loại hình trường, lớp, các
hình thức học tập; Tạo lập và đẩy mạnh phong trào học tập rộng khắp trong xã
hội, mọi thành viên trong xã hội, không phân biệt tuổi tác, nghề nghiệp, chỗ
đứng trong xã hội đều được học, học thường xuyên, học suốt đời; huy động các
20


LLXH tham gia xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh và QLGD có hiệu
quả. Qúa trình này thể hiện tính chất dân chủ và bình đẳng của nền GD nước ta.
Sự gắn kết giữa 3 môi trường trong giáo dục: nhà trường, gia đình và xã hội, làm
cho mọi người, mọi tổ chức chính trị-xã hội, các tổ chức kinh tế, các doanh
nghiệp và mọi cá nhân trong xã hội nhận thức và tổ chức thực hiện đầy đủ trách

nhiệm của mình trong sự nghiệp phát triển giáo dục và QLGD. Xây dựng môi
trường giáo dục lành mạnh, đổi mới cơ chế QLGD sẽ là những biện pháp hữu
hiệu để tuyên chiến với 4 tiêu cực đang “có” trong ngành giáo dục hiện nay bao
gồm: Tiêu cực trong thi cử; Bệnh thành tích trong giáo dục; Học sinh “ngồi

nhầm lớp” và vi phạm đạo đức nhà giáo.
Chủ trương XHHGD của Đảng và Nhà nước đã và đang thu hút sự quan
tâm nghiên cứu của các Vụ, Viện, các ban, ngành thuộc Bộ Giáo dục-đào tạo
cũng như các ban, ngành có liên quan. Nhiều chuyên gia GD có tâm huyết đã
có những bài viết, những công trình nghiên cứu xung quanh vấn đề XHHGD;
Viện sỹ, Giáo sư Phạm Minh Hạc trong cuốn “Giáo dục Việt Nam trước
ngưỡng cửa thế kỷ X X I” đã khẳng định: “Sự nghiệp giáo dục không phải chỉ

là của Nhà nước mà là của toàn xã hội, mọi người cùng làm giáo dục, Nhà
nước và xã hội, Trung ương và địa phương cùng làm giáo dục''' [27,tr.331]
Chuyên gia Nguyễn Trần Bạt trong bài “Xã hội hoá giáo dục ” sau khi nêu
rõ “XHHGD là tinh thần, là nội dung quan trọng nhất của cải cách giáo dục,

bảo đảm sự thành công của cải cách giáo dục”. Tác giả đã khẳng định:
“XHHGD cố nghĩa là Nhà nước phải tạo ra không gian xã hội, pháp luật và

chính trị cho việc hình thành một khu vực GD mà ở đấy ai cũng cố quyền
đống góp vì sự nghiệp GD, thực hiện sự cạnh tranh về chất lượng GD, tức là
giáo dục phải thuộc vê xã hội”, tác giả còn đề cập và nhấn mạnh: “XHHGD
không chỉ là đa dạng hoá hình thức và các nguồn đầu tư cho GD-ĐT, mà
quan trọng nhất là đa dạng hoá nội dung hay đa dạng hoá, hiện đại hoá
chương trình giáo dục thích ứng với những đòi hỏi của xã hội ”.[5]

21



×