Tải bản đầy đủ (.pdf) (10 trang)

Thực trạng hoạt động và các yếu tố liên quan của nhân viên y tế thôn bản (ấp) tại huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh năm 2013

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (377.95 KB, 10 trang )

Nghiên cứu Y học 

Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 18 * Phụ bản của Số 6 * 2014

 

THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN  
CỦA NHÂN VIÊN Y TẾ THÔN BẢN (ẤP) TẠI HUYỆN CHÂU THÀNH, 
TỈNH TÂY NINH NĂM 2013 
 Trương Thị Tuyết Nhung*, Lê Vinh**  

 TÓM TẮT 
Đặt vấn đề: Tại Việt Nam, mạng lưới y tế cơ sở trong đó có nhân viên y tế thôn bản (NVYTTB) là nền tảng 
của hệ thống y tế quốc gia, đóng vai trò quan trọng trong công tác chăm sóc sức khỏe ban đầu cho người dân. 
Tuy nhiên, hiệu quả hoạt động của mạng lưới y tế thôn, bản trong cả nước vẫn chưa cao. Tại huyện Châu Thành, 
hiện nay 100% các ấp/khu phố trong huyện đều có NVYTTB phục vụ, nhưng cho tới nay chưa có nghiên cứu 
nào đánh giá hoạt động của mạng lưới này.  
Mục tiêu: Đánh giá thực trạng hoạt động và các yếu tố liên quan đến hoạt động của nhân viên y tế thôn bản 
(ấp) tại huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh. 
Phương  pháp:  Nghiên  cứu  mô  tả  cắt  ngang  kết  hợp  định  lượng  và  định  tính  được  tiến  hành  từ  tháng 
12/2012‐9/2013 trên 75 NVYTTB và 223 nhân viên Trạm Y tế, cán bộ Ủy Ban nhân dân xã, Hội Liên hiệp Phụ 
nữ, Ban quản lý ấp sống tại huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh.  
Kết  quả:  Tổng cộng có 29 hoạt động của NVYTTB theo thông tư 39/2010/TT‐BYT được khảo sát trong 
nghiên cứu này. Hầu hết các hoạt động đều có tỷ lệ nhân viên thực hiện cao (> 90%) trừ các hoạt động giám sát 
chất lượng nguồn nước (36%), hỗ trợ sinh đẻ (5,3%), sơ cấp cứu (69,3%), hướng dẫn trồng thuốc nam (73,3%). 
Các yếu tố phụ cấp nghề, thời gian lãnh phụ cấp, thời gian Trạm Y tế giám sát, số ngày làm việc đều có mối liên 
quan có ý nghĩa thống kê với việc thực hiện hoạt động của nhân viên. 
Kết luận: Hầu hết các hoạt động được quy định theo Thông tư 39/2010/TT‐BYT đều được NVYTTB thực 
hiện tốt. Các ban ngành đoàn thể liên quan cần đề ra chính sách nhằm cải thiện hơn chế độ đãi ngộ, cách thức 
quản lý đối với NVYTTB giúp họ gắn bó và hoạt động có hiệu quả hơn trong công tác y tế thôn bản. 
Từ khóa: Nhân viên y tế thôn bản, huyện Châu Thành, thực hiện hoạt động, các yếu tố liên quan 



ABSTRACT 
COMMUNITY HEALTH WORKERS: A COMPREHENSIVE REVIEW ON ACTIVITY PERFORMANCE 
AND RELATED FACTORS  
Truong Thi Tuyet Nhung, Le Vinh * Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 18 ‐ Supplement of No 6 ‐ 2014: 737 ‐ 745 
Background:  In Vietnam, primary health care system, including community health workers, is the corner 
stone of national health care system and plays a vital role in taking care of public health. However, the efficacy of 
system is not quite high. In Chau Thanh district, there are now 100% of communes having community health 
workers  cooperating  with  health  care  stations.  The  evaluation  of  their  performance,  however,  has  not  been 
conducted yet.  
Objectives:  To  evaluate  performance  and  related  factors  of  community  health  workers  in  Chau  Thanh 
district, Tay Ninh province.  
Methods:  A  cross‐sectional  study  conducted  from  December  2012  to  September  2013  and  recruited  75 
community  health  workers  for  face‐to  face  interview  and  223  health  care  managers  and  workers  of  People’s 
Committees, Women Associations and health care stations for in‐depth interview. The questionnaire for face‐to 
* Trung tâm Y tế huyện Châu Thành, Tây Ninh  ** Viện Y tế Công cộng TP. HCM 
Tác giả liên lạc: BS. CKII Trương Thị Tuyết Nhung  ĐT: 0984110669  Email:  

736

Chuyên Đề Y Tế Công Cộng 


Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 18 * Phụ bản của Số 6 * 2014 

Nghiên cứu Y học

 
face interview was developed on the basis of Circular 39/2010/TT‐BYT. 
Results: Twenty‐nine activities based on the Circular 39/2010/TT‐BYT were evaluated in the study. Most of 

activities were well performed (> 90%), except for surveillance of water sources (36%), childbirth delivery support 
(5.3%),  first  aid  (69.3%),  instructions  of  planting  traditional  herbs  (73.3%).  Factors  including  allowances, 
duration of receiving allowances, time interval of being monitored, and number of working days had statistically 
significant associations with performance of community health workers.  
Conclusion:  The activity performance of community health workers in terms of the Circular 39/2010/TT‐
BYT  was  generally  good.  Health  care  managers  should  justify  policies  and  management  approaches  so  that 
community health workers could maintain and enhance their performance.  
Keywords: Community health workers, Chau Thanh district, activity performance, related factors 
Một  số  lý do  có thể  đưa  đến hiện  tượng  này  là 
ĐẶT VẤN ĐỀ 
nhân viên y tế thôn bản bỏ việc vì mức phụ cấp 
Tại Việt Nam, mạng lưới y tế cơ sở là nền 
eo hẹp, NVYTTB được cho đi đào tạo nhưng về 
tảng  của  hệ  thống  y  tế  quốc  gia,  đóng  vai  trò 
địa phương lại không thể áp dụng hoặc chuyển 
quan  trọng  trong  công  tác  chăm  sóc  sức  khỏe 
sang một công việc khác ổn định hơn(7). 
ban  đầu  cho  người  dân.  Theo  Chỉ  thị  06‐
Tại  tỉnh  Tây  Ninh,  việc  phát  triển  và  hoàn 
CT/TW  ngày  22/01/2002  của  Ban  chấp  hành 
thiện mạng lưới y tế thôn ấp trong những năm 
trung  Ương(1)  về  củng  cố  và  hoàn  thiện  mạng 
qua  đã  đạt  được  một  số  thành  công  nhất  định. 
lưới  y  tế  cơ  sở  thì  mạng  lưới  y  tế  cơ  sở  bao 
Hiện  nay,  100%  khu  phố/ấp  của  tỉnh  Tây  Ninh 
gồm y tế thôn, bản, xã, phường, quận, huyện, 
đều có NVYTTB phục vụ. Mặc dù vậy, việc đánh 
thị  xã  phải  bảo  đảm  cho  mọi  người  dân  được 
giá hiệu quả hoạt động của mạng lưới này chưa 
chăm sóc sức khoẻ cơ bản với chi phí thấp, góp 

đầy đủ, do đó các cấp quản lý vẫn chưa đánh giá 
phần thực hiện công bằng xã hội, xoá đói giảm 
được 
việc  triển  khai  chương  trình  phát  triển 
nghèo, xây dựng nếp sống văn hoá, trật tự an 
mạng lưới y tế thôn ấp trên địa bàn tỉnh có đạt 
toàn xã hội, tạo niềm tin của nhân dân với chế 
được mục tiêu đề ra hay không. 
độ  xã  hội  chủ  nghĩa.  Trong  mạng  lưới  này, 
Nghiên  cứu  này  được  tiến  hành  tại  huyện 
nhân  viên  y  tế  thôn  bản  (NVYTTB)  là  một 
Châu  Thành,  tại  thời  điểm  hiện  nay  100%  các 
thành  phần  không  thể  thiếu  trong  việc  triển 
ấp/khu phố trong huyện đều có NVYTTB phục 
khai công tác y tế tại các cấp cơ sở.  
vụ. Tuy nhiên, hiện nay vẫn chưa có nghiên cứu 
Trong  những  năm  gần  đây,  nhận  thấy  tầm 
nào đánh giá hoạt động của mạng lưới này mặc 
quan  trọng  của  NVYTTB  đối  với  công  tác  y  tế 
dù trong thực tế nhiều báo cáo, số liệu cho thấy 
cấp cơ sở, Chính phủ không ngừng ban hành các 
hoạt  động  của  mạng  lưới  không  hiệu  quả  như 
chính  sách,  chỉ  thị  nhằm  củng  cố  nhân  lực  và 
mong đợi.  
nâng  cao  trình  độ  chuyên  môn  cho  lực  lượng 
này  chẳng  hạn  Nghị  quyết  37/1996/CP(6)  và 
Quyết  định  35/2001/QĐ‐TTg  về  “Định  hướng 
chiến lược công tác chăm sóc và bảo vệ sức khỏe 
nhân  dân  đến  năm  2010”,  Thông  tư  số 
39/2010/TT‐BYT  ban  hành  năm  2010(3)  quy  định 

tiêu chuẩn, chức năng, nhiệm vụ của NVYTTB, 
bộ “Tiêu chí quốc gia về y tế xã giai đoạn 2011‐
2020”(4). Tuy nhiên, các báo cáo, đánh giá trên cả 
nước  cho  thấy  hiệu  quả  hoạt  động  của  mạng 
lưới y tế thôn, bản trong cả nước vẫn chưa cao. 

Chuyên Đề Y Tế Công Cộng 

Mục tiêu nghiên cứu 
Xác  định  tỷ  lệ  NVYTTB  (ấp)  thực  hiện  các 
hoạt  động  được  quy  định  theo  thông  tư 
39/2010/TT‐ BYT. 
Xác  định  mối  liên  quan  giữa  việc  thực  hiện 
các hoạt động và các yếu tố bao gồm đặc điểm 
dân  số‐xã  hội  học,  được  đào  tạo  tập  huấn,  phụ 
cấp  hoạt  động,  sự  hỗ  trợ  của  ban  ngành  đoàn 
thể, giao ban định kỳ với Trạm Y tế xã, giám sát 

737


Nghiên cứu Y học 

Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 18 * Phụ bản của Số 6 * 2014

 
Đặc tính

của Trạm Y tế xã. 


PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU  
Nghiên cứu gồm hai giai đoạn: giai đoạn 1: 
khảo  sát định  lượng  thông  qua  phỏng  vấn  trực 
tiếp  bằng  bộ  câu  hỏi  bán  cấu  trúc  75  NVYTTB 
(ấp)  tại  75  ấp  trên  địa  bàn  huyện.  Giai  đoạn  2 
khảo  sát  định  tính  thông  qua  phỏng  vấn  sâu 
bằng bộ câu hỏi mở 104 nhân viên của 15 Trạm 
Y tế xã (TYT) (nhân viên và trưởng trạm), 18 chủ 
tịch/phó  chủ  tịch  Ủy  Ban  nhân  dân  xã,  17  đại 
diện Hội Liên hiệp Phụ nữ, 84 trưởng ấp và cán 
bộ ấp. Tổng cộng giai đoạn 2 khảo sát 223 nhân 
viên và cán bộ quản lý trên địa bàn huyện. 
Bộ  câu  hỏi  bán  cấu  trúc  được  thiết  kế  dựa 
trên  Thông  Tư  39/2010/TT‐BYT  gồm  6  phần: 
thông  tin  chung,  hoạt  động  tuyên  truyền  giáo 
dục  sức  khỏe  tại  cộng  đồng,  hoạt  động  chuyên 
môn y tế tại cộng đồng, hoạt động chăm sóc sức 
khỏe bà mẹ trẻ em và kế hoạch hóa gia đình, các 
hoạt động khác mà NVYTTB đã thực hiện trong 
năm  2012  và  các  yếu  tố  ảnh  hưởng  hoạt  động 
của NVYTTB.  
Bộ câu hỏi mở gồm 6 câu hỏi liên quan đến 
cách đánh giá của cán bộ quản lý về hoạt động 
chung  của  NVYTTB,  về  cách  quản  lý,  cơ  chế 
chính sách dành cho NVYTTB, hỗ trợ của các tổ 
chức đối với NVYTTB, chính sách tập huấn nâng 
cao năng lực của NVYTTB. 

KẾT QUẢ 
Đặc điểm mẫu nghiên cứu 

Bảng 1: Đặc điểm của mẫu nghiên cứu (n = 75) 
Đặc tính
Tuổi
Giới tính
Dân tộc
Trình độ
học vấn

738

 

Tần số Tỷ lệ (%)
< 30
6
8,0
30-49
32
42,7
≥ 50
37
49,3
Nữ
55
73,3
Nam
20
26,7
Kinh
73

97,3
Hoa
2
2,7
Không biết đọc,viết
2
2,7
Cấp I
4
5,3
Cấp II
31
41,3
Cấp III
35
46,7
3
4,0
Đại học/cao đẳng/trung

< 30
Tuổi
30-49
≥ 50
cấp
Điều dưỡng sơ cấp
Trình độ
chuyên môn
Y tế thôn bản
Dược tá

Dược sĩ trung cấp
Y sĩ đa khoa
Điều dưỡng trung cấp
Sống với vợ/chồng
Tình trạng
hôn nhân
Độc thân
Ly dị/ly thân
≤ 2 người
Số người
trong gia đình
3-4 người
≥ 5 người
Nông dân
Làm nghề
khác ngoài
Nội trợ
NVYTTB
Buôn bán
Về hưu/thất nghiệp
Cán bộ/viên chức
Công nhân
Hộ không nghèo
Tình trạng
kinh tế của gia
Hộ nghèo
đình
Hộ cận nghèo
Số ngày làm việc NVYTTB (TB ± ĐLC)


Tần số Tỷ lệ (%)
6
8,0
32
42,7
37
49,3
36
48,0
21
28,0
6
8,0
5
6,7
4
5,3
3
4,0
59
78,7
9
12,0
7
9,3
21
28,0
48
64,0
6

8,0
27
36,0
20
26,7
9
25,3
5
6,7
3
4,0
1
1,3
66
88,0
5
6,7
4
5,3
11,9 ± 2,8

Về độ tuổi, 49,3% NVYTTB có độ tuổi ≥ 50 và 
42,7% có độ tuổi từ 30‐49. Nữ có tỷ lệ nhiều hơn 
nam  (73,3%  so  với  26,7%).  Hầu  hết  (97,3%)  các 
đối  tượng  đều  là  người  Kinh  chỉ  có  2,7%  là 
người Hoa. Trình độ học vấn của các đối tượng 
chủ  yếu  là  cấp  III  (46,7%)  và  cấp  II  (41,3%).  Về 
trình độ chuyên môn, 48% các NVYTTB là điều 
dưỡng  sơ  cấp,  28%  là  y  tế  thôn  bản.  Các 
NVYTTB có trình độ khác chiếm tỷ lệ không cao. 

Có  78,7%  các  đối  tượng  hiện  đang  sống  với 
vợ/chồng  và  chỉ  có  9,3%  là  đã  ly  dị/ly  thân.  Số 
thành  viên  trong  gia  đình  của  NVYTTB  từ  3‐4 
người  chiếm  tỷ  lệ  64%  và  ≤  2  người  là  28%. 
Ngoài làm NVYTTB, 36% là nông dân, 26,7% đối 
tượng  là  nội  trợ,  25,3%  là  buôn  bán.  Tỷ  lệ 
NVYTTB là công nhân hoặc cán bộ viên chức rất 
thấp chỉ có 1,3% và 4%. Về tình trạng kinh tế gia 
đình  88%  đối  tượng  thuộc  diện  gia  đình  thoát 
nghèo, còn 12% còn lại thuộc diện hộ nghèo hoặc 

Chuyên Đề Y Tế Công Cộng 


Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 18 * Phụ bản của Số 6 * 2014 

Nghiên cứu Y học

 
hộ  cận  nghèo.  Số  ngày  làm  việc  trung  bình  với 
vai trò NVYTTB của các đối tượng là 11,9 ± 2,8. 

Hoạt động của nhân viên y tế thôn bản 
Bảng 2: Hoạt động của nhân viên y tế thôn bản (n 
=75) 
Biến số

Tần số

Tuyên truyền kiến thức về sức khoẻ

Hướng dẫn người dân phòng chống dịch
bệnh
Vận động người dân thực hiện KHHGĐ
Tư vấn các biện pháp KHHGĐ
Hướng dẫn các biện pháp theo dõi, chăm
sóc sức khoẻ trẻ em và phòng chống suy
dinh dưỡng trẻ em < 5 tuổi
Báo cáo hoạt động cho trạm y tế xã
Vận động sản phụ đi khám thai
Hướng dẫn người dân chăm sóc sức khoẻ
Tham gia thực hiện các chương trình y tế
Tham gia báo cáo vụ dịch bệnh
Tham gia phong trào y tế tại địa phương
Tham gia giám sát vụ dịch bệnh
Tham gia phát hiện vụ dịch bệnh
Thực hiện chăm sóc một số bệnh thường
gặp
Hướng dẫn chăm sóc người mắc bệnh
không lây tại nhà
Tham gia giám sát công trình vệ sinh hộ gia
đình
Tham gia giám sát thực hiện an toàn vệ
sinh thực phẩm
Hướng dẫn chăm sóc bà mẹ và trẻ sơ sinh
tại nhà trong 6 tuần đầu sau sinh
Theo dõi bà mẹ và trẻ sơ sinh tại nhà trong
6 tuần đầu sau sinh
Vận động người dân trồng thuốc nam tại gia
đình
Cung cấp và hướng dẫn sử dụng bao cao

su, viên thuốc tránh thai
Hướng dẫn người dân trồng thuốc nam tại
gia đình
Được cấp phát túi y tế thôn bản (ấp)
Đăng ký quản lý thai cho sản phụ
Thực hiện vụ sơ cấp cứu ban đầu
Tham gia giám sát công trình vệ sinh nơi
công cộng
Tham gia giám sát chất lượng nguồn nước
Hỗ trợ sinh thường cho sản phụ
Xử trí sinh rơi

75
75

Tỷ lệ
(%)
100
100

75
75
75

100
100
100

75
75

74
74
72
71
71
70
68

100
100
98,7
98,7
96,0
94,7
94,7
93,3
90,7

68

90,7

66

88,0

65

86,7


61

81,3

60

80,0

60

80,0

59

78,7

59

78,7

55
55
52
37

73,3
74,3
69,3
49,3


27
4
2

36,0
5,3
2,7

Đối  với  các  hoạt  động  tuyên  truyền,  phổ 
biến  kiến  thức  thì  tỷ  lệ  NVYTTB  thực  hiện  các 

Chuyên Đề Y Tế Công Cộng 

hoạt động tuyên truyền, phổ biến kiến thức cho 
người dân hầu hết đều đạt 100%. Có 98,7% nhân 
viên có hướng dẫn người dân cách chăm sóc sức 
khỏe trong đó các biện pháp phòng chống bệnh 
truyền nhiễm được nhân viên hướng dẫn người 
dân  thực  hiện  nhiều  nhất  (69,3%).  Tỷ  lệ  nhân 
viên  hướng  dẫn  người  dân  phòng  chống  dịch 
bệnh đạt 100%. Tỷ lệ nhân viên có vận động và 
hướng  dẫn  người  dân  thực  hiện  các  biện  pháp 
KHHGĐ cũng đạt 100%.  
Đối với các hoạt động chuyên môn y tế, tỷ lệ 
nhân viên tham gia phát hiện vụ dịch bệnh đạt 
93,3%.  Tỷ  lệ  nhân  viên  tham  gia  giám  sát  dịch 
bệnh cũng rất cao đạt 94,7% trong đó chủ yếu là 
giám  sát  bệnh  truyền  nhiễm  (93%).  Tỷ  lệ  nhân 
viên tham gia giám sát nguồn nước và giám sát 
công trình vệ sinh nơi công cộng có tỷ lệ thấp chỉ 

có 36% và 49,3%. Các hoạt động còn lại bao gồm 
giám sát công trình vệ sinh hộ gia đình, giám sát 
thực hiện ATTP, và tham gia phong trào y tế tại 
địa phương có tỷ lệ đạt cũng khá cao (lần lượt là 
88%, 86,7% và 94,7%).  
Đối với hoạt động chăm sóc sức khỏe bà mẹ 
và  trẻ  em,  100%  nhân  viên  đã  đi  vận  động  sản 
phụ  khám  thai  tại  cơ  sở  y  tế.  Tỷ  lệ  nhân  viên 
đăng  ký  quản  lý  thai  sản  cho  sản  phụ  chỉ  đạt 
74,3%.  Tỷ  lệ  nhân  viên  thực  hiện  hỗ  trợ  đẻ 
thường và đẻ rớt rất thấp chỉ đạt 5,3% và 2,7%. 
Tỷ lệ nhân viên theo dõi bà mẹ và trẻ sơ sinh tại 
nhà  đạt 80%.  Tỷ  lệ  nhân  viên hướng  dẫn  chăm 
sóc bà mẹ và trẻ sơ sinh tại nhà đạt 81,3%. Tỷ lệ 
nhân  viên  hướng  dẫn  các  biện  pháp  theo  dõi, 
chăm sóc sức khoẻ trẻ và phòng chống suy dinh 
dưỡng trẻ < 5 tuổi đạt tuyệt đối 100%. Tỷ lệ nhân 
viên cung cấp và hướng dẫn sử dụng bao cao su, 
viên thuốc tránh thai đạt 78,7%.  
Đối  với  các  hoạt  động  khác,  kết  quả  cho 
thấy  100%  nhân  viên  đều  báo  cáo  hoạt  động 
cho TYT xã. 98,7% nhân viên đều tham gia các 
chương  trình  y  tế  do  TYT  quản  lý.  Các  hoạt 
động  chăm  sóc  một  số  bệnh  thông  thường, 
hướng  dẫn  chăm  sóc  người  mắc  bệnh  xã  hội 
và  vận  động  người  dân  trồng  thuốc  nam  tại 

739



Nghiên cứu Y học 

Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 18 * Phụ bản của Số 6 * 2014

 
gia đình cũng có tỷ lệ khá cao (90,7%, 90,7% và 
80%).  Các  hoạt  động  còn  lại  là  hướng  dẫn 

người  dân  trồng  thuốc  nam  là  78,7%,  và  thực 
hiện sơ cấp cứu ban đầu đạt 69,3%. 

Các đặc điểm công tác của nhân viên y tế thôn bản  
Bảng 3: Các đặc điểm công tác của nhân viên y tế thôn bản (n=75) 
Biến số
Được trung tâm y tế huyện tập huấn
Được trạm y tế xã tập huấn
Giao ban với trạm y tế xã
Một tháng một lần
Thời gian giao ban
với trạm y tế xã
Một quý một lần
Trạm y tế giám sát hoạt động của NVYTTB
Một tháng một lần
Thời gian giám sát
của trạm y tế xã
Một quý một lần
Nhận sự giúp đỡ của trưởng ấp trong công tác
Nhận được sự giúp đỡ của ban ngành, đoàn thể, hội
249.000 đ/tháng
Hưởng phụ cấp

nhân viên y tế thôn bản
262.500 đ/tháng
315.000 đ/tháng
415.000 đ/tháng
525.000 đ/tháng
Hàng tháng
Thời gian được lãnh phụ cấp
nhân viên y tế thôn bản
Hàng quý

Tỷ lệ nhân viên được trung tâm y tế huyện 
tập huấn đạt 97,3% và tỷ lệ nhân viên được TYT 
xã  tập  huấn  đạt  100%.  Có  100%  nhân  viên  đều 
được giao ban với trạm y tế xã và thời gian giao 
ban  chủ  yếu  là  hàng  tháng  (97,3%).  Tỷ  lệ  nhân 
viên được TYT giám sát cũng đạt 100% với thời 
gian giám sát chủ yếu là hàng quý (52%). Tỷ lệ 

Tần số
73
75
75
73
2
75
36
39
71
63
1

4
35
1
34
9
66

Tỷ lệ (%)
97,3
100
100
97,3
2,7
100
48,0
52,0
94,7
85,1
1,3
5,4
46,7
1,3
45,3
12,0
88,0

nhân viên nhận được sự trợ giúp của trưởng ấp 
và  các  ban  ngành,  đoàn  thể,  hiệp  hội  cũng  khá 
cao  lên  đến  94,7%  và  85,1%.  Về  phụ  cấp  công 
việc, 45,3% nhận phụ cấp là 525.000 đ/tháng và 

46,7%  nhận  315.000  đ/tháng.  Phụ  cấp  của  nhân 
viên chủ yếu được trả hàng quý (88%).  

 Mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa hoạt động và các yếu tố khảo sát trong nghiên cứu 
Bảng 4: Các mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa hoạt động và các yếu tố khảo sát (n = 75) 
Tham gia Tham gia
phát hiện giám sát
dịch bệnh vụ dịch
Số ngày
làm việc
1 tuần
2 tuần
> 2 tuần
Thời gian
TYT xã
giám sát
Một quý
Một tháng
Được
hưởng phụ
cấp

740

Theo dõi
BM&TE 6
tuần đầu
sau sinh

Hướng dẫn

Chăm sóc
Hướng dẫn
Vận động Hướng dẫn
BM&TE 6 tuần bệnh thông chăm sóc người trồng
trồng thuốc
đầu sau sinh
thường mắc bệnh xã hội thuốc nam
nam

5 (100)
49 (96,1)
14 (73,7)

27 (69,2)
33 (91,7)

28 (71,8)
33 (91,7)

30 (83,3)
38 (97,4)

Chuyên Đề Y Tế Công Cộng 


Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 18 * Phụ bản của Số 6 * 2014 

Nghiên cứu Y học

 

Tham gia Tham gia
phát hiện giám sát
dịch bệnh vụ dịch
Phụ cấp
khu vực
khác
Phụ cấp
vùng sâu
Thời gian
lãnh phụ
cấp
Hàng tháng
Hàng quý

Theo dõi
BM&TE 6
tuần đầu
sau sinh

Hướng dẫn
Chăm sóc
Hướng dẫn
Vận động Hướng dẫn
BM&TE 6 tuần bệnh thông chăm sóc người trồng
trồng thuốc
đầu sau sinh
thường mắc bệnh xã hội thuốc nam
nam

41 (100)


37 (90,2)

37 (90,2)

30 (88,2)

23 (67,7

22 (64,7)

64 (97)
6 (66,7

64 (97)
4 (44,4)

Giữa thời gian lãnh phụ cấp và hoạt động 
tham gia phát hiện vụ dịch có mối liên quan có 
ý nghĩa thống kê (p<0,001) trong đó nhân viên 
lãnh phụ cấp hàng quý có khả năng tham gia 
phát  hiện  vụ  dịch  bằng  0,7  lần  so  với  nhân 
viên  lãnh  phụ  cấp  hàng  tháng  (PR:  0,7; 
KTC95%: 0,4‐0,99).  

Giữa thời gian giám sát của TYT xã và hoạt 
động  chăm  sóc  một  số  bệnh  thông  thường  của 
nhân viên có mối liên quan có ý nghĩa thống kê 
(p = 0,03) trong đó nhân viên được giám sát hàng 
tháng  sẽ  có  khả  năng  thực  hiện  hoạt  động  này 

gấp 1,2 lần so với nhân viên được giám sát hàng 
quý (PR: 1,2; KTC: 0,7‐0,9).  

Giữa  phụ  cấp  được  hưởng  và  hoạt  động 
tham gia giám sát vụ dịch bệnh có mối liên quan 
có ý nghĩa thống kê (p = 0,02) trong đó nhân viên 
được hưởng phụ cấp vùng sâu, vùng xa (525.000 
đ/tháng)  có  khả  năng  thực  hiện  hoạt  động  này 
chỉ  bằng  0,8  lần  so  với  nhân  viên  được  hưởng 
phụ  cấp  khu  vực  khác  (<  525.000  đ/tháng)  (PR: 
0,8; KTC95%: 0,8‐0,99). 

Giữa  số  ngày  làm  việc  và  hoạt  động  chăm 
sóc một số bệnh thông thường của nhân viên có 
mối  liên  quan  có  ý  nghĩa  thống  kê  (p  =  0,03) 
trong  đó  nhân  viên  làm  việc  2  tuần  sẽ  có  khả 
năng  thực  hiện  hoạt  động  này  bằng  0,8  lần  so 
với nhân viên làm việc 1 tuần (PR: 0,8; KTC: 0,7‐
0,9). Hay nói cách khác, nhân viên càng làm việc 
nhiều  ngày  sẽ  ít  có  khả  năng  thực  hiện  hoạt 
động này. 

Giữa thời gian giám sát của TYT xã và hoạt 
động theo dõi sức khoẻ bà mẹ và trẻ sơ sinh tại 
nhà trong 6 tuần đầu sau sinh có mối liên quan 
có  ý  nghĩa  thống  kê  (p  =  0,02)  trong  đó  nhân 
viên được giám sát hàng tháng sẽ có khả năng 
thực hiện hoạt động này cao gấp 1,3 lần so với 
nhân  viên  được  giám  sát  hàng  quý  (PR:  1,3; 
KTC: 1,1‐1,7).  


Giữa  thời  gian  lãnh  phụ  cấp  và  hoạt  động 
hướng  dẫn  chăm  sóc  người  mắc  bệnh  xã  hội, 
bệnh  không  lây  có  mối  liên  quan  có  ý  nghĩa 
thống kê (p < 0,001) trong đó nhân viên lãnh phụ 
cấp  hàng  quý  sẽ  có  khả  năng  thực  hiện  hoạt 
động này chỉ bằng 0,5 lần so với nhân viên lãnh 
phụ cấp hàng tháng (PR: 0,5; KTC95%: 0,2‐0,9).  

Giữa thời gian giám sát của trạm y tế xã và 
hoạt động hướng dẫn chăm sóc sức khoẻ bà mẹ 
và  trẻ  sơ  sinh  tại  nhà  trong  6  tuần  sau  sinh  có 
mối  liên  quan  có  ý  nghĩa  thống  kê  (p  =  0,04) 
trong đó nhân viên được giám sát hàng tháng sẽ 
có khả năng thực hiện hoạt động này cao gấp 1,3 
lần so với nhân viên không được hỗ trợ (PR: 1,3; 
KTC: 1,1‐1,6). 

Giữa phụ cấp được lãnh và hoạt động vận 
động trồng cây thuốc nam có mối liên quan có 
ý nghĩa thống kê (p = 0,01) trong đó nhân viên 
được lãnh phụ cấp vùng sâu (525.000 đ/tháng) 
sẽ có khả năng thực hiện hoạt động này bằng 
0,7  lần  so  với  nhân  viên  được  lãnh  phụ  cấp 
khu  vực  khác  (<  525.000  đ/tháng)  (PR:  0,7; 
KTC95%: 0,6‐0,9). 

Chuyên Đề Y Tế Công Cộng 

741



Nghiên cứu Y học 

Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 18 * Phụ bản của Số 6 * 2014

 
Giữa  phụ  cấp  được  lãnh  và  hoạt  động 
hướng  dẫn  trồng  cây  thuốc  nam  có  mối  liên 
quan  có  ý  nghĩa  thống  kê  (p  =  0,01)  trong  đó 
nhân viên được lãnh phụ cấp vùng sâu (525.000 
đ/tháng) sẽ có khả năng thực hiện hoạt động này 
bằng 0,7 lần so với nhân viên được lãnh phụ cấp 
khu  vực  khác  (<  525.000  đ/tháng)  (PR:  0,7; 
KTC95%: 0,6‐0,9). 

BÀN LUẬN 
Đặc điểm mẫu nghiên cứu 
Các đặc điểm của mẫu nghiên cứu cho thấy 
các  NVYTTB  có  những  đặc  điểm  phù  hợp  với 
công  tác  y  tế  cấp  cơ  sở  trên  địa  bàn  huyện.  Cụ 
thể,  độ  tuổi  của  các  đối  tượng  tương  đối  cao 
giúp  công  tác  tuyên  truyền  được  thuyết  phục 
hơn, nữ giới chiếm đa số so với nam giới thuận 
lợi cho các công tác kế hoạch hóa gia đình, chăm 
sóc sức khỏe bà mẹ và trẻ em, trình độ chuyên từ 
cấp II‐cấp III đáp ứng được các yêu cầu về đào 
tạo tập huấn NVYTTB, và nghề nghiệp của đối 
tượng  chủ  yếu  là  nội  trợ  và  buôn  bán  tạo  điều 
kiện  thuận  lợi  trong  việc  thiết  lập  mối  quan  hệ 

với  người  dân  giúp  công  tác  tuyên  truyền  hiệu 
quả hơn.  

Hoạt động của nhân viên y tế thôn bản 
Trong  các  hoạt  động  được  quy  định  theo 
Thông  tư  39/2010/TT‐BYT  thì  hầu  hết  các  hoạt 
động đều có tỷ lệ NVYTTB thực hiện từ khá cao 

động hỗ trợ sinh thường hoặc xử trí đẻ rơi phổ 
biến hơn tại các tỉnh miền núi và trung du so với 
tỉnh đồng bằng như Tây Ninh(8,9) vì vậy cần có sự 
chỉnh sửa bổ sung cho hợp lý với bối cảnh chăm 
sóc y tế tại tỉnh Tây Ninh. 

Các  đặc  điểm  công  tác  của  nhân  viên  y  tế 
thôn bản  
Theo  Thông  tư  39/2010/TT‐BYT  hoạt  động 
của NVTTB sẽ chịu sự quản lý của TYT xã thông 
qua các buổi họp giao ban và các buổi giám sát 
hoạt  động  của  NVYTTB  hàng  tháng  hoặc  hàng 
quý.  Kết  quả  khảo  sát  cho  thấy  hầu  hết  các 
NVYTTB  đều  được  giao  ban  với  TYT  xã  một 
tháng  một  lần  (97,3%)  và  52%  NVYTTB  được 
TYT  xã  giám  sát  một  quý  một  lần.  Các  nghiên 
cứu cho thấy việc được giám sát thường xuyên 
của  cấp  quản  lý  sẽ  giúp  cho  hoạt  động  của 
NVYTTB được hiệu quả hơn.  
Trong  quá  trình  hoạt  động,  NVYTTB  luôn 
được  sự  quan  tâm  của  Trung  tâm  Y  tế  huyện 
Châu Thành và Trạm y tế xã thông qua việc tổ 

chức  các  lớp  tập  huấn  nâng  cao  năng  lực  cho 
NVYTTB.  Ngoài  ra  NVYTTB  còn  được  sự  hỗ 
trợ  từ  các  ban  ngành  đoàn  thể  (khích  lệ  tinh 
thần,  chỉ  đạo  hoạt  động,  hỗ  trợ  nhân  lực)  và 
ban  quản  lý  ấp  (phối  hợp  với  NVYTTB  tìm 
nhà,  dẫn  đường,  lựa  chọn  địa  điểm,  phát  loa 
tuyên truyền.  

cộng, tham gia giám sát chất lượng nguồn nước 

 Mối  liên  quan  có  ý  nghĩa  thống  kê  giữa 
hoạt  động  và  các  yếu  tố  khảo  sát  trong 
nghiên cứu 

có  tỷ  lệ  thực  hiện  thấp  vì  hầu  hết  các  NVYTTB 

Trong nghiên cứu này các đặc điểm của mẫu 

đều  không  được  phân  công  làm  các  nhiệm  vụ 

nghiên cứu (tuổi, giới, trình độ học vấn…) và các 

này.  Riêng  hoạt  động  hỗ  trợ  sinh  thường  sản 

đặc điểm công tác của NVYTTB đều được khảo 

phụ và xử trí sinh rơi có tỷ lệ thực hiện rất thấp 

sát  mối  liên  quan  với  các  hoạt  động  của 


(lần lượt 5,3% và 2,7%) là do trên địa bàn huyện 

NVYTTB.  Kết  quả  phân  tích  cho  thấy  NVYTTB 

hầu như không có trường hợp sinh tại nhà hoặc 

được  hưởng  phụ  cấp  vùng  sâu  ít  có  khả  năng 

đẻ  rơi.  Kết  quả  này  cho  thấy  sự  bất  hợp  lý  của 

thực hiện hoạt động tham gia giám sát vụ dịch 

Thông  tư  39/2010/TT‐BYT  trong  việc  quy  định 

(PR: 0,8; KTC95%: 0,8‐0,99), hoạt động vận động 

hoạt động chăm sóc sức khỏe bà mẹ trẻ em (hoạt 

và  hướng  dẫn  trồng  thuốc  nam  (PR:  0,7; 

(≥ 69,3%) cho đến rất cao (100%). Các hoạt động 
tham  gia  giám  sát  công  trình  vệ  sinh  nơi  công 

742

Chuyên Đề Y Tế Công Cộng 


Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 18 * Phụ bản của Số 6 * 2014 


Nghiên cứu Y học

 
phụ cấp khu vực khác (p<0,05). Lý do giải thích 

Hoạt động NVYTT dưới góc nhìn của nhân 
viên TYT và cán bộ ban ngành đoàn thể  

cho kết quả này là NVYYTB lãnh phụ cấp vùng 

Bên  cạnh  phỏng  vấn  trực  tiếp  NVYTTB, 

sâu sinh sống tại các xã vùng sâu, vùng xa đi lại 

trong nghiên cứu này, chúng tôi còn phỏng vấn 

khó khăn do đó công tác y tế cơ sở cũng ít thực 

sâu  các  cán  bộ  quản  lý  ban  ngành  đoàn  thể 

hiện hơn so với NVYTTB sinh sống tại các khu 

nhằm thu thập ý kiến về hiệu quả hoạt động của 

vực khác.  

NVYTTB. Hầu hết các nhân viên y tế TYT và cán 

KTC95%:  0,6‐0,9)  so  với  NVYTTB  được  hưởng 


Thời  gian  lãnh  phụ  cấp  cũng  có  mối  liên 

bộ  quản  lý  Ủy  ban  Nhân  dân,  cán  bộ  Hội  Liên 

quan  có  ý  nghĩa  thống  kê  với  các  hoạt  động 

hiệp Phụ nữ NVYTTB đều cho rằng NVYTTB rất 

tham  gia  phát  hiện  vụ  dịch  bệnh  (PR:  0,7; 

cần thiết cho hoạt động y tế tuyến cơ sở. Họ là 

KTC95%: 0,4‐0,99), hoạt động hướng dẫn chăm 

cánh tay đắc lực giúp TYT thực hiện các chương 

sóc  người  mắc  bệnh  xã  hội  (PR:  0,5;  KTC95%: 

trình y tế quốc gia trên địa bàn TYT xã quản lý.  

0,2‐0,9).  Hay  nói  cách  khác,  NVYTTB  được 

Đối với công tác quản lý NVYTTB, TYT xã là 

lãnh phụ cấp hàng quý sẽ ít có khả năng thực 

cơ quan y tế chịu trách nhiệm chính trong quản 

hiện  các  hoạt  động  trên  so  với  các  NVYTTB 


lý,  điều  phối  hoạt  động  của  NVYTTB.  Qua  các 

được  lãnh  phụ  cấp  hàng  tháng.  Kết  quả  này 

cuộc phỏng vấn các nhân viên y tế tại 75 TYT xã, 

phù  hợp  với  các  nghiên  cứu  khác(2,5)  và  điều 

chúng  tôi nhận thấy  công tác  quản lý  NVYTTB 

này cho thấy rằng phụ cấp cũng như thời gian 

vừa  có  những  thuận  lợi  nhưng  cũng  có  nhiều 

lãnh  phụ  cấp  có  tác  động  đến  hiệu  quả  hoạt 

khó khăn. Thuận lợi đầu tiên là TYT luôn nhận 

động của NVYTTB. 

được  sự  quan  tâm  của  Ủy  Ban  nhân  dân  trong 

Thời gian TYT xã giám sát có mối liên quan 

việc  quản  lý  NVYTTB  thông  qua  các  buổi  họp 

có  ý  nghĩa  thống  kê  với  hoạt  động  theo  dõi  và 

giao  ban,  giám  sát  của  cán  bộ  quản  lý  Ủy  Ban 


hoạt động hướng dẫn chăm sóc sức khỏe bà mẹ 

nhân  dân.  Tuy  nhiên  trong  quá  trình  làm  việc 

và  trẻ  em  trong  6  tuần  sau  sinh  (PR:  1,3; 

cùng  với  NVYTTB,  TYT  cũng  gặp  một  số  khó 

KTC95%:  1,1‐1,6),  hoạt  động  chăm  sóc  bệnh 

khăn như một số NVYTTB không nhiệt tình với 

thông  thường  (PR:  1,2;  KTC95%:  0,7‐0,9).  Hay 

công việc vì lo kiếm sống, số khác phải đi làm ăn 

nói cách khác NVYTTB được TYT giám sát hàng 

xa  nên  TYT  xã  không  thể  giám  sát  hoạt  động, 

tháng  sẽ  có  khả  năng  thực  hiện  các  hoạt  động 

không thể liên lạc với NVYTTB khi cần họp giao 

nhiều  hơn  so  với  các  NVYTTB  được  giám  sát 

ban.  Mặc  dù  có  khó  khăn,  nhưng  theo  đa  số  ý 

hàng quý. 


kiến  của  nhân  viên  TYT  thì  hoạt  động  của 

Số ngày làm việc có mối liên quan có ý nghĩa 
thống  kê  với  hoạt  động  chăm  sóc  bệnh  thông 

NVYTTB nhìn chung được quản lý tốt, mang lại 
hiệu quả cao trong công việc. 

thường  (PR:  0,8;  KTC95%:  0,7‐0,9).  Những 

Khi được hỏi về chế độ dành cho NVYTTB, 

NVYTTB có số ngày làm việc càng nhiều thì hoạt 

hầu hết (> 95%) cán bộ nhân viên đều cho rằng 

động chăm sóc bệnh thông thường càng ít. Điều 

chế độ đãi ngộ cho NVYTTB còn rất thấp, không 

này được lý giải là do NVYTTB phải dành thời 

thể tạo động lực cho NVYTTB gắn bó lâu dài với 

gian  cho  nhiều  hoạt  động  khác  nên  thời  gian 

công tác y tế thôn bản. Chính từ bất cập này, một 

dành cho hoạt động chăm sóc bệnh ít hơn. 


số  đề  nghị  từ  phía  cán  bộ  nhân  viên  là  chính 

Chuyên Đề Y Tế Công Cộng 

743


Nghiên cứu Y học 

Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 18 * Phụ bản của Số 6 * 2014

 
quyền  nên  tăng  phụ  cấp  cho  NVYTTB,  cấp  thẻ 

NVYTTB thực hiện các hoạt động giám sát chất 

bảo hiểm y tế miễn phí cho NVYTTB từ đó giúp 

lượng  nguồn  nước,  giám  sát  các  công  trình  vệ 

NVYTTB có thể an tâm công tác.  

sinh  nơi  công  cộng.Về  thời  gian  giao  ban  và 

Đối với hoạt động tập huấn cho NVYTTB, đa 

giám sát hoạt động NVYTTB, TYT và Trung tâm 

số  cán  bộ  đều  thừa  nhận  mặc  dù  công  tác  tập 


Y  tế  huyện  cần  đánh  giá,  xem  xét  về  thời  gian 

huấn vẫn được tổ chức hàng năm, nhưng chưa 

giám sát và giao ban cụ thể cho từng hoạt động 

đồng bộ, thống nhất trên địa bàn toàn huyện. Từ 

của NVYTTB vì thời gian giám sát là một yếu tố 

thực tế này nhiều cán bộ nhân viên đề xuất nên 

ảnh  hưởng  đến  nhiều  hoạt  động  trong  nghiên 

tập huấn cho NVYTTB thường xuyên hơn. 

cứu này. 
Đối với các cấp chính quyền chức năng nên 

KẾT LUẬN 
Nghiên cứu cho thấy tỷ lệ thực hiện các hoạt 

xem xét thay thế hoạt động hỗ trợ đẻ thường cho 

động  theo  Thông  Tư  39/2010/TT‐BYT  của 

sản phụ và xử trí đẻ rơi của NVYTTB bằng các 

NVYTTB  đều  khá  cao,  tuy  nhiên  một  số  hoạt 


hoạt  động  khác  phù  hợp  hơn  với  tình  hình  tại 

động có tỷ lệ thực hiện thấp bao gồm tham gia 

địa phương. Ngoài ra chúng tôi cũng kiến nghị 

giám sát chất lượng nguồn nước, tham gia giám 

UBND  xã  ngoài  phụ  cấp  hàng  tháng  mà 

sát công trình vệ sinh nơi công cộng (tỷ lệ thực 

NVYTTB được nhận nên có một nguồn kinh phí 

hiện 36% và 49,3%), hoạt động hỗ trợ đẻ thường 

hỗ  trợ  thêm  dành  cho  NVYTTB  nhằm  khuyến 

và xử trí đẻ rơi (tỷ lệ thực hiện 5,3% và 2,7%). 

khích, tạo động lực hoạt động đối với NVYTTB 

Khi phân tích mối liên quan giữa các yếu tố 

Đối với Trung tâm Y tế huyện Châu Thành, 

khảo  sát  và  việc  thực  hiện  hoạt  động  của 

cần  trang  bị  đầy  đủ  túi  y  tế  thôn  bản  cho 


NVYTTB,  chúng  tôi  nhận  thấy  các  yếu  tố  phụ 

NVYTTB nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả hoạt 

cấp nghề, thời gian lãnh phụ cấp, thời gian TYT 

động  sơ  cấp  cứu  của  NVYTTB  trên  địa  bàn 

xã giám sát, số ngày làm việc có mối liên quan có 

huyện.  Bên  cạnh  đó,  Trung  tâm  Y  tế  huyện  và 

ý  nghĩa  thống  kê  với  một  số  hoạt  động  của 

TYT cần tăng cường công tác tập huấn kiến thức 

NVYTTB. Kết quả này cho thấy đây là các yếu tố 

cho NVYTTB ít nhất 3 lần/năm. 

có thể ảnh hưởng đến hoạt động của NVYTTB vì 

TÀI LIỆU THAM KHẢO 

vậy  cán  bộ  quản  lý  cần  phải  quan  tâm  và  điều 
chỉnh  sao  cho  phù  hợp  với  hoạt  động  tại  địa 

1.

Ban  Chính  Trị  Trung  Ương  (2002).  ʺChỉ  thị  số  06‐CT/TƯ  về 

củng cố và hoàn thiện mạng lưới y tế cơ sởʺ. Hà Nội. Tr. 2‐5 

2.

Bhattacharyya  K,  Winch  P,  LeBan  K,  Tien  M  (2001). 
Community health worker incentives and disincentives: how 
they  affect  motivation,  retention  and  sustainabilityʺ. 
Arlington, Virginia, BASICS/USAID, 34‐36. 

3.

Bộ Y Tế (2010) ʺThông Tư Quy Định Tiêu Chuẩn, Chức Năng, 
Nhiệm Vụ Của Nhân Viên Y Tế Thôn, Bảnʺ. Hà Nội. Tr. 2‐4. 

4.

Bộ Y Tế (2011) ʺBộ Tiêu Chí Quốc Gia Về Y Tế Xã Giai Đoạn 
2011‐2020ʺ. Hà Nội. Tr. 4‐7. 

5.

Charles H, Charles N. Chapter 71. Health Workers: Building 
and  Motivating  the  Workforce.  Disease  Control  Priorities  in 
Developing Countries. 2nd edition, 78‐98 

6.

Chính Phủ (1996) ʺNghị quyết của Chính Phủ về 37/CP ngày 
20 tháng 6 năm 1996 về định hướng chiến lược công tác chăm 
sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân trong thời gian 1996‐2000ʺ. 

Hà Nội. Tr. 2‐3. 

phương nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của 
NVYTTB trong thời gian sắp tới.  

KIẾN NGHỊ 
Thông  qua  kết  quả  nghiên  cứu,  chúng  tôi 
kiến  nghị  các  TYT  xã  tiếp  tục  duy  trì  hiệu  quả 
của  các  hoạt  động  tuyên  truyền,  giáo  dục  sức 
khoẻ của NVYTTB vì kết quả khảo sát cho thấy 
100%  NVYTTB  đều  thực  hiện  đầy  đủ  các  hoạt 
động  này.  Ngoài  ra  TYT  nên  phân  công 

744

Chuyên Đề Y Tế Công Cộng 


Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 18 * Phụ bản của Số 6 * 2014 

Nghiên cứu Y học

 
7.

8.

9.

Điện  Biên  Phủ  Online  (2011),  Nỗi  niềm  y  tế  thôn  bản, 

/>t%E1%BA%BF/n%E1%BB%97i‐ni%E1%BB%81m‐y‐
t%E1%BA%BF‐th%C3%B4n‐b%E1%BA%A3n. Truy cập ngày 
12/5/2013. 
Rơ Mah Huân (2008) Đánh giá thực hiện chức năng nhiệm vụ 
của  y  tế  thôn, bản  tại  huyện  Lương  Tài,  tỉnh  Bắc  Ninh  năm 
2008. Luận văn tốt nghiệp cao học y tế công cộng, Đại học Y tế 
công cộng Hà Nội, 56‐76. 

Ninhʺ. Luận văn thạc sĩ y tế công cộng, Trường Đại học Y tế 
công cộng, Hà Nội. Tr. 34‐36. 

 
Ngày nhận bài báo:  

 

 

23/5/2014 

Ngày phản biện nhận xét bài báo:  

3/6/2014 

Ngày bài báo được đăng:  

14/11/2014 

 


 

Trần  Huy  Dương  (2001)  Nghiên  cứu  thực  trạng  tổ  chức  và 
hoạt động của mạng lưới y tế thôn huyện Tiên Du‐tỉnh Bắc 
 

Chuyên Đề Y Tế Công Cộng 

745



×