Chương
5
THÁT NGHIỆP
Thất nchiệp luôn là mối quan tâm cùa toàn xã hội. Hầu hết các quốc
gia đều cố gắng xây dựng các chính sách kinh tế vĩ mô để thúc đây
tâng trường kinh tế, ổn định giá cả, cài thiện việc làm và giảm tỷ lệ
thất nghiệp. Thất nghiệp cũng là mối lo cùa m ọ i n g ư ờ i dân lao động,
bời vi nó gắn liền v ớ i đời sống vật chất và tinh thần của họ.
Trong c h ư ơ n g trước, c h ú n g ta đã thấy các nhân tố quyết định mức
sống và sự cải thiện mức sống đ ố i với dân cư một nước. M ộ t nước
có tỳ l ệ tiết k i ệ m và đầu tư cao hơn sẽ có mức t ă n g trưởng tư bản
và GDP nhanh hơn một nước có những điều kiện t ư ơ n g đ ô n g ,
nhưng tiết kiệm và đầu tư thấp hơn. M ộ t nhân tổ rõ ràng hơn quyết
định mức sống của m ỗ i nước là mức độ sử dụng nguồn lao động.
Mặc dù mức thất nghiệp n à o đó là k h ô n g thể tránh k h ỏ i trong các
nền kinh tế hiện đ ạ i có h à n g vạn doanh nghiệp và h à n g triệu công
nhân, nhưng khi nhiều lao động có việc làm hom, thì nền kinh tế sẽ
tạo ra mức GDP cao hơn so v ớ i trường hợp nhiều c ô n g nhân bị thất
nghiệp.
Chương này sẽ giới thiệu những vấn đề cơ bản về thất nghiệp, đưa ra
khái niệm và đo lường thất nghiệp, cách phân loại thất nghiệp, lý giải
nguyên nhân t ạ i sao nền kinh tế luôn tồn t ạ i thất nghiệp, cũng như
cách thức các nhà hoạch định chính sách có thể sử dụng để đ ố i phó
với vấn đề này.
ì. K h á i n i ệ m v à đ o l ư ờ n g t h ấ t n g h i ệ p
Ở V i ệ t Nam số liệu về thất nghiệp được tổng hợp từ Cuộc điều tra Lao
động - V i ệ c làm do B ộ Lao động - Thương binh và Xã hội thực hiện.
Đây là cuộc điều tra chọn mẫu được thực hiện theo phương thức
phỏng vấn trực tiếp. Dựa vào trả lời cho các câu hỏi điều tra, môi
người trường thành (từ đù 15 tuổi trở lên) trong các hộ gia đình điều
tra được xếp vào một trong ba nhóm sau đây:
115
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
Có việc làm.
Thất nghiệp.
Không nằm trong lực lượng lao động.
M ộ t người được coi là có việc làm nếu người đó sử dụng hầu hét tuần
trước điều tra để làm công việc được trả tiền lương. M ộ t người được
coi là thất nghiệp nếu trong tuần lé trước điều tra người đó không có
việc làm nhưng có nhu cầu và nỗ lực tìm kiếm việc làm. Cụ thể, anh
ta/chị ta đã có hoạt động đi tìm việc trong 4 tuần qua; hoặc trong tuần
tính đến thời điểm điều tra có tổng số giờ làm việc dưới 8 giờ, muốn
và sẵn sàng làm thêm nhưng không tìm được việc. Người không thuộc
hai loại trên, chẳng hạn sinh viên hệ tập trung dài hạn, người nội trợ
hoặc nghỉ hưu không nằm trong héc lượng lao động.
Trên cơ sờ phân nhóm như trên, các chi tiêu thống kê quan trọng đối
với thị trường lao động được tính toán. Lực lượng lao động được định
nghĩa là tổng số những người đang có việc làm và những người thất
nghiệp.
Lực lượng lao động = số ngirời có việc làm + số ngirời thất
nghiệp
Tỳ lệ thất nghiệp chính là tỷ lệ phần trăm cùa lực lượng lao động bị
thất nghiệp:
So người thất
Tỳ lệ thất nghiệp =
nghiệp
———
Lực lượng lao động
xỉ
00%
Tỳ lệ thất nghiệp được tính cho toàn bộ dân số là người trường thành
sống ở khu vực thành thị và cho các nhóm hẹp hơn - ứong đ ộ tuổi lao
động, phân theo nhóm tuổi, giới tính và theo khu vực địa lý. Ỏ khu
vực nông thôn, sản xuất có tính thời vụ, việc tính chỉ tiêu tỳ l ệ thất
nghiệp rất ít ý nghĩa. M ộ t chi tiêu thay thế khác là tỷ lệ thời gian lao
động được sứ dụng. Đó chính là tỳ l ệ phần trăm của tổng số ngày công
làm việc thực tế so với tổng số ngày công có nhu cầu làm việc (bao
gồm số ngày công đã làm việc và số ngày công có nhu cẩu làm thêm).
Tỳ lệ thời gian lao _ °"Z ° s y s làm việc thực tế
động được sử dụng
~ ™ 7 ~ ~i "
"
]
"
xi 00%
lõng sô ngày công có nhu câu làm việc
T
s
n
à
côn
Ì 16
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
Từ số liệu ở trên các nhà thống kê còn tính chỉ tiêu tỷ l ệ tham gia lực
lượng lao động. N ó được tính bằng tỷ l ệ phần trăm dân số trường thành
của Việt Nam nằm trong lực lượng lao động:
Tỳ lệ tham gia lục
lượng lao đọng
=
L
ự
c
ỉ
ư
^
l
a
o
— ;
Dán sô trưởng
ê"g
đ
X100%
thành
Chỉ tiêu thống kê này cho chúng ta biết phần dân số quyết định tham
gia vào thị trường lao động. Giống như tỳ l ệ thất nghiệp, tỷ l ệ tham
gia lực lượng lao động được tính cho toàn bộ dân số trường thành và
cho các nhóm hẹp hơn.
Các số liệu trên cho phép các nhà kinh tế và hoạch định chính sách
theo dõi những diễn biến trên thị trường lao động theo thời gian.
Bảng 5-1 cho thấy tỷ l ệ thất nghiệp của lực lượng lao động trong độ
tuổi lao động ờ khu vực thành thị đà liên tục giảm theo thời gian,
trong khi tỷ l ệ thời gian lao động được sử dụng ờ khu vực nông thôn
liên tục tăng lên. Đ ó là m ộ t nguồn quan trọng đóng góp tích cực cho
tăng trường kinh tế của V i ệ t Nam trong thời gian qua.
Bảng 5-1 Tỷ lệ thất nghiệp của LLLĐ trong độ tuổi tao động ở khu vực
thành thị và tỷ lệ thời gian lao động được sử dụng ở khu vực nông thôn
Năm
Tỷ lệ thất nghiệp ờ khu
vực thành thị
Tỷ lệ thời gian lao động được
sử dụng ở khu vực nông thôn
1998
6,9
71,1
1999
6,7
73,6
2000
6,4
74,2
2001
6,3
74,3
2002
6,0
75,3
2003
5,8
77,7
2004
5,6
79,3
2005
5,3
80,7
Nguồn: Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội
117
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
LI, P h â n l o ạ i t h ấ t n g h i ệ p
Tùy theo mục đích nghiên cứu, thất nghiệp được phân loại theo nhiều
cách khác nhau. Kinh tế vĩ mô thường chia thất nghiệp thanh hai loại
- thất nghiệp dài hạn và những biến động trong ngan hạn. Khái niệm
(hất nghiệp (ự nhiên được dùng đề chi mức thất nghiệp tồn tại ngay cả
trong dài hạn, còn thất nghiép chu kỳ biểu thị độ lệch cùa thát nghiệp
thực tế trong ngắn hạn so với mức tự nhiên. Thất nghiệp chu kỳ có
cách giải thích riêng, vì vậy chúng ta sẽ giải thích chi tiêt khi nghiên
cứu những biến động kinh tế ngắn hạn trong phần sau cùa cuốn sách
này. Trong chương này, chúng ta bàn nhiều hơn về các nhân tố quyết
định tỳ lệ thất nghiệp tự nhiên cùa nền kinh tế.
1. T h ấ t nghiệp t ự nhiên
Thất nghiệp tự nhiên được dùng để chi mức thất nghiệp mà bình
thường nền kinh tể trải qua. Thuật ngữ tự nhiên không hàm ý ràng tỷ
l ệ thất nghiệp này là đáng mong muốn, không thay đ ổ i theo thời gian
hoặc không bị ảnh hường bời chính sách kinh tế. N ó đơn giàn chi có
nghĩa là loại thất nghiệp không tự biến mất ngay cả trong dài hạn. Các
dạng thất nghiệp được tính vào thất nghiệp tự nhiên gồm có thất
nghiệp tạm thời, thất nghiệp cơ cấu và thất nghiệp theo lý thuyết cổ
điên.
1.1 T h ấ t nghiệp t ạ m t h ờ i
Trong hầu hết các thị trường, giá cả điều chình để cân bằng cung cẩu.
Trong thị trường lao động lý tưởng, tiền lương sẽ điều chinh để loại
ư ừ tinh trạng thất nghiệp. Song thực tể cho thấy ngay cả khi nền kinh
tế vận hành tốt thì thất nghiệp vẫn tồn tại.
Thất nghiệp tạm thời bất nguồn từ sự dịch chuyển bình thường cùa thị
trường lao động. M ộ t nền kinh tế vận hành tốt là nền kinh tế đảm bảo
sự ăn khớp giữa công nhân và việc làm. Trong một nền kinh tế phức
tạp, chúng ta không thể hy vọng những sự ân k h é p như vậy xuất hiện
tức thì bời vì trên thực thế công nhân có những sờ thích và năng lực
khác nhau. trong khi việc làm cũng có những thuộc tính khác nhau.
Hơn nữa, các luồng thông tin về người muốn tìm việc và chỗ làm việc
còn ương không luôn luôn trùng pha, ân khớp, sự cơ động về mặt địa
118
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
lý của công nhân cũng không diễn ra ngay lập tức. N h ư vậy, chúng ta
cần phải dự tính và phải coi một mức thất nhiệp nhất định là cần thiết
và đáng mong muốn trong các xã hội hiện đ ạ i . C ô n g nhân thường
không nhận ngay công việc đầu tiên được yêu cầu và doanh nghiệp
không thuê người còng nhân đầu tiên nộp đon xin việc. Trái l ạ i , họ
cần bỏ ra thời gian và sức lực cần thiết để tạo ra sự ăn khớp tốt nhất
giữa công nhân và doanh nghiệp. Ví dụ, sau khi tốt nghiệp đại học,
bạn cần phải có khoảng thời gian cần thiết để đi tìm việc làm. Trong
thời gian đó bạn được tính là thất nghiệp. Loại thất nghiệp này được
gọi là thất nghiệp tạm thời.
M ộ t nguồn quan trọng của thất nghiệp tạm thời là thanh niên m ớ i gia
nhập lực lượng lao động. Nguồn khác là những người đang trong quá
trình chuyển việc. M ộ t số có thể bỏ việc do không thoa mãn v ớ i công
việc hiện tại hay điều kiện làm việc hiện t ạ i ; một số khác có thể bị sa
thải. Bất kề lý do là gì, h ọ cần phải tìm một công việc m ớ i , điều này
cần có thời gian, và cần phải chấp nhận thấp nghiệp tạm thời..
Chính sách công và thất nghiệp
tạm
thời
Ngay cả khi một số thất nghiệp tạm thời là không thể tránh khỏi,
chúng ta vẫn không biết chính xác số lượng là bao nhiêu. N ế u thông
tin về việc làm mới và số công nhân hiện có nhu cầu làm việc được
truyền đi nhanh chóng, thì công nhân và doanh nghiệp càng dễ gặp
nhau hơn. Ví dụ, Internet có thể tạo thuận lợi cho quá trình tỉm việc và
làm giảm thất nghiệp tạm thời. Ngoài ra, chính sách công cộng có thề
đóng một vai trò nhất định. N ế u chính sách có thể làm giảm bớt thời
gian mà công nhân thất nghiệp cần thiết để tìm được việc làm m ớ i , thi
nó có thể làm giảm tỷ l ệ thất nghiệp tự nhiên của nền kinh tế.
Chính sách của chính phù có thể tác động đến thất nghiệp tạm thời
theo nhiều cách khác nhau. V i ệ c thành lập các văn phòng giới thiệu
việc làm có chức năng cung cấp thông tin về những việc làm còn
trống và công nhân có nhu cầu tìm việc sẽ tạo thuận lợi cho công nhân
dễ tìm được việc làm làm hơn. M ộ t số n g ư ờ i phê phán*các c h ư ơ n g
trình này. H ọ lập luận rằng t ố t nhất hãy để cho thị trường tư nhân
đảm bảo cho c ô n g n h â n và việc làm ăn khớp nhau. Trong thực tế,
ì
119
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
hầu hết quá trình tim kiếm việc làm trong các nền kinh tế thị
trường xảy ra mà không cần tới sự can thiệp cùa chính phủ. Đãng
quảng cáo trên báo, bản tin về việc làm, trung tâm giới thiệu việc
làm và truyền miệng, tất cả đều góp phần truyền bá t h ô n g tin về
việc làm còn trống và người tìm việc. N h ữ n g n g ư ờ i phê phán này
khẳng định rằng chính phủ không làm tốt hơn, thậm chí còn kém
hơn, trong việc phổ biến thông tin thích hợp cho những c ô n g nhân
thích hợp và quyết định loại hình đào tạo c ô n g nhân có giá trị nhất.
H ọ quả quyết rằng các quyết định n h ư vậy t ố t nhất nên để bản thân
công nhân và người thuê lao động đưa ra.
M ộ t chương trinh cùa chính phủ có xu hướng làm tăng qui mô thất
nghiệp tạm thời là chỉnh sách trợ cấp thất nghiệp.
T r ợ cấp thất
nghiệp cho phép công nhân mất việc nhận được một khoản thu
nhập từ chính phù khi họ không có việc làm. Đây là một chính sách
được thiết kế nhằm giúp công nhân đối phó với thất nghiệp: N ó làm
giảm tổn thất cho cá nhân và gia đình những người bị thất nghiệp vốn
là một hiện tượng tất yếu trong một xã hội thường xuyên thay đ ổ i . Tuy
nhiên, mọi cái đều có giá cùa nó. Mặc dù trợ cấp thất nghiệp làm giảm
tổn thất gây ra bời một số loại thất nghiệp, bản thân nó lại làm tăng
thất nghiệp tạm thời trong nền kinh tế. Trợ cấp thất nghiệp cho phép
công nhân mất việc nhận được một khoản thu nhập từ chính phù trong
khi họ không có việc làm. Điều này làm giảm sức ép đ ổ i với các công
nhân bị mất việc tìm kiếm việc làm mới và rất cỏ thể họ không chấp
nhận các công việc không hấp dẫn. Đây chi nên coi là tác động phụ
của chính sách trợ cấp thất nghiệp vì mục tiêu chính của trợ cấp thất
nghiệp là nhằm giảm bớt khó khăn về kinh tế cho các cá nhân bị thất
nghiệp; và như vậy nó có mục tiêu phân phối l ạ i .
Những người ủng hộ trợ cấp thất nghiệp nhấn mạnh đến các lợi ích
của nó. Những người phê phán l ạ i nhấn mạnh đến các chi phí của nó.
Cũng như với bất kỳ chính sách nào, đánh giá hợp lý về trợ cấp thất
nghiệp đòi hỏi phải cân nhắc một cách toàn diện cả hai mặt chi phí và
lợi ích cùa nó.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
1.2 T h ấ t nghiệp c ơ cấu
Quá trình chuyển địch c ơ cấu của nền kinh tế cũng có thể gây ra thất
nghiệp. Khi cơ cấu của cầu về hàng hoa thay đ ổ i , thì cơ cấu cùa cầu về
lao động cũng thay đ ổ i theo. Trước khi công nhân thích ứng v ớ i điều
kiện mới, thất nghiệp cơ cấu sẽ xuất hiện. Thất nghiệp như vậy có thề
được định nghĩa là thất nghiệp gây ra do sự không ăn khớp giữa cơ
cấu của cung và cầu lao động về kỹ năng, ngành, nghề, hoặc địa điểm.
Sự thay đổi đi kèm v ớ i tăng trường kinh tế làm thay đ ổ i cơ cấu cùa
câu lao động. c ầ u tăng lên ờ các khu vực đang mờ rộng và giảm ờ các
khu vực đang thu hẹp. c ầ u tăng đ ố i với các công nhân có những kỹ
năng nhất định như lập trình viên hay kỹ sư điện từ và giảm đ ố i với
các ngành, nghề khác chẳng hạn công nhân cơ khí. Sự thay đ ổ i theo
hướng mờ rộng khu vực dịch vụ và tái cơ cấu trong tất cả các ngành
trước sự đ ổ i mới về công nghệ có lợi cho những công nhân có trinh độ
học vấn cao hơn. Đe đáp ứng nhu cầu thay đ ổ i , cấu trúc cùa lực lượng
lao động cần thay đ ổ i thích ứng. M ộ t số công nhân đang có việc làm
cần được đào tạo lại và m ộ t số người mới ra nhập lực lượng lao động
cần nắm bắt được các kỹ n ă n g lao động phù hợp với yêu cầu mới cùa
thị trường. Tuy nhiên, quá trình chuyển đ ổ i thường tương đ ố i khó
khăn, đặc biệt đ ố i với c ô n g nhân có tay nghề cao mà kỹ năng của họ
đã trờ nên lạc hậu so v ớ i yêu cầu mới về phát triển kinh tế. Thất
nghiệp cơ cấu xuất hiện khi những điều chinh như vậy diễn ra chậm
chạp và thất nghiệp tăng lên ở các khu vực, các ngành nghề mà cầu về
các yếu tố sàn xuất giảm nhanh hơn nguồn cung ứng.
Thất nghiệp cơ cấu sẽ tăng nếu có sự gia tăng tốc độ chuyển dịch cơ
cấu của cầu về lao động hay có sự suy giảm tốc độ thích ứng cùa lao
động với những thay đ ổ i đó.
1.3 T h ấ t nghiệp theo lý t h u y ế t cổ đ i ể n
M ộ t nguyên nhân khác góp phần giải thích tại sao chúng ta quan sát
thấy có một số thất nghiệp ngay cả trong dài hạn là sự cứng nhắc của
tiền lương thực tế. M ô hình cổ điển giả thiết tiền lương thực tế điều
chình để cân bằng thị trường lao động, đảm bảo trạng thái đầy đù việc
làm. Điều này phù hợp v ớ i cách tiếp cận cân bằng thị trường: giá cả
121
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
điều chinh để đảm bảo sự cân bằng giữa cung và cầu. Tuy nhiên, thực
tế cho thấy thất nghiệp luôn tồn t ạ i . V ậ y các nhà kinh tế cô điển giải
thích thực tế này như thế nào?
H ọ cho rằng các lực lượng khác nhau trên thị trường lao động - luật
thể chế, truyền thống - có thể ngăn cản tiền lương thực tế điều chinh
đủ mức để duy trì trạng thái đầy đù việc làm. Nêu tiền lương thực tế bị
mắc ở điểm cao hơn mức đầy đù việc làm, thì thất nghiệp sẽ xuất hiện.
Loại thất nghiệp này thường được gọi là "thất nghiệp theo lý thuyết cổ
điển" .
5
Ba nguyên nhân chủ yếu làm cho tiền lương thực tế có thể bị mắc lâu
dài cao hơn mức cân bằng thị trường Ương các nền kinh tế hiện đại
bao gồm: luật tiền lương tối thiểu, công đoàn, và tiền lương hiệu quả.
Cả ba lý thuyết đều giãi thích tại sao tiền lương thực tế có thể duy trì ở
mức "quá cao", làm cho một số công nhân có thể bị thất nghiệp.
a. L u ậ t tiền lũưìig t ố i thiểu
Tiền lương
Dư cung lao động =
Ị
0
Lũ
L
L
s
Số lao động
Hình 5-1 Tác động của tiền lương tối thiều đến thị trường lao động
Các đạo luật về tiền lương tối thiểu quy định mức lương thấp nhất mà
Trong cuốn Principles o/Economics N.G. Mankiw gọi loại thát nghiệp này
là thất nghiệp ca cấu hay thất nghiệp chờ việc.
5
122
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
giới chù phải trả cho lao động. Đ ẻ xem xét tác động cùa tiền lươn? tối
thiêu, chúng ta phải xem xét thị trường lao động. Hình 5-1 cho thấy thị
trường lao động, cũng như tất cả các thị trường, phụ thuộc vào cung
và cầu. N g ư ờ i lao động quyết định cung ưng lao động, và các doanh
nghiệp có nhu cầu thuê lao động. N ế u không có chính phủ can thiệp.
tiền lương sẽ điều chinh đến W tại đó lượng cung và lượng cầu về lao
E
động bằng nhau. Ngược l ạ i , nếu tiền lương buộc phải duy tri ờ mức
cao hơn tiền lương cân bằng, có thể do luật tiền lương t ố i thiểu, lượng
cung về lao động tăng lên L và lượng cầu về lao động giảm xuống L .
s
D
Mức dư cung về lao động L
sung.
s
- Lũ chính là số người thất nghiệp bổ
Như vậy, tiền lương t ố i thiểu làm tăng thu nhập cùa những công nhân
có việc làm, nhung lại làm giảm thu nhập cùa người công nhân không
tìm được việc làm.
Đe hiểu biết đầy đủ về tác động của tiền lương t ố i thiểu đến thị trường
lao động, vấn đề quan trọng cần ghi nhớ là nền kinh tế không chỉ bao
gồm một thị trường lao động đơn l ẻ , mà là nhiều thị trường lao động
cho các loại lao động khác nhau. Ảnh hường của tiền lương tối thiểu
phụ thuộc vào kỹ năng và kinh nghiệm cùa người lao động. Nhìn
chung những lao động có kỹ năng và kinh nghiệm không bị ảnh
hường bởi qui định này, bời vì mức lương cân bằng của họ cao hơn
nhiều so với tiền lương tối thiểu. Đ ổ i với những lao động này, mức
tiền lương t ố i thiểu không mang tính ràng buộc.
Tiền lương tối thiểu có tác động mạnh nhất tới thị trường lao động
thanh niên. Tiền lương t ố i thiểu cho đ ố i tượng lao động này có xu
hướng thấp vì họ nằm trong số những người lao động ít kỹ năng và
kinh nghiệm nhất trong lực lượng lao động. K ế t quả là, tiền lương t ố i
thiêu thường có tính ràng buộc nhiều hơn đ ổ i với lao động thanh niên
so với các đ ổ i tượng khác cùa lực lượng lao động.
b. C ô n g đ o à n và t h ư ơ n g lượng t ậ p t h ể
ơ các nước Tây Âu và Bắc M ỹ công đoàn là một hiệp hội của công
nhân đê thương lượng tập thể với giới chù về tiền lương và điều kiện
làm việc. Công đoàn là một dạng các-ten bời vì đó là một nhóm những
123
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
người bán tổ chức thành một lực lượng đề tạo ra sức mạnh thị trường.
Nếu công đoàn và doanh nghiệp thất bại trong việc đi tới đồng thuận,
công đoàn có thể đình công - đó là việc rút dịch vụ lao động khỏi
doanh nghiệp. Do mối đe doạ đình công, đoàn viên công đoàn thường
nhận được tiền iương cao hơn so với công nhân không tham gia công
đoàn khoảng 10 đến 20 phần trăm
Khi công đoàn làm tăng tiền lương lên trên mức cân băng, nó làm tăng
cung và giảm cầu về lao động và gây ra thất nghiệp. C ũng giống nhu
luật về tiền lương tối thiểu, những ai có việc làm được l ợ i , nhưng
những ai thất nghiệp bị tổn thất. Các nhà kinh tế đôi khi mô tả tình
huống này như là một sự xung đột giữa những người trong cuộc và
người ngoài cuộc. Các công nhân tham gia công đoàn là những người
trong cuộc; còn những người thất nghiệp là những người ngoài cuộc.
Nếu những người trong cuộc đủ mạnh, thì những người ngoài cuộc có
thể không thuyết phục được doanh nghiệp thuê họ ngay cả với tiền
lương thấp hơn.
Công đoàn có lợi hay có hợi đổi với nền kinh tế?
Nhìn chung, các nhà kinh tế không nhất trí về việc công đoàn có lợi
hay có hại đ ố i với nền kinh tế. C h ú n g ta hãy xem xét cả hai phương
diện của cuộc tranh luận.
Những người phê phán công đoàn lập luận ràng công đoàn chỉ là một
dạng các-ten. Khi công đoàn làm tăng tiền lương lên cao hơn mức cân
bàng trên thị trường cạnh tranh, nó làm giảm lượng cầu về lao động,
dẫn tới việc một số công nhân bị thất nghiệp và làm giảm tiền lương ờ
bộ phận còn lại cùa nền kinh tế. Theo lập luận cùa những người phê
phán, sự phân bổ lao động nảy sinh từ đó vừa không hiệu quả, vừa
không công bằng. N ó không hiệu quả bời tiền lương của các đoàn viên
công đoàn cao làm giảm việc làm ở các doanh nghiệp có công đoàn
xuống thấp hơn ở mức cạnh tranh hiệu quả. N ó không công bằng bời
một số công nhân được lợi. còn những người khác lại bị tổn thất.
Những người bênh vực công đoàn khẳng định rằng công đoàn là đối
trọng cần thiết để chống lại sức mạnh thị trường của doanh nghiệp
thuê công nhân. Trường hợp cực đoan cùa sức mạnh thị trường là
124
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
"thành phố công ty", nơi một công ty duy nhất thuê hầu hết lao động
trong một vùng lãnh thổ. Trong thành phố công ty, nếu công nhân
không chấp nhận tiền lương và các điều kiện lao động do doanh
nghiệp đưa ra, họ chi còn cách chuyển đi nơi khác hoặc không làm
việc. Do đó nếu không có công đoàn, doanh nghiệp có thể sẽ sử dụng
sức mạnh thị trường để trả lương thấp hơn và cung cấp điều kiện lao
động tồi hơn so với trường hợp có công đoàn. Như vậy, trong trường
hợp này công đoàn có thể cần thiết để cân bàng với sức mạnh thị
trường của doanh nghiệp nhằm bảo vệ công nhân trước sự đ ố i xử tồi
tệ của chù doanh nghiệp. N g o à i ra, những người ùng hộ công đoàn
còn lập luận ràng tổ chức c ô n g đoàn sẽ mang lại hiệu quả bởi vì các
doanh nghiệp không cần phải t h ư ơ n g lượng với từng công nhân về
tiền lương và các khoản p h ú c l ợ i khác. Nghĩa là, công đoàn góp phần
cắt giảm chi phí giao dịch.
N h ư vậy, không có sự nhất trí giữa các nhà kinh tế về việc công đoàn
là có lợi háy có hại cho nền kinh tế. Giống như nhiều thể chế khác,
ảnh hường của công đoàn có l ẽ có lợi trong một số tình huống và bất
lợi trong các tình huống khác.
c. Lý thuyết t i ề n l ư ơ n g h i ệ u q u ả
Nguyên nhân tiếp theo lý giải vì sao nền kinh tế luôn có thất nghiệp
do lý thuyết tiền lương hiệu quả đưa ra. Theo lý thuyết này, doanh
nghiệp sẽ hoạt động có hiệu quả hơn nếu trà tiền lương cao hơn mức
cân bằng thị trường. Do đó, doanh nghiệp có thể có lợi nếu g i ữ tiền
lương ờ mức cao ngay cả khi có tình trạng dư cung về lao động.
Trên một số p h ư ơ n g d i ệ n , thất nghiệp nảy sinh từ tiền lương hiệu
quả tương tự như thất nghiệp nảy sinh từ luật tiền lương t ố i thiểu
và công đoàn. Trong cả ba trường hợp, thất nghiệp là kết quả của
việc tiền lương cao hơn mức cho phép cân bàng thị trường
lao
động. N h ư n g giữa c h ú n g cũng c ó sự khác biệt quan trọng. Luật tiền
lương t ố i thiểu vả c ô n g đ o à n ngăn cản các doanh nghiệp hạ thấp
tiền lương khi có tình trạng d ư cung về lao động. Lý thuyết tiền
luông hiệu quả cho ràng các biện pháp đó có thể là k h ô n g cần thiết,
bời vì doanh nghiệp c ó t h ể tự nguyện trả tiền lương cao hơn mức
125
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
cân băng.
Vì sao doanh nghiệp lại sẵn sàng tiền lương hơn mức càn băng. Trên
một phương diện nào đó, quyết định này dường như không hợp lý vi
tiền lương là một bộ phận lớn trong chi phí cùa doanh nghiệp. Thông
thường, chúng ta dự kiến rằng doanh nghiệp có động cơ t ố i đa hóa lợi
nhuận sẽ muốn giữ cho chi phí và do đó tiền lương càng thấp càng tốt.
Triết lý của lý thuyết tiền lương hiệu quả là việc trả lương cao có thế
có lợi vì tiền lương cao có thể làm tăng hiệu quả làm việc cùa công
nhân trong doanh nghiệp.
Có nhiều dạng lý thuyết tiền lương hiệu quả. M ỗ i một dạng đưa ra
một cách giải thích khác nhau về nguyên nhãn làm cho doanh nghiệp
muốn trả lương cao. Bây giờ chúng ta hãy xem xét bốn dạng chính.
Súc khoe công
nhân
Dạng đầu tiên và đơn giản nhất của lý thuyết tiền lương hiệu quả nhấn
mạnh đến mối liên kết giữa tiền lương và sức khoe cùa công nhân.
Công nhân được trả thù lao cao hơn sẽ có được chế độ dinh dưỡng tốt
hơn và công nhân ăn đầy đủ hơn sẽ khoe mạnh hơn và do đó có năng
suất lao động cao hơn. Một doanh nghiệp có thể nhận thấy có lợi hơn
khi trà lương cao và cỏ công nhân mạnh khoe, năng suất hơn so với trả
lương thấp hơn và có công nhân yếu hơn, năng suất kém hơn.
Dạng lý thuyết tiền lương hiệu quả này không phù hợp v ớ i thực tế ờ
những nước giàu. Ờ những nước này, tiền lương cân bằng đ ố i với hầu
hết công nhân khá cao; trên mức cần thiết cho bữa ăn đủ dinh dưỡng.
Các doanh nghiệp không cho ràng việc trả tiền lương cân bàng sẽ làm
tổn hại sức khoe của công nhân.
Lý thuyết tiền lương hiệu quà thích hợp hơn v ớ i các doanh nghiệp
ở các nước kém phát triển, nơi dinh dưỡng k h ô n g đầy đù là vấn đề
thường thấy hơn. Ví dụ, thất nghiệp cao ờ các đô thị của nhiều
nước châu Phi nghèo. Ờ những nước này, các doanh nghiệp thực sự
lo ngại rằng biện pháp cắt giảm tiền l ư ơ n g thực ra sẽ có ảnh hường
bất lợi tới sức khoe và n ă n g suất của c ô n g nhân. N ó i cách khác,
quan tâm đến dinh dưỡng có thể là một lý do để hiểu vì sao các
126
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
doanh nghiệp k h ô n g cắt g i ả m tiền lương mặc dù có d ư thừa lao
động.
Sự luân chuyển
công
nhân
Dạng thứ hai của lý thuyết tiền lương hiệu quả nhấn mạnh đến mối
Hèn kết giữa tiền lương và sự luân chuyển công nhân. Công nhân thôi
việc vi nhiều lý do - có việc làm ở doanh nghiệp khác, chuyển tới
vùng khác cùa đất nước, rời khỏi lực lượng lao động, và vân vân...
Tần suất bỏ việc cùa họ phụ thuộc vào tất cả các kích thích mà họ đổi
mặt, trong .đó có l ợ i ích của hành động bỏ việc và l ợ i ích của việc ờ
lại. Doanh nghiệp trả tiền lương cho công nhân cùa mình càng cao,
công nhân càng ít bỏ việc. N h ư vậy, doanh nghiệp có thể giảm bớt sự
luân chuyển công nhân bằng cách trả lương cao.
Tại sao doanh nghiệp quan tâm đến sự luân chuyển công nhân? Lý do
là doanh nghiệp phải chịu chi phí gắn liền với việc thuê và đào tạo
công nhân m ớ i . Hơn nữa, ngay cả sau khi đào tạo họ, công nhân mới
cũng không phải là người có năng suất cao như những công nhân có
kinh nghiệm. Do đó, doanh nghiệp có sự luân chuyển công nhân cao
hơn sẽ có chi phí sản suất cao hơn. Các doanh nghiệp có thể nhận thấy
có lợi hom khi trả lương cao hơn mức cân bằng để giảm bớt sự luân
chuyển công nhân.
Nỗ lực của công
nhân
Dạng thứ ba của lý thuyết tiền lương hiệu quả nhấn mạnh m ố i liên kết
giữa tiền lương và n ỗ lực cùa công nhân. Trong nhiều việc làm, công
nhân có quyền tự do nhất định trong việc quyết định làm việc chăm
chi đến mức nào. Do vậy, các doanh nghiệp phải giám sát nỗ lực làm
việc cùa công nhân, và những công nhân thiếu trách nhiệm bị phát
hiện sẽ bị sa thải. N h ư n g không phải tất cả công nhân lơ là đều bị phát
hiện ngay lập tức, vì việc giám sát công nhân tốn kém và không hoàn
hảo. Doanh nghiệp cố thể phản ứng lại bằng cách trả tiền lương cao
hơn mức cân bằng. Tiền lương cao hơn tạo cho công nhân cố g i ữ được
việc làm và do đ ó kích thích họ nỗ lực hết sức mình.
Dạng đặc biệt của lý thuyết tiền lương hiệu quả này giống như quan
điểm " đ ộ i quân thất nghiệp hậu bị" cùa c . Mác. Mác cho rằng giới
127
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
chủ được lợi từ thất nghiệp bời vi sự đe doa thất nghiệp góp phần
nâng cao kỷ luật công nhân đang làm việc. Theo dạng này cùa lý
thuyết tiền lương hiệu quả, thất nghiệp đóng vai trò tương tự. N ế u tiền
lương ờ mức cân bằng cung cầu, công nhân ít có lý do để làm việc
chăm chi, bời vì nếu bị sa thải, họ sẽ nhanh chóng tìm được việc làm
mới với cùng mức lương. Do đó, doanh nghiệp có thể quyết định tâng
lương lên cao hơn mức cân bàng và gây ra thất nghiệp, nhưng tạo ra
động cơ cho công nhân phải làm việc tích cực.
Chất lượng công
nhân
Dạng thứ tư và cuối cùng của lý thuyết tiền lương hiệu quả nhấn mạnh
mối liên hệ giữa tiền lương và chất lượng công nhân. Bằng cách trả
lương cao, doanh nghiệp thu hút nhiều công nhân có trình đ ộ cao đến
xin việc và do đó có thể lựa chọn được những lao động ưu tú nhất.
2. T h ấ t nghiệp chu kỳ
Thất nghiệp chu kỳ được dùng để chỉ những biến động của thất nghiệp
từ năm này đến năm khác xung quanh mức thất nghiệp tự nhiên và nó
gắn liền với những biến động ngắn hạn của hoạt động kinh tế. Các nền
kinh tế thường xuyên biến động - tăng trường cao trong một số thời kỳ
và tâng trưởng thấp trong các thời kỳ khác và đôi lúc có thể có tăng
trường âm. Khi nền kinh tế mở rộng, thất nghiệp chu kỳ biến mất;
ngược lại, khi nền kinh tế thu hẹp, thất nghiệp chu kỳ trờ nên đặc biệt
cao.
Thất nghiệp chu kỳ xuất hiện khi tổng cầu không đù để mua toàn bộ
sản lượng tiềm năng cùa nền kinh tế, gây ra suy thoái và sản lượng
thực tế thấp hơn mức tiềm năng. Thất nghiệp chu kỳ có thể đo lường
bằng số người có thể có việc làm khi sản lượng ờ mức tiềm năng trừ
đi số người hiện đang làm việc trong nền kinh tế. K h i thất nghiệp chu
kỳ bằng không, toàn bộ thất nghiệp hiện tại đều là thất nghiệp tạm
thời, thất nghiệp cơ cấu hay thất nghiệp theo lý thuyết cổ điển và tỳ l ệ
thất ngh iệp chính là tỳ lệ thất nghiệp tự nhiên.
Trong dài hạn, nền kinh tế có thể tự quay trờ lại trạng thái toàn dụng
thông qua sự điêu chinh của tiền lương và giá cả, nên thất nghiệp chu
kỳ sẽ tụ mất đi. Nhưng trong ngắn hạn, thất nghiệp chu kỳ là một phần
128
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
trong tổng con số thất nghiệp mà chính phu có thể góp phần giảm bớt
bàng cách SỪ dụng chính sách tai kh
. và tiền tệ để làm tăng nhanh
tổng cầu, chứ không phải bằng cách ngôi chờ cho tiền lương và giá cả
giảm. Điều này sẽ được giới thiệu trong phần sau cùa cuốn sách khi
bàn về những biến động kinh lé vĩ mô trong nỉỉăn hạn.
l i . T á c đ ộ n g của t h ấ t n g h i ệ p
Thất nghiệp gây ra những chi phí đáng ke đối với xã hội, nhưng điều
quan trọng là cần hiểu các chi phí nàv một cách chính xác để giúp các
nhả hoạch định chính sách có những cách điều chinh thích họp.
Một đặc điểm qụan^rọng của thất nghiệp là nó phân bồ không đồng
đều đến toàn xã nội. Do đó, chi phí cùa nó cũng phân bồ không đều.
Thất nghiệp thường ảnh hưởng mạnh nhất đến thanh niên và những
nhóm dân cư nghèo trong xã hội.
Đổi với cá nhân, thất nghiệp là một gánh nặng. Khi bị mất việc, thu
nhập của công nhân giảm, ảnh hường xấu đến mức sống, đồng thời họ
cũng dễ bị tổn thương về tâm lý. Nếu thất nghiệp kéo dài, các kỹ năng
lao động cùa công nhân"cung bị mai một. M ố i quan hệ gia đình có thể
trờ nên căng thẳng khf n g ư ờ i trụ cột trong gia đình bị thất nghiệp.
Rất khó đo lường các chi phí này một cách chính xác. Các nhà kinh tế
đã tìm cách đo lường một chi phí khác cùa thất nghiệp, sản lượng mất
mát do mức sử dụng lao động trong nền kinh tế giảm. Điều quan trọng
ờ đây là cần phân biệt giữa thất nghiệp tự nhiên và thất nghiệp chu kỳ.
1. Đối vói t h ấ t nghiệp t ự n h i ê n
Thất nghiệp tự nhiên là mức thất nghiệp mà bình thường nền kinh tế
phải chịu. Thực ra thuật ngữ tự nhiên không hàm ý rằng mức thấp
nghiệp này là đáng mong muốn. N h ư phân tích ở trên cho thấy thát
nghiệp tự nhiên lại phản ánh rất r lều các hiện tượng và lực lượng
khác nhau: thất nghiệp tạm thời, pha! sinh khi công nhân cần thời gian
để tim việc; thắt nghiệp cơ cấu phát sinh do có sự không ân khớp giữa
cơ cấu cùa cầu và cung lao động; và thất nghiệp theo lý thuyết cổ điên
xảy ra khi tiền lương được
động duy trì cao hơn mức cân bằng thị
trường.
Rõ ràng không phải m ọ i bộ phận của thất nghiêp tự nhiên đều phản
129
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
ánh sự lãng phí nguồn lực. Trong một chừng mực nào đ ó thất nghiệp
tạm thời có thể là một điều tốt, người ta không chấp nhận công việc
đẩu tiên mà h ọ được yêu cầu. Quá trình tìm việc sẽ giúp người lao
động có thể kiếm được việc làm tốt hơn, phù hợp hơn v ớ i nguyện
vọng và năng lực của họ. Điều này còn có một lợi ích xã h ộ i : làm cho
việc phân bổ các nguồn lực một cách có hiệu quả hơn và do đó góp
phần làm tăng tổng sản lượng cùa nền kinh tế trong dài hạn.
Thất nghiệp cũng có nghĩa là công nhân có nhiều thời gian nghi ngơi
hơn. Bằng cách từ bỏ làm việc, một số n g ư ờ i sẽ nhận thấy rằng nghi
ngơi thêm mang l ạ i cho họ nhiều giá trị hơn so v ớ i khoản thu nhập mà
l ẽ ra họ có thể nhận nếu làm việc.
Tuy nhiên chi một phần của thất nghiệp tự nhiên thuộc loại này. Một
số công nhân bị mất việc trong thời gian dài, mà không có c ơ hội thực
sự tìm được việc làm. Điều quan trọng cần hiểu là phải chăng những
trở ngại để có việc là do sự khiếm khuyết của thị trường và liệu các
khiếm khuyết này có thể được khắc phục bằng các chính sách.
2. Đ ố i v ớ i t h ấ t nghiệp chu k ỳ
Vấn đề hoàn toàn khác khi chúng ta đề cập đến thất nghiệp chu kỳ, tức
là mức thất nghiệp cao hom mức tự nhiên. Trong trường hợp này, sàn
lượng có thể tăng lên bằng cách sử dụng đầy đù hom các nguồn lực
hiện có. Qui luật Ô-kun - kết quả rút ra từ các phân tích thực nghiệm
về mối quan hệ giữa thất nghiệp và sản lượng đ ố i v ớ i nền kinh tế M ỹ đã chỉ ra đ ố i với mỗi phần trăm thất nghiệp tăng lên cao hơn mức tự
nhiên, sản lượng giảm 2,5 % xuống dưới mức tự nhiên.
K h i sản lượng ở d ư ớ i mức tự nhiên, những tổn thất của thất nghiệp là
rõ ràng. Những cá nhân thất nghiệp bị mất tiền lương và nhận trợ cấp
thất nghiệp, chính phù mất thu nhập từ thuế và phải trả thêm trợ cấp,
và các doanh nghiệp bị giảm lợi nhuận.
Tuy nhiên thất nghiệp chu kỳ cũng có những tác động tích cực. Điều
này cho phép giảm phần nào những chi phí ở trên. M ộ t người mất việc
sẽ được nghỉ ngơi và thời gian nhàn r ỗ i cũng có một giá trị n à o đó,
ngay cả khi phần lớn thời gia.) nhàn r ỗ i này là không tự nguyện và đo
đó l ợ i ích từ thất nghiệp chu kỳ có giá trị rất nhỏ so v ớ i thu nhập bị
130
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
mất và tăng sức ép tâm lý do thất nghiệp gây ra.
Xã hội với tư cách là một tổng thể chịu nhiều tổn thất hom so v ớ i các
cá nhân thất nghiệp về mặt thu nhập. B ờ i vì một công nhân có việc sẽ
nộp thuế cho chính phù, trong khi một công nhân thất nghiệp có thể
được nhận trợ cấp. Chi phí về sản lượng đ ố i với xã hội của một công
nhân thất nghiệp chu kỳ bao gồm 3 thành phần: thu nhập mất mát của
các công nhân thất nghiệp sau khi trừ đi trợ cấp thất nghiệp; giá trị cùa
trợ cấp thất nghiệp do chính phủ trả; và sự mất mát nguồn thu đ o thu
nhập từ thuế giảm.
Tóm tắt
•
T ỷ l ệ thất nghiệp là phần trăm những người trưởng thành có nhu
cầu và n ỗ lực tìm việc làm, n h ư n g không c ó việc làm.
•
Thất nghiệp thường được chia thành hai chủ đề lớn: thất nghiệp tự
nhiên và thất nghiệp chu kỳ. Thất nghiệp tự nhiên biểu thị mức
thất nghiệp bình thường mà nền kinh tế phải chịu, còn thất nghiệp
chu kỳ biểu thị những dao động ngắn hạn của thất nghiệp xung
•
quanh mức t ự nhiên.
M ộ t nguyên nhân của thất nghiệp là thời gian cần thiết để công
nhân tìm được việc làm thích hợp v ớ i sở thích và kỹ năng của họ.
Trợ cấp thất nghiệp là chính sách của chính phủ có tác dụng ổn
định thu nhập cho c ô n g nhân, l ạ i làm tăng thất nghiệp tạm thời.
•
Nguyên nhân thứ hai gây ra thất nghiệp là do có sự không ăn khớp
giữa cung và cầu lao động trên các thị trường lao động cụ thể. Các
chương trình đ à o tạo l ạ i cùa chính phù sẽ giúp công nhân d ê dàng
chuyển đ ổ i từ các ngành bị suy giảm sang các ngành đ a n g m ờ
•
rộng.
Nguyên nhân t h ứ ba lý giải vì sao nền kinh tế của chúng ta luôn
có một số thất nghiệp là luật tiền lương t ố i thiểu. T h ô n g qua việc
làm tăng tiền lương của công nhân không cp tay nghề và kinh
nghiệm lên cao hem mức cân bàng, luật tiền lương t ố i thiểu làm
tăng lượng cung v i 'ao động và làm giảm lượng cầu. M ứ c dư
cung phát sinh biểu thị thất nghiệp bổ sung.
•
Nguyên n h â n thứ t ư gây ra thất nghiệp là sức mạnh của c ô n g
31
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
đoàn. Khi công đoàn đày tiền lương trong các ngành có công đoàn
cao hơn mức cân bằng, họ tạo ra tình trạng dư cung ve lao động.
*
Nguyên nhân thứ năm cùa thất nghiệp được lý thuyết tiền lương
hiệu quả nêu ra. Theo lý thuyết này, doanh nghiệp hiểu ràng họ
được lợi trong việc trá lương cao hơn mức càn bang. Tiền lương
cao hoi"! có thể cải thiện sức khoe công nhân, giảm sự luân chuyến
công nhân, nâng cao nỗ lực công nhản và chất lượng của họ.
•
Thất nghiệp chu kỳ phát sinh khi nền kinh tế lâm vào suy thoái.
•
Thất nghiệp có cả tác động tiêu cực lẫn tích cực đến nền kinh tế.
Đ ố i VỚI cá nhân, thất nghiệp gây ra sự mất mát thu nhập và tổn
thương về mặt tâm lý. Đ ố i với xã hội, thất nghiệp chu kỳ làm cho
sản lượng giảm xuống dưới mức tự nhiên. L ợ i ích cơ bản của thất
nghiệp là tạo điều kiện để xếp đúng người vào đúng việc và làm
tăng năng suất lao động.
Câu hỏi ôn tập
1.
Các nhà thống kê lao động chia dân số trưởng thành thành ba
nhóm nào? H ọ tính íực lượng lao động, tỳ l ệ thất nghiệp và tv lệ
tham gia lực iưựng lao dộng như thế nào?
2.
Vì sao thát nghiệp tạm thời là không thể tránh khỏi? Chính phủ có
thể làm gi để cắt giảm thất nghiệp tạm thời?
3.
Thất nghiệp cơ cấu ià gì? Biện pháp nào mà chính phù cỏ thể sử
dụng để cắt giảm thất nghiệp cơ cấu?
4.
Có phải luật tiền lương tối thiểu là cách lý giải thích tốt hơn về
thất nghiệp Theo lý thuyết cổ điển trong giới thanh niên hoặc sinh
viên mới tốt nghiệp không? Tại sao?
5.
6.
Công đoàn tác động như thố nào đến tỳ lệ thất nghiệp tự nhiên?
Dựa trên những luận cứ gi mà những người bênh vực công đoàn
eho rằng công đoàn có lợi cho nền kinh tế?
7.
Hãy giải thích bốn cách mà doanh nghiệp có thể tăng lợi nhuận
bàng cách trả lương cho công nhân cao hơn mức can bàng thị
trường.
8.
Hãy giải thích những chi phí và lợi ích cùa thất nghiệp đ ố i với các
nhân và xã hội.
132
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
Chương
6
T Ò N G CẦU VÀ TỎNG CUNG
Mô hình cổ điển phát triển từ chương 3 đến chương 5 của cuốn sách
đã giải thích hành vi của nền kinh tế thực trong dài hạn. Tuy nhiên,
các nhà hoạch định chính sách và các nhà kinh tê vĩ m ô cũng quan
tàm đến những biến động cùa nền kinh tế từ quý này qua quý khác và
từ năm này qua năm khác. Hoạt động kinh tế thường xuyên biến động.
Do có sự tăng trường trong lực lượng lao động, tư bàn và tiến bộ công
nghệ, nền kinh tế sàn xuất ra ngày càng nhiều hàng hoa và dịch vụ
hơn. Sự tăng trưởng này cho phép người dân được hưởng mức sống
ngày càng cao. Tuy nhiên, trong một số giai đoạn nền kinh tế có thổ
trải qua tăng trường âm. Hàng hoa và dịch vụ mà các hãng sản xuất ra
không được tiêu thụ hết buộc nhiều nhà máy phải thu hẹp sản xuất,
thậm chí phải đong cửa, nhiều công nhân bị mất việc, tỷ l ệ thất nghiệp
tăng cao. Giai đoạn mà thu nhập giảm trong khi thất nghiệp tăng được
gọi là suy thoái. M ộ t cuộc suy thoái trầm trọng được gọi là khủng
hoảng. Trong một số giai đoạn khác, nền kinh tế có thê tăng trường
quá nóng. Sản xuất vượt quá mức bình thường có thể duy tri, trong khi
áp lực lạm phát cũng d â n g lên. C ác doanh nghiệp có thể yêu cầu tăng
ca, làm thêm giờ, trì hoãn việc bảo dưỡng thiết bị để tăng sản lượng
tạm thời trong ngắn hạn. C á c biến động kinh tế xung quanh xu hướng
dài hạn thường được gọi là chu kỳ kinh
doanh.
Trong suốt 15 năm qua tỷ l ệ tăng trưởng bình quân hàng năm trong
GDP thực tế cùa V i ệ t Nam là 7,3%- Tuy nhiên, tỷ lệ tăng trường đã
không ổn định qua các năm. Sau khi đạt đỉnh cao nhất vào năm 1995,
tăng trường kinh tế đã chậm lại và giảm xuống mức đáy vào năm
1999, chủ yếu do tác động của cuộc khủng hoảng tài chính-tiền tệ khu
vực. Bắt đầu từ năm 2000, sau những nỗ lực kích cầu của chính phù,
nền kinh tế Việt Nam đã ngày càng khơi sắc v ớ i đà tăng trường ngày
133
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
càng cao.
M ô hình cổ điển chi có thể giải thích được sự thay đ ổ i cùa GDP do sự
thay đ ổ i trong các nhân tố sản xuất hay công nghệ. Trong khi sự g i a '
tăng lao động, tư bản và tiến bộ công nghệ có thể là lý do rất thuyết
phục để giải thích sự tăng trường kinh tế trong dài hạn, thì chúng ít ý
nghĩa khi giải thích những biến động kinh tế trong ngắn hạn. Điều gì
gay ra những biến động kinh tế trong ngắn hạn? L i ệ u chính phủ có thể
sù dụng các chính sách kinh tế v ĩ mô để ngăn chặn các giai đoạn thu
nhập sụt giảm và thất nghiệp tăng cao hay kiềm chế lạm phát khi nền
kinh té phát triển quá nóng? Đ â y là những câu hỏi mà c h ú n g ta sẽ xem
xét trong chương này và các chương tiếp theo.
Mô hình lổng cầu và tống cung là cách tiếp cận được các nhà kinh tế
sử dụng rộng rãi để giải thích.những biến động kinh tế trong ngấn hạn.
H i ể u và biết cách vận dụng m ô hình này đê phân tích ảnh hưởng của
các cú sốc và chính sách củja chính phủ là mục tiêu chính của chương
này. Sau khi có một cái nhìn tổng quan về mô hình, chúng ta sẽ đi sâu
nghiên cứu mặt cẩu của nền kinh tế Ương các chương tiếp theo.
ì. M ô hình tổng cầu và tổng cung
Tổng cầu và tổng cung là hai thuật ngữ được các nhà kinh tế v ĩ m ô sử
dụng thường xuyên nhất. C h ú n g là những lực lượng làm cho nền kinh
tế thị trường hoạt động. Chủng quyết định sản lượng hàng h ó a và dịch
'
ỉ
X í.
Ắ
*
vụ dược sản xuât ra và mức giá chung của nên kinh tê. N ê u m u ô n biêt
một biến cố hoặc chính sách ảnh hường tới nền kinh tế n h ư t h ế nào,
thì trước hết bạn phải nghĩ xem nó ảnh hường t ớ i tổng cầu và tổng
cung như thế nào.
M ô hình tổng cầu và tổng cung chì ra cách thức tổng cầu và tổng cung
quyết định mức giá cả và sản lượng trong một nên kinh tê. Hai biên sô
được m ô hình tập trung giải thích là tổng sản lượng hàng hoa và dịch
*
i
Si
ỉ
vụ được đo băng GDP thực tê và mức giá chung được đ o b ă n g chì sô
điều chinh GD P hay chì số giá tiêu dùng (CPI). C á c nhả kinh tế
thường sử dụng đồ thị để biểu diễn mô hình tổng cầu và tổng cung
trong đó mức giá được biểu diễn trên trục tung và GDP thực tế được
biểu diễn trên ừục hoành. Bây giờ, chúng ta sẽ lần lượt giới thiệu hai
134
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
bộ phận cấu thành cùa m ô hình, ao là đường tổng cầu và đường tổng
cung.
1. T ổ n g cầu của n ề n k i n h t ế (Aggregate
Demand
- AD)
Chúng ta bắt đầu nghiên cứu hành v i của nền kinh tế trong ngắn hạn
bằng cách xem xét tổng cầu. Tổng cầu là tổng sản lượng trong nước
mà các tác nhân kinh tế sẵn sàng và có khả năng mua t ạ i m ỗ i mức giá.
Trong một nền kinh tế mờ, tổng cầu bao gồm bốn thành tố: (ì) tiêu
dùng (C), như chi tiêu mua lương thực, thực phẩm, t i v i , hay quần áo,
tất cả những thứ này do các hộ gia đình mua; (ri) đầu tư vào hàng tư
bàn ự), như các doanh nghiệp xây dựng nhà xưởng m ớ i và mua sắm
thiết bị mới để tăng n ă n g lực sản xuất trong tương lai; ( i i i ) chỉ tiêu
chính phù ( ơ ) , bao gồm cả hàng hoa và dịch vụ do chính phủ mua cho
tiêu dùng hiện t ạ i {tiêu dùng công) và hàng hoa và dịch vụ cho các l ợ i
ích tương lai n h ư đường xá, cầu cống, bến càng,., (đầu tư câng); và
(iv) xuất khau ròng (NX), chênh lệch giữa giá trị hàng hoa và dịch vụ
sản xuất trong nước được bán ở nước ngoài, tức là xuất khau (X), và
giá trị hàng hoa và dịch v ụ sản xuất ở nước ngoài được các h ộ gia
đình, doanh nghiệp và chính phủ trong nước mua, tức là nhập
khẩu
(IM).
Sử dụng AD để biểu thị tổng cầu, chúng ta có thể tổng hợp các thành
tố cùa tổng cầu trong p h ư ơ n g trình sau:
AD = C + I+G
+ NX
Đây chẳng qua là p h ư ơ n g trình định nghĩa v ề tổng cầu. N ó chi ra ràng
tổng cầu bao gồm chi tiêu cho tiêu dùng, đầu tư, chi tiêu chính phủ, và
xuất khẩu ròng.
Đ ư ờ n g tổng cầu
Cố rất nhiều biến số quyết định mức sản lượng m à các tác nhân kinh
tế sẵn sàng và có khả năng mua mà chúng ta sẽ giới thiệu chi tiết ờ các
chương sau. Bây g i ờ bạn hãy tường tượng ra một tình huống là chúng
ta sẽ g i ữ cho tất cả các biến số này không đ ổ i trừ một biến số là mức
giá. Chúng ta hãy xét xem sự thay đ ổ i trong mức giá sẽ tác động t ớ i
lượng tổng cầu về GD P n h ư thế nào.
Đường tổng cầu trong hình 6-1 cho thấy điều gì xảy ra đ ổ i v ớ i lượng
135
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
GDP mà các tác nhân kinh tế muốn mua khi chi có mức giá thay đổi.
Đường tồng cầu được vẽ với giả định ràng tất cả các biến số khác có
ảnh hường đến lượng tổng cần ngoài mức giá như thu nhập, kỳ vọng,
và chính sách của chính phu không thay đ ổ i . Đường tổng cẩu dốc
xuống chi ra rằng nếu những cái khác không thay đôi, thì giảm mức
giá chung, chẳng hạn từ Po xuống PỊ_ sẽ có xu hướng làm cho lượng
tổng cầu về GD P của quốc gia đó tăng lên, từ Y đến Y j .
0
p
Yo
Y,
Y
Hình 6-1 Đường tồng cầu
T ạ i sao đ ư ờ n g tổng cầu dốc xuống?
Đường tổng cầu dốc xuống phản ánh thực tế là mức giá có ảnh hưởng
ngược chiều đến lượng tổng cầu. Trong bốn thành tố của tổng cẩu, chi
tiêu chính phù được giả định là biến ngoại sinh do chính sách cùa
chính phù quyết định tùy thuộc vào mục tiêu cùa điều tiết vĩ mô mà
không phụ thuộc vào mức giá. Do đó, để hiểu tại sao đường tổng cẩu
dốc xuống chúng ta cần làm rõ sự thay đ ổ i trong mức có giá ảnh
hưởng như thế nào đến ba thành tố còn lại của tổng cầu, bao gồm tiêu
dùng, đầu tư và xuất khẩu ròng. Chúng ta sẽ lần lượt xem xét từng ảnh
hường đó.
Mức giá và tiêu dùng: Hiệu ứng của cải
K h i mức giá giảm thì lượng tiền trong ví hay trong tài khoản ngân
hàng cùa bạn trờ nên có giá trị hon vì chúng có thể mua được nhiều
hàng hoa và dịch vụ hơn. Như vậy, một sự cắt giảm trong mức giá
136
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
chung làm cho các hộ gia đình nhận thấy mình trờ nên giàu có hơn và
họ sẽ sẵn sàng mua nhiều hàng hoa và dịch vụ hơn. Sự tăng lên trong
mức tiêu dùng có nghĩa là lượng tổng cầu về GD P tăng lên.
Mức giả và đầu tư: Hiệu ứng lãi suất
Tại mức giá thấp hơn, công chúng sẽ cần giữ ít tiền hơn để mua lượng
hàng hoa và dịch vụ theo kế hoạch. Điều này hàm ý một phần trong số
tiền họ đang nắm giữ để phục vụ cho động cơ giao dịch trờ nên dư
thừa. Nhiều hộ gia đình và doanh nghiệp sẽ tìm cách cắt giảm lượng
tiền nắm giữ bàng cách chuyển một số tiền mặt hoặc tài khoản có thể
viết séc thành các tài sản sinh lãi như trái phiếu hay tiền gửi ngân hàng
có kỳ hạn, và kết quả là lãi suất sẽ giảm. Giảm lãi suất, đến lượt nó có
tác dụng khuyến khích các hãng đầu tư nhiều hơn vào nhà xưởng và
thiết bị mới, và các hộ gia đình mua nhiều nhà ở mới hơn. N h ư vậy,
một mức giá thấp hơn làm giảm lãi suất, khuyến khích chi tiêu vào các
hàng hoa đầu tư và do đó làm tăng lượng tổng cầu.
Mức giá và xuất khẩu ròng: Hiệu ứng tỷ giả hối đoái
Trong bối cảnh m ờ cửa và h ộ i nhập kinh tể quốc tể, sự giảm giá cùa
hàng trong nước làm cho hàng hóa và dịch vụ cùa V i ệ t Nam trờ nên rẻ
hơn một cách tương đ ổ i so với hàng hóa và dịch vụ sản xuất ờ nước
ngoài tại một mức tỷ giá hối đoái cho trước. Khi đó, một số người tiêu
dùng trong nước và ờ nước ngoài có xu hướng chuyển từ mua hàng
của nước khác sang hàng hóa và dịch vụ sản sản xuất tại V i ệ t Nam.
K ế t quả là xuất khẩu được khuyến khích và nhập khẩu bị hạn chế, làm
tăng xuất khẩu ròng và làm tăng lượng tổng cầu.
Như vậy, cả ba hiệu ứng trên đều cho thấy có một mối quan hệ ngược
chiều giữa mức giá và khối lượng hàng hoa và dịch vụ sản xuất trong
nước được mua: giảm mức giá chung làm tăng lượng tổng cầu vê
GDP, ngược l ạ i , tăng mức giá chung làm giảm lượng tổng cầu về
GDP. Trên hệ trục toa đ ộ trong đó mức giá được biểu diễn trên trục
tung và GDP thực tể đúc"" biểu diễn trên trục hoành m ố i quan hệ này
được biểu diễn bằng đường tổng cầu dốc xuống.
Sự dí chuyển v à dịch chuyển
137
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
Di chuyển là một thuật ngữ đề cập đến hiện tượng trượt dọc trên một
đường nhất định. Trên hệ trục Y-P sự đi chuyên dọc một đường tòng
cầu phản ánh sự thay đổi của lượng tổng cầu do sự thay đ ổ i cùa mức
giá trong khi các biến sô khác ảnh hường đèn tông câu được giữ
nguyên như ban đầu. Ví dụ, trong Hình 6-1 sự di chuyển từ điểm A
đến điểm B phàn ánh lượng tông cẩu tăng t ừ Y đèn Ý, do mức giá
0
giảm từ Pc xuống Pị.
Dịch chuyển đ ề cập đến hiện tượng thay đ ổ i vị trí cùa một đường. Như
chúng ta đã biết đường tông câu dóc xuông cho biêt một sự cát giảm
mức giá sẽ làm cho lượng tổng cầu về GDP tàng lên. Tuy nhiên, còn
có nhiều biến cố khác ảnh hường đến lượng tổng cầu tại một mức giá
nhất định. Khi một sự kiện hoặc chính sách n à o đ ó làm thay đ ổ i lượng
cầu về G Ó P tại mỗi mức giá cho trước, thì đường tổng cầu sẽ dịch
chuyển. Đường tổng cầu sẽ dịch chuyển sang bên phải khi lượng cầu
tăng lên tại mỗi mức giá cho trước. Ngược lại, đường tổng cẩu sẽ dịch
chuyển sang bên trái khi lượng cầu giảm xuống tại mỗi mức giá cho
trước. Hình 6-2 minh họa sự dịch chuyển sang bên phải hay ra phía
ngoài của đường tống cầu từ AD đến ADj. T ạ i mức giá Po, ban đâu
0
lượng tổng cầu là Ỵ nay đã tăng lên Ý/.
0
p
0.
Y
D
Y,
Y
Hình 6-2 Sự dịch chuyển của đường tổng cầu
Do tổng cầu về GDP cùa một Hồn kinh tế m ờ bao gồm bổn nguồn yêu
cầu vê hàng hóa: tiêu dùng cùa các hộ gia đình, đầu tư của các hãng và
138
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
các hộ gia đình, chi tiêu chính phủ và xuất khẩu ròng, nên chủng ta có
thê phân loại nguyên nhân gây dịch chuyền đường tổng cầu hạn theo
các thành tố này cùa tổng cầu như sau.
Sự dịch chuyền
bai nguồn
từ những
thay đối trong tiêu dùng.
Nếu
người Việt Nam trờ nên an tâm hon về tinh hình việc làm và thu nhập
trong tương lai, hoặc nếu giá cổ phiếu tăng làm cho các hộ gia đình trở
nên giàu có hơn, hay chính phù giảm thuế thu nhập, thì các hộ gia
đình sẽ chi tiêu nhiều hơn cho tiêu dùng tại mỗi mức giá cho trước và
kết quả là đường tổng cầu sẽ dịch chuyển sang bên phải từ ADo đến
AD, như được biểu diễn trong Hình 6-2.
Sự dịch chuyến
bai nguồn từ những thay đổi trong đầu tư .Nếu các
doanh nghiệp trở nên lạc quan vào triển vọng m ở rộng thị trường
trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tể và quyết định xây thêm nhà
máy mới và mua thêm máy móc, thiết bị mới, hoặc nếu chính phủ
giảm thuế cho các doanh nghiệp thực hiện các dự án đầu tư, hay ngân
hàng trung ương tăng cung ứng tiền tệ làm giảm lãi suất, thì đầu tư sẽ
tăng và đường tổng cầu sẽ dịch chuyển sang bên phải.
Sự dịch chuyển bắt nguồn từ nhũng thay đổi trong chi tiêu chính
phù.
Nếu chính phù chủ động tăng chi tiêu nhằm đ ố i phó với đà tăng
trường kinh tế chậm l ạ i , thì đường tổng cầu sẽ dịch chuyển sang bên
phải.
Sự dịch chuyến
bắt nguồn từ những thay đối trong xuất khẩu
ròng.
Nếu thế giới bên ngoài lâm vào suy thoái và nhập khẩu ít hàng của
Việt Nam hơn, hoặc đồng V i ệ t Nam tăng giá so với tiền của các đối
tác thương mại, thì xuất khẩu ròng của V i ệ t Nam sẽ giảm và kết quả là
đường tổng cầu sẽ dịch chuyển sang bên trái.
2. Tổng cung của n ề n k i n h tế (Aggregate
Supply - AS)
Bây g i ờ chúng ta chuyển sang xem xét hành v i cùa tổng cung. Tồng
cung cùa một nền kinh tế là mức sản lượng mà các doanh nghiệp trong
nước sẵn sàng và có khả năng sản xuất và cung ứng tại m ỗ i mức giá.
Lượng tổng cung phụ thuộc vào quyết định của các doanh nghiệp
trong việc sử dụng lao động và các đầu vào khác để sản xuất ra hàng
139
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN