ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
HÀ TIẾN SỰ
GIẢI PHÁP HUY ĐỘNG NGUỒN LỰC CỦA CỘNG
ĐỒNG TRONG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TRÊN
ĐỊA BÀN HUYỆN VĂN BÀN TỈNH LÀO CAI
LUẬN VĂN THẠC SĨ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
THÁI NGUYÊN, 2019
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
HÀ TIẾN SỰ
GIẢI PHÁP HUY ĐỘNG NGUỒN LỰC CỦA CỘNG
ĐỒNG TRONG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TRÊN
ĐỊA BÀN HUYỆN VĂN BÀN TỈNH LÀO CAI
Chuyên ngành: Phát triển nông thôn
Mã số: 8620116
LUẬN VĂN THẠC SĨ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Trần Văn Điền
THÁI NGUYÊN, 2019
i
LỜI CAM ĐOAN
Luận văn tốt nghiệp “Giải pháp huy động nguồn lực của cộng đồng trong xây
dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai”,, chuyên ngành
Phát Triển Nông Thôn là công trình nghiên cứu của riêng tôi luận văn đã sử dụng
thông tin từ nhiều nguồn khác nhau, các thông tin có sẵn đã được trích rõ nguồn gốc.
Tô xin cam, đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu đã đưa trong luận văn này
là trung thực và chưa được sử dụng trong bất cứ một công trình nghiên cứu khoa học
nào. Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ trong việc thực hiện đề tài này đã được
cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong đề tài đều đã được chỉ rõ nguồn gốc.
Thái Nguyên, ngày 01 tháng 8 năm2019
Học viên
Hà Tiến Sự
ii
LỜI CẢM ƠN
Sau một thời gian học tập và nghiên cứu, đến nay em đã hoàn thành bài luận
văn tốt nghiệp theo kế hoạch của trường Đại học Nông Lâm với đề tài “Giải pháp huy
động nguồn lực của cộng đồng trong xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện
Văn Bàn, tỉnh Lào Cai”,.
Có được kết quả này lời đầu tiên em xin gửi lời cám ơn đến các thầy giáo
PGS.TS. Trần Văn Điền đã hướng dẫn em trong quá trình hoàn thành luận văn. Thầy
đã chỉ bảo và hướng dẫn tận tình cho em những kiến thức lý thuyết, thực tế cũng như
các kỹ năng trong viết bài, đồng thời cũng chỉ rõ những thiếu sót và hạn chế để em
hoàn thành bài báo cáo với kết quả tốt nhất. Thầy luôn là người truyền động lực giúp
em hoàn thành tốt giai đoạn thực tập tốt nghiệp và viết luận văn.
Cho phép em gửi lời cảm ơn sâu sắc tới các phòng ban của UBND huyện Văn
Bàn, UBND các xã Làng Giàng, Khánh Yên Thượng, Nậm Chày đã nhiệt tình giúp đỡ
em, cung cấp cho em các thông tin, số liệu để phục vụ cho bài báo cáo. Đã tạo mọi
điều kiện giúp em hoàn thành luận văn.
Em xin chân thành biết ơn sự tận tình dạy dỗ của các thầy cô trong Trường Đại
học
Nông Lâm, đặc biệt là các thầy cô trong khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn, phòng
Đào
tạo.
Lời cảm ơn chân thành và sâu sắc, em xin gửi đến gia đình, bạn bè đã luôn sát
cánh và động viên em trong những giai đoạn khó khăn nhất.
Thái Nguyên, ngày 01 tháng 8 năm2019
Học viên
Hà Tiến Sự
3
MỤC LỤC
Trang
Mở đầu
1
1. Tính cấp thiết của đề tài
1
2. Mục tiêu nghiên cứu
2
3. Đối tượng nghiên cứu
2
4. Phạm vi nghiên cứu
2
5. Những đóng góp mới, ý nghĩa khoa học và thực tiễn
3
Chương 1: Cơ sở khoa học của đề tài
4
1.1. Cơ sở lý luận về xây dựng NTM và huy động nguồn lực xây dựng NTM
4
1.1.1. Khái niệm nông thôn và nông thôn mới
4
1.1.2. Khái niệm nguồn lực và nguồn lực cộng đồng
5
1.1.3. Huy động nguồn lực cộng đồng trong phát triển nông thôn
6
1.1.4. Nội dung chủ yếu về chương trình xây dựng nông thôn mới
11
1.2. Cơ sở thực tiễn về xây dựng NTM và huy động nguồn lực xây dựng NTM
13
1.2.1. Một số kinh nghiệm xây dựng NTM trên thế giới và ở Việt Nam
13
1.2.2. Kinh nghiệm ở Việt Nam
16
1.2.3. Kinh nghiệm cho huyện Văn Bàn
24
Chương 2: Đặc điểm địa bàn nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu
26
2.1. Đặc điểm địa bàn nghiên cứu
26
4
2.1.1. Điều kiện tự nhiên, tài nguyên và môi trường
26
2.1.2. Điều kiện kinh tế - xã hội
28
2.2. Nội dung nghiên cứu
35
2.3. Phương pháp nghiên cứu
36
2.3.1. Phương pháp thu thập thông tin
36
2.3.2. Phương pháp phân tích
37
2.4. Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu
37
Chương 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
39
3.1. Tình hình xây dựng nông thôn mới tại huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai
39
3.1.1. Chương trình xây dựng NTM của huyện giai đoạn 2015-2017
39
3.1.2. Đánh giá chung
41
3.2. Tình hình huy động nguồn lực cộng đồng cho chương trình xây dựng NTM tại
địa bàn nghiên cứu
42
3.2.1. Kết quả huy động nguồn lực xây dựng nông thôn mới của huyện Văn Bàn
42
3.2.2. Khái quát chung 3 xã nghiên cứu
44
3.2.3. Sự hiểu biết của người dân và cán bộ xã, thôn về chương trình xây dựng nông
thôn mới
46
3.2.4. Tình hình huy động nguồn lực xây dựng NTM ở xã Làng 5252Giàng
52
3.2.5. Tình hình huy động nguồn lực xây dựng NTM ở xã Khánh Yên Thượng
53
3.2.6. Tình hình huy động nguồn lực xây dựng NTM ở xã Nậm Chày
54
3.3. Xác định những hạn chế, khó khăn, nguyên nhân và đề xuất một số giải
pháp để huy động nguồn lực cộng đồng trong chương trình xây dựng NTM
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN
55
5
3.3.1. Phân tích điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức (SWOT) trong việc
huy động nguồn lực cộng đồng xây dựng nông thôn mới huyện Văn Bàn
3.3.2. Nguyên nhân của hạn chế huy động nguồn lực cộng đồng trong chương trình
xây dựng NTM huyện Văn Bàn
3.3.3. Đề xuất một số giải pháp để huy động nguồn lực cộng đồng trong xây dựng
nông thôn mới tại huyện Văn Bàn
58
59
60
Kết luận và kiến nghị
69
Kết luận
69
Kiến nghị
70
Tài liệu tham khảo
72
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN
6
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Từ viết tắt
Nghĩa
BCĐ
Ban chỉ đạo
BQL
Ban quản lí
CNH-HĐH
Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa
CSHT
Cơ sở hạ tầng
HTX
Hợp tác xã
KT-XH
Kinh tế xã hội
MTQG
Mục tiêu quốc gia
NN&PTNT
Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
NTM
Nông thôn mới
PTNT
Phát triển nông thôn
TTCN
Tiểu thủ công nghiệp
UBND
Ủy ban nhân dân
VSMT
Vệ sinh môi trường
VHXH
Văn hoá - Xã hội
XĐGN
Xóa đói giảm nghèo
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN
vii
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Tình hình sử dụng đất huyện Văn Bàn
27
Bảng 2.2: Cơ cấu kinh tế huyện Văn Bàn
28
Bảng 2.3: Cơ cấu giá trị sản lượng nông nghiệp, lâm nghiệp
28
và thủy sản trên địa bàn huyện Văn Bàn
Bảng 2.4: Diện tích các loại cây trồng trên địa bàn huyện Văn Bàn
29
Bảng 2.5: Số lượng gia súc, gia cầm huyện Văn Bàn
30
Bảng 2.6: Dân số trung bình phân theo giới tính và phân theo thành thị, nông thôn
31
Bảng 2.7: Kết cấu hạ tầng, dịch vụ của các xã, thị trấn trên địa bàn huyện
32
Bảng 3.1: Tổng hợp kết quả rà soát các tiêu chí NTM huyện Văn Bàn tính đến
tháng 12/2017
Bảng 3.2: Kết quả huy động nguồn lực cộng đồng xây dựng NTM huyện Văn
Bàn giai đoạn 2015 - 2017
40
43
Bảng 3.3: Một số thông tin 3 xã nghiên cứu thời điểm cuối năm 2017
45
Bảng 3.4 Sự hiểu biết của người dân về chương trình xây dựng NTM
46
Bảng 3.6: Sự hiểu biết của cán bộ về chương trình NTM
47
Bảng 3.7: Đánh giá của cán bộ và người dân về việc triển khai xây dựng NTM tại
địa phương
Bảng 3.8 Những việc người dân tham gia vào xây dựng nông thôn mới (n=135)
Bảng 3.9: Ý kiến đánh giá của cán bộ xã, thôn về sự tham gia cộng đồng trong
xây dựng NTM (n = 30)
Bảng 3.10: Nguồn vốn cho xây dựng NTM tại xã Làng Giàng đến tháng 12/2017
Bảng 3.11: Nguồn vốn cho xây dựng NTM tại xã Khánh Yên Thượng tính đến
tháng 12/2017
Bảng 3.12: Nguồn vốn cho xây dựng NTM tại xã Nậm Chày tính đến tháng
12/2017
Bảng 3.13: Ý kiến của các hộ dân về việc huy động nguồn lực cho chương
trình xây dựng NTM
Bảng 3.14: Ý kiến của cán bộ xã, thôn về khó khăn huy động nguồn lực từ cộng
đồng (n=30)
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN
48
49
50
52
53
54
56
57
8
TRÍCH YẾU LUẬN VĂN
I. Tóm tắt mở đầu
Học viên: Hà Tiến Sự
Đề tài: “Giải pháp huy động nguồn lực của cộng đồng trong xây dựng nông thôn
mới
trên địa bàn huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai”
Chuyên ngành: Phát triển nông thôn ; Mã số: 8.62.01.16
Cơ sở đào tạo: Trường Đại học Nông Lâm - Đại học Thái Nguyên
II. Nội dung bản trích yếu
2.1 Mục đích nghiên cứu
Đánh giá thực trạng xây dựng nông thôn mới tại huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai.
Đánh giá tình hình huy động nguồn lực cộng đồng trong xây dựng NTM tại địa bàn
nghiên cứu. Xác định những nguyên nhân, hạn chế, phân tích điểm mạnh, điểm yếu, cơ
hội và thách thức trong huy động nguồn lực cộng đồng xây dựng nông thôn mới. Để từ
đó, đề xuất các giải pháp nâng cao huy động nguồn lực của cộng đồng cho xây dựng
NTM trên địa bàn huyện Văn Bàn.
2.2 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài lựa chọn 3 xã Làng Giàng, Khánh Yên Thượng và Nậm Chày (đại diện
cho 3 vùng khác nhau về kinh tế, xã hội) để tiến hành nghiên cứu. Đề tài sử dụng công
cụ là phiếu điều tra đã chuẩn bị trước. Đề tài đã phỏng vấn trực tiếp 135 hộ gia đình
nông thôn tại 3 xã nghiên cứu và điều tra phỏng vấn 30 cán bộ ở 3 xã này. Số liệu điều
tra được phân tích bằng các phương pháp thống kê mô tả, phương pháp thống kê só
sánh, phương pháp chuyên gia.
2.3 Kết quả nghiên cứu chính
Kết quả nghiên cứu chính đã chỉ ra rằng:
Sau 9 năm thực hiện Chương trình xây dựng NTM trên địa bàn huyện Văn Bàn
nói riêng và trên địa bàn tỉnh Lào Cai nói chung không còn trường học tạm, không còn
nhà tạm, nhà đột nát; các cơ sở y tế được xây dựng khang trang, công tác chăm sóc sức
khỏe cho nhân dân được cải thiện tốt. Đời sống của Nhân dân trước đây từ khó khăn,
có thôn bản cực kỳ khó khăn không có đường giao thông, không có điện lưới quốc gia,
không có đủ nước sạch cho sinh hoạt. Tỷ lệ xã đạt nông thôn mới là 36,36%, đứng thứ
ba trong tám huyện của tỉnh Lào Cai. Huyện đã triển khai thực hiện đồng bộ các chính
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN
9
sách xây dựng NTM; Hệ thống quản lý, điều hành, tổ chức thực hiện Chương trình đã
được thành lập từ huyện xuống xã, đến thôn, bản và luôn được củng cố, kiện toàn;
BCĐ xây dựng NTM huyện thường xuyên tổ chức họp thường kỳ hàng tháng, quý,
năm và chỉ đạo các đơn vị phụ trách các tiêu chí, phòng ban chuyên môn. Công tác
tuyên truyền, vận động được quan tâm đã phát huy được vai trò thông tin đến các tầng
lớp nhân dân. Tuy nhiên, các xã chưa đạt là các xã còn nhiều khó khăn, các xã vùng ba.
Để khắc phục các hạn chế sự tham gia của cộng đồng trong xây dựng nông thôn
mới tại huyện Văn Bàn như: Người dân chưa hiểu rõ về chương trình xây dựng NTM;
Người dân còn trông chờ, ỷ lại sự hỗ trợ đầu tư của Nhà nước; Việc cán bộ tổ chức
tuyên truyền nông thôn mới đến với người dân chưa thực sự bài bản, chưa mang lại
hiệu quả; Ở một số nơi chưa có sự công khai minh bạch về các khoản tiền mà dân
đóng góp để xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn; Kinh tế của nhiều hộ dân còn khó
khăn. Huyện Văn Bàn cần tập trung và vào cuộc quyết liệt của cả hệ thống chính trị
vào các giải pháp sau: Coi trọng công tác tuyên truyền, vận động, nâng cao nhận thức
của người dân và cán bộ cơ sở. Dân chủ, công khai, minh bạch mới tạo được lòng tin
cho dân. Thường xuyên nâng cao năng lực cán bộ cơ sở. Giải pháp huy động cộng
đồng bằng các hình thức đóng góp (tiền, đất đai, lao động,...). Xây dựng cơ chế huy
động, quản lý, sử dụng các nguồn lực cộng đồng công khai minh bạch, có sự giám sát
kiểm tra sát sao của cộng đồng. Phát huy vai trò của chủ thể của người dân và cộng
đồng trong công tác huy động nguồn lực thực hiện chương trình xây dựng NTM. Tăng
cường công tác lãnh đạo, chỉ đạo của các ngành, các cấp và công tác thanh tra, kiểm
tra, giám sát cộng đồng trong triển khai huy động nguồn lực thực hiện chương trình
NTM.
2.4 Kết luận chủ yếu của đề tài
Huyện Văn Bàn đã huy động được các nguồn lực khác nhau trong xây dựng
nông thôn mới. Trong đó nguồn đóng góp của cộng đồng người dân có xu hướng ngày
càng tăng. Mặc dù là huyện nghèo, người dân không đóng góp được bằng tiền mặt
nhưng đã đóng góp bằng ngày công lao động, hiện vật, vật chất quy ra tiền mặt (hiến
đất, tài sản trên đất, hiến vật tư xây dung,…). Do tỷ lệ hộ nghèo cao, người dân thu
nhập thấp nên là một hạn chế sự đống góp các nguồn lực cho xây dựng nông thôn mới.
Công tác tuyên truyền, vận động cần thực hiện sâu và rộng hơn, cần có cơ chế khen
thưởng, quản lý và
10
sử dụng nguồn lực cộng đồng công khai minh bạch sẽ khuyến khích sự đóng góp nhiều
hơn nữa từ cộng đồng.
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đềtài
Xây dựng nông thôn mới (NTM) là một trong những nhiệm vụ hàng đầu nhằm
thực hiện thắng lợi mục tiêu Nghị quyết 26-NQ/TW ngày 05 tháng 08 năm 2008 của
Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn. Thực
hiện Nghị quyết 26, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1600/QĐ-TTg
ngày 16 tháng 8 năm 2016 phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia (MTQG) về
xây dựng NTM giai đoạn 2010-2020. Đây là một chương trình tổng thể về phát triển
kinh tế - xã hội, chính trị và an ninh quốc phòng, là nhiệm vụ của cả hệ thống chính
trị và toàn xã hội, được thực hiện trên phạm vi cảnước.
Chương trình MTQG xây dựng NTM đều thực hiện nguyên tắc chủ đạo trong
triển khai các nội dung xây dựng NTM là phát huy vai trò chủ thể của cộng đồng dân
cư địa phương, các hoạt động cụ thể do chính cộng đồng nhân dân ở thôn, xã bàn bạc
dân chủ để quyết định và tổ chức thực hiện. Nguyên tắc này đã xác định xây dựng
NTM là một hoạt động dựa vào cộng đồng, phát huy sự tham gia và đóng góp của
cộng đồng là nguồn lực chính để thực hiện các nội dung xây dựng NTM. Tuy nhiên,
theo đánh giá chung từ chương trình sau 3 năm (2015-2017) thực hiện, các địa
phương vẫn chưa khơi dậy có hiệu quả nguồn lực từ cộng đồng, người dân chưa tích
cực tham gia đóng góp vào các hoạt động xây dựng NTM. Nhiều nơi người dân có
tâm lý ỷ lại, chỉ dựa vào sự hỗ trợ, đầu tư của nhà nước, từ nguồn vốn cho xây dựng
NTM, do đó, nguồn vốn chủ yếu vẫn từ ngân sách nhà nước và tập trung cho xây
dựng cơ sở hạ tầng nông thôn, thiếu sự tham gia ý kiến của cộng đồng, thiếu các hoạt
động phát huy vai trò cộng đồng trong tổ chức sản xuất, bảo vệ môi trường, duy trì
và phát triển các truyền thống văn hoá tốt đẹp. Một bộ phận cán bộ các cấp và người
dân hiểu về xây dựng NTM còn chưa đúng và chưa đầy đủ, mang nặng tâm lý thụ
động, trông chờ vào sự hỗ trợ của Nhà nước, chưa phát huy được vai trò chủ thể của
cộng đồng dân cư. Có thể thấy, mặc dù xây dựng NTM trên tất cả các tỉnh trong cả
nước đều nhấn mạnh việc phát huy vai trò chủ thể của cộng đồng nhưng vai trò đó
chưa được phát huy đầy đủ. Chưa có giải pháp cụ thể thúc đẩy sự
thamgiacủacộngđồngtrongkhiđâychínhlànguồnlựcđặcbiệtquantrọngquyết định
sự
thành công của chương trình xây dựng NTM. Việc huy động một cách đa dạng các
nguồn vốn ngoài ngân sách đóng vai trò hết sức quan trọng. Trong khi các chính sách
huy động nguồn lực từ doanh nghiệp, ngân hàng cho xây dựng NTM đã được ban
hành thì chính sách huy động nguồn lực từ cộng đồng lại chưa có. Những bất cập
nêu trên cũng là những bất cập trong quá trình thực hiện chương trình xây dựng NTM
của tỉnh Lào Cai nói chung và của huyện Văn Bàn nói riêng. Chính vì những lý do
trên, mà chúng tôi lựa chọn đề tài "Giải pháp huy động nguồn lực của cộng đồng
trong xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai" để
nghiêncứu.
2. Mục tiêu nghiêncứu
Đánh giá thực trạng xây dựng nông thôn mới tại huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai.
Đánh giá tình hình huy động nguồn lực cộng đồng trong xây dựng NTM tại địa bàn
nghiên cứu. Xác định những nguyên nhân, hạn chế, phân tích điểm mạnh, điểm yếu, cơ
hội và thách thức trong huy động nguồn lực cộng đồng xây dựng nông thôn mới. Để từ
đó, đề xuất các giải pháp nâng cao huy động nguồn lực của cộng đồng cho xây dựng
NTM trên địa bàn huyện Văn Bàn.
3. Đối tượng nghiêncứu
Việc huy động nguồn lực của cộng đồng trong xây dựng NTM trên địa bàn
huyện Văn Bàn từ 2015 - 2017.
4. Phạm vi nghiêncứu
4.1. Phạm vi về nội dung
- Đánh giá kết quả huy động nguồn lực cộng đồng trong xây dựng nông thôn
mới tại huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai.
- Phân tích điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức cho việc huy động
nguồn lực cộng đồng cho chương trình xây dựng nông thôn mới huyện Văn Bàn.
- Xác định hạn chế, nguyên nhân và đề xuất một số giải pháp để huy động
nguồn lực cộng đồng trong xây dựng NTM tại huyện Văn Bàn.
4.2. Phạm vị về thờigian
- Số liệu thứ cấp phục vụ cho nghiên cứu việc huy động nguồn lực cộng đồng
trong xây dựng NTM tại huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai được thu thập trong thời gian
3 năm 2016 -2018.
- Số liệu sơ cấp thu thập từ các mẫu khảo sát trong năm2018.
4.3.Phạm vi về khônggian
Đề tài được triển khai nghiên cứu trên địa huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai một
số nội dung chuyên sâu được khảo sát ở các nhóm hộ dân thuộc 3 xã Làng Giàng,
Khánh Yên Thượng, Nậm Chày, huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai.
5. Những đóng góp mới, ý nghĩa khoa học và thực tiễn
5.1. Ý nghĩa đối với học tập và nghiên cứu khoahọc
Củng cố kiến thức từ cơ sở đến chuyên ngành đã học trong trường, ứng dụng
kiến thức đó trong thực tiễn. Rèn luyện kỹ năng thu thập thông tin và xử lý số liệu,
viết báo cáo. Giúp hiểu thêm về tình hình kinh tế xã hội tại địa phương.
5.2. Ý nghĩa đối với thựctiễn
- Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ là tư liệu tốt cho chính quyền địa phương,
các cấp, các ngành của huyện Văn Bàn nói riêng và tỉnh Lào Cai nói chung sử dụng
cho việc thực hiện xây dựng chương trình nông thôn mới tại các xã trên địa bàntỉnh.
- Kết quả nghiên cứu của đề tài cũng sẽ là cơ sở cho các nhà hoạch định chính
sách, Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, các Bộ, Ngành có liên quan xem xét
trong việc điều chỉnh, bổ sung cơ chế chính sách trong việc huy động nguồn lực cộng
đồng trong xây dựng nông thôn mới tại các xã trong cả nước. Đặc biệt là các xã ở
khu vực miền núi.
Chương 1
CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI
1.1. Cơ sở lý luận của đề tài
1.1.1. Khái niệm nông thôn và nông thôn mới
- Nông thôn:
Nông thôn là vùng sinh sống của tập hợp cư dân, trong đó có nhiều nông dân.
Tập hợp dân cư này tham gia vào các hoạt động kinh tế, văn hoá, xã hội và môi trường
trong một thể chế chính trị nhất định và chịu ảnh hưởng của các tổ chức khác.
Nông thôn là vùng khác với đô thị là ở đó có một cộng đồng chủ yếu là nông
dân, làm nghề chính là nông nghiệp; có mật độ dân cư thấp hơn; có kết cấu hạ tầng
kém phát triển hơn; có mức độ phúc lợi xã hội thua kém hơn; có trình độ dân trí, trình
độ tiếp cận thị trường và sản xuất hàng hoá thấp hơn.
Phát triển nông thôn là một phạm trù rộng được nhận thức với rất nhiều quan
điểm khác nhau. Theo Mai Thanh Cúc và cs (2005): “Phát triển nông thôn là một
chiến lược nhằm cải thiện các điều kiện sống về kinh tế và xã hội của một nhóm người
cụ thể
- người nghèo ở vùng nông thôn. Nó giúp những người nghèo nhất trong những người
dân sống ở các vùng nông thôn được hưởng lợi ích từ sự phát triển”.
Phát triển nông thôn có tác động theo nhiều chiều khác nhau. Đây là một quá
trình thu hút mọi người dân tham gia vào các chương trình phát triển, nhằm mục tiêu
cải thiện chất lượng cuộc sống của các cư dân nông thôn, đồng thời phát triển nông
thôn là quá trình thực hiện hiện đại hóa nền văn hóa nông thôn nhưng vẫn bảo tồn được
những giá trị truyền thống thông qua việc ứng dụng khoa học và công nghệ. PTNT là
sự phát triển tổng hợp của tất cả các hoạt động có mối liên hệ tác động qua lại lẫn nhau
giữa các yếu tố vật chất, kinh tế, công nghệ, văn hóa, xã hội, thể chế và môi trường. Nó
không thể tiến hành một cách độc lập mà phải được đặt trong khuôn khổ của một chiến
lược, chương trình phát triển quốc gia. Sự phát triển của các vùng nông thôn sẽ đóng
góp tích cực vào sự nghiệp phát triển kinh tế nói riêng và sự phát triển chung của đất
nước
- Nông thôn mới:
Trong Nghị quyết số 26-NQ/TW đưa ra mục tiêu: “Xây dựng nông thôn mới
có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội hiện đại, cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức
sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ, đô thị
theo quy hoạch; xã hội nông thôn ổn định, giàu bản sắc văn hoá dân tộc; dân trí
được nâng cao, môi trường sinh thái được bảo vệ; hệ thống chính trị ở nông thôn
dưới sự lãnh
đạo của Đảng được tăng cường”.
Trong quyết định Số 1600/QĐ-TTg đưa ra mục tiêu trung về xây dựng mô
hình nông thôn mới: “Xây dựng nông thôn mới có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội
từng bước hiện đại; cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn
nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ; gắn phát triển nông thôn với
đô thị theo quy hoạch; xã hội nông thôn dân chủ, ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân
tộc; môi trường sinh thái được bảo vệ; an ninh trật tự được giữ vững; đời sống vật
chất và tinh thần của người dân ngày càng được nâng cao; theo định hướng xã hội
chủ nghĩa”.
Như vậy nông thôn mới trước tiên nó phải là nông thôn không phải là thị tứ,
thị trấn, thị xã, thành phố và khác với nông thôn truyền thống hiện nay, có thể khái
quát gọn theo năm nội dung cơ bản sau: (1) làng xã văn minh, sạch đẹp, hạ tầng hiện
đại; (2) sản xuất phát triển bền vững theo hướng kinh tế hàng hóa; (3) đời sống vật
chất và tinh thần của người dân ngày càng được nâng cao; (4) bản sắc văn hóa dân
tộc được giữ gìn và phát triển; (5) xã hội nông thôn an ninh tốt, quản lý dân chủ.
1.1.2. Khái niệm nguồn lực và nguồn lực cộngđồng
* Khái niệm nguồnlực
Theo quan điểm hệ thống: “Nguồn lực là tất cả những yếu tố và phương tiện và
hệ thống có quyền chi phối, điều kiển, sử dụng để thực hiện mục tiêu của mình. Đối
với hệ thống kinh tế, xã hội, có thể chia nguồn lực ra các bộ phận khác nhau như:
nguồn nhân lực, nguồn tài lực, nguồn vật lực và nguồn thông tin”[11].
Những thứ được coi là nguồn lực phải là những thứ được sử dụng hoặc có khả
năng sử dụng trong thời kỳ dự kiến phát triển. Tiềm năng chưa đưa vào sử dụng hoặc
chưa xem xét là nguồn lực.
Theo nghĩa hẹp: nguồn lực thường được hiểu là tổng thể các nguồn lực vật chất
cho phát triển, ví dụ tài nguyên thiên nhiên, tài sản vốn bằng tiền,...
Theo nghĩa rộng: nguồn lực được hiểu gồm tất cả những lợi thế, tiềm năng vật
chất và phi vật chất để phục vụ cho một mục tiêu phát triển nhất định.
Nguồn lực thực hiện xây dựng nông thôn mới được hiểu là tổng thể các nguồn
lực vật chất tự nhiên, tiền, nhận lực, vật lực và giá trị của các yếu tố xã hội có được từ
các nguồn khác nhau (ngân sách trung ương và địa phương, đầu tư và tín dụng từ các
cá nhân và tổ chức, từ dân cư và cộng đồng; nguồn tài trợ, biếu tặng,...) có thể huy
động
vào xây dựng nông thôn mới [11].
* Nguồn lực cộngđồng
Theo Nguyễn Ngọc Luân và cs (2011) một cách khái quát nhất, nguồn lực từ
cộng đồng là tất cả các nguồn lực thực tế trong cộng đồng giúp người dân tạo dựng
cuộc sống cho chính họ (Gord Cunningham, 2006). Trong tài liệu tập huấn Kỹ năng
phát triển cộng đồng (Nguyễn Đức Vinh, 2007), nguồn lực cộng đồng được khái niệm
một cách toàn vẹn bao gồm các thành phần sau:
- Các nguồn tài nguyên thiên nhiên (natural capitals): là các nguồn tài nguyên
thiên nhiên tồn tại trong cộng đồng. Ví dụ: đất sản xuất, tài nguyên rừng, thuỷ sản…
- Các nguồn tài sản vật chất (physical capitals): là các công trình được xây dựng
phục vụ trực tiếp hay gián tiếp cho đời sống nhân dân tại cộng đồng (và các cộng đồng
lân cận). Ví dụ: cơ sở hạ tầng (điện, đường, trường, trạm).
- Các nguồn tài sản về con người (human capitals): gồm các kỹ năng (skills),
kiến thức (knowledge) và năng lực (talent) của các thành viên trong cộng đồng.
- Các nguồn tài sản xã hội (social capitals): mối quan hệ giữa các thành viên
trong cộng đồng, ví dụ như niềm tin (trust).
- Các nguồn tài sản tài chính (financial capitals): là các nguồn lực kinh tế tồn tại
trong cộng đồng như hệ thống ngân hàng đang hoạt động trong vùng, khả năng kinh tế
của các thành viên trong cộng đồng.
Trong nghiên cứu này, các nguồn lực cộng đồng không nhìn ở phạm vi rộng như
trên. Nguồn lực cộng đồng ở đây được hiểu là những đóng góp của người dân (cá
nhân, hộ gia đình, tổ nhóm…) cho các hoạt động xây dựng NTM. Các nguồn lực mà
họ có thể đóng góp là: tiền, tài sản, vật chất, công lao động, tham gia ý kiến...
1.1.3. Huy động nguồn lực cộng đồng trong phát triển nôngthôn
1.1.3.1.Vai trò của cộng đồng trong phát triển nôngthôn
Trong cuốn cẩm nang “Phát triển nông thôn toàn diện” Michael Dower (2004)
cho rằng cộng đồng đóng vai trò quan trọng trong phát triển nông thôn, là cơ sở cho
phát triển nông thôn bền vững vì:
- Họ biết rõ nhất những khó khăn và nhu cầu của mình.
- Họ quản lý nguồn tài nguyên như đất đai, nhà xưởng, sản phẩm địa phương
mà quá trình phát triển phải dựa vào đó.
- Kỹ năng, truyền thống, kiến thức và năng lực của họ là tiềm năng chính để phát
triển.
- Sự cam kết của họ là sống còn (nếu như họ không ủng hộ một kế hoạch nào, kế
hoạch đó sẽ không thực hiện được).
Hơn thế nữa, một cộng đồng càng phát triển và năng động, thì càng có khả năng
thu hút người dân ở lại, và giữ họ không di chuyển đi nơi khác (Nguyễn Ngọc Luân,
2011) [14].
1.1.3.2. Phát triển nông thôn dựa vào cộngđồng
Theo các phân tích ở trên thì vai trò của cộng đồng trong phát triển nông thôn
được xác định là rất quan trọng. Các nguồn lực cộng đồng có thể huy động cho phát
triển nông thôn cũng rất đa dạng. Chính vì thế, những năm vừa qua, cách tiếp cận phát
triển nông thôn dựa vào cộng đồng được thực hiện phổ biến ở nhiều chương trình, dự
án phát triển nông thôn trên thế giới.
Theo Nguyễn Ngọc Luân (2011): Phát triển nông thôn dựa vào cộng đồng
(Community-Based Rural Development –CBRD) là phương pháp tiếp cận dựa vào cộng
đồng để phát triển các lĩnh vực khác nhau ở khu vực nông thôn. Phương pháp tiếp cận
phát triển nông thôn dựa vào cộng đồng được nhiều chương trình/dự án sử dụng phổ
biến. Mỗi chương trình/dự án có mục tiêu riêng, có thể là nhằm tăng cường vai trò của
phụ nữ trong cộng đồng, phát triển hệ thống dịch vụ chăm sóc sức khoẻ nhân dân,
quản lý nguồn tài nguyên rừng, cải thiện chất lượng cơ sở hạ tầng ở khu vực nông
thôn…
Chính vì thế, có rất nhiều quan niệm khác nhau về phát triển nông thôn dựa vào
cộng đồng. Tuy nhiên, có một điểm chính vẫn còn đang có nhiều tranh luận, đó là cách
hiểu như thế nào là “dựa vào cộng đồng” (community-based). Có ý kiến cho rằng, ở
các nước đang phát triển, vấn đề phát triển nông thôn là rất quan trọng do phần lớn dân
cư sống ở khu vực nông thôn và hoạt động chính là sản xuất nông nghiệp, vì thế rất
nhiều tổ chức khác nhau áp dụng các biện pháp phát triển cộng đồng khác nhau đã
được thực hiện tại các quốc gia này. Hầu hết những nỗ lực hỗ trợ phát triển này được
tạo ra từ phía bên ngoài cộng đồng (nhà nước, tổ chức phi chính phủ, cơ quan nghiên
cứu - phát triển) chứ bản thân cộng đồng không tự tổ chức phát triển. Điều này tạo đặt
ra vấn đề là “sự tham gia” hay “dựa vào cộng đồng” nằm ở đâu? Nhiều câu hỏi cũng
được đặt ra về sự bền vững của những tác động phát triển này cũng như câu hỏi về
việc cộng đồng có được tăng cường sức mạnh để tự ra quyết định của mình hay không
(Nguyễn Ngọc Luân và cs, 2011).
Theo Nguyễn Ngọc Luân và cs (2011), cũng có nhiều câu trả lời cho những tranh
luận trên, trong đó đáng chú ý là khái niệm phát triển nông thôn dựa vào nội lực cộng
đồng (Asset- Based Community Development – ABCD) do Jody Kretzmann và John
McKnight (1993) đưa ra. Đây là một cách tiếp cận phát triển cộng đồng đề cao việc sử
dụng những kỹ năng và sức mạnh đã và đang hiện hữu ngay trong cộng đồng nông thôn
hơn là việc lôi kéo, trông chờ vào sự trợ giúp từ bên ngoài. Cụm từ “dựa vào cộng
đồng” ở đây đề cập đến tính chủ động, tự phát triển, trong đó khuyến khích các thành
viên trong cộng đồng tạo ra sự tiến triển cho chính bản thân họ (capacity-driven), đối lập
với cách tiếp cận truyền thống là dựa theo nhu cầu (needs-driven) mà đã khiến cho cộng
đồng phụ thuộc vào các hỗ trợ bên ngoài.
1.1.3.3. Sự tham gia của cộng đồng trong phát triển nôngthôn
Trong phát triển nông thôn có sự tham gia của nhiều tác nhân khác nhau. Những
năm gần đây khái niệm phát triển nông thôn có sự tham gia được sử dụng phổ biến
trên thế giới. Hai tác giả Cohen và Uphoff cho rằng: “liên quan đến phát triển nông
thôn, sự tham gia bao gồm sự liên quan của người dân vào quá trình ra quyết định, vào
việc thực hiện chương trình, sự chia sẻ lợi ích có được từ chương trình phát triển và
các cố gắng để đánh giá những chương trình này”.
Tham gia đóng góp, tham gia trao quyền, tham gia tổ chức…, trên quan điểm
tiếp cận dựa vào nội lực cộng đồng, để phát huy vai trò chủ thể và sức mạnh của cộng
đồng, phục vụ cho các lợi ích chung của cộng đồng, hướng tới đạt mục tiêu xây dựng
thành công mô hình NTM.
- Tham gia đóng góp ý kiến của cộng đồng cho việc xây dựng đề án, quy hoạch,
kế hoạch xây dựng NTM.
- Công sức, tiền của do người dân và cộng đồng tự bỏ ra để chỉnh trang nơi ở của
gia đình.
- Đầu tư cho sản xuất ngoài đồng ruộng hoặc cơ sở sản xuất tiểu thủ công
nghiệp, dịch vụ để có thu nhập cao.
- Đóng góp xây dựng các công trình công cộng của làng, xã như: đường giao
thông thôn, xóm; kiên cố hoá kênh mương; vệ sinh công cộng…
- Tham gia ý kiến về thực hiện các chương trình, dự án thực hiện tại địa
phương; góp ý vào việc xây dụng các kế hoạch phát triển KTXH của xã, huyện khi
được trưng cầu.
1.1.3.4. Vai trò và các yếu tố ảnh hưởng đến sự tham gia của cộng đồng trong PTNT
Theo Vũ Trọng Bình: Các yếu tố ảnh hưởng tới sự tham gia của người dân địa
phương trong các hoạt động phát triển phụ thuộc vào nhiều yếu tố:
Điều kiện hộ gia đình: trong khuôn khổ nghiên cứu về sự tham gia Cohen và
Uphoff đã liệt kê các đặc trưng hộ gia đình ảnh hưởng tới sự tham gia. Đó là: độ tuổi,
giới tính, tình trạng hôn nhân, điều kiện kinh tế, quan hệ xã hội, và vv... Trong nghiên
cứu khác, W. Alters và các cộng sự thấy rằng lịch sử di dân và định cư của hộ gia đình
cũng ảnh hưởng tới sự tham gia.Feachem nhấn mạnh 5 vấn đề khó khăn về tham gia
của cộng đồng trong cung cấp nước sạch và công nghệ vệ sinh: khả năng áp dụng trong
thực tiễn, tính thích hợp, giá thành, tiêu chuẩn, và hoàn cảnh chính trị. Các dự án vệ
sinh và cung cấp nước sạch có thể được hoàn thiện nếu: (1) thiết kế hoàn chỉnh; (2)
giảm giá thành công trình; (3) hỗ trợ và giảm giá thành vận hành và bảo dưỡng.; (4)
thực hiện các lợi ích của dự án; và (5) khuyến khích cộng đồng chủ động phát triển.
Điều kiện môi trường cộng đồng: điều kiện môi trường cộng đồng cũng ảnh
hưởng tới mức độ tham gia của người dân. Các yếu tố môi trường khác nhau có ảnh
hưởng tới việc thammgia vào dự án. (Cohen và Uphoff; Finterbusch). Xu thế và sự
kiện lịch sử có những hệ quả quan trọng đối với sự tham gia của người dân. Các sự
kiện như: lịch sử di dân và định cư; dòng giống gia đình và nhóm, lịch sử của các tổ
chức chính trị xã hội và các xung đột vv... ( Walter và cộng sự, 1999). Các hoạt động
phát triển trong cộng đồng được tổ chức thông qua hoạt động tập thể, người dân địa
phương tụ họp cùng nhau để làm việc. Ở các cộng đồng nông thôn, ở mức độ nào đó,
người dân luôn duy trì một số các hoạt động tập thể, ví dụ: các hoạt động cộng đồng
như xây dựng nhà, lễ hội vv... (Vũ Trọng Bình, 2008).
Tính cộng đồng: Ý thức cộng đồng có thể tự thể hiện bằng việc tự nguyện tham
gia vào các hoạt động tập thể của cộng đồng.Trong nghiên cứu về phong trào làng mới
(Saemual Undong) ở Hàn Quốc, Park (2001) nhận thấy, tính đồng nhất của những
nông dân trong khuôn khổ kinh tế - xã hội là yếu tố quan trọng dẫn tới sự hợp tác chặt
chẽ giữa người dân trong thôn khi thực hiện phong trào làng mới. Park (2001) cũng
nhận thấy người dân nông thôn Hàn Quốc có truyền thống lâu đời góp công lao động
trong vụ nông nhàn để bảo dưỡng giao thông công cộng và hoàn thiện cơ sở hạ tầng
của thôn (Vũ Trọng Bình, 2008).
Tổ chức cộng đồng: các đặc điểm chính trị và tổ chức của cộng đồng ảnh
hưởng
tới sự tham gia của người dân địa phương trong các hoạt động phát triển (Rao, 2004;
Jorgensen, 2001; Walters, 1999). Nhìn chung, người lãnh đạo của cộng đồng do dân
bầu. Đó là người có vai trò quan trọng trong quản lý cộng đồng và trong huy động các
nguồn lực để phát triển. Năng lực của trưởng thôn có ảnh hưởng mạnh tới sự tham gia
cộng đồng. Trong các trường hợp khác, các nhóm xã hội khác có thể cũng tham gia, và
mặc dù họ không sử dụng quyền chính thức như là trường hợp của cán bộ Đảng viên,
trong 1 số trường hợp, khác với trưởng thôn, họ cũng tác động đến việc ra quyết định
trong quản lý cộng đồng (Jorgensen, 2001). Mức độ mà chính quyền cấp trên tham gia
trong các hoạt động của cộng đồng phụ thuộc vào mức độ phân cấp quyền lực và
nguồn lực mà chính quyền cấp trên trao cho cấp dưới (Vũ Trọng Bình, 2008)
Đặc điểm của dự án: Các đặc trưng của chính dự án cũng có thể ảnh hưởng đến
mức độ tham gia. Khi dự án đã được xác định nhằm vào nhu cầu của dân địa phương,
tính phức tạp về kỹ thuật sẽ ảnh hưởng tới mức độ tham gia (USAID, 1996). Nhìn
chung, chỉ có lao động không có tay nghề trong mỗi cộng đồng do đó những dự án có
công nghệ đơn giản sẽ làm dân địa phương dễ dàng tham gia. Mặt khác các dự án yêu
cầu kỹ thuật phức tạp sẽ phụ thuộc vào số lao động lành nghề từ bên ngoài và điều này
hạn chế khả năng tham gia của dân địa phương, thậm chí ngay cả với dự án do dân
quyết định (Vũ Trọng Bình, 2008).
1.1.3.5. Các chỉ tiêu để xác định sự tham gia
Theo Vũ Trọng Bình (2008), trong nghiên cứu phát triển tham gia ở vùng nông
thôn Nigeria, Okarfornhận thấy 4 lĩnh vực tham gia, và do đó 4 yếu tố để đo phạm vi
tham gia là:
(1) tham gia vào cuộc họp của dự án;
(2) tham gia vào việc ra quyết định
(3) tham gia vào giám sát các dự án phát triển;
(4) tham gia đóng góp vốn;
Sự tham gia có thể áp dụng cho rất nhiều các hoạt động để tăng hiệu quả của các
hoạt động hoặc dự án. Sự tham gia cũng đặc trưng cho quản lý tài nguyên thiên nhiên
(Lise 2000; Dupar 2002; Seker 2001;). Sự tham gia cũng đóng vai trò đáng kể trong
xây dựng cơ sở hạ tầng, như công trình thủy lợi, giao thông, hệ thống điện, và vv...
(UNCDF; Jogresen et al., 2001; lam 2001). Nó cũng có vai trò tích cực trong các hoạt
động văn hóa xã hội như là các dụ án về y tế, giáo dục ...vv.(Rao et al., 2004) (Vũ
Trọng Bình,
2008).
1.1.4. Nội dung chủ yếu về chương trình xây dựng nông thônmới
Xây dựng NTM có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội từng bước hiện đại; Cơ cấu
kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh