Tải bản đầy đủ (.doc) (14 trang)

Vai trò trung tâm của ASEAN trong cấu trúc quyền lực ở Châu Á Thái Bình Dương và việc thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài, giao lưu kinh tế thương mại của tỉnh Bình Định trong điều kiện hội nhập khu vực hiện nay

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (113.49 KB, 14 trang )

A. MỞ ĐẦU
Trong bối cảnh, xu thế phát triển của thế giới hiện nay, khu vực Châu Á - Thái
Bình Dương (CA-TBD) đang nổi lên là khu vực phát triển năng động nhất, chi
phối tốc độ phát triển của thế giới, tất cả các nước lớn như Mỹ, Trung Quốc, EU,
Nga,… đều có sự điều chỉnh chiến lược phát triển về khu vực này. Thực tế bối
cảnh hiện nay cho thấy, nước nào có quyền lực, chi phối được khu vực năng động
này nước đó sẽ tận dụng được thời cơ và phát triển nhanh chóng.
Về cấu trúc quyền lực trong khu vực CA-TBD, có khá nhiều thế lực chi phối,
và một trong những thế lực đó là tổ chức ASEAN. Qua quá trình hình thành và
phát triển của mình, ASEAN ngày càng thể hiện được vai trò trung tâm, có tiếng
nói mạnh mẽ trong sự phát triển của khu vực CA-TBD. Điều đó mở ra cơ hội lớn
để các nước thành viên ASEAN nói chung và Việt Nam nói riêng tận dụng để đưa
nước mình hội nhập và phát triển.
Với bối cảnh, xu thế đó, việc nghiên cứu về vai trò trung tâm của ASEAN
trong cấu trúc quyền lực ở Châu CA-TBD để có những giải pháp thúc đẩy hội nhập
quốc tế của Việt Nam nói chung và các địa phương nói riêng là rất cần thiết.
Tại tỉnh Bình Định, quán triệt và thực hiện chính sách mở cửa kinh tế Đảng
và Nhà nước, đã không ngừng đẩy mạnh hoạt động thu hút vốn đầu tư nước ngoài,
tăng cường giao lưu kinh tế, thương mại với nhiều quốc gia trên thế giới. Với quyết
tâm tạo môi trường đầu tư thông thoáng, minh bạch, tỉnh đã vận dụng linh hoạt,
hiệu quả chính sách mở rộng quan hệ đối ngoại, mời gọi các nhà đầu tư lớn đến
đầu tư tại tỉnh. Nhờ vậy, việc thu hút đầu tư trực tiếp vào tỉnh trong thời gian qua
có sự chuyển biến tích cực. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều hạn chế, bất cập gây cản trở
lớn cho việc thực hiện có hiệu quả cho việc thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài,
giao lưu kinh tế thương mại của tỉnh Bình Định trong thời gian vừa qua.
Chính vì lý do đó, tôi chọn vấn đề “Vai trò trung tâm của ASEAN trong cấu
trúc quyền lực ở Châu Á - Thái Bình Dương và việc thu hút đầu tư trực tiếp nước
ngoài, giao lưu kinh tế thương mại của tỉnh Bình Định trong điều kiện hội nhập
khu vực hiện nay” làm bài thu hoạch kết thúc môn Quan hệ quốc tế của Lớp hoàn
chỉnh Chương trình cao cấp lý luận chính trị Khóa 4.



B. NỘI DUNG
1. Một số khái niệm
1.1. Quyền lực quốc gia
Đứng ở giác độ khác nhau có thể hiểu quyền lực quốc gia mang tính khác nhau:
- Quyền lực mang tính tĩnh, theo đó, quyền lực quốc gia là tổng hòa tất cả các
nguồn lực bên trong của một quốc gia như kinh tế, quân sự, khoa học – công nghệ,
tài nguyên thiên nhiên, diện tích lãnh thổ,…từ đó cho phép một quốc gia có khả
năng duy trì độc lập và thực hiện một khả năng nào đó trong quan hệ quốc tế.
- Quyền lực mang tính động, đặt quyền lực của một quốc gia trong tương quan
với các quốc gia khác, theo đó, quyền lực của một chủ thể được đánh giá bằng
cách đặt khả năng của chủ thể đó trong quan hệ với các khả năng của các chủ thể
khác và quyền lực từ đó có tính tương đối.
Có thể hiểu, quyền lực quốc gia là khả năng của quốc gia đó trong việc gây ảnh
hưởng lên hành vi của quốc gia khác phù hợp với mục đích của mình.
1.2. Cấu trúc quyền lực khu vực
Cấu trúc quyền lực khu vực được hiểu là hình thái quan hệ quốc tế trong một
khu vực nhất định, bao gồm các quốc gia, các tổ chức khu vực hợp tác và đấu tranh
với nhau trên các lĩnh vực an ninh - chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học - công
nghệ…, trong đó nổi lên vai trò dẫn dắt của những nước lớn, những tổ chức có
tiếng nói quyết định đối với sự vận động của khu vực.
2. Vài nét khái quát về Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN)
Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (Association of Southeast Asian Nations,
viết tắt là ASEAN) là tổ chức liên chính phủ được thành lập ngày 8/8/1967 tại
Băng-cốc, Thái Lan trên cơ sở Tuyên bố Băng-cốc với 5 thành viên ban đầu, với
mục tiêu tăng cường hợp tác chính trị, an ninh, kinh tế và văn hoá - xã hội giữa các
nước thành viên, tạo điều kiện hội nhập sâu hơn với khu vực và thế giới.
Qua quá trình phát triển, ASEAN đã mở rộng bao gồm 10 quốc gia ở Đông Nam
Á là Indonesia, Malaysia, Philippines, Singapore, Thái Lan, Brunei, Việt Nam, Lào,
Myanma và Campuchia (Đông Timor hiện đang là quan sát viên của ASEAN).


2


Tổng diện tích các nước ASEAN vào khoảng 4,7 triệu km 2, với dân số gần
651 triệu người, chiếm khoảng 8,59% dân số thế giới (2017)1.
Hợp tác ASEAN ngày càng được mở rộng và đi vào chiều sâu, bao gồm nhiều
lĩnh vực từ chính trị - an ninh đến kinh tế thương mại, đầu tư, văn hóa, giáo dục, y
tế, môi trường, khoa học công nghệ… ASEAN cũng đã thiết lập được quan hệ hợp
tác nhiều mặt với các Đối tác trong và ngoài khu vực thông qua các tiến trình như
ASEAN+1 (hợp tác ASEAN với từng Đối tác); ASEAN+3 (với 3 nước Trung
Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc); Cấp cao Đông Á (với 3 nước Đông Bắc Á và Ấn
Độ, Ôx-trây-lia, Niu Di-lân); Diễn đàn Khu vực ASEAN (ARF),…
Sau hơn 5 thập kỷ tồn tại và phát triển, ASEAN đã lớn mạnh thành một thực
thể chính trị - kinh tế gắn kết, có vai trò quan trọng đóng góp cho hòa bình, ổn định
và hợp tác ở khu vực và là đối tác không thể thiếu của các nước và các tổ chức lớn
trên thế giới. Trên nền tảng đó, ASEAN đã nhất trí đẩy mạnh hợp tác và tăng
cường liên kết, xây dựng một Cộng đồng ASEAN vững mạnh dựa trên ba trụ cột là
Chính trị - An ninh, Kinh tế và Văn hóa - Xã hội.
3. Vai trò trung tâm của ASEAN trong cấu trúc quyền lực ở CA - TBD
3.1. Đối tác không thể thiếu trong hợp tác, liên kết kinh tế khu vực
Từ một tổ chức hợp tác có tính tiểu khu vực của Đông Nam Á, ASEAN đã trở
thành “hạt nhân” và đóng vai trò “trung tâm” trong các cơ chế, cấu trúc hợp tác
khu vực ở Châu Á - Thái Bình Dương. ASEAN quy tụ được sự can dự của tất cả
các nước lớn, các nước trong khu vực và trên thế giới trong các cơ chế do ASEAN
chủ trì. Đặc biệt, đối với các nước lớn, ASEAN luôn là đối tác không thể bỏ qua,
đặc biệt là trong bối cảnh khu vực CA - TBD đang được đánh giá là khu vực năng
động, trỗi dậy mạnh mẽ trong thế kỷ XXI.
Với Mỹ, đối tác lớn của khu vực đã coi trọng và ủng hộ vai trò trung tâm của
ASEAN trong cấu trúc Đông Á và CA - TBD, cam kết tiếp tục hỗ trợ ASEAN xây

dựng Cộng đồng, nhấn mạnh ASEAN là đối tác kinh tế quan trọng của Mỹ, tiếp tục
triển khai Sáng kiến kết nối ASEAN - Mỹ. Hiện nay, Mỹ là bạn hàng lớn thứ tư
của ASEAN với tổng kim ngạch thương mại hai chiều đạt trên 200 tỷ USD (2017),
1

Xem http/: danso.org/dong-nam-a/, ngày 8-12-2017.

3


đồng thời cũng là một trong những nước đứng đầu về đầu tư trực tiếp vào ASEAN
với số vốn FDI đạt 306,5 tỷ USD (2017). Các nỗ lực xây dựng năng lực như “Sáng
kiến gắn kết kinh tế mở rộng” và các chương trình hỗ trợ kỹ thuật như “Kết nối
ASEAN thông qua thương mại và đầu tư” đang được Mỹ và các nước ASEAN tích
cực hành động.
Với Trung Quốc, ASEAN được coi là khu vực quan trọng để Trung Quốc thực
hiện chiến lược cân bằng với Mỹ. Trung Quốc đã có những hỗ trợ nhất định đối
với ASEAN khắc phục khủng hoảng tài chính tiền tệ năm 1997; tăng cường buôn
bán đầu tư vào ASEAN, tạo điều kiện cho ASEAN đầu tư nhiều Trung Quốc nhằm
tạo ràng buộc hơn nữa các nền kinh tế ASEAN vào lục địa Trung Hoa; cùng
ASEAN xây dựng FTA; giảm hoặc xóa nợ cho một số nước Đông Nam Á, nhất là
các thành viên ASEAN mới; cung cấp hàng trăm triệu USD tín dụng ưu đãi và viện
trợ phát triển cho nhiều nước khác, trong đó có các dự án phát triển Tiểu vùng
Mekong mở rộng… Hiện nay, Trung Quốc và ASEAN đã nhất trí hợp tác kinh tế thương mại và đầu tư tiếp tục là nền tảng quan hệ; cam kết thúc đẩy hợp tác hai
bên thông qua việc triển khai hiệu quả “Kế hoạch hành động 2016 - 2020” và sớm
hoàn tất các thủ tục nâng cấp ACFTA nhằn thực hiện cam kết của lãnh đạo cấp cao
về mục tiêu kim ngạch thương mại hai chiều đạt 1.000 tỷ USD và tổng mức đầu tư
đạt 150 tỷ USD vào năm 2020.
Bên cạnh đó, ASEAN hiện đang thu hút sự chú ý của các quốc gia khác như:
Với Nhật Bản có chính sách “Đàn chim nhạn bay và chủ trương hướng về Châu

Á”; Ấn Độ có “Chính sách hướng Đông” và “Hành động hướng Đông”; Năm
2017, Australia công bố Sách trắng đối ngoại đầu tiên trong vòng 14 năm; Liên
Bang Nga ngày càng thể hiện sự quan tâm nhiều hơn trong chính sách đối với khu
vực CA - TBD. Có thể nhận diện chính sách của Nga tại khu vực này bao gồm:
nâng cao chất lượng hợp tác Nga - Trung, trước hết trong lĩnh vực kinh tế, khoa
học - kỹ thuật và nhân đạo; đa dạng hóa tối đa quan hệ kinh tế và chính trị của Nga
ở CA - TBD, bao gồm cả tiểu khu vực Đông Bắc Á và Đông Nam Á.
Trong cơ chế hợp tác liên khu vực, ASEAN nhận thấy Đông Bắc Á và Đông
Nam Á là các khu vực có giao thương nội khối phát triển mạnh mẽ nhất. Mặt khác,
4


do trọng tâm của nền kinh tế thế giới đang dịch chuyển dần về CA - TBD, nên vai
trò, ý nghĩa của một cộng đồng Đông Á sẽ ngày càng tăng. Cơ chế RCEP được
thành lập do Trung Quốc khởi xướng (2012) được 10 nước ASEAN tham gia cùng
các nước khác như Australia, Ấn Độ, Nhật Bản, Hàn Quốc và New Zealand. Cách
tiếp cận “Con đường ASEAN” trong RCEP đã chứng tỏ nó là cơ chế xây dựng sự
đồng thuận tốt nhất ở Đông Á. Bởi lẽ RCEP ít mang tính chính trị và vai trò trung
tâm ASEAN đang được hoan nghênh. Do đó, RCEP được xem như mở rộng mô
hình FTA ASEAN+1 trong việc thúc đẩy thương mại và đầu tư. Tất cả các cường
quốc khu vực như Trung Quốc, Nhật Bản và Mỹ đều nhất trí với vai trò trung tâm
của ASEAN, ít nhất là trong hội nhập kinh tế khu vực.
Ở quy mô khu vực CA - TBD, một số quốc gia ASEAN cũng là thành viên
sáng lập nên APEC. Đây là Diễn đàn của 21 nền kinh tế ở hai bờ Thái Bình Dương,
ra đời từ năm 1989. Tại APEC Bogor năm 1994, APEC đã thông qua một chương
trình tự do hóa thương mại đầy tham vọng với mục tiêu giảm thuế quan xuống mức
0 - 5 % đối với các nền kinh tế thành viên thuộc nhóm các nước phát triển vào năm
2010 và đến năm 2020 đối với các thành viên thuộc nhóm các nước đang phát triển.
APEC là diễn đàn kinh tế mở, nhằm xúc tiến các biện pháp kinh tế, thúc đẩy thương
mại và đầu tư giữa các nền kinh tế thành viên trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện.

ASEAN được coi là hạt nhân để xây dựng Cộng đồng APEC 2020, một cơ chế quan
trọng của cấu trúc kinh tế CA - TBD.
Trong cơ chế TPP được xây dựng từ Thỏa thuận Đối tác kinh tế chiến lược
xuyên Thái Bình Dương (TPSEPA - 2006), một trong những thành viên của ASEAN
tham gia sáng lập là Singapore, Brunei. Các nước thành viên TPP chiếm 37,5% GDP
của thế giới và 26% thương mại toàn cầu. Mỹ tham gia thúc đẩy đàm phán việc
thành lập TPP từ năm 2007 với tham vọng dẫn dắt TPP nhằm đối trọng lại với
RCEP. Tuy nhiên, năm 2017, Mỹ tuyên bố rút khỏi TPP làm ảnh hưởng tới tiến trình
hội nhập của các quốc gia thành viên. Để khắc phục tình trạng này, 11 nước thành
viên còn lại đã đàm phán và nhất trí đổi TPP thành CPTPP. Với Hiệp định này, 11
quốc gia thành viên đang hướng tới xây dựng thỏa thuận thương mại tự do chất
lượng cao, cắt giảm thuế quan, tiến tới mức thuế quan chung, thiết lập khuôn khổ
5


chung về sở hữu trí tuệ, áp dụng tiêu chuẩn chung về môi trường đầu tư và nguồn
nhân lực, xây dựng cơ chế giải quyết tranh chấp giữa nhà đầu tư và quốc gia thành
viên. Mức độ thể chế hóa hợp tác của CPTPP rất cao, tính ràng buộc của nó có thể
thúc đẩy CPTPP phát triển nhanh chóng; mức độ tự do hóa thương mại và đầu tư mà
CPTPP thực hiện cũng cao hơn hẳn so với khuôn khổ khu vực mậu dịch tự do mà
Đông Á hiện có. Hiện nay, có 4 nước ASEAN là thành viên CPTPP và hai quốc gia
khác là Thái Lan và Philippines đang xem xét việc gia nhập CPTPP.
3.2. Các cơ chế ARF, ADMM+, Shangri-La… đóng vai trò là bộ khung để xây
dựng cấu trúc an ninh khu vực và liên khu vực
Một số cơ chế điển hình của ASEAN được chú ý như: ARF - cơ chế hợp tác an
ninh đa phương đầu tiên ở Châu Á - Thái Bình Dương do ASEAN sáng lập. ARF
được tổ chức hàng năm, mang tính đối thoại rộng rãi, thu hút mạnh mẽ sự tham gia
của nhiều nước trên thế giới, trong đó có hầu hết cường quốc lớn. ARF hướng tới
xây dựng lòng tin và nền ngoại giao phòng ngừa trong khu vực. ARF chứng tỏ là
một hình thức hợp tác thích ứng với tình hình mới, phù hợp với khu vực Châu Á Thái Bình Dương và đã có những đóng góp đáng kể đối với an ninh khu vực.

Năm 2006, ADMM ra đời đánh dấu sự khởi đầu của cơ chế hợp tác quốc
phòng chính thức, đầy đủ. Cơ chế này tạo khuôn khổ cho đối thoại và tham vấn cấp
Bộ trưởng Quốc phòng về các vấn đề chiến lược, quốc phòng - an ninh và là nền
tảng để thúc đẩy hợp tác trên thực tế giữa lực lượng vũ trang các nước ASEAN.
ADMM coi trọng hợp tác thực chất nhằm tạo ra khả năng, sức mạnh chung để đẩy
lùi nguy cơ xung đột, góp phần duy trì hòa bình, ổn định trong khu vực.
Năm 2010, ADMM+ lần đầu tiên đã được tổ chức thành công tại Việt Nam.
Đây là cơ chế có sự tham dự của Bộ trưởng Quốc phòng của 18 quốc gia (10 nước
ASEAN và 8 nước đối tác, đối thoại của ASEAN) nhằm bàn thảo các biện pháp
duy trì hòa bình, an ninh khu vực. Cơ chế này được đánh giá là một trong những
bộ khung làm nên vai trò trung tâm của ASEAN hiện nay.
Tham gia cơ chế EAS, ASEAN góp phần duy trì môi trường hòa bình, ổn định
và củng cố mối quan hệ hợp tác tin cậy giữa các nước thành viên trong lĩnh vực an
ninh - chính trị; tạo dựng mối quan hệ mới về chất giữa các nước Đông Á theo chiều
6


hướng hữu nghị, ổn định lâu dài; hợp tác toàn diện ngày càng chặt chẽ cả về song
phương và đa phương. Ngoài ra, ASEAN cũng chú trọng các cơ chế an ninh khu vực
khác, như Đối thoại Shangri-La, Hội thảo An ninh Châu Á - Thái Bình Dương
(APSEC)… góp phần nâng tầm vị thế của ASEAN đối với an ninh khu vực.
3.3. Trách nhiệm của ASEAN đối với việc đảm bảo hòa bình, ổn định, an
ninh, an toàn và tự do hàng hải, hàng không ở khu vực Biển Đông
Biển Đông là một trong những “điểm nóng” về an ninh và ổn định của khu vực
Châu Á - Thái Bình Dương. Ở khu vực này, các tuyên bố chủ quyền của một số
quốc gia và vùng lãnh thổ chồng lấn lên nhau, bao gồm tuyên bố chủ quyền của
Trung Quốc, Đài Loan, Việt Nam, Philippines, Malaysia và Brunei khiến cho tình
hình rất phức tạp. Hiện tại, trong khu vực Biển Đông đang tồn tại hai loại tranh chấp
chủ quyền: (1) tranh chấp chủ quyền lãnh thổ đối với quần đảo Hoàng Sa (giữa Việt
Nam và Trung Quốc) và quần đảo Trường Sa (giữa các bên gồm Trung Quốc, Việt

Nam, Philippines, Malaysia, Brunei, Đài Loan); (2) tranh chấp ranh giới các vùng
biển và thềm lục địa chồng lấn giữa các nước có bờ biển đối diện hoặc liền kề (như
tranh chấp về ranh giới vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa trong vịnh Thái lan
có liên quan giữa Việt Nam và Thái Lan…). Các tranh chấp này đã ảnh hưởng đến
một loạt quan hệ song phương giữa các quốc gia trong khu vực và nó cũng gây căng
thẳng cho mối quan hệ giữa Trung Quốc đối với khối ASEAN.
Trong khu vực, ASEAN đã có nhiều nỗ lực nhằm giải quyết các tranh chấp ở Biển
Đông chủ yếu thông qua thương lượng, đàm phán để xây dựng lòng tin giữa các bên
nhằm kiềm chế xung đột tiềm tàng, ngăn chặn đụng độ quân sự làm phức tạp thêm tình
hình. Các văn bản pháp lý của ASEAN đã được thông qua như: TAC (1976);
SEANWFZ (1995); Tuyên bố Manila - Tuyên bố Biển Đông (1992); DOC (2002) giữa
Trung Quốc và ASEAN là minh chứng cho nỗ lực này. Các hoạt động này đã khẳng
định rõ vai trò của ASEAN trong việc giải quyết các tranh chấp trong khu vực.
Để tăng tính pháp lý cho hoạt động của các bên ở Biển Đông, hiện nay,
ASEAN và Trung Quốc đã thông qua được bộ khung Bộ quy tắc về cách ứng xử ở
Biển Đông (COC) và ASEAN đang nỗ lực cùng Trung Quốc sớm hoàn thành COC.

7


4. Tình hình thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài, giao lưu kinh tế thương mại
của tỉnh Bình Định trong điều kiện hội nhập khu vực hiện nay
Qua phân tích về vai trò trung tâm của ASEAN trong cấu trúc quyền lực ở
CA- TBD, ta thấy ASEAN có tiếng nói rất quan trọng ở một khu vực được sự quan
tâm hàng đầu của các nước lớn qua sự điều chỉnh chiến lược của họ và cũng là nơi
đã và đang phát triển năng động nhất của thế giới trong thế kỷ 21, điều đó vừa tạo
ra những thách thức nhưng cũng đem lại cơ hội rất lớn cho ASEAN và các nước
thành viên của mình phát triển nhanh chóng. Vận hội đó có thể được chứng minh
thông qua việc thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài, giao lưu kinh tế thương mại ở
tỉnh Bình Định của Việt Nam trong điều kiện hội nhập khu vực hiện nay sau đây:

Bình Định là một trong 05 tỉnh của Vùng kinh tế trọng điểm Miền Trung nằm ở trung tâm của trục Bắc - Nam Việt Nam, là cửa ngõ ra biển gần nhất và
thuận lợi nhất của Tây Nguyên, nam Lào, đông bắc Campuchia và Thái Lan (bằng
cảng biển quốc tế Quy Nhơn và Quốc lộ 19).
Bình Định có hệ thống giao thông đồng bộ với đường bộ, đường sắt quốc gia,
cảng biển quốc tế, sân bay; có hệ thống cấp điện, cấp nước, các dịch vụ bưu chính viễn thông, tài chính, ngân hàng, các cơ sở giáo dục - đào tạo, chăm sóc sức khoẻ đảm
bảo đáp ứng nhu cầu của mọi người dân và doanh nghiệp. Ngoài ra, hạ tầng phục vụ
du lịch, vui chơi giải trí đã và đang được quan tâm đầu tư, nâng cấp. Bên cạnh 134 km
bờ biển với nhiều bãi biển, thắng cảnh biển và nguồn lợi thuỷ sản, Bình Định còn có
nhiều loại khoáng sản, như: đá granite, ilmenite, cát, cao lanh, đất sét, suối khoáng,
vàng. Với 1,6 triệu dân, trong đó trên 50% trong tuổi lao động, có truyền thống cần
cù, sáng tạo, Bình Định có thể cung cấp một nguồn nhân lực dồi dào.
Bên cạnh đó, TP. Quy Nhơn - Bình Định cũng được Thủ tướng Chính phủ phê
duyệt để trở thành trung tâm tăng trưởng kinh tế phía Nam của vùng, là đầu mối
giao thông đường bộ và cảng biển phục vụ trực tiếp cho vùng Tây Nguyên là một
trong những ưu tiên. Ngoài ra, Thủ tướng Chính phủ Việt Nam cũng phê duyệt
Quy hoạch phát triển hệ thống cảng biển Việt Nam đến năm 2020, định hướng đến
năm 2030. Theo đó, cảng Quy Nhơn - Bình Định là cảng tổng hợp quốc gia phục
vụ chủ yếu cho các KCN và trung chuyển các sản phẩm dầu,…
8


Tất cả các yếu tố trên giúp Bình Định có lợi thế vượt trội trong liên kết, giao
lưu kinh tế khu vực và quốc tế.
Thực hiện tinh thần Nghị quyết Đại hội lần thứ IX của Đảng “chủ động hội
nhập kinh tế quốc tế (HNKTQT) để phát triển nhanh, có hiệu quả và bền vững” theo
nguyên tắc “bảo đảm độc lập tự chủ và định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích
dân tộc, an ninh quốc gia, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, bảo vệ môi trường”.
Sau khi Việt Nam gia nhập tổ chức Thương mại thế giới (WTO), Chính phủ đã ban
hành Nghị quyết số 16/2007/NQ-CP ngày 27/02/2007, Chương trình hành động
“Một số chủ trương, chính sách lớn để nền kinh tế phát triển nhanh và bền vững khi

Việt Nam là thành viên của WTO”; giao các bộ, ngành, địa phương triển khai các
nhiệm vụ cụ thể nhằm tận dụng cơ hội, vượt qua thách thức, đưa nước ta bước vào
giai đoạn phát triển mới. Thực hiện Nghị quyết này, trên cơ sở lợi thế của mình,
Bình Định đã tích cực mở rộng quan hệ hợp tác kinh tế đối ngoại với nhiều đối tác,
dưới nhiều hình thức, trên nhiều lĩnh vực (trao đổi hàng hóa, đầu tư sản xuất, hợp tác
khoa học kỹ thuật), tạo ra môi trường kinh doanh thuận lợi và khai thác hiệu quả các
nguồn lực bên ngoài phục vụ cho quá trình phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.
4.1. Một số thành tựu của giao lưu kinh tế thương mại, thu hút đầu tư trực
tiếp nước ngoài của tỉnh Bình Định
Trong những năm gần đây, Việt Nam đã ký kết Hiệp định Thương mại song
phương Việt Nam - Hoa Kỳ (BTA) vào năm 2000 và tham gia 08 Hiệp định
Thương mại tự do (FTA) khu vực và song phương. Cụ thể, Việt Nam và các nước
ASEAN ký các Hiệp định thương mại tự do giữa khối ASEAN với các đối tác
Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Ôt-xtrây-lia, Niu-Di-lân, với Ấn Độ. Ngoài ra
đã ký FTA song phương là FTA Việt Nam - Nhật Bản năm 2008 và FTA Việt Nam
- Chi-lê năm 2011, FTA với Hàn Quốc, Liên minh thuế quan Nga - Bê-la-rút - Cadắc-xtan và đang tích cực tham gia đàm phán các FTA khác như Hiệp định Đối tác
xuyên Thái Bình Dương (TPP), FTA với Liên minh châu Âu (EU), Khối thương
mại tự do châu Âu (EFTA) gồm các nước Thụy Sỹ, Na-uy, Lích-tân-xten và Ai-xơlen, v.v... Những Hiệp định đã ký kết tạo nhiều cơ hội thuận lợi cho doanh nghiệp
Việt Nam trong đó có Bình Định hội nhập nhanh với kinh tế thế giới.
9


Đến nay Bình Định đã có quan hệ mua bán với hơn 156 quốc gia và vùng lãnh
thổ. Ngoài ra, Bình Định Định cũng đã quan hệ thương mại với nhiều quốc gia và
lãnh thổ trên khắp Châu lục; nhiều nước như Hàn Quốc, Nhật Bản, Trung Quốc, Đài
Loan, Thái Lan… là đối tác thương mại quan trọng của Tỉnh. Đây là thành tựu quan
trọng thể hiện sự cố gắng phấn đấu của việc thực hiện chính sách đối ngoại đổi mới,
toàn diện của lãnh đạo, các cơ quan đoàn thể của tỉnh Bình Định.
Kết quả mở rộng thị trường và quan hệ hợp tác Bình Định thể hiện khả năng
sẵn sàng tham gia sâu rộng vào các hoạt động HNKTQT, bắt đầu có tiếng nói trong

các diễn đàn Hội nhập, từng bước thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Bình
Định, tạo điều kiện phát triển mô hình kinh tế hướng đến xuất khẩu, giao lưu kinh
tế, mở rộng dịch vụ Logistics, đóng góp thực hiện chiến lược công nghiệp hóa,
hiện đại hóa, từng bước khẳng định hình ảnh và vị thế của một tỉnh thuộc vùng
kinh tế trọng điểm miền Trung có lợi thế về vị trí địa lý, tài nguyên và lao động.
* Hoạt động HNKTQT Bình Định đã thúc đẩy tăng trưởng kinh tế:
Thực hiện Chương trình hành động của Chính phủ từ khi gia nhập vào WTO,
Bình Định đã duy trì phát triển kinh tế - xã hội. Giai đoạn 2008 đến 2016, tuy bị tác
động bởi sự biến động của kinh tế các nước trên thế giới trực tiếp là các nước có quan
hệ giao thương nhưng hoạt động xuất nhập khẩu vẫn có bước tăng trưởng. Riêng đối
với kim ngạch xuất khẩu đều tăng qua các năm. Cụ thể: giai đoạn 2010 - 2016 tổng
kim ngạch xuất khẩu thực hiện đạt 2.707,5 triệu USD, tốc độ tăng bình quân hàng
năm 10,2%. Hàng hóa xuất khẩu của Bình Định trong đó ngành hàng gỗ và đồ gỗ,
thủy sản, may mặc, giày da,… hiện nay đã có mặt trên 156 nước và vùng lãnh thổ.
* Góp phần thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài:
Quán triệt và thực hiện chính sách mở cửa kinh tế Đảng và Nhà nước, Bình
Định không ngừng đẩy mạnh hoạt động thu hút vốn đầu tư nước ngoài FDI. Nhờ
thực hiện tốt các cam kết HNKTQT, cụ thể cam kết gia nhập WTO đã giúp cho các
nhà đầu tư FDI tin tưởng và nâng cao sức hấp dẫn khi tham gia vào các tỉnh thuộc
vùng kinh tế trọng điểm niền Trung trong đó có Bình Định. Đến nay đã có 59 dự án
FDI từ các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư với tổng vốn đầu tư khoảng là 1.762,47
triệu USD, góp phần giải quyết việc làm cho lao động địa phương, đảm bảo các vấn
10


đề an sinh xã hội, đồng thời làm tăng kim ngạch xuất khẩu của tỉnh. Khả năng thu
hút nhà đầu tư nước ngoài vào Bình Định ngày càng thể hiện rõ nét, mang nhiều tín
hiệu khả quan thể hiện gần đây nhất là dự án Tổ hợp lọc hóa dầu Victory với tổng
vốn đầu tư 22 tỷ USD do tập đoàn Dầu khí Thái Lan (PTT), Công ty Saudi Aramco
làm chủ đầu tư đã được Chính phủ chấp thuận chủ trương. Sự kiện này đã tạo làn

sóng tốt thu hút một số nhà đầu tư nước ngoài như Tập đoàn AMATA - Thái Lan,
VSIP - Singapor,…. đến Bình Định để khảo sát tìm kiếm cơ hội đầu tư.
Đồng thời thu hút vốn đầu tư nước ngoài, Bình Định cũng đã chủ động xây
dựng và thực hiện các dự án đầu tư ở Lào, Campuchia, v.v…
4.2. Một số hạn chế của giao lưu kinh tế thương mại, thu hút đầu tư trực
tiếp nước ngoài của tỉnh Bình Định
Bình Định là một tỉnh cách xa thủ đô Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh tuy có
tiềm năng và lợi thế về tài nguyên và lao động nhưng kết cấu hạ tầng chưa đồng bộ
tương thích với yêu cầu đáp ứng phát triển kinh tế xã hội. Vì vậy, quá trình thực hiện
HNKTQT trên địa bàn tỉnh không được thuận lợi. Hơn nữa, hầu hết doanh nghiệp
hoạt động trên địa bàn tỉnh đều là doanh nghiệp vừa và nhỏ nên hạn chế về vốn, về
nhân lực có trình độ, về tiếp cận với thị trường có nhiều rào cản kỹ thuật, nhất là
công nghệ thiết bị lạc hậu nên khả năng hội nhập thấp và tiềm ẩn nhiều rủi ro.
Việc triển khai HNKTQT của tỉnh chưa thực sự gắn kết với chủ trương phát
triển kinh tế - xã hội, phát triển các ngành hàng chủ lực, truyền thống của tỉnh. Thu
hút đầu tư một mặt tạo công ăn việc làm cho lao động địa phương, tăng thu ngân
sách, nhưng mặt ngược lại đã làm tăng sự phụ thuộc vào các nền kinh tế của các
nước do phải nhập hầu hết nguồn nguyên phụ liệu đầu vào, thiết bị máy móc, công
nghệ… mà địa phương cũng như trong nước chưa cung ứng được. Vấn đề này đến
nay Bình Định cũng chưa thiết lập được những chính sách đủ mạnh để phát triển
nguồn nguyên liệu cũng như xây dựng những biện pháp bảo hộ sản xuất trong nước.
Quá trình HNKTQT đã thúc đẩy doanh nghiệp Bình Định đã có sự cải thiện
đáng kể trong phương thức quản lý điều hành, thực hiện các quy trình sản xuất, kiểm
soát, quản lý theo ISO và tiêu chuẩn quốc tế … nhưng thực tế vẫn còn yếu và chưa
đồng bộ theo vòng tròn khép kín (tạo nguyên liệu, khai thác, chế biến, bảo quản…).
11


Năng lực cạnh tranh còn yếu ở các mặt thị trường, chất lượng, dịch vụ phục vụ… Vì
vậy, mặt hàng chủ lực của tỉnh tuy đã có mặt trên nhiều thị trường nhưng vẫn còn

khiêm tốn không có thương hiệu mạnh, cơ cấu mặt hàng xuất khẩu còn nghèo nàn.
Công tác phối hợp về HNKTQT giữa các Sở, ngành, các đơn vị trên địa bàn
tỉnh và doanh nghiệp theo Quy chế đã được phê duyệt cũng như kế hoạch đã ban
hành chưa đồng bộ và thường xuyên. Nhiều vấn đề cần có sự phối hợp liên ngành
triển khai còn chậm nhất là trong lĩnh vực phối hợp thu hút đầu tư, phổ biến trao
đổi thông tin thị trường nâng cao năng lực cạnh tranh, phát triển đồng bộ yếu tố về
vốn, lao động, hạ tầng, v. v...
4.3. Một số giải pháp
Đẩy mạnh HNKTQT trên địa bàn tỉnh trong những năm tới là yêu cầu khách
quan tạo sự chuyển biến tích cực có hiệu quả thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại
hóa. Một số giải pháp thực hiện HNKTQT:
Thứ nhất, tiếp tục tham mưu đề xuất ban hành các chính sách hỗ trợ phát triển
kinh tế - xã hội, hỗ trợ doanh nghiệp, thu hút vốn đầu tư phù hợp với chủ trương
của Đảng và Chính phủ đã ban hành. Trong đó, đảm bảo tính đồng bộ. hiệu quả,
duy trì và phát triển môi trường đầu tư, kinh doanh, đảm bảo hài hòa lợi ích giữa
các bên có liên quan theo xu hướng tích cực. Kịp thời đề xuất xóa bỏ, điều chỉnh,
sửa đổi phù hợp cam kết để bảo vệ quyền lợi cho doanh nghiệp tránh rủi ro khi
tham gia với đối tác nước ngoài.
Thứ hai, thực hiện có hiệu quả hoạt động nâng cao năng lực cạnh tranh của
doanh nghiệp phù hợp với cam kết trong mỗi Hiệp định mà Việt Nam đã ký kết để
tận dụng tối đa lợi ích trong quá trình HNKTQT. Cần tổ chức đánh giá khả năng
đáp ứng mức độ cạnh tranh của từng nhóm hàng, kể cả từng doanh nghiệp trong
nhóm hàng, trên cơ sở đó đề xuất những giải pháp cải thiện nâng cao mức độ cạnh
tranh đồng thời định hướng tái cơ cấu doanh nghiệp có hiệu quả. Có chính sách
hợp lý đối với những ngành hàng chủ lực hiện nay đang thực hiện hình thức gia
công chuyển sang thực hiện xuất khẩu trực tiếp nhằm tăng thêm hàm lượng giá trị
trong sản phẩm. Riêng những mặt hàng chế biến xuất khẩu đang có thế mạnh của
tỉnh thông qua chính sách hỗ trợ nâng cấp thiết bị, công nghệ, đào tạo nhân lực,
12



thực hiện hợp tác dài hạn với đối tác có tiềm lực mạnh để đa dạng hóa, đổi mới sản
phẩm, tăng sản lượng và nâng cao giá trị.
Thứ ba, Bình Định hiện nay được nhiều nhà đầu tư xây dựng nhà máy thức ăn
chăn nuôi, thức ăn gia súc, chế biến nông sản… với công suất gần 3 triệu tấn sản
phẩm/năm. Để tránh phụ thuộc vào quá lớn vào nguyên liệu nhập khẩu đảm bảo tính
ổn định sản xuất và tiết kiệm nguồn ngoại tệ cần có chính sách khuyến khích hỗ trợ
phát triển công nghiệp hỗ trợ cũng như khuyến khích các ngành dịch vụ hỗ trợ như tài
chính, tín dụng, khoa học, công nghệ đột biến gen… tham gia vào lĩnh vực này.
Thứ tư, nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu quá trình HNKTQT luôn luôn được
xem trọng và quan tâm đúng mức vì có ý nghĩa quan trọng trong quá trình nhận
thức, hình thành tư duy phát triển kinh tế theo xu thế toàn cầu hóa nhưng vẫn đảm
bảo theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Vì vậy, phải tăng cường nâng cao nhận thức
cho cán bộ quản lý nhà nước và doanh nhân về quyền lợi và nghĩa vụ trong quá
trình HNKTQT. Trong đó, tham mưu đề xuất chính sách đáp ứng được yêu cầu tự
do hóa, bình đẳng trong kinh doanh nhưng phải đảm bảo thúc đẩy phát triển kinh
doanh trong nước, tạo cơ hội cho doanh nghiệp trong nước đủ khả năng cạnh tranh.
Bên cạnh đó, doanh nghiệp trong nước nhận thức rõ những vấn đề cần tuân thủ,
những lợi ích mang lại từ những cam kết đồng thời phải biết tự bảo vệ mình trong
khi tham gia sân chơi đầy tiềm năng nhưng tiềm ẩn nhiều rào cản, thách thức.

13


C. KẾT LUẬN
Với vai trò trung tâm của ASEAN trong cấu trúc quyền lực ở CA - TBD ngày
càng được khẳng định đã và đang tạo nhiều cơ hội cho các nước thành viên ASEAN
đạt nhiều lợi ích và nâng cao dần vị thế trong hội nhập quốc tế, đặc biệt là trong giao
lưu kinh tế thương mại và đầu tư.
Xuất phát từ bối cảnh như vậy, chưa bao giờ Việt Nam đứng trước nhiều cơ hội

to lớn như hiện nay và cũng chưa bao giờ môi trường an ninh của Việt Nam lại chịu
sự tác động, thách thức từ nhiều vấn đề phức tạp, đa chiều, đa hướng như bây giờ. Cơ
hội và thách thức đan xen với nhau, nếu không kịp thời tranh thủ, cơ hội sẽ biến thành
thách thức; nếu “hóa giải” thành công, thách thức sẽ chuyển thành cơ hội cho đất
nước phát triển. Việt Nam đã có những lựa chọn đúng đắn trong hội nhập quốc tế,
có những đóng góp tích cực vào việc củng cố đoàn kết của ASEAN, cùng các nước
ASEAN duy trì vai trò trung tâm trong cấu trúc khu vực. Đặc biệt, với vai trò chủ
nhà của Hội nghị Cấp cao APEC 2017, đăng cai tổ chức Diễn đàn kinh tế thế giới
về ASEAN, Việt Nam đã chủ động đưa ra các nghị trình, vấn đề thảo luận phù hợp
với lợi ích của các nền kinh tế thành viên. Thành công trên cho thấy tầm nhìn chiến
lược đối ngoại và “phương cách Việt Nam” có thể góp phần hóa giải các bất đồng,
thách thức của thời cuộc, đem lại triển vọng hòa bình, ổn định và phát triển năng
động cho khu vực và đất nước./.

14



×