A. MỞ ĐẦU
Hệ thống chính quyền địa phương có vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng trong
cơ cấu tổ chức bộ máy nhà nước của tất cả các nước, trong đó có Việt Nam.
Trong nhiều năm qua, vấn đề đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động của
chính quyền địa phương luôn được Đảng và Nhà nước ta quan tâm, thông qua đó
một số chủ trương lớn đã được đặt ra và tổ chức thực hiện như: chủ trương cải
cách hành chính đối với các nội dung: thể chế, bộ máy, cải cách hành chính; đội
ngũ cán bộ, công chức; hiện đại hóa nền hành chính; tài chính công; phân cấp
mạnh cho chính quyền địa phương trên các lĩnh vực; thí điểm không tổ chức
HĐND cấp quận, huyện, phường… đã đạt được một số kết quả nhất định. Hiến
pháp năm 2013, Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 ra đời đã tạo lập
tiền đề vững chắc cho đổi mới tổ chức bộ máy chính quyền địa phương.
Tuy nhiên, những quy định mới về tổ chức và hoạt động của chính quyền địa
phương đến nay vẫn còn nhiều bất cập như: ở một số cấp chính quyền, Hội đồng
nhân dân chưa phát huy được vai trò là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương;
gần như rập khuôn bộ máy chính quyền địa phương ở tất cả các đơn vị hành chính
lãnh thổ, chưa phân định thật rõ tính đặc thù của chính quyền đô thị, nông thôn, hải
đảo; chưa có cơ chế rõ ràng để chính quyền địa phương phát huy tối đa năng lực tự
chủ của mình qua đó nâng cao hiệu quả quản lý của Nhà nước… Do đó, việc tiếp
tục nghiên cứu đổi mới mô hình tổ chức và phương thức hoạt động của chính
quyền địa phương và nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động, đáp ứng yêu cầu quản
lý nhà nước và phát triển kinh tế - xã hội là luôn cần thiết, để tiếp tục đưa ra
phương hướng, giải pháp hợp lý cho chính quyền địa phương Việt Nam hiện nay.
Xuất phát từ lý do trên, tôi chọn vấn đề “Mô hình tổ chức chính quyền địa
phương hiện nay và phương hướng hoàn thiện” làm bài thu hoạch kết thúc môn
Nhà nước và pháp luật Việt Nam của Lớp hoàn chỉnh Chương trình cao cấp lý luận
chính trị Khóa 4.
1
B. NỘI DUNG
1. Những vấn đề chung về chính quyền địa phương ở Việt Nam
1.1. Khái niệm, đặc điểm, vị trí, vai trò của chính quyền địa phương ở Việt Nam
1.1.1. Khái niệm
Chính quyền địa phương là một bộ phận hợp thành của chính quyền nhà nước
thống nhất, bao gồm Hội đồng nhân dân (HĐND) và Ủy ban nhân dân (UBND), được
thành lập thông qua bầu cử để thực hiện chức năng quản lý và quyết định các biện
pháp thực hiện nhiệm vụ của địa phương theo quy định của pháp luật, bảo đảm kết
hợp hài hòa giữa lợi ích của nhân dân địa phương và lợi ích chung của cả nước.
1.1.2. Đặc điểm của chính quyền địa phương ở Việt Nam
- Về tổ chức: Chính quyền địa phương có đầy đủ cả hai cơ quan gồm có
HĐND và UBND. Bộ máy chính quyền địa phương được tổ chức ở ba cấp: cấp
tỉnh, cấp huyện và cấp xã.
- Chính quyền địa phương là những pháp nhân công quyền, được thành lập
hợp pháp theo quy định của pháp luật.
- Chính quyền địa phương có chức năng và nhiệm vụ cụ thể phù hợp với mỗi
cấp và địa bàn đô thị và nông thôn.
Chính quyền địa phương là cấp chính quyền tiếp xúc trực tiếp, thường xuyên
với người dân, đặc biệt là cấp xã. Do vậy, mỗi việc làm, lời nói của cán bộ công
chức chính quyền đều trực tiếp góp phần tạo ra hình ảnh tích cực hoặc ngược lại
trong mắt người dân.
1.1.3. Vị trí, tính chất của chính quyền địa phương ở Việt Nam
* Đối với Hội đồng nhân dân:
- HĐND các cấp trong quá trình hình thành và phát triển đã khẳng định được
vị trí, vai trò, trách nhiệm là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương. Với tư
cách là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho nhân dân địa
phương, HĐND có khả năng đoàn kết tập hợp được quần chúng, thống nhất được ý
chí và hành động của quần chúng, động viên được mọi nguồn lực vật chất và tinh
thần của mỗi địa phương, góp phần vào thắng lợi chung của sự nghiệp cách mạng.
2
- HĐND là trung tâm tổ chức việc thực hiện các quyết định của cơ quan nhà
nước cấp trên. Sự hiện diện của HĐND các cấp dưới sự lãnh đạo của Đảng có vai trò
lớn trong việc hình thành Nhà nước kiểu mới ở nước ta, thể hiện được tính giai cấp
sâu sắc, tính chất nhân dân thực sự của nhà nước, thể hiện bản chất của nhà nước, tạo
niềm tin vững chắc cho nhân dân về một chính quyền của dân, do dân, vì dân.
- HĐND là một trong những hình thức cơ bản để nhân dân tự tổ chức thành
nhà nước xã hội chủ nghĩa. Thực tiễn hoạt động của HĐND từ khi ra đời đến nay
thực sự là tài sản và kinh nghiệm quý báu cho quá trình xây dựng Nhà nước pháp
quyền Việt Nam của dân, do dân, vì dân và thực hiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa
ở nước ta.
- HĐND là cầu nối giữa chính quyền nhân dân và cấp trên với chính quyền
địa phương, cơ sở vừa bảo đảm sự tập trung thống nhất trong hoạt động của bộ
máy nhà nước trên phạm vi toàn quốc vừa đảm bảo phát huy được nội lực của từng
địa phương, cơ sở. Thông qua Quốc hội và HĐND các cấp, bằng quyền dân chủ
trực tiếp của mình nhân dân thực hiện được quyền dân chủ trên phạm vi cả nước và
trước hết là làm chủ ngay tại địa phương, cơ sở.
* Đối với Ủy ban nhân dân:
UBND do HĐND cùng cấp bầu ra, là cơ quan chấp hành của HĐND, cơ quan
hành chính của nhà nước ở địa phương, chịu trách nhiệm chấp hành Hiến pháp,
pháp luật, các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên và Nghị quyết của HĐND.
Bên cạnh với tính chất là cơ quan chấp hành của HĐND, UBND còn là cơ quan
hành chính nhà nước ở địa phương, trực thuộc hai chiều, vừa chịu trách nhiệm
trước HĐND và vừa chịu trách nhiệm trước cơ quan hành chính nhà nước cấp trên.
- UBND có trách nhiệm thi hành các Nghị quyết của HĐND, báo cáo các
công việc trước HĐND, chịu sự kiểm tra, giám sát của HĐND; sự kiểm tra, đôn
đốc của Thường trực HĐND; HĐND có quyền yêu cầu UBND sửa đổi, bổ sung
hoặc bãi bỏ những quyết định không hợp lý của UBND.
- UBND làm việc theo chế độ tập thể, những vấn đề quan trọng thuộc thẩm
quyền của UBND đều được thảo luận và biểu quyết theo đa số, trừ một số nhiệm
vụ thuộc thẩm quyền riêng của Chủ tịch UBND theo quy định. Theo đó, nguyên
3
tắc tập trung dân chủ được thực hiện trong hầu hết các hoạt động quản lý nhà
nước; các nhiệm vụ và giải pháp, các chủ trương, đề án, kế hoạch lớn của địa
phương đều được bàn bạc, quyết định theo đa số.
- Là cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, UBND là cơ quan thực hiện
chức năng quản lý nhà nước trên địa bàn, thực thi các quyết định của cơ quan nhà
nước cấp trên và quy định của pháp luật. UBND có quyền ban hành quyết định, chỉ
thị và tổ chức thực hiện các văn bản đó.
Như vậy, một mặt, chính quyền địa phương là một bộ phận cấu thành của bộ
máy nhà nước thống nhất, chính quyền địa phương thay mặt nhà nước tổ chức quyền
lực, thực thi nhiệm vụ quản lý trên lãnh thổ địa phương trong cơ cấu quyền lực nhà
nước thống nhất. Mặt khác, chính quyền địa phương là cơ quan do nhân dân địa
phương lập ra (trực tiếp và gián tiếp) để thực hiện các nhiệm vụ ở địa phương trên cơ
sở các quy định của Hiến pháp, luật và các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên.
1.2. Nguyên tắc tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương ở Việt Nam
Nguyên tắc tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương phải xuất phát
trên cơ sở những quan điểm, tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt trong Nhà nước pháp
quyền; đồng thời chúng cũng phản ánh mối quan hệ giữa các cơ quan nhà nước ở
Trung ương và địa phương. Tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương được
đặt trong tổng thể của quá trình vận hành các nguyên tắc chung về tổ chức và hoạt
động của bộ máy nhà nước xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Đó là nguyên tắc tất cả
quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân; nguyên tắc tập trung dân chủ; nguyên tắc tập
trung thống nhất quyền lực nhưng có sự phân công, phân cấp và phối hợp giữa các
cơ quan nhà nước trong quá trình thực hiện quyền lực nhà nước về mặt lập pháp,
hành pháp và tư pháp; nguyên tắc có kế hoạch; nguyên tắc công khai, lắng nghe ý
kiến của nhân dân; nguyên tắc bình đẳng giữa các dân tộc; nguyên tắc bảo đảm sự
lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước v.v... Bên cạnh các nguyên tắc chung đó, chính
quyền địa phương còn được tổ chức và hoạt động trên các nguyên tắc riêng sau đây:
- Hiện đại, minh bạch, phục vụ nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân.
- Hội đồng nhân dân làm việc theo chế độ hội nghị và quyết định theo đa số.
4
- Uỷ ban nhân dân hoạt động theo chế độ tập thể UBND kết hợp với trách
nhiệm của Chủ tịch UBND.
1.3. Mô hình tổ chức chính quyền địa phương ở nước ta hiện nay
Theo Hiến pháp năm 2013 và Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm
2015, mô hình chính quyền địa phương ở Việt Nam hiện nay được xác định theo
các mô hình như sau:
- Mô hình chính quyền địa phương ở nông thôn gồm chính quyền địa phương
ở tỉnh, huyện, xã.
Đặc điểm các đơn vị hành chính trên địa bàn nông thôn ở nước ta hiện nay là:
Dân cư ở nông thôn cư trú tập trung trong nhiều hộ gia đình gắn kết với nhau trong
sản xuất, sinh hoạt và các hoạt động xã hội khác trong phạm vi một khu vực nhất
định được hình thành do điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế - xã hội, văn hóa,
phong tục, tập quán và các yếu tố khác. Kinh tế nông thôn chủ yếu là kinh tế nông
nghiệp mang nhiều yếu tố tự nhiên. Về quản lý nhà nước, ngoài hệ thống chính
quyền xã còn có các hệ thống thiết chế tự quản cộng đồng như làng, bản, thôn, ấp
trên tinh thần tự quản cao. Dân cư nông thôn gắn kết cộng đồng có quy mô nhỏ
theo làng, xã, thôn, bản, ấp, dòng họ có những hương ước và phong tục riêng mang
nhiều tính tự quản. Đời sống cư dân nông thôn phụ thuộc vào nhau, gắn bó và ràng
buộc với cộng đồng. Còn chức năng chính của chính quyền ở địa bàn nông thôn là
thực hiện các chính sách và triển khai các biện pháp nhằm giải quyết tốt các vấn đề
như nông nghiệp, nông thôn, nông dân.
- Mô hình tổ chức chính quyền địa phương ở đô thị gồm chính quyền địa
phương ở thành phố trực thuộc trung ương, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh,
thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương, phường, thị trấn.
Xuất phát từ các đặc điểm của các đơn vị hành chính ở đô thị mà yêu cầu đặt
ra đối với chính quyền địa phương ở đây cũng khác với địa bàn nông thôn. Việc tổ
chức chính quyền trong nội bộ đô thị (thành phố trực thuộc trung ương – quận –
phường) hoặc tỉnh – thị xã, thành phố ( thuộc tỉnh) – phường bảo đảm nguyên tắc
phân cấp, phân quyền giữa các cấp phải bảo đảm các nguyên tắc: Nguyên tắc tập
trung, thống nhất, vận hành thông suốt và hiệu lực, hiệu quả của hệ thống hành
5
chính nhà nước từ trung ương đến cơ sở theo nguyên tắc nhà nước đơn nhất, quyền
lực nhà nước là thống nhất thuộc về nhân dân. Nguyên tắc bảo đảm sự lãnh đạo
toàn diện của Đảng đối với chính quyền đô thị ở các đơn vị hành chính các cấp.
Nguyên tắc tập trung dân chủ và phát huy vai trò của người đứng đầu cơ quan hành
chính. Nguyên tắc phân công, phân cấp rõ ràng, rành mạch giữa trung ương với địa
phương, phát huy quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của chính quyền địa phương
các cấp, đồng thời bảo đảm sự chỉ đạo thống nhất của cơ quan nhà nước cấp trên
và của trung ương.
- Mô hình tổ chức chính quyền địa phương ở hải đảo gồm huyện và xã.
Chính quyền địa phương ở hải đảo được tổ chức tùy theo điều kiện địa lý, dân
cư, yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, các đảo, quần
đảo có thể được tổ chức thành các đơn vị hành chính chính tại đơn vị hành chính cấp
huyện ở hải đảo tổ chức cấp chính quyền địa phương gồm có HĐND và UBND.
Trường hợp đơn vị hành chính cấp huyện chia thành các đơn vị hành chính
cấp xã thì đơn vị hành chính cấp xã tổ chức cấp chính quyền địa phương gồm có
HĐND và UBND.
Cơ cấu tổ chức của các cơ quan thuộc chính quyền địa phương ở địa bàn hải
đảo thực hiện như cơ cấu tổ chức của các cơ quan thuộc chính quyền địa phương ở
đơn vị hành chính tương ứng theo quy định của pháp luật.
Chính quyền địa phương ở địa bàn hải đảo được tổ chức theo 2 cấp: cấp
huyện và cấp xã: Chính quyền địa phương cấp huyện ở hải đảo thực hiện các
nhiệm vụ, quyền hạn tương ứng của chính quyền địa phương ở huyện, quận, thị xã,
thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương theo quy
định của pháp luật. Chính quyền địa phương cấp xã ở hải đảo thực hiện các nhiệm
vụ, quyền hạn tương ứng của chính quyền địa phương ở xã, phường, thị trấn theo
quy định của pháp luật.
Về nguyên tắc tổ chức của chính quyền địa phương ở hải đảo: Theo quy định
của pháp luật hiện hành việc quy định nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể cho chính quyền
địa phương tại các đơn vị hành chính ở hải đảo trong các văn bản quy phạm pháp
luật khác phải bảo đảm tăng cường quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các cơ
6
quan nhà nước tại địa phương, bảo đảm linh hoạt, chủ động ứng phó khi có sự kiện
tình huống đột xuất, bất ngờ xảy ra nhằm bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền,
toàn vẹn lãnh thổ quốc gia trên các vùng biển, hải đảo, phát huy lợi thế, tiềm năng
kinh tế biển, hội nhập kinh tế quốc tế, bảo đảm thu hút người dân ra sinh sống, bảo
vệ và phát triển hải đảo.
- Mô hình chính quyền địa phương ở đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt.
Đơn vị hành chính kinh tế đặc biệt do Quốc hội quyết định thành lập, được áp
dụng các cơ chế về kinh tế và xã hội, có chính quyền địa phương được tổ chức phù
hợp với đặc điểm, yêu cầu, mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của đơn vị hành
chính - kinh tế đặc biệt theo quy định của pháp luật
Chính quyền địa phương tại đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt gồm có
HĐND và UBND. Nguyên tắc tổ chức, phương thức hoạt động của HĐND và
UBND ở đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt thực hiện theo quy định của pháp
luật. Số lượng đại biểu HĐND, số lượng thành viên UBND, cơ cấu tổ chức
HĐND, UBND và nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể của HĐND, UBND ở đơn vị hành
chính - kinh tế đặc biệt do Quốc hội quy định khi thành lập đơn vị hành chính kinh tế đặc biệt đó.
2. Thực trạng tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương ở nước ta
trong thời gian qua
2.1. Những kết quả đạt được
Chức năng, nhiệm vụ chính quyền địa phương đã được xác định lại, bộ máy
chính quyền địa phương ở ba cấp phần lớn đã có quy mô gọn hơn, phù hợp với
trình độ phát triển kinh tế - xã hội. HĐND các cấp luôn khẳng định vị trí, vai trò là
cơ quan đại biểu và quyền lực của địa phương. Thường trực HĐND cấp tỉnh,
huyện được hình thành. Số lượng đại biểu HĐND cấp xã được tăng thêm. Phương
thức lựa chọn đại biểu vào HĐND mặc dù vẫn ưu tiên cho cơ cấu nhưng đã có sự
chú trọng hơn cho chất lượng, trình độ đại biểu. UBND các cấp cũng đã được tổ
chức sắp xếp lại cho phù hợp với đặc điểm, tính chất công tác của chính quyền địa
phương các cấp trong tình hình mới. Những thay đổi này đã góp phần làm cho các
cấp chính quyền ở địa phương trong thời gian qua hoạt động có hiệu quả hơn, đóng
7
góp thiết thực vào việc phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững an ninh chính trị, trật tự
an toàn xã hội.
Theo Hiến pháp năm 2013, HĐND thực hiện hai chức năng là “quyết định”
và “giám sát”, theo đó, HĐND sẽ quyết định chính sách địa phương về thực hiện
công cụ địa phương; giám sát việc thực hiện các chính sách này. Đồng thời, với
những công vụ của Trung ương giao cho chính quyền địa phương thực hiện thì
HĐND có trách nhiệm giám sát việc triển khai việc này. Còn UBND là “cơ quan
chấp hành của HĐND” tổ chức triển khai thi hành Hiến pháp và pháp luật ở địa
phương; tổ chức thực hiện nghị quyết của HĐND và thực hiện các nhiệm vụ do cơ
quan nhà nước cấp trên giao. Dù chức năng, nhiệm vụ của HĐND và UBND được
phân công khác nhau nhưng có cùng mục tiêu nhằm thực thi pháp luật tại cơ sở,
cùng chịu trách nhiệm trước cấp trên và nhân dân địa phương. Những quy định
mới về chính quyền địa phương trong Hiến pháp 2013 đã thể chế hóa nhiều quan
điểm đổi mới của Đảng, đó là thực hiện phân công hợp lý cho chính quyền địa
phương đi đôi với nâng cao chất lượng quy hoạch và tăng cường thanh tra, kiểm
tra, giám sát của trung ương, gắn quyền hạn với trách nhiệm được giao cho chính
quyền địa phương mỗi cấp.
Hiến pháp năm 2013, Luật Tổ chức chính quyền địa phương 2015 đã tạo cơ
sở pháp lý và tạo ra bước đột phá về tổ chức và hoạt động của chính quyền địa
phương các cấp, bảo đảm và nâng cao chất lượng hoạt động của HĐND và UBND
các cấp, bảo đảm quyền tự chủ tự chịu trách nhiệm trong việc quyết định và tổ
chức thực hiện quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm trong việc quyết định và tổ
chức thực hiện những chính sách trong phạm vi được phân cấp.
2.2. Những hạn chế, bất cập
Bên cạnh những kết quả được, cho đến nay, mặc dù Hiến pháp năm 2013 và
Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 đã có hiệu lực pháp lý, nhiều văn
bản pháp luật ban hành nhằm cụ thể hóa các quy định về tổ chức và hoạt động của
chính quyền địa phương trong Hiến pháp và Luật Tổ chức chính quyền địa phương,
các cấp, các ngành đã và đang tích cực triển khai những quy định pháp luật mới, tổ
8
chức và hoạt động của chính quyền địa phương trên phạm vi toàn quốc, tổ chức và
hoạt động chính quyền địa phương các cấp cho đến nay còn nhiều bất cập:
- Ở một số chính quyền, HĐND chưa phát huy được vai trò là cơ quan quyền
lực của nhà nước ở địa phương, cơ quan đại diện cho ý chí và nguyện vọng của
nhân dân địa phương. Hoạt động của HĐND một số nơi mới chỉ là cơ quan hợp
thức hóa các nghị quyết của cấp ủy đảng. Nhiều cấp ủy đảng còn lúng túng trong
phương thức lãnh đạo đối với HĐND, chưa có định hướng kịp thời trong việc kiện
toàn, củng cố tổ chức, trong việc duy trì các hoạt của HĐND, chưa kiểm tra sát sao
việc thực hiện các nghị quyết và giải quyết các kiến nghị của đại biểu HĐND.
Trong khi đó, UBND ở một số cấp chính quyền chưa đề cao ý thức chấp hành các
nghị quyết của HĐND cùng cấp.
- Công tác quy hoạch, đào tạo, bố trí cán bộ một số vị trí ở một số cơ quan của
các cấp chính quyền chưa theo kịp với yêu cầu. Một số cấp ủy đảng chưa thực sự
quan tâm đến chất lượng, tiêu chuẩn của đảng viên giới thiệu sang cơ quan chính
quyền làm ảnh hưởng đến chất lượng và hiệu quả hoạt động của cơ quan chính quyền.
- Phương thức lãnh đạo của cấp ủy Đảng đối với chính quyền địa phương ở
một số nơi chưa được phân định rõ ràng, vẫn còn sự bao biện và sự can dự từ phía
cấp ủy; tình trạng hoạt động của HĐND và UBND mang tính hình thức, dựa dẫm,
thụ động vẫn tồn tại ở một số địa phương.
- Hiến pháp năm 2013 đã mở ra khuôn khổ pháp lý để chính quyền địa phương
được tổ chức linh hoạt, đáp ứng yêu cầu quản lý, phù hợp với đặc điểm về tự nhiên,
kinh tế - xã hội ở các đơn vị hành chính. Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm
2015 đã thể chế hóa tinh thần của Hiến pháp mới nhưng cũng chưa tạo ra những
thay đổi lớn trong tổ chức của chính quyền địa phương ở mỗi cấp; cơ cấu tổ chức
chính quyền cấp dưới vẫn giống với cơ cấu tổ chức chính quyền cấp trên.
- Việc phân chia đơn vị hành chính hiện nay cơ bản vẫn như trước đây là theo
cấp quản lý. Luật Tổ chức chính quyền địa phương 2015 chưa thể hiện được sự
phân biệt giữa đơn vị hành chính và cấp chính quyền. Một số nội dung liên quan
đến tổ chức đơn vị hành chính được ghi nhận trong Hiến pháp 2013 nhưng chưa
được cụ thể hóa trong luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015.
9
- Về mối quan hệ giữa HĐND và UBND cùng cấp: Mặc dù Hiến pháp và
Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 quy định nhiệm vụ, quyền hạn cụ
thể cho HĐND và UBND mỗi cấp, nhưng thực tiễn cho thấy thẩm quyền và khả
năng thực tế của HĐND với đúng nghĩa là một cơ quan nhà nước ở địa phương vẫn
là một khoảng cách khá lớn.
- Về mối quan hệ chính quyền địa phương với các cơ quan khác trên địa bàn
địa phương, mặc dù đã được Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định cụ
thể hơn nhưng vẫn còn “tư tưởng bao cấp, ban phát” chưa động viên được các tầng
lớp nhân dân, các tổ chức xã hội tham gia xây dựng chính quyền địa phương.
3. Phương hướng hoàn thiện mô hình tổ chức và hoạt động của chính quyền địa
phương ở Việt Nam trong thời gian đến. Liên hệ thực tiễn tại tỉnh Bình Định
3.1. Phương hướng hoàn thiện mô hình tổ chức, hoạt động của chính quyền
địa phương ở Việt Nam trong thời gian đến
- Thứ nhất, cụ thể hóa tiêu chí đối với mỗi cấp chính quyền và tiêu chí để xây
dựng và hoàn thiện chính quyền địa phương phù hợp với đặc điểm, tính chất chính
quyền ở đô thị và nông thôn. Điều chỉnh lại chức năng và thẩm quyền của HĐND
và UBND ở đô thị để đảm bảo tính tập trung, thống nhất, xuyên suốt trong quản lý
điều hành của bộ máy hành chính nhà nước đô thị.
- Thứ hai, xác định rõ thẩm quyền và trách nhiệm trong việc quyết định các
nhiệm vụ quản lý hành chính nhà nước trên địa bàn, đảm bảo tập trung thống nhất
cao trong quản lý, điều hành các nhiệm vụ kinh tế - xã hội trong phạm vi đô thị,
thực hiện các hình thức ủy quyền, tản quyền cho các cấp hành chính bên dưới
trong nội bộ đô thị.
- Thứ ba, đối với chính quyền địa phương ở nông thôn cần phát huy mạnh vai
trò đại diện, đại biểu của nhân dân trong việc hướng dẫn, tạo điều kiện và tổ chức
thực hiện các nhiệm vụ tự quản của cộng đồng dân cư địa phương.
- Thứ tư, tăng cường các hình thức dân chủ trực tiếp ở chính quyền cơ sở. Tổ
chức thực hiện tốt quy chế dân chủ cơ sở về những việc phải có sự tham gia của
nhân dân với các mức độ khác nhau.
10
- Thứ năm, kiện toàn cơ cấu tổ chức và kiện toàn chất lượng bộ máy chính
quyền cơ sở, điều chỉnh các quy định hiện hành về cơ cấu, số lượng, cán bộ công
chức của chính quyền cơ sở theo hướng mở rộng hơn khung quy định tối đa – tối
thiểu về số lượng phù hợp với quy mô, tính chất, đặc điểm của mỗi loại đơn vị
hành chính cơ sở.
- Thứ sáu, hoàn thiện chế độ tiếp xúc cử tri của đại biểu HĐND: đại biểu
HĐND phải thu thập và phản ảnh đầy đủ, trung thực ý kiến, nguyện vọng của nhân
dân thông qua tiếp xúc cử tri ở các đơn vị bầu ra mình; tham khảo ý kiến cử tri nơi
công tác và cư trú. Nội dung các cuộc tiếp xúc cử tri cần được thông báo rộng rãi
trên các phương tiện thông tin đại chúng và tập trung vào những vấn đề mà nhân
dân đang quan tâm.
- Thứ bảy, hoàn thiện pháp luật về hoạt động lập quy của HĐND; đổi mới quy
trình ban hành và nâng cao chất lượng Nghị quyết của HĐND; cần phải hoàn thiện hệ
thống pháp luật về thẩm quyền, trình tự ban hành các văn bản quy phạm pháp luật;
kiện toàn tổ chức và hoạt động của Thường trực HĐND và các Ban của HĐND.
- Thứ tám, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động giám sát của HĐND các
cấp. Cần có các chế tài cụ thể trong hoạt động giám sát của HĐND; hoàn thiện các
quy định pháp luật về chế độ trách nhiệm của đối tượng giám sát, trách nhiệm của
các cơ quan hữu quan.
- Thứ chín, triển khai thực hiện các nội dung của Luật Tổ chức chính quyền
địa phương năm 2015, cần sớm ban hành Quy chế phối hợp trong hoạt động của
HĐND và UBND các cấp.
- Thứ mười, xây dựng Quy chế hoạt động phân định rõ thẩm quyền, trách
nhiệm của Chủ tịch UBND và tập thể UBND theo hướng phân định rõ.
3.2. Liên hệ thực tiễn tại tỉnh Bình Định trong việc nâng cao hiệu lực, hiệu
quả hoạt động của chính quyền địa phương
Tại kỳ họp thứ 1, HÐND tỉnh khóa XII đã bầu các chức danh chủ chốt của
HÐND và UBND tỉnh nhiệm kỳ 2016 - 2021. Ðây cũng là nhiệm kỳ đầu tiên thực
hiện Luật Tổ chức chính quyền địa phương (TCCQÐP), vì vậy có nhiều điểm mới
so với các nhiệm kỳ trước. Cụ thể:
11
HĐND tỉnh khóa XII đã bầu 2 phó chủ tịch HĐND tỉnh. HĐND các huyện,
thị xã, thành phố trong tỉnh cũng đã bầu mỗi nơi 2 phó chủ tịch HĐND cấp mình.
Vai trò của thường trực HĐND cũng được tăng cường với cơ cấu thường trực
HĐND tỉnh gồm chủ tịch, các phó chủ tịch, trưởng các ban và chánh văn phòng
HĐND; thường trực HĐND cấp huyện gồm chủ tịch, các phó chủ tịch và trưởng
các ban của HĐND.
Đối với UBND, nổi bật là việc quy định số lượng phó chủ tịch UBND các cấp
theo phân loại đơn vị hành chính. Theo quy định này, Bình Định là tỉnh loại II, có
không quá 3 phó chủ tịch UBND, HĐND tỉnh khóa XII đã bầu 3 phó chủ tịch
UBND tỉnh.
Về cơ cấu tổ chức của UBND cấp tỉnh và huyện, nhiệm kỳ 2016 - 2021, số
lượng ủy viên UBND tỉnh Bình Định là 21 người, gồm 19 ủy viên là người đứng
đầu 19 cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh, 1 ủy viên phụ trách quân sự và 1
ủy viên phụ trách công an.
- Luật TCCQĐP quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của HĐND và UBND trên
các lĩnh vực, nhằm thể hiện rõ sự gắn kết chặt chẽ, thống nhất giữa hai thiết chế
HĐND và UBND hợp thành chính quyền địa phương. Với những quy định rõ hơn
về cơ cấu tổ chức của HĐND, tăng số lượng đại biểu chuyên trách, HĐND các cấp
của tỉnh Bình Định được củng cố, hoàn thiện tổ chức và nâng cao hiệu lực, hiệu
quả hoạt động.
Như vậy với việc quy định về đơn vị hành chính và tổ chức, hoạt động của
chính quyền địa phương ở các đơn vị hành chính, Luật TCCQĐP giúp cho tỉnh
Bình Định tạo cơ sở pháp lý để hoạch định chính sách phát triển KT-XH; xây dựng
tổ chức bộ máy, chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức của chính quyền địa
phương phù hợp với từng loại đơn vị hành chính. Đồng thời, việc triển khai thực
thi Luật TCCQĐP là nhằm đảm bảo chính quyền địa phương được tổ chức và hoạt
động theo các nguyên tắc: Tuân thủ Hiến pháp và pháp luật, quản lý xã hội bằng
pháp luật; thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ; hiện đại, minh bạch, phục vụ
nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân.
12
C. KẾT LUẬN
Như vậy, đổi mới chính quyền địa phương trong bối cảnh hiện nay là nhu cầu
rất cấp thiết để nâng cao năng lực quản lý của nhà nước nói chung và của các chính
quyền địa phương nói riêng, nhất là trong bối cảnh quyền tự do kinh doanh, các
quyền tự do, dân chủ của xã hội ngày càng được đề cao.
Trong thời gian qua, hoạt động của chính quyền cấp dưới và cấp địa phương
của ta đã tạo ra bước chuyển trong cải cách hành chính góp phần tổ chức hợp lý
chính quyền địa phương. Bên cạnh đó, vẫn bảo đảm được tính thống nhất, thông
suốt, hiệu lực, hiệu quả của bộ máy hành chính Nhà nước; chức trách nhiệm vụ,
quyền hạn được tăng cường một cách toàn diện và thực hiện được đúng nguyên tắc
tập trung dân chủ trong quản lý, điều hành. Đồng thời, quyền làm chủ của người
dân ở địa phương vẫn được đảm bảo.
Ngoài những mặt đạt được đó, thực tế tổ chức và hoạt động của hệ thống
CQĐP hiện nay vẫn bộc lộc nhiều hạn chế như: nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ
chức CQĐP vẫn còn mang nặng dấu ấn hành chính quan liêu, cơ bản vẫn theo mô
hình của nền hành chính công truyền thống, mang nặng tính thứ bậc, mệnh lệnh
hành chính chặt chẽ, song trùng giữa cơ quan có thẩm quyền chung với cơ quan có
thẩm quyền riêng dẫn đến sự thụ động, trông chờ và ỷ lại của cấp dưới đối với cấp
trên; quan hệ giữa HĐND và UBND với cấp ủy địa phương chưa rõ ràng, thiếu các
quy chế phối kết hợp giữa các thiết chế quyền lực địa phương; cách tổ chức của
CQĐP còn rập khuôn, cơ bản giống các cơ quan ở trung ương, mặc dù điều kiện,
đặc điểm, tính chất và nhiệm vụ quản lý ở mỗi cấp rất khác nhau; mối quan hệ giữa
chính quyền trung ương và chính quyền địa phương vẫn nặng về cơ chế “xin cho,
cấp phát”, làm hạn chế sự chủ động, sáng tạo của hệ thống CQĐP, hạn chế vai trò
của pháp luật,...
Thực trạng đó cho thấy, việc tiếp tục nghiên cứu, làm rõ cơ sở lý luận và thực
tiễn để đổi mới mô hình tổ chức bộ máy CQĐP vào thời điểm hiện nay là rất cần thiết
nhằm xác lập rõ hơn về vị trí, vai trò, quyền hạn, nhiệm vụ của hệ thống CQĐP./.
13