i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan bản luận văn này là công trình nghiên cứu khoa học, độc lập
của riêng tôi. Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và có nguồn gốc
rõ ràng.
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Phạm Thị Phương
ii
LỜI CẢM ƠN
Luận văn này được thực hiện tại trường Đại học thương mại. Tôi xin chân
thành cảm ơn TS. Trần Thị Hoàng Hà đã trực tiếp hướng dẫn, tận tình chỉ bảo, giúp
đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn.
Tôi xin cảm ơn Lãnh đạo Tổng cục Dự trữ Nhà nước, thủ trưởng các đơn vị
thuộc và trực thuộc Tổng cục Dự trữ Nhà nước cùng các đồng nghiệp đã tạo điều
kiện thuận lợi để tôi hoàn thành luận văn này.
Xin trân trọng cảm ơn.
iii
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN.....................................................................................................i
LỜI CẢM ƠN..........................................................................................................ii
MỤC LỤC..............................................................................................................iii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT...............................................................................v
MỞ ĐẦU.................................................................................................................. 1
1. Tính cấp thiết của đề tài......................................................................................1
2. Mục đích của đề tài..............................................................................................2
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu......................................................................2
4. Phương pháp nghiên cứu....................................................................................2
5. Kết cấu của đề tài:...............................................................................................3
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ DỰ TRỮ QUỐC
GIA VÀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC HÀNG DỰ TRỮ QUỐC GIA.........................4
1.1. DỰ TRỮ QUỐC GIA VÀ HÀNG DỰ TRỮ QUỐC GIA..............................4
1.1.1. Khái niệm và những đặc trưng cơ bản của dự trữ quốc gia............................4
1.1.2. Mục tiêu và vai trò của dự trữ quốc gia đối với phát triển kinh tế xã hội..........7
1.2. QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ HÀNG DỰ TRỮ QUỐC GIA........................10
1.2.1. Khái niệm về quản lý nhà nước hàng dự trữ quốc gia...................................10
1.2.2. Nguyên tắc quản lý nhà nước hàng dự trữ quốc gia......................................11
1.2.3. Nội dung quản lý nhà nước về hàng dự trữ quốc gia.....................................13
1.3. NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ HÀNG DỰ
TRỮ QUỐC GIA...................................................................................................22
1.3.1. Yếu tố chính trị, xã hội của đất nước.............................................................22
1.3.2. Yếu tố tự nhiên...............................................................................................24
1.3.3. Yếu tố kinh tế của một quốc gia.....................................................................25
1.3.4. Yếu tố con người............................................................................................25
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ DỰ TRỮ QUỐC GIA
ĐỐI VỚI MẶT HÀNG GẠO CỦA TỔNG CỤC DỰ TRỮ NHÀ NƯỚC.........27
2.1. TỔNG QUAN VỀ TỔNG CỤC DỰ TRỮ NHÀ NƯỚC..............................27
iv
2.1.1. Giới thiệu về Tổng cục dự trữ Nhà nước.......................................................27
2.1.2. Cơ cấu tổ chức của Tổng cục Dự trữ Nhà nước............................................30
2.1.3. Chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của Tổng Cục Dự trữ Nhà nước............30
2.2. THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ DỰ TRỮ MẶT HÀNG GẠO
CỦA TỔNG CỤC DỰ TRỮ NHÀ NƯỚC...........................................................33
2.2.1.Đặc điểm dự trữ nhà nước Việt Nam..............................................................33
2.2.2. Thực trạng quản lý Nhà nước dự trữ mặt hàng gạo của Tổng cục Dự trữ Nhà
nước......................................................................................................................... 37
2.2.3. Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước dự trữ mặt hàng gạo
................................................................................................................................. 66
2.2.4. Đánh giá công tác quản lý nhà nước mặt hàng gạo dự trữ quốc gia.............70
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN CÔNG
TÁC QUẢN LÝ VỀ DỰ TRỮ MẶT HÀNG GẠO CỦA TỔNG CỤC DỰ TRỮ
NHÀ NƯỚC...........................................................................................................79
3.1. ĐỊNH HƯỚNG CỦA TỔNG CỤC DỰ TRỮ NHÀ NƯỚC VỀ PHÁT
TRIỂN NGÀNH DỰ TRỮ QUỐC GIA...............................................................79
3.1.1. Quan điểm và mục tiêu dự trữ quốc gia.........................................................79
3.1.2. Căn cứ định hướng phát triển quỹ dự trữ......................................................80
3.1.4. Định hướng về dự trữ quốc gia đến năm 2020..............................................81
3.2. NHỮNG GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN CÔNG TÁC DỰ
TRỮ QUỐC GIA ĐỐI VỚI MẶT HÀNG GẠO TẠI TỔNG CỤC DỰ TRỮ
NHÀ NƯỚC...........................................................................................................82
3.2.1. Giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước đối với mặt hàng gạo của Tổng
cục Dự trữ Nhà nước.............................................................................................82
3.2.2. Kiến nghị.......................................................................................................89
KẾT LUẬN............................................................................................................91
TÀI LIỆU THAM KHẢO.......................................................................................92
v
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
AN- PCCC-PCBL: An ninh, phòng cháy chữa cháy, phòng chống bão lụt
CCDC: Công cụ, dụng cụ
CBCC: Cán bộ công chức
DTNN: Dự trữ Nhà nước
DTQG: Dự trữ quốc gia
XHCN: Xã hội chủ nghĩa
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong quá trình phát triển kinh tế- xã hội, tất cả các nước trên thế giới đều phải
đương đầu với thiên tai, dịch bệnh, xung đột, lạm phát, khủng hoảng… Tiềm lực dự
trữ hùng mạnh về tài chính và hàng hóa không những giúp các quốc gia giảm thiểu
thiệt hại, ổn định kinh tế vĩ mô, mà còn vượt qua khó khăn, phục hồi tăng trưởng
kinh tế và chuẩn bị cho chu kỳ phát triển mới.
Nhận thức rõ tầm quan trọng của DTQG, Đảng và Nhà nước ta luôn luôn quan
tâm đến hoạt động dự trữ quốc gia, coi đó là một lĩnh vực kinh tế đặc biệt, góp phần
đảm bảo sự phát triển ổn định của nền kinh tế và đời sống xã hội, nhất là khi có
thiên tai, địch họa.
Luật Dự trữ quốc gia và Quyết định phê duyệt chiến lược phát triển dự trữ
quốc gia đến năm 2020 đã khẳng định: Dự trữ quốc gia là nguồn dự trữ chiến lược
của Nhà nước để phòng ngừa và khắc phục có hiệu quả các tổn thất, bất trắc xảy ra
đối với đời sống xã hội, an ninh, quốc phòng và hoạt động sản xuất, kinh doanh;
Hoạt động dự trữ quốc gia có vị trí và vai trò quan trọng trong việc phát triển bền
vững, bảo đảm ổn định chính trị, kinh tế - xã hội của đất nước. Nhà nước hình
thành, sử dụng dự trữ quốc gia nhằm chủ động đáp ứng yêu cầu đột xuất, cấp bách
về phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai, thảm họa, hỏa hoạn, dịch bệnh, tham
gia bình ổn thị trường khi có tình huống đột biến xẩy ra, góp phần ổn định kinh tế vĩ
mô, phát triển kinh tế, đảm bảo an sinh xã hội; hoạt động dự trữ quốc gia luôn được
phát triển và đổi mới, phù hợp với tình hình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước
và tiến trình hội nhập quốc tế.
Quản lý Nhà nước về dự trữ quốc gia góp phần quan trọng trong việc đưa dự
trữ quốc gia hoạt động một cách có hệ thống, ngày càng có hiệu lực, hiệu quả đáp
ứng yêu cầu của quá trình xây dựng và phát triển đất nước. Thực tiễn quá trình phát
triển của DTQG đã chỉ ra rằng quản lý nhà nước về dự trữ quốc gia có vai trò to lớn
cho triển khai thực hiện các quan điểm, chính sách mới của Đảng, Nhà nước về
DTQG, kiểm tra, giám sát thúc đẩy hoạt động DTQG có hiệu quả, có lợi cho nhân
dân và xã hội, góp phần đắc lực cho sự nghiệp xây dựng đất nước và bảo vệ Tổ
quốc.
2
Mặt hàng gạo là hàng dự trữ quốc gia nằm trong nhóm hàng lương thực thuộc
danh mục dự trữ quốc gia do Bộ Tài chính (Tổng cục Dự trữ Nhà nước) quản lý, có
tổng mức dự trữ quốc gia lớn, nhằm đáp ứng yêu cầu về cứu trợ, hỗ trợ, viện trợ
trong nước nhằm giải quyết khó khăn trong đời sống của người dân, giảm thiểu tối
đa thiệt hại về người và của, sớm khắc phục hậu quả thiên tai, bảo đảm an sinh xã
hội, cũng như hỗ trợ, viện trợ nước ngoài nhằm thắt chặt tình đoàn kết các quốc gia
trên thế giới. Tuy nhiên, công tác quản lý dự trữ nhà nước đối với mặt hàng gạo còn
nhiều hạn chế: cơ chế chính sách còn chưa đồng bộ, công tác lập kế hoạch còn chưa
sát với thực tế, công nghệ bảo quản lạc hậu, …chưa phù hợp với xu hướng đẩy
mạnh công nghiệp hóa (CNH) hiện đại hóa đất nước (HĐH), hội nhập quốc tế ngày
càng sâu rộng, chưa đáp ứng được yêu cầu cấp bách nhiệm vụ nhà nước đề ra. Do
đó, Tôi chọn đề tài: “Quản lý dự trữ mặt hàng gạo của Tổng cục Dự trữ Nhà nước”
làm luận văn cao học.
2. Mục đích của đề tài.
Mục đích của đề tài là đề xuất những giải pháp, kiến nghị nhằm hoàn thiện
công tác quản lý nhà nước về dự trữ quốc gia đối với mặt hàng gạo tại Tổng cục Dự
trữ Nhà nước.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Những vấn đề lý luận về quản lý nhà nước trong hoạt
động dự trữ nhà nước và thực trạng quản lý nhà nước về hoạt động dự trữ mặt hàng
gạo tại Tổng cục Dự trữ Nhà nước.
Phạm vi nghiên cứu:
Thời gian: Nghiên cứu tình hình quản lý dự trữ mặt hàng gạo trong giai đoạn
2012-2015;
Không gian: Trên phạm vi toàn quốc
Nội dung: Tiếp cận nghiên cứu các nội dung quản lý nhà nước đối với hoạt
động dự trữ mặt hàng gạo.
4. Phương pháp nghiên cứu
4.1. Phương pháp thu thập và xử lý dữ liệu:
Thực hiện thu thập dữ liệu về văn bản quy phạm pháp luật, các số liệu liên
quan đến tình hình dự trữ cũng như công tác quản lý dự trữ mặt hàng gạo tại Tổng
cục Dự trữ Nhà nước.
3
4.2. Phương pháp phân tích:
Trên cơ sở dữ liệu đã thu thập, thực hiện phân tích, đánh giá, đưa ra những
mặt đạt được và những hạn chế còn tồn tại.
5. Kết cấu của đề tài:
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, kết cấu của đề
tài được chia thành 3 chương như sau:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận cơ bản về dự trữ quốc gia và quản lý nhà
nước hàng dự trữ quốc gia
Chương 2: Thực trạng công tác quản lý dự trữ quốc gia đối với mặt hàng gạo
của Tổng cục Dự trữ Nhà nươc
Chương 3: Một số giải pháp, kiến nghị hoàn thiện công tác quản lý dự trữ
quốc gia đối với mặt hàng gạo của Tổng cục Dự trữ Nhà nước
4
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ DỰ TRỮ
QUỐC GIA VÀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC HÀNG DỰ TRỮ QUỐC GIA
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ DỰ TRỮ
QUỐC GIA VÀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC HÀNG DỰ TRỮ QUỐC GIA
1.1. DỰ TRỮ QUỐC GIA VÀ HÀNG DỰ TRỮ QUỐC GIA
1.1.1. Khái niệm và những đặc trưng cơ bản của dự trữ quốc gia
1.1.1.1. Khái niệm dự trữ quốc gia
Dự trữ quốc gia (dự trữ nhà nước) là hoạt động cần thiết nhằm đảm bảo ổn
định, an toàn đối với các lĩnh vực thuộc quốc kế dân sinh và một số lĩnh vực trọng
yếu khác của một quốc gia.
“Dự trữ quốc gia, dự trữ của một nước do nhà nước nắm giữ và quản lý, bao
gồm dự trữ các loại vật tư - hàng hóa quan trọng nhất; nhằm mục đích khắc phục
những tổn thất do thiên tai, địch họa gây ra trên quy mô lớn trong một thời gian
nhất định. Dự trữ quốc gia là nguồn tích lũy của quốc gia, sức mạnh của đất nước”
(Từ điển bách khoa Việt Nam, 2011, bachkhoatoanthu.vass.gov.vn)
Hoạt động dự trữ quốc gia là việc xây dựng, thực hiện chiến lược, quy hoạch,
kế hoạch, dự toán ngân sách về dự trữ quốc gia; xây dựng hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật; quản lý, điều hành và sử dụng dự trữ quốc gia.
Hàng dự trữ quốc gia là vật tư, thiết bị, hàng hóa trong Danh mục hàng dự
trữ quốc gia do Nhà nước quản lý, nắm giữ để sử dụng vào mục tiêu dự trữ quốc gia.
Danh mục hàng dự trữ quốc gia là tên nhóm hàng hóa, tên vật tư, tên thiết bị
dự trữ quốc gia.
Điều hành dự trữ quốc gia bao gồm: hoạt động quản lý, nhập, xuất, mua, bán,
bảo quản, bảo vệ hàng dự trữ quốc gia.
Bộ, ngành quản lý hàng dự trữ quốc gia bao gồm bộ, cơ quan ngang bộ, cơ
quan thuộc Chính phủ trực tiếp quản lý hàng dự trữ quốc gia theo phân công của
Chính phủ.
Đơn vị dự trữ quốc gia là tổ chức thuộc bộ, ngành quản lý hàng dự trữ quốc
gia được giao nhiệm vụ trực tiếp quản lý, nhập, xuất, mua, bán, bảo quản, bảo vệ
hàng dự trữ quốc gia.
5
Tình huống đột xuất, cấp bách là tình trạng thiên tai, thảm họa, hỏa hoạn, dịch
bệnh có nguy cơ bùng phát trên diện rộng; nhiệm vụ quốc phòng, an ninh; trật tự an
toàn xã hội cần được giải quyết ngay.
Tổng mức dự trữ quốc gia là tổng giá trị dự trữ quốc gia.
Mức phân bổ cho dự trữ quốc gia là số tiền bố trí cho dự trữ quốc gia trong dự
toán ngân sách nhà nước hằng năm.
Thời hạn lưu kho hàng dự trữ quốc gia là khoảng thời gian tối đa được xác
định từ thời điểm nhập kho đến thời điểm xuất kho hàng dự trữ quốc gia.
Xuất cấp hàng dự trữ quốc gia là việc xuất hàng dự trữ quốc gia không thu
tiền để cấp cho các tổ chức, cá nhân” (Luật dự trữ, Quốc hội, 2012, trang 2) .
Như vậy, Dự trữ quốc gia là quá trình Nhà nước tổ chức tích luỹ một bộ phận
của cải vật chất xã hội vào quỹ dự phòng chiến lược để sử dụng vào việc phòng
ngừa, khắc phục hậu quả thiên tai; đáp ứng nhu cầu của quốc phòng và giữ vững an
ninh chính trị khi xảy ra biến động; góp phần ổn định chính trị, kinh tế và đời sống
dân cư cũng như các nhiệm vụ khác của Nhà nước. Tuy nhiên dự trữ quá lớn cũng
hạn chế vốn đầu tư vào phát triển kinh tế, vấn đề quan trọng là kết hợp chặt chẽ yêu
cầu đảm bảo ổn định kinh tế - xã hội, an ninh quốc gia với mục tiêu phát triển.
1.1.1.2. Những đặc trưng cơ bản của dự trữ quốc gia
Dự trữ quốc gia là nguồn lực vật chất của nhà nước, được nhà nước quản
lý, sử dụng nhằm thực hiện mục tiêu của nhà nước
Quỹ dự trữ quốc gia được hình thành từ nguồn NSNN và các nguồn khác với
mục đích đảm bảo lợi ích, an toàn của cả quốc gia, của toàn xã hội. Nhà nước hình
thành, sử dụng dự trữ quốc gia nhằm chủ động đáp ứng yêu cầu đột xuất, cấp bách
về phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai, thảm họa, hỏa hoạn, dịch bệnh; phục
vụ quốc phòng, an ninh. Việc quản lý, điều hành và sử dụng quỹ dự trữ quốc gia
phải được quản lý chặt chẽ và chỉ đạo tập trung thống nhất dưới quyền quyết định
của nhà nước. Hàng dự trữ quốc gia được quản lý bởi hệ thống bộ máy dự trữ nhà
nước với hệ thống kho tàng, cơ chế quản lý, chế độ hạch toán, kế toán riêng biệt của
dự trữ nhà nước.
6
Một quốc gia, một xã hội ngày càng phát triển, nhu cầu đảm bảo an toàn, ổn
định ngày càng cao, do đó, dự trữ quốc gia ngày càng quan trọng, quỹ dự trữ quốc
gia phải được tích lũy phù hợp.
Hoạt động của dự trữ quốc gia không vì lợi nhuận.
Đây là đặc trưng cơ bản của dự trữ quốc gia. Khác với loại hình kinh tế khác,
dự trữ quốc gia là ngành kinh tế đặc biệt, không thuộc lĩnh vực sản xuất kinh doanh,
không nhằm tạo ra lợi nhuận. Mục tiêu của dự trữ quốc gia nhằm đảm bảo cho lợi
ích, an toàn của cả quốc gia, của toàn xã hội.
Khác với dự trữ quốc gia, các loại quỹ dự trữ khác như dự trữ sản xuất kinh
doanh, quỹ dự trữ hàng hóa tồn tại nhằm mục đích đảm bảo cho qua trình sản xuất,
phân phối, trao đổi hàng hóa của các tổ cức kinh tế liên tục và ổn định nhằm tối đa
hóa năng lực sản xuất kinh doanh, đảm bảo lợi nhuận của tổ chức kinh tế.
Dự trữ quốc gia, do nhà nước quản lý nhằm ổn định cả nền kinh tế. Dự trữ
quốc gia là một công cụ quản lý kinh tế vĩ mô của nhà nước nhằm khắc phục những
khiếm khuyết của kinh tế thị trường, ổn định kinh tế vĩ mô, thực hiện an sinh xã hội,
đảm bảo an ninh quốc gia, an toàn cho đời sống của người dân. Nguồn lực dự trữ
không mang lại lợi nhuận cho nhà nước với tư cách là chủ sở hữu, sử dụng nguồn
lực dự trữ.
Như vậy, dự trữ quốc gia là nguồn lực vật chất do nhà nước quản lý và sử
dụng không vì mục đích lợi nhuận. Hiệu quả của dự trữ quốc gia mang lại có tính
chất tổng hợp, hiệu quả kinh tế - xã hội, an ninh quốc phòng, đó là lợi ích quốc gia,
lợi ích xã hội.
Quỹ dự trữ quốc gia không tự bảo toàn vốn
Các quỹ dự trữ của các tổ chức kinh tế hoạt động trên cơ sở, nguyên tắc bảo
toàn vốn do xuất phát từ mục tiêu tồn tại và hoạt động của nó, đó là đảm bảo cho
quá trình sản xuất, phân phối, trao đổi hàng hóa được diễn ra liên tục và ổn định,
duy trì và tăng năng lực sản xuất kinh doanh. Quỹ dự trữ được sử dụng nhằm hỗ trợ,
thúc đẩy, khắc phục khó khăn cho tổ chức kinh tế trong một thời điểm, sau đó phải
được thu hồi nhằm duy trì quy mô của quỹ. Nguồn lực của các quỹ không chỉ được
quy trì, bảo toàn mà còn tạo ra lợi nhuận và sẽ được thu hồi trở lại khi quá trình sản
xuất kinh doanh đi vào ổn định.
7
Ngược lại, quỹ dự trữ quốc gia được sử dụng nhằm chủ động đáp ứng yêu cầu
cấp bách về phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh, bảo
đảm an ninh, quốc phòng, tham gia bình ổn thị trường, góp phần ổn định kinh tế vĩ
mô và thực hiện các nhiệm vụ đột xuất bức thiết khác của nhà nước. Việc xuất bán
hay xuất cấp không thu tiền để đảm bảo lợi ích chung của toàn xã hội, không tính
đến lợi ích kinh tế hay thua lỗ nên không có khả năng tự bảo toàn vốn.
Quy mô quỹ dự trữ quốc gia ngày càng tăng đáp ứng yêu cầu phát triển của
đất nước. Do đó, để thực hiện được mục tiêu của mình, hàng năm, Nhà nước phải
cấp ngân sách bổ sung cho quỹ dự trữ quốc gia nhằm:
- Bổ sung lượng hàng dự trữ quốc gia đã xuất kho trong năm trước để cứu trợ,
hỗ trợ, viện trợ;
- Bổ sung hao hụt do hàng dự trữ đã qua quá trình lưu kho, bảo quản, số
lượng, chất lượng và giá trị bị suy giảm. Do đó, số tiền thu được từ việc xuất bán
luân phiên đổi hàng sẽ không đủ kinh phí để mua hàng mới đưa vào dự trữ trong
năm sau;
- Bổ sung lượng hàng hóa dự trữ quốc gia đáp ứng yêu cầu trong tình hình
mới.
1.1.2. Mục tiêu và vai trò của dự trữ quốc gia đối với phát triển kinh tế xã hội.
1.1.2.1. Mục tiêu của dự trữ quốc gia
- Mục tiêu tổng quát
Sẵn sàng đáp ứng yêu cầu cấp bách về phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên
tai, hoả hoạn, dịch bệnh; phục vụ động viên công nghiệp; đảm bảo an ninh lương
thực, an ninh năng lượng; bảo đảm quốc phòng, an ninh và trật tự an toàn xã hội;
tham gia bình ổn thị trường, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô, phát triển kinh tế, đảm
bảo an sinh xã hội và thực hiện các nhiệm vụ cấp bách khác.
- Mục tiêu cụ thể:
+ Danh mục, số lượng hàng dự trữ quốc gia đảm bảo yêu cầu thiết yếu, chiến
lược, quan trọng và có quy mô đủ mạnh để can thiệp khi có tình huống cấp bách.
+ Hiện đại hóa công nghệ bảo quản, nghiên cứu, chuyển giao, áp dụng công
nghệ bảo quản tiên tiến của các nước trong khu vực, phù hợp với điều kiện khí hậu
8
và kinh tế - xã hội của Việt Nam nhằm bảo đảm chất lượng hàng dự trữ quốc gia và
nâng cao hiệu quả công tác bảo quản.
+ Hoàn chỉnh hệ thống kho dự trữ quốc gia với trang thiết bị hiện đại, quy mô
tập trung, đảm bảo hình thành các vùng, tuyến chiến lược phù hợp với điều kiện về
kinh tế, quốc phòng của vùng, lãnh thổ.
+ Hệ thống thông tin thông suốt trong hoạt động dự trữ quốc gia, bảo đảm tin
học hóa 100% quy trình quản lý nghiệp vụ nhập, xuất, bảo quản.
+ Phát triển nguồn nhân lực dự trữ quốc gia bảo đảm đủ về số lượng, có cơ
cấu hợp lý, có phẩm chất chính trị và năng lực công tác đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ.
Kiện toàn tổ chức bộ máy quản lý theo hướng tập trung thống nhất một cơ quan
quản lý nhà nước về dự trữ quốc gia.
Như vậy, dự trữ quốc gia là một dạng dự trữ đặc biệt trong nền kinh tế quốc
dân, dự trữ những mặt hàng chiến lược quan trọng, thiết yếu đối với sản xuất và đời
sống là loại dự trữ thuộc sở hữu của Nhà nước, do Nhà nước nắm giữ, quản lý và sử
dụng.
1.1.2.2. Vai trò của dự trữ quốc gia
Dự trữ quốc gia bao gồm tiền và hàng hóa, vật tư là nguồn dự trữ chiến lược
của Nhà nước nhằm đáp ứng những yêu cầu cấp bách về phòng, chống, khắc phục
hậu quả thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh; đảm bảo an ninh, quốc phòng; tham gia
bình ổn thị trường; góp phần ổn định kinh tế vĩ mô và thực hiện các nhiệm vụ đột
xuất bức thiết khác của Nhà nước. Theo mục tiêu trên đây, dự trữ quốc gia có vai
trò trên các lĩnh vực chủ yếu sau đây:
Thứ nhất, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô. Trên thế giới, hòa bình chưa bền
vững, nạn khủng bố đang đe dọa; trong mỗi một quốc gia đều có những thế lực
phản động, thù địch; khí hậu trái đất thay đổi thất thường và ngày càng khắc nghiệt
kèm theo thiên tai và thiên tai ngày một gia tăng: động đất, sóng thần, bão lụt, lũ
quét, trượt đất... thay nhau diễn ra; kinh tế phát triển, dân số gia tăng tạo ra nhiều cơ
sở sản xuất, nhà ở, các cơ sở hoạt động giáo dục, y tế, xã hội, văn hóa, thể dục thể
thao... tức là mặt bằng để thiên tai, dịch bệnh, hỏa hoạn phát sinh được mở rộng.
Môi trường, khí hậu, thời tiết ngày một xấu và khắc nghiệt là mầm mống cho dịch
bệnh phát sinh ... Thực tế này tác động nhiều vào kinh tế vĩ mô. Dự trữ quốc gia là
9
nguồn dự trữ chiến lược của Nhà nước sẵn sàng đáp ứng để phòng, chống và khắc
phục hậu quả của thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh.
Thứ hai, góp phần ổn định đời sống nhân dân. Thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh
xuất hiện và xuất hiện ngày một gia tăng chẳng những làm thiệt hại đến sản xuất,
kinh doanh và ảnh hưởng đến kinh tế vĩ mô mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến đời
sống dân cư do bị thiệt hại về tài sản, ảnh hưởng sản xuất làm thiệt hại sản xuất,
giảm thu nhập.v.v... làm cho đời sống của người dân gặp nhiều khó khăn, mà bản
thân họ tự khắc phục ngay là rất khó và có nhiều trường hợp không thể khắc phục
được; vì thế phải có sự trợ giúp của Nhà nước. Sự trợ giúp vật chất nhanh nhất,
kịp thời nhất của Nhà nước là xuất hàng dự trữ quốc gia “tích cốc, phòng cơ” để
chủ động và kịp thời khắc phục, kể cả xuất hàng để chủ động phòng, chống thiên
tai, dịch bệnh; đó là thực tế các quốc gia đã làm.
Thứ ba, đảm bảo quốc phòng, an ninh của đất nước: vai trò hết sức đặc biệt
của dự trữ quốc gia. Từ các thời kỳ trước, ông cha ta đã nói: “Thực túc, binh
cường”, có một sức mạnh kinh tế và một lực lượng vũ trang mạnh là sức mạnh của
đất nước. Sức mạnh của nền kinh tế đảm bảo trang bị cơ sở vật chất, vũ khí, khí
tài, máy móc, trang thiết bị ... đủ mạnh cho lực lượng vũ trang; nền kinh tế đủ
mạnh cũng là điều kiện để ngân sách nhà nước dành khoản tích lũy hợp lý dự trữ
quốc gia đảm bảo quốc phòng, an ninh của đất nước. Dự trữ quốc gia thuộc lĩnh
vực quốc phòng, an ninh là lực lượng vật chất chiến lược trực tiếp đáp ứng nhanh
nhất, kịp thời nhất yêu cầu đảm bảo quốc phòng, an ninh trên những địa bàn nhất
định và trên toàn lãnh thổ của quốc gia.
Thứ tư, góp phần tăng cường quan hệ quốc tế. Trong điều kiện thế giới ngày
nay của một nền kinh tế phát triển, nguồn tài nguyên ngày một cạn kiệt, môi
trường ngày càng bị hủy hoại, khí hậu trái đất thay đổi thất thường và ngày càng
khắc nghiệt, kèm theo thiên tai ngày càng diễn ra trên diện rộng với sức tàn phá
mạnh mẽ làm thiệt hại về người và tài sản ở mức độ rất lớn, mà bản thân một quốc
gia khắc phục nhanh là rất khó khăn; do đó cần có sự trợ giúp kịp thời của các
nước khác bằng việc xuất hàng dự trữ quốc gia, quỹ dự trữ quốc gia. Việc làm
thiết thực này góp phần tăng cường tình hữu nghị và quan hệ hợp tác giữa các
nước.
10
1.2. QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ HÀNG DỰ TRỮ QUỐC GIA
1.2.1. Khái niệm về quản lý nhà nước hàng dự trữ quốc gia
1.2.1.1. Khái niệm quản lý
Có nhiều quan niệm về quản lý:
“Quản lý là sự tác động có chủ đích của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý
một cách liên tục, có tổ chức, liên kết các thành viên trong tổ chức hành động nhằm
đạt tới mục tiêu với kết quả tốt nhất” (Phạm Quang Lê, 2007, trang 8).
“Quản lý là tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý (người
quản lý) lên khách thể quản lý và đối tượng quản lý trong một tổ chức nhằm sử
dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng các cơ hội của tổ chức để đạt được mục tiêu
đặt ra trong điều kiện biến động của môi trường, làm cho tổ chức vận hành (hoạt
động) có hiệu quả (Hồ Văn Liên, 2010, trang 29).
Tóm lại, quản lý là sự tác động có tổ chức, có mục đích của chủ thể quản lý
đến đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu đã đề ra.
1.2.1.2 Khái niệm quản lý Nhà nước
Quản lý nhà nước là hoạt động của nhà nước trên các lĩnh vực lập pháp, hành
pháp và tư pháp nhằm thực hiện các chức năng đối nội và đối ngoại của nhà nước.
Quản lý nhà nước là sự tác động của các chủ thể mang quyền lực nhà nước
chủ yếu bằng pháp luật tới các đối tượng quản lý nhằm thực hiện các chức năng đối
nội đối ngoại của nhà nước chủ quan của quản lý nhà nước là tổ chức hay mang
quyền lực nhà nước trong quá trình hoạt động tới đối tượng quản lý
1.2.1.3 Khái niệm quản lý nhà nước hàng dự trữ quốc gia
Mục tiêu của quản lý trong quản lý nhà nước về hàng dự trữ quốc gia là đảm
bảo cho quỹ dự trữ quốc gia được xây dựng, quản lý, sử dụng có hiệu quả, đạt được
mục tiêu của dự trữ nhà nước là chủ động đáp ứng những yêu cầu cấp bách về
phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh, bảo đảm an ninh
quốc phòng, tham gia bình ổn thị trường, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô và thực
hiện các nhiệm vụ đột xuất bức thiết khác của Nhà nước.
Quản lý nhà nước hàng dự trữ quốc gia được thực hiện thông qua cơ chế quản
lý nhất định. Cơ chế quản lý nhà nước hàng dự trữ quốc gia là hệ thống các phương
pháp, công cụ quản lý mà chủ thể quản lý sử dụng để tác động đến đối tượng quản
11
lý (các tổ chức, cá nhân có liên quan đến àng dự trữ quốc gia). Vì vậy có thể định
nghĩa quản lý nhà nước hàng dự trữ quốc gia như sau:
Quản lý nhà nước hàng dự trữ quốc gia là sự tác động có tổ chức của chủ thể
quản lý bằng hệ thống các phương thức, công cụ quản lý đến các tổ chức, cá nhân
có liên quan đến hàng dự trữ quốc gia thông qua việc điều chỉnh các hoạt động xây
dựng, quản lý, sử dụng quỹ dự trữ quốc gia nhằm làm cho dự trữ nhà nước đáp ứng
yêu cầu: chủ động đáp ứng những yêu cầu cấp bách về phòng, chống, khắc phục
hậu quả thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh, bảo đảm an ninh quốc phòng, tham gia bình
ổn thị trường, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô và thực hiện các nhiệm vụ bức thiết
khác của Nhà nước.
1.2.2. Nguyên tắc quản lý nhà nước hàng dự trữ quốc gia
1.2.2.1. Quỹ dự trữ quốc gia là lực lượng dự phòng chiến lược của Nhà nước,
được quản lý theo nguyên tắc tập trung, thống nhất trong phạm vi cả nước;
Để khắc phục mặt trái của kinh tế thị trường trong bối cảnh toàn cầu hóa và
hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng, các quốc gia trong đó có Việt Nam
luôn phải đối mặt với những thách thức to lớn do thiên tai, dịch bệnh, hỏa hoạn,
thảm họa môi trường, những nguy cơ tiềm ẩn về khủng bố quốc tế, tranh chấp lãnh
thổ và xung đột chính trị trên thế giới…, đe dọa đến sự phát triển bền vững của mỗi
quốc gia. Vì vậy, cần phải hình thành DTQG đủ mạnh, tổ chức quản lý, điều hành,
sử dụng hiệu quả, bảo đảm kịp thời, đầy đủ, minh bạch, đúng đối tượng và tiết kiệm
chi phí trong chỉ đạo điều hành phối hợp ứng cứu, bảo vệ người dân, tài sản và môi
trường.
Từ thực tiễn quản lý, điều hành dự trữ quốc gia thời gian qua cho thấy hoạt
động DTQG mang tính đặc thù về mức độ khó khăn trong tác nghiệp, yêu cầu khẩn
trương, có lúc gặp nguy hiểm, gần giống với hoạt động an ninh, quốc phòng, do đó
cần phải có cơ chế quản lý thích ứng và đồng bộ từ tổ chức bộ máy, con người,
phương thức thực hiện. Do đó cần được điều hành, quản lý của Nhà nước theo theo
nguyên tắc tập trung, thống nhất, có hiệu lực và hiệu quả.
Quỹ dự trữ quốc gia bao gồm cả về hàng và tiền được quản lý tập trung, thống
nhất dưới sự điều hành của Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ có phân công cho
cán bộ, ngành quản lý hàng dự trữ nhà nước theo quy định. Việc quản lý tập trung
12
quỹ dự trữ quốc gia giúp nhà nước có sự bao quát, chỉ đạo, điều hành một cách chặt
chẽ, phù hợp, hoạt động của các tổ chức dự trữ quốc gia một cách thống nhất từ trên
xuống dưới, xây dựng quỹ dự trữ quốc gia có quy mô phù hợp với sự phát triển của
nền kinh tế, cơ cấu danh mục mặt hàng hợp lý đủ điều kiện tác động kịp thời, góp
phần ổn định tình hình chính trị, kinh tế xã hội trong mọi tình huống biến động, đột
xuất xảy ra; đảm bảo đủ khả năng khắc phục những hậu quả bất lợi cho nền kinh tế
ở mức quốc gia, trong một thời gian nhất định.
1.2.2.2. Quản lý dự trữ quốc gia dựa trên chiến lược, kế hoạch, chính sách về
dự trữ quốc gia và tuân theo những quy định của Chính phủ về hệ thống tổ chức và
phân công cấp quản lý;
Nhà nước có chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển dự trữ quốc gia phù
hợp với chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của đất nước
trong từng thời kỳ. Theo đó, chiến lược phát triển dự trữ quốc gia gắn liền với kế
hoạch phát triển kinh tế xã hội được Thủ tướng Chính phủ giao hàng năm.
Chiến lược, quy hoạch, kế hoạch dự trữ quốc gia trong từng thời kỳ và hàng
năm được xây dựng sau khi nghiên cứu mục tiêu, yêu cầu phát triển kinh tế chính
trị, tiềm lực kinh tế, đặc điểm của đất nước, … Chiến lược, kế hoạch được coi là
một định hướng, là cơ sở cho việc xác định những nội dung, giải pháp cơ bản cần
thực hiện nhằm đạt được mục tiêu, chỉ tiêu về dự trữ quốc gia nói riêng và về kinh
tế, chính trị của đất nước nói chung. Đồng thời việc quản lý dự trữ quốc gia dựa trên
chiến lược, kế hoạch giúp nhà nước chủ động chỉ đạo thực hiện, hạn chế rủi ro, tác
động tiêu cực có thể xảy ra.
Hệ thống tổ chức dự trữ quốc gia được bố trí ở trung ương và các khu vực, địa
bàn chiến lược trong cả nước để kịp thời đáp ứng yêu cầu trong trường hợp cấp
bách, bao gồm cơ quan quản lý dự trữ quốc gia chuyên trách thuộc Bộ Tài chính và
các đơn vị dự trữ quốc gia thuộc bộ, ngành quản lý hàng dự trữ quốc gia. Công tác
quản lý dự trữ quốc gia được phân công, phân cấp một cách có hệ thống, theo
những văn bản đặc thù nhất định. Mỗi cấp quản lý có những quyền hạn và nhiệm vụ
được quy định rõ ràng và không được vượt quá thẩm quyền được giao, chịu trách
nhiệm về các quyết định của mình.
13
1.2.2.3. Quản lý dự trữ quốc gia phải thực hiện nghiêm ngặt các quy định về
bảo vệ bí mật Nhà nước, bảo đảm an toàn, tiết kiệm, kịp thời, có hiệu quả
Dự trữ quốc gia thể hiện sức mạnh nội lực của một đất nước nhằm sẵn sàng
ứng phó với những yêu cầu cấp bách về phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai,
hỏa hoạn, dịch bệnh; bảo đảm quốc phòng, an ninh, tham gia bình ổn thị trường,
góp phần ổn định kinh tế vĩ mô và thực hiện các nhiệm vụ đột xuất bức thiết khác
của nhà nước, do đó cần được đảm bảo bí mật. Số lượng, chất lương hàng dự trữ
quốc gia phải được đảm bảo trong tất cả các khâu nhập vào, bảo quản, xuất ra theo
tiêu chuẩn quy định. Nhà nước ban hành các tiêu chuẩn, quy chuẩn quốc gia, định
mức kinh tế kỹ thuật nhằm hướng dẫn và kiểm soát hoạt động dự trữ quốc gia, đảm
bảo an ninh, an toàn hàng dự trữ, tránh giảm phẩm chất, thất thoát ngân sách nhà
nước.
Công tác xuất hàng ra thực hiện cứu trợ, hỗ trợ, viện trợ theo các quyết định
của cấp có thẩm quyền phải được khẩn trương triển khai thực hiện nhằm ứng phó,
hỗ trợ kịp thời, đảm bảo tiết kiệm, hiệu quả, hoàn thành nhiệm vụ được giao.
1.2.2.4. Quỹ dự trữ quốc gia chỉ được sử dụng khi có quyết định của cấp có
thẩm quyền theo quy định của pháp luật.
Công tác quản lý hàng dự trữ quốc gia được quản lý tập trung thống nhất của
Chính phủ, có sự phân công, phân cấp đến các Bộ, Ngành, cơ quan dự trữ địa
phương. Mỗi cấp quản lý được quy định, phân công nhiệm vụ riêng và chịu trách
nhiệm với các quyết định của mình nhằm đảm bảo tăng cường công tác quản lý và
tính trách nhiệm trong công việc, tránh chồng chéo, thất thoát ngân sách nhà nước.
Căn cứ vào thẩm quyền đã được phân cấp, các Bộ, Ngành, cơ quan dự trữ sẽ quyết
định xuất quỹ dự trữ quốc gia để thực hiện nhiệm vụ theo đúng quy định.
1.2.3. Nội dung quản lý nhà nước về hàng dự trữ quốc gia
1.2.3.1 Xây dựng kế hoạch dự trữ quốc gia
- Xây dựng và chỉ dạo thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật, cơ chế,
chính sách, tạo hành lang pháp lý cho hoạt động xây dựng quản lý, sử dụng quỹ
dự trữ quốc gia:
Hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật dự trữ quốc gia nhằm tạo hành lang
pháp lý trong hoạt động dự trữ quốc gia, giúp quản lý dự trữ quốc gia ngày càng đi
14
vào nề nếp, chặt chẽ phát huy hiệu lực, hiệu quả của DTQG đối với sự ổn định phát
triển nền kinh tế và bảo đảm an ninh, quốc phòng. Các văn bản chỉ đạo, điều hành
luôn phải được nghiên cứu, xây dựng, cũng như sửa đổi, hoàn thiện đảm bảo đồng
bộ hệ thống văn bản pháp luật nói chung, phù hợp với điều kiện thực tiễn hoạt động,
không rắc rối, rườm rà, giúp giảm bớt thủ tục hành chính nhưng vẫn đảm bảo công
tác quản lý, sử dụng quỹ dự trữ quốc gia chặt chẽ, tiết kiệm, hiệu quả, cũng như đáp
ứng nhu cầu về thông tin báo cáo ngày càng cao của các cấp quản lý, nhằm nắm bắt
hoạt động dự trữ quốc gia một cách đầy đủ, nhanh chóng, góp phần đưa ra các
quyết định đúng đắn, kịp thời.
- Xây dựng và chỉ đạo thực hiện chiến lược dự trữ quốc gia
Dự trữ nhà nước là một dạng dự trữ đặc biệt trong nền kinh tế quốc dân và
hoạt động dự trữ là hoạt động không vì mục đích lợi nhuận, có vai trò quan trọng
đối với phát triển bền vững kinh tế- xã hội của đất nước. Để dự trữ nhà nước có hiệu
quả và bảo đảm những nhiệm vụ được giao, điều quan trọng là hoạt động dự trữ cần
phải được xây dựng và thực hiện theo chiến lược, kế hoạch dự trữ hàng năm và dài
hạn. Nhà nước có chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển dự trữ quốc gia phù
hợp với chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của đất nước
trong từng thời kỳ. Theo đó, chiến lược phát triển dự trữ quốc gia gắn liền với kế
hoạch phát triển kinh tế xã hội được Thủ tướng Chính phủ giao hàng năm.
Chiến lược phát triển kinh tế- xã hội chủ yếu ở tầm quốc gia, và được hiểu đầy
đủ là một hệ thống các phân tích, đánh giá và lựa chọn thể hiện quan điểm, tầm
nhìn, mục tiêu của một quá trình phát triển mong muốn, sự nhất quán về con đường
và các giải pháp cơ bản để thực hiện.
Phương thức quản lý bằng chiến lược giúp các nhà hoạch định chủ động và
kịp thời dự báo, tính toán và xác định cơ hội và thách thức, nhằm tận dụng và khai
thác triệt để cơ hội, giảm thiểu tác động tiêu cực của thách thức để thực hiện mục
tiêu phát triển kinh tế- xã hội trong tương lai.
Chiến lược cung cấp một tầm nhìn và khuôn khổ chung cho xây dựng và triển
khai các văn bản hoạch định ở các cấp thấp hơn. Chiến lược đóng vai trò là ngọn
đèn hải đăng trên biển, nó được coi là một định hướng, là cơ sở cho xây dựng chính
sách, kế hoạch ngắn hạn, trung hạn. Chiến lược cũng cấp tầm nhìn và khuôn khổ
15
tổng quát cho việc thực hiện các quan hệ hợp tác hay hội nhập quốc tế một cách chủ
động và có hiệu quả.
Trong khi chiến lược phát triển đóng vai trò định hướng xác định tầm nhìn dài
hạn thì kế hoạch phát triển kinh tế- xã hội là một công cụ quản lý và điều hành vĩ
mô nền kinh tế quốc dân, nó xác định một cách hệ thống những hoạt động nhằm
phát triển kinh tế xã hội theo những mục tiêu, chỉ tiêu và các cơ chế chính sách sử
dụng trong một thời kỳ nhất định.
Chiến lược dự trữ quốc gia được xây dựng bao gồm các nội dung:
+ Tổng mức dự trữ quốc gia trong từng thời kỳ;
+ Cơ cấu dự trữ quốc gia;
+ Danh mục, cơ cấu và mức dự trữ hàng dự trữ quốc gia;
+ Quy hoạch hệ thống kho chứa hàng dự trữ quốc gia;
+ Phát triển khoa học công nghệ phục vụ quản lý, bảo quản hàng dự trữ quốc gia;
Chiến lược dự trữ quốc gia là cơ sở quan trọng cho việc xây dựng, phát triển,
quản lý dự trữ quốc gia.
- Xây dựng và chỉ đạo thực hiện kế hoạch dự trữ quốc gia hàng năm, trung
hạn, dài hạn;
Hoạt động dự trữ quốc gia luôn được phát triển và đổi mới, phù hợp với tình
hình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước và tiến trình hội nhập quốc tế. Để dự
trữ quốc gia có hiệu quả và bảo đảm những nhiệm vụ được giao, điều quan trọng là
hoạt động dự trữ cần phải được xây dựng và thực hiện theo kế hoạch dự trữ hàng
năm và dài hạn.
Do tính chất đặc thù của ngành dự trữ quốc gia nên kế hoạch dự trữ quốc gia
nên kế hoạch dự trữ quốc gia có liên quan đến các đối tượng như: các mặt hàng dự
trữ quốc gia, mức dự trữ của các mặt hàng và hệ thống kho tàng để bảo quản hàng
dự trữ quốc gia. Nhằm hướng dẫn hoạt động dự trữ quốc gia có hiệu quả, kế hoạch
dự trữ quốc gia có nhiệm vụ:
- Xác định số lượng và giá trị của các mặt hàng dự trữ hợp lý, bảo đảm cân đối
cho nền kinh tế vĩ mô và bảo đảm đủ khả năng khắc phục những biến động bất lợi
cho nền kinh tế- xã hội, đất nước.
16
- Bố trí hệ thống kho dự trữ hợp lý, hiện đại, đồng bộ, tăng cường cơ sở vật
chất kỹ thuật, hạ tầng cơ sở và áp dụng thành tựu khoa học kỹ thuật trong công tác
bảo quản hàng dự trữ nhằm đáp ứng nhu cầu của dự trữ nhà nước.
- Tổ chức bộ máy quản lý gắn liền với cải cách hành chính để nâng cao hiệu
lực và hiệu quả của công tác quản lý dự trữ nhà nước.
Trên cơ sở các chỉ tiêu kế hoạch, chiến lược đã đặt ra, Nhà nước chỉ đạo các
cấp thực hiện nhập, xuất, bảo quản, xây dựng kho tàng, … theo quy định. Căn cứ
kết quả thực hiện để đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ, khó khăn, vướng mắc
gặp phải cũng như đường hướng chỉ đạo, rút kinh nghiệm trong giai đoạn và các
năm tiếp theo.
- Quy định hệ thống bộ máy quản lý trực tiếp hàng dự trữ quốc gia và việc
phối hợp của các cơ quan đó;
Qua các thời kỳ kinh tế xã hội khác nhau, Nhà nước sẽ quy định hệ thống bộ
máy quản lý hàng dự trữ quốc gia tại các vùng miền, địa bàn chiến lược phù hợp với
điều kiện kinh tế, an ninh, quốc phòng, cũng như đảm bảo mục tiêu đề ra, nâng cao
hiệu lực, hiệu quả của công tác quản lý dự trữ quốc gia. Các cấp quản lý triển khai
thực hiện nhiệm vụ do cấp trên giao, cũng như phân công công việc cho cấp dưới
theo thẩm quyền đã được phân cấp. Nhà nước xây dựng hệ thống quản lý tại các
vùng chiến lược, giúp Nhà nước nắm bắt cụ thể đặc điểm của từng địa phương,
quản lý hệ thống kho tàng, hàng dự trữ trên địa bàn, thực hiện các nhiệm vụ nhập,
xuất, bảo quản hàng dự trữ, sẵn sàng phối hợp với các địa phương thực hiện xuất
cứu trợ, hỗ trợ, viện trợ khi có quyết định của các cấp có thẩm quyền, đồng thời
thực hiện các chế độ báo cáo tình hình triển khai nhiệm vụ được giao với cấp quản
lý trực tiếp giúp Nhà nước nắm bắt kịp thời, đưa ra chỉ đạo, đường hướng cho
những nhiệm vụ tiếp theo hoặc giúp giải quyết kịp thời các vướng mắc, khó khăn
xảy ra .
Các đơn vị dự trữ quốc gia đều nằm trong tổng thể hệ thống dự trữ quốc gia,
thực hiện nhiệm vụ chung do Nhà nước giao. Các đơn vị dự trữ quốc gia không chỉ
thực hiện nhiệm vụ trong địa bàn, địa lý của đơn vị mình, mà có thể mua, bán, xuất
cứu trợ, viện trợ trên địa bàn các địa phương khác. Ngoài ra, trong trường hợp cần
thiết, cần thực hiện nhập, xuất trong nội bộ ngành dự trữ nhằm thuận lợi, kịp thời
17
khi thực hiện nhiệm vụ, do đó việc phối hợp giữa các đơn vị quản lý hàng dự trữ
quốc gia vô cùng cần thiết. Nhà nước có các văn bản nhằm yêu cầu, hướng dẫn các
đơn vị nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả, tiết kiệm chi phí, thời gian, hoàn thành
nhiệm vụ chung được giao của toàn ngành.
- Xây dựng tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về hàng dự trữ quốc
gia, định mức kinh tế, kỹ thuật, làm cơ sở cho công tác quản lý nhà nước và bảo
quản hàng dự trữ quốc gia
Hàng dự trữ quốc gia nhập vào, bảo quản, xuất ra phải luôn đảm bảo yêu cầu
về loại hàng, số lượng, chất lượng, phải đáp ứng tiêu chuẩn do nhà nước quy định.
Mặt khác, trong quá trình bảo quản, toàn bộ kết cấu kho tàng, quy trình bảo quản,
các vật tư sử dụng đều phải thực hiện theo đúng quy chuẩn quốc gia, định mức kinh
tế, kỹ thuật để đảm bảo chất lượng hàng dự trữ khi xuất ra, cũng như đảm bảo mức
hao kho không vượt quá định mức quy định.
Khí hậu, môi trường biến đổi theo từng giai đoạn, theo các năm, công nghệ
bảo quản hàng dự trữ luôn được cập nhật, thay đổi để đáp ứng yêu cầu về áp dụng
tiến bộ khoa học công nghệ vào công tác nhập, xuất, bảo quản hàng dự trữ quốc gia
nâng cao chất lượng hàng dự trữ, tiết kiệm kinh phí cho ngân sách, do đó việc xây
dựng các tiêu chuẩn, quy chuẩn, định mức kinh tế kỹ thuật luôn được chú trọng, xây
dựng một cách đồng bộ, phù hợp với từng loại hàng dự trữ, từng loại công nghệ áp
dụng nhập, xuất bảo quản.
Các văn bản quy định tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, định mức kinh tế, kỹ
thuật đóng vai trò hướng dẫn các bước, công đoạn phải thực hiện, chỉ tiêu đạt tiêu
chuẩn một cách thống nhất trong toàn hệ thống dự trữ quốc gia khi thực hiện nhập,
xuất, bảo quản để đạt được chất lượng hàng dự trữ theo yêu cầu. Đây cũng là cơ sở
để Nhà nước thực hiện quản lý đồng bộ chất lượng hàng dự trữ quốc gia tránh thất
thoát ngân sách nhà nước.
1.2.3.2 Tổ chức thực hiện dự trữ quốc gia
Theo Luật dự trữ quốc gia: “Hoạt động dự trữ quốc gia là việc xây dựng, thực
hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, dự toán ngân sách về dự trữ quốc gia; xây
dựng hệ thống cơ sở vật chất - kỹ thuật; quản lý, điều hành và sử dụng dự trữ quốc
gia”. Hoạt động DTQG có những đặc điểm riêng với các nội dung chủ yếu sau:
18
Mua, bán hàng dự trữ quốc gia
Mua, bán hàng DTQG được thực hiện trong các trường hợp sau:
- Mua bù cho hàng đã xuất (xuất bán luân phiên đổi hàng; xuất cứu nạn, cứu
trợ và xuất vì lý do khác);
- Mua tăng lượng hàng DTQG theo quyết định của cấp có thẩm quyền.
Bán hàng DTQG được thực hiện trong các trường hợp:
- Bán luân phiên đổi do hàng DTQG đã hết hạn lưu kho mà chưa xuất cứu
nạn, cứu trợ, viện trợ... do đó, phải bán luân phiên đổi hàng để đảm bảo chất lượng
của hàng dự trữ;
- Bán thanh lý, do hàng DTQG bị giảm phẩm chất (chất lượng) trong quá trình
bảo quản; giảm chất lượng do thời tiết, thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh... giảm do bảo
quản không tuân thủ đúng quy trình, tiêu chuẩn kỹ thuật.
Mua bán hàng DTQG khác với việc mua bán hàng của các doanh nghiệp. Mua bán
hàng DTQG được thực hiện theo nguyên tắc:
- Đúng kế hoạch, đúng quyết định của cấp có thẩm quyền hoặc theo đúng hợp
đồng thuê bảo quản theo đơn đặt hàng của nhà nước tại thời điểm do nhà nước quy
định.
- Đúng chủng loại, số lượng, chất lượng, giá cả, địa điểm quy định.
- Nhập, xuất đúng thủ tục theo quy định của pháp luật.
Giá mua, bán hàng DTQG phải đảm bảo mua hàng kịp thời và chất lượng tốt,
bán đúng lúc và tránh thất thoát;
Bảo quản hàng dự trữ quốc gia
Bảo quản hàng DTQG giữ vai trò quan trọng trong hoạt động DTQG trên các
mặt: Bảo vệ bí mật Nhà nước về DTQG (loại hàng, số lượng, nơi để hàng dự trữ...);
bảo đảm an toàn hàng DTQG; kịp thời đáp ứng các yêu cầu cứu hộ, cứu nạn, hỗ trợ,
viện trợ cấp thiết.
Để bảo quản hàng DTQG cần phải đảm bảo các điều kiện sau:
Thứ nhất, về kho tàng phải xây dựng đúng tiêu chuẩn, đảm bảo chất lượng
hàng DTQG trong thời gian dự trữ theo tiêu chuẩn, định mức kinh tế - kỹ thuật
được cơ quan có thẩm quyền quy định.
19
Thứ hai, thực hiện bảo quản hàng DTQG theo quy chuẩn kỹ thuật và chi phí
theo định mức kinh tế - kỹ thuật và thời gian bảo quản hàng DTQG.
Thứ ba, đội ngũ cán bộ, công chức có trình độ nghiệp vụ chuyên môn được đào
tạo chuyên sâu theo từng mặt hàng cụ thể và tinh thần trách nhiệm cao.
Thứ tư, tăng cường nghiên cứu áp dụng khoa học và công nghệ bảo quản theo
hướng CNH, HĐH trong bảo quản đối với từng mặt hàng phù hợp với điều kiện
thực tế ở nước ta.
Trong quá trình bảo quản hàng DTQG, cán bộ thủ kho làm công tác bảo quản
phải thường xuyên kiểm tra (thực hiện theo chế độ quy định) để kịp thời phát hiện
các hiện tượng hàng DTQG suy giảm chất lượng (mối, mọt, ẩm ướt...), mất mát,
hao hụt... báo cáo người đứng đầu đơn vị, để báo cáo cấp có thẩm quyền khắc phục
và xử lý.
Các trường hợp hàng DTQG suy giảm chất lượng có tỷ lệ hao hụt vượt định
mức hoặc để xẩy ra tổn thất, mất mát v.v... do lỗi của thủ kho bảo quản gây nên thì
phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo quy định hiện hành của Nhà nước.
Xuất hàng dự trữ quốc gia để thực hiện nhiệm vụ nhà nước giao
Hàng DTQG xuất thực hiện nhiệm vụ nhà nước giao trong các trường hợp
dùng để cứu hộ, cứu nạn, cứu trợ, cứu đói cho các địa phương bị ảnh hưởng của
thiên tai thời tiết và thực hiện viện trợ cho các nước; các công việc phải thực hiện
gồm:
- Công tác chỉ đạo, điều hành giao nhận hàng dự trữ giữa đơn vị DTQG với
đối tượng được hỗ trợ, cứu nạn, viện trợ (công tác chỉ đạo, điều hành diễn ra ở tất cả
các cấp từ trung ương, tỉnh thành phố đến huyện, thị xã, và cuối cùng là cấp xã).
Đây là công việc diễn ra từ khởi đầu đến khi kết thúc việc giao nhận hàng.
- Xuất hàng tại cửa kho dự trữ: phải thực hiện kiểm tra mặt hàng, số lượng,
quy cách, chất lượng, bốc hàng từ kho lên cân đo, bốc hàng lên phương tiện vận tải.
- Vận chuyển hàng từ kho đến nơi giao nhận hàng, khi giao nhận hàng phải
bốc dỡ hàng từ phương tiện vận chuyển đến nơi để hàng.
- Để đảm bảo an toàn hàng hóa trong quá trình vận chuyển phải có bao bì mới
đóng gói hoặc thay thế và dự phòng.
20
- Xuất hàng DTQG viện trợ theo quyết định của Chính phủ phải đảm bảo hàng
hóa, bao bì và vận chuyển theo thông lệ quốc tế và được giao hàng trực tiếp tại
nước nhận viện trợ đảm bảo số lượng, chất lượng, bao bì, vận chuyển có chất lượng
tốt và tổ chức vận chuyển, giao nhận theo quy định hiện hành của Luật pháp Việt
Nam và thông lệ Quốc tế.
Xuất hàng dự trữ quốc gia bán luân phiên đổi hàng theo kế hoạch
Mỗi loại hàng DTQG được dự trữ trong kho theo thời hạn nhất định, theo quy
chuẩn kỹ thuật do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành. Hết thời gian bảo quản
dự trữ phải xuất bán để nhập hàng mới gọi là xuất hàng DTQG luân phiên đổi hàng
theo kế hoạch. Bán luân phiên đổi hàng DTQG được thực hiện theo phương thức đấu
giá.
- Xuất hàng DTQG thực hiện nhiệm vụ nhà nước giao cho hoặc xuất luân phiên
đổi hàng, các kho dự trữ đều phải thực hiện mọi công việc theo quy trình công nghệ
về nhập hàng mới. Các công việc đó là:
+ Vệ sinh sạch sẽ toàn bộ nhà kho, trang thiết bị, công cụ vật tư... phục vụ cho xuất
hàng, kiểm tra cụ thể các trang thiết bị đó để phục vụ cho công tác xuất hàng.
+ Kiểm tra, làm mẫu xác định chất lượng hàng hóa trong kho, lô hàng chuẩn bị
xuất.
+ Kiểm tra danh mục, quy cách, số lượng, chất lượng, hồ sơ tài liệu có liên quan
đến số hàng dự trữ xuất kho.
+ Bố trí người kiểm tra giám sát tại các điểm kho xuất hàng, chuẩn bị sẵn sàng
nhân lực, phương tiện và các điều kiện cần thiết để tổ chức bốc xếp hàng lên phương
tiện vận chuyển.
Điều chuyển nội bộ hàng dự trữ quốc gia
Hàng DTQG trong thời gian dự trữ cần thiết phải điều chuyển nội bộ trong
phạm vi hệ thống kho của toàn ngành. Điều chuyển nội bộ hàng DTQG được thực
hiện trong các trường hợp sau:
- Điều chuyển hàng DTQG ra khỏi vùng bị thiên tai, hỏa hoạn, hoặc không an
toàn;
- Điều chuyển hàng DTQG đến nơi cần thiết để sẵn sàng phục vụ cho các
nhiệm vụ phát sinh;