Nghiên cứu Y học
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 18 * Phụ bản của Số 6 * 2014
THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN
CỦA NHÂN VIÊN Y TẾ THÔN BẢN (ẤP) TẠI HUYỆN CHÂU THÀNH,
TỈNH TÂY NINH NĂM 2013
Trương Thị Tuyết Nhung*, Lê Vinh**
TÓM TẮT
Đặt vấn đề: Tại Việt Nam, mạng lưới y tế cơ sở trong đó có nhân viên y tế thôn bản (NVYTTB) là nền tảng
của hệ thống y tế quốc gia, đóng vai trò quan trọng trong công tác chăm sóc sức khỏe ban đầu cho người dân.
Tuy nhiên, hiệu quả hoạt động của mạng lưới y tế thôn, bản trong cả nước vẫn chưa cao. Tại huyện Châu Thành,
hiện nay 100% các ấp/khu phố trong huyện đều có NVYTTB phục vụ, nhưng cho tới nay chưa có nghiên cứu
nào đánh giá hoạt động của mạng lưới này.
Mục tiêu: Đánh giá thực trạng hoạt động và các yếu tố liên quan đến hoạt động của nhân viên y tế thôn bản
(ấp) tại huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh.
Phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang kết hợp định lượng và định tính được tiến hành từ tháng
12/2012‐9/2013 trên 75 NVYTTB và 223 nhân viên Trạm Y tế, cán bộ Ủy Ban nhân dân xã, Hội Liên hiệp Phụ
nữ, Ban quản lý ấp sống tại huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh.
Kết quả: Tổng cộng có 29 hoạt động của NVYTTB theo thông tư 39/2010/TT‐BYT được khảo sát trong
nghiên cứu này. Hầu hết các hoạt động đều có tỷ lệ nhân viên thực hiện cao (> 90%) trừ các hoạt động giám sát
chất lượng nguồn nước (36%), hỗ trợ sinh đẻ (5,3%), sơ cấp cứu (69,3%), hướng dẫn trồng thuốc nam (73,3%).
Các yếu tố phụ cấp nghề, thời gian lãnh phụ cấp, thời gian Trạm Y tế giám sát, số ngày làm việc đều có mối liên
quan có ý nghĩa thống kê với việc thực hiện hoạt động của nhân viên.
Kết luận: Hầu hết các hoạt động được quy định theo Thông tư 39/2010/TT‐BYT đều được NVYTTB thực
hiện tốt. Các ban ngành đoàn thể liên quan cần đề ra chính sách nhằm cải thiện hơn chế độ đãi ngộ, cách thức
quản lý đối với NVYTTB giúp họ gắn bó và hoạt động có hiệu quả hơn trong công tác y tế thôn bản.
Từ khóa: Nhân viên y tế thôn bản, huyện Châu Thành, thực hiện hoạt động, các yếu tố liên quan
ABSTRACT
COMMUNITY HEALTH WORKERS: A COMPREHENSIVE REVIEW ON ACTIVITY PERFORMANCE
AND RELATED FACTORS
Truong Thi Tuyet Nhung, Le Vinh * Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 18 ‐ Supplement of No 6 ‐ 2014: 737 ‐ 745
Background: In Vietnam, primary health care system, including community health workers, is the corner
stone of national health care system and plays a vital role in taking care of public health. However, the efficacy of
system is not quite high. In Chau Thanh district, there are now 100% of communes having community health
workers cooperating with health care stations. The evaluation of their performance, however, has not been
conducted yet.
Objectives: To evaluate performance and related factors of community health workers in Chau Thanh
district, Tay Ninh province.
Methods: A cross‐sectional study conducted from December 2012 to September 2013 and recruited 75
community health workers for face‐to face interview and 223 health care managers and workers of People’s
Committees, Women Associations and health care stations for in‐depth interview. The questionnaire for face‐to
* Trung tâm Y tế huyện Châu Thành, Tây Ninh ** Viện Y tế Công cộng TP. HCM
Tác giả liên lạc: BS. CKII Trương Thị Tuyết Nhung ĐT: 0984110669 Email:
736
Chuyên Đề Y Tế Công Cộng
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 18 * Phụ bản của Số 6 * 2014
Nghiên cứu Y học
face interview was developed on the basis of Circular 39/2010/TT‐BYT.
Results: Twenty‐nine activities based on the Circular 39/2010/TT‐BYT were evaluated in the study. Most of
activities were well performed (> 90%), except for surveillance of water sources (36%), childbirth delivery support
(5.3%), first aid (69.3%), instructions of planting traditional herbs (73.3%). Factors including allowances,
duration of receiving allowances, time interval of being monitored, and number of working days had statistically
significant associations with performance of community health workers.
Conclusion: The activity performance of community health workers in terms of the Circular 39/2010/TT‐
BYT was generally good. Health care managers should justify policies and management approaches so that
community health workers could maintain and enhance their performance.
Keywords: Community health workers, Chau Thanh district, activity performance, related factors
Một số lý do có thể đưa đến hiện tượng này là
ĐẶT VẤN ĐỀ
nhân viên y tế thôn bản bỏ việc vì mức phụ cấp
Tại Việt Nam, mạng lưới y tế cơ sở là nền
eo hẹp, NVYTTB được cho đi đào tạo nhưng về
tảng của hệ thống y tế quốc gia, đóng vai trò
địa phương lại không thể áp dụng hoặc chuyển
quan trọng trong công tác chăm sóc sức khỏe
sang một công việc khác ổn định hơn(7).
ban đầu cho người dân. Theo Chỉ thị 06‐
Tại tỉnh Tây Ninh, việc phát triển và hoàn
CT/TW ngày 22/01/2002 của Ban chấp hành
thiện mạng lưới y tế thôn ấp trong những năm
trung Ương(1) về củng cố và hoàn thiện mạng
qua đã đạt được một số thành công nhất định.
lưới y tế cơ sở thì mạng lưới y tế cơ sở bao
Hiện nay, 100% khu phố/ấp của tỉnh Tây Ninh
gồm y tế thôn, bản, xã, phường, quận, huyện,
đều có NVYTTB phục vụ. Mặc dù vậy, việc đánh
thị xã phải bảo đảm cho mọi người dân được
giá hiệu quả hoạt động của mạng lưới này chưa
chăm sóc sức khoẻ cơ bản với chi phí thấp, góp
đầy đủ, do đó các cấp quản lý vẫn chưa đánh giá
phần thực hiện công bằng xã hội, xoá đói giảm
được
việc triển khai chương trình phát triển
nghèo, xây dựng nếp sống văn hoá, trật tự an
mạng lưới y tế thôn ấp trên địa bàn tỉnh có đạt
toàn xã hội, tạo niềm tin của nhân dân với chế
được mục tiêu đề ra hay không.
độ xã hội chủ nghĩa. Trong mạng lưới này,
Nghiên cứu này được tiến hành tại huyện
nhân viên y tế thôn bản (NVYTTB) là một
Châu Thành, tại thời điểm hiện nay 100% các
thành phần không thể thiếu trong việc triển
ấp/khu phố trong huyện đều có NVYTTB phục
khai công tác y tế tại các cấp cơ sở.
vụ. Tuy nhiên, hiện nay vẫn chưa có nghiên cứu
Trong những năm gần đây, nhận thấy tầm
nào đánh giá hoạt động của mạng lưới này mặc
quan trọng của NVYTTB đối với công tác y tế
dù trong thực tế nhiều báo cáo, số liệu cho thấy
cấp cơ sở, Chính phủ không ngừng ban hành các
hoạt động của mạng lưới không hiệu quả như
chính sách, chỉ thị nhằm củng cố nhân lực và
mong đợi.
nâng cao trình độ chuyên môn cho lực lượng
này chẳng hạn Nghị quyết 37/1996/CP(6) và
Quyết định 35/2001/QĐ‐TTg về “Định hướng
chiến lược công tác chăm sóc và bảo vệ sức khỏe
nhân dân đến năm 2010”, Thông tư số
39/2010/TT‐BYT ban hành năm 2010(3) quy định
tiêu chuẩn, chức năng, nhiệm vụ của NVYTTB,
bộ “Tiêu chí quốc gia về y tế xã giai đoạn 2011‐
2020”(4). Tuy nhiên, các báo cáo, đánh giá trên cả
nước cho thấy hiệu quả hoạt động của mạng
lưới y tế thôn, bản trong cả nước vẫn chưa cao.
Chuyên Đề Y Tế Công Cộng
Mục tiêu nghiên cứu
Xác định tỷ lệ NVYTTB (ấp) thực hiện các
hoạt động được quy định theo thông tư
39/2010/TT‐ BYT.
Xác định mối liên quan giữa việc thực hiện
các hoạt động và các yếu tố bao gồm đặc điểm
dân số‐xã hội học, được đào tạo tập huấn, phụ
cấp hoạt động, sự hỗ trợ của ban ngành đoàn
thể, giao ban định kỳ với Trạm Y tế xã, giám sát
737
Nghiên cứu Y học
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 18 * Phụ bản của Số 6 * 2014
Đặc tính
của Trạm Y tế xã.
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu gồm hai giai đoạn: giai đoạn 1:
khảo sát định lượng thông qua phỏng vấn trực
tiếp bằng bộ câu hỏi bán cấu trúc 75 NVYTTB
(ấp) tại 75 ấp trên địa bàn huyện. Giai đoạn 2
khảo sát định tính thông qua phỏng vấn sâu
bằng bộ câu hỏi mở 104 nhân viên của 15 Trạm
Y tế xã (TYT) (nhân viên và trưởng trạm), 18 chủ
tịch/phó chủ tịch Ủy Ban nhân dân xã, 17 đại
diện Hội Liên hiệp Phụ nữ, 84 trưởng ấp và cán
bộ ấp. Tổng cộng giai đoạn 2 khảo sát 223 nhân
viên và cán bộ quản lý trên địa bàn huyện.
Bộ câu hỏi bán cấu trúc được thiết kế dựa
trên Thông Tư 39/2010/TT‐BYT gồm 6 phần:
thông tin chung, hoạt động tuyên truyền giáo
dục sức khỏe tại cộng đồng, hoạt động chuyên
môn y tế tại cộng đồng, hoạt động chăm sóc sức
khỏe bà mẹ trẻ em và kế hoạch hóa gia đình, các
hoạt động khác mà NVYTTB đã thực hiện trong
năm 2012 và các yếu tố ảnh hưởng hoạt động
của NVYTTB.
Bộ câu hỏi mở gồm 6 câu hỏi liên quan đến
cách đánh giá của cán bộ quản lý về hoạt động
chung của NVYTTB, về cách quản lý, cơ chế
chính sách dành cho NVYTTB, hỗ trợ của các tổ
chức đối với NVYTTB, chính sách tập huấn nâng
cao năng lực của NVYTTB.
KẾT QUẢ
Đặc điểm mẫu nghiên cứu
Bảng 1: Đặc điểm của mẫu nghiên cứu (n = 75)
Đặc tính
Tuổi
Giới tính
Dân tộc
Trình độ
học vấn
738
Tần số Tỷ lệ (%)
< 30
6
8,0
30-49
32
42,7
≥ 50
37
49,3
Nữ
55
73,3
Nam
20
26,7
Kinh
73
97,3
Hoa
2
2,7
Không biết đọc,viết
2
2,7
Cấp I
4
5,3
Cấp II
31
41,3
Cấp III
35
46,7
3
4,0
Đại học/cao đẳng/trung
< 30
Tuổi
30-49
≥ 50
cấp
Điều dưỡng sơ cấp
Trình độ
chuyên môn
Y tế thôn bản
Dược tá
Dược sĩ trung cấp
Y sĩ đa khoa
Điều dưỡng trung cấp
Sống với vợ/chồng
Tình trạng
hôn nhân
Độc thân
Ly dị/ly thân
≤ 2 người
Số người
trong gia đình
3-4 người
≥ 5 người
Nông dân
Làm nghề
khác ngoài
Nội trợ
NVYTTB
Buôn bán
Về hưu/thất nghiệp
Cán bộ/viên chức
Công nhân
Hộ không nghèo
Tình trạng
kinh tế của gia
Hộ nghèo
đình
Hộ cận nghèo
Số ngày làm việc NVYTTB (TB ± ĐLC)
Tần số Tỷ lệ (%)
6
8,0
32
42,7
37
49,3
36
48,0
21
28,0
6
8,0
5
6,7
4
5,3
3
4,0
59
78,7
9
12,0
7
9,3
21
28,0
48
64,0
6
8,0
27
36,0
20
26,7
9
25,3
5
6,7
3
4,0
1
1,3
66
88,0
5
6,7
4
5,3
11,9 ± 2,8
Về độ tuổi, 49,3% NVYTTB có độ tuổi ≥ 50 và
42,7% có độ tuổi từ 30‐49. Nữ có tỷ lệ nhiều hơn
nam (73,3% so với 26,7%). Hầu hết (97,3%) các
đối tượng đều là người Kinh chỉ có 2,7% là
người Hoa. Trình độ học vấn của các đối tượng
chủ yếu là cấp III (46,7%) và cấp II (41,3%). Về
trình độ chuyên môn, 48% các NVYTTB là điều
dưỡng sơ cấp, 28% là y tế thôn bản. Các
NVYTTB có trình độ khác chiếm tỷ lệ không cao.
Có 78,7% các đối tượng hiện đang sống với
vợ/chồng và chỉ có 9,3% là đã ly dị/ly thân. Số
thành viên trong gia đình của NVYTTB từ 3‐4
người chiếm tỷ lệ 64% và ≤ 2 người là 28%.
Ngoài làm NVYTTB, 36% là nông dân, 26,7% đối
tượng là nội trợ, 25,3% là buôn bán. Tỷ lệ
NVYTTB là công nhân hoặc cán bộ viên chức rất
thấp chỉ có 1,3% và 4%. Về tình trạng kinh tế gia
đình 88% đối tượng thuộc diện gia đình thoát
nghèo, còn 12% còn lại thuộc diện hộ nghèo hoặc
Chuyên Đề Y Tế Công Cộng
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 18 * Phụ bản của Số 6 * 2014
Nghiên cứu Y học
hộ cận nghèo. Số ngày làm việc trung bình với
vai trò NVYTTB của các đối tượng là 11,9 ± 2,8.
Hoạt động của nhân viên y tế thôn bản
Bảng 2: Hoạt động của nhân viên y tế thôn bản (n
=75)
Biến số
Tần số
Tuyên truyền kiến thức về sức khoẻ
Hướng dẫn người dân phòng chống dịch
bệnh
Vận động người dân thực hiện KHHGĐ
Tư vấn các biện pháp KHHGĐ
Hướng dẫn các biện pháp theo dõi, chăm
sóc sức khoẻ trẻ em và phòng chống suy
dinh dưỡng trẻ em < 5 tuổi
Báo cáo hoạt động cho trạm y tế xã
Vận động sản phụ đi khám thai
Hướng dẫn người dân chăm sóc sức khoẻ
Tham gia thực hiện các chương trình y tế
Tham gia báo cáo vụ dịch bệnh
Tham gia phong trào y tế tại địa phương
Tham gia giám sát vụ dịch bệnh
Tham gia phát hiện vụ dịch bệnh
Thực hiện chăm sóc một số bệnh thường
gặp
Hướng dẫn chăm sóc người mắc bệnh
không lây tại nhà
Tham gia giám sát công trình vệ sinh hộ gia
đình
Tham gia giám sát thực hiện an toàn vệ
sinh thực phẩm
Hướng dẫn chăm sóc bà mẹ và trẻ sơ sinh
tại nhà trong 6 tuần đầu sau sinh
Theo dõi bà mẹ và trẻ sơ sinh tại nhà trong
6 tuần đầu sau sinh
Vận động người dân trồng thuốc nam tại gia
đình
Cung cấp và hướng dẫn sử dụng bao cao
su, viên thuốc tránh thai
Hướng dẫn người dân trồng thuốc nam tại
gia đình
Được cấp phát túi y tế thôn bản (ấp)
Đăng ký quản lý thai cho sản phụ
Thực hiện vụ sơ cấp cứu ban đầu
Tham gia giám sát công trình vệ sinh nơi
công cộng
Tham gia giám sát chất lượng nguồn nước
Hỗ trợ sinh thường cho sản phụ
Xử trí sinh rơi
75
75
Tỷ lệ
(%)
100
100
75
75
75
100
100
100
75
75
74
74
72
71
71
70
68
100
100
98,7
98,7
96,0
94,7
94,7
93,3
90,7
68
90,7
66
88,0
65
86,7
61
81,3
60
80,0
60
80,0
59
78,7
59
78,7
55
55
52
37
73,3
74,3
69,3
49,3
27
4
2
36,0
5,3
2,7
Đối với các hoạt động tuyên truyền, phổ
biến kiến thức thì tỷ lệ NVYTTB thực hiện các
Chuyên Đề Y Tế Công Cộng
hoạt động tuyên truyền, phổ biến kiến thức cho
người dân hầu hết đều đạt 100%. Có 98,7% nhân
viên có hướng dẫn người dân cách chăm sóc sức
khỏe trong đó các biện pháp phòng chống bệnh
truyền nhiễm được nhân viên hướng dẫn người
dân thực hiện nhiều nhất (69,3%). Tỷ lệ nhân
viên hướng dẫn người dân phòng chống dịch
bệnh đạt 100%. Tỷ lệ nhân viên có vận động và
hướng dẫn người dân thực hiện các biện pháp
KHHGĐ cũng đạt 100%.
Đối với các hoạt động chuyên môn y tế, tỷ lệ
nhân viên tham gia phát hiện vụ dịch bệnh đạt
93,3%. Tỷ lệ nhân viên tham gia giám sát dịch
bệnh cũng rất cao đạt 94,7% trong đó chủ yếu là
giám sát bệnh truyền nhiễm (93%). Tỷ lệ nhân
viên tham gia giám sát nguồn nước và giám sát
công trình vệ sinh nơi công cộng có tỷ lệ thấp chỉ
có 36% và 49,3%. Các hoạt động còn lại bao gồm
giám sát công trình vệ sinh hộ gia đình, giám sát
thực hiện ATTP, và tham gia phong trào y tế tại
địa phương có tỷ lệ đạt cũng khá cao (lần lượt là
88%, 86,7% và 94,7%).
Đối với hoạt động chăm sóc sức khỏe bà mẹ
và trẻ em, 100% nhân viên đã đi vận động sản
phụ khám thai tại cơ sở y tế. Tỷ lệ nhân viên
đăng ký quản lý thai sản cho sản phụ chỉ đạt
74,3%. Tỷ lệ nhân viên thực hiện hỗ trợ đẻ
thường và đẻ rớt rất thấp chỉ đạt 5,3% và 2,7%.
Tỷ lệ nhân viên theo dõi bà mẹ và trẻ sơ sinh tại
nhà đạt 80%. Tỷ lệ nhân viên hướng dẫn chăm
sóc bà mẹ và trẻ sơ sinh tại nhà đạt 81,3%. Tỷ lệ
nhân viên hướng dẫn các biện pháp theo dõi,
chăm sóc sức khoẻ trẻ và phòng chống suy dinh
dưỡng trẻ < 5 tuổi đạt tuyệt đối 100%. Tỷ lệ nhân
viên cung cấp và hướng dẫn sử dụng bao cao su,
viên thuốc tránh thai đạt 78,7%.
Đối với các hoạt động khác, kết quả cho
thấy 100% nhân viên đều báo cáo hoạt động
cho TYT xã. 98,7% nhân viên đều tham gia các
chương trình y tế do TYT quản lý. Các hoạt
động chăm sóc một số bệnh thông thường,
hướng dẫn chăm sóc người mắc bệnh xã hội
và vận động người dân trồng thuốc nam tại
739
Nghiên cứu Y học
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 18 * Phụ bản của Số 6 * 2014
gia đình cũng có tỷ lệ khá cao (90,7%, 90,7% và
80%). Các hoạt động còn lại là hướng dẫn
người dân trồng thuốc nam là 78,7%, và thực
hiện sơ cấp cứu ban đầu đạt 69,3%.
Các đặc điểm công tác của nhân viên y tế thôn bản
Bảng 3: Các đặc điểm công tác của nhân viên y tế thôn bản (n=75)
Biến số
Được trung tâm y tế huyện tập huấn
Được trạm y tế xã tập huấn
Giao ban với trạm y tế xã
Một tháng một lần
Thời gian giao ban
với trạm y tế xã
Một quý một lần
Trạm y tế giám sát hoạt động của NVYTTB
Một tháng một lần
Thời gian giám sát
của trạm y tế xã
Một quý một lần
Nhận sự giúp đỡ của trưởng ấp trong công tác
Nhận được sự giúp đỡ của ban ngành, đoàn thể, hội
249.000 đ/tháng
Hưởng phụ cấp
nhân viên y tế thôn bản
262.500 đ/tháng
315.000 đ/tháng
415.000 đ/tháng
525.000 đ/tháng
Hàng tháng
Thời gian được lãnh phụ cấp
nhân viên y tế thôn bản
Hàng quý
Tỷ lệ nhân viên được trung tâm y tế huyện
tập huấn đạt 97,3% và tỷ lệ nhân viên được TYT
xã tập huấn đạt 100%. Có 100% nhân viên đều
được giao ban với trạm y tế xã và thời gian giao
ban chủ yếu là hàng tháng (97,3%). Tỷ lệ nhân
viên được TYT giám sát cũng đạt 100% với thời
gian giám sát chủ yếu là hàng quý (52%). Tỷ lệ
Tần số
73
75
75
73
2
75
36
39
71
63
1
4
35
1
34
9
66
Tỷ lệ (%)
97,3
100
100
97,3
2,7
100
48,0
52,0
94,7
85,1
1,3
5,4
46,7
1,3
45,3
12,0
88,0
nhân viên nhận được sự trợ giúp của trưởng ấp
và các ban ngành, đoàn thể, hiệp hội cũng khá
cao lên đến 94,7% và 85,1%. Về phụ cấp công
việc, 45,3% nhận phụ cấp là 525.000 đ/tháng và
46,7% nhận 315.000 đ/tháng. Phụ cấp của nhân
viên chủ yếu được trả hàng quý (88%).
Mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa hoạt động và các yếu tố khảo sát trong nghiên cứu
Bảng 4: Các mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa hoạt động và các yếu tố khảo sát (n = 75)
Tham gia Tham gia
phát hiện giám sát
dịch bệnh vụ dịch
Số ngày
làm việc
1 tuần
2 tuần
> 2 tuần
Thời gian
TYT xã
giám sát
Một quý
Một tháng
Được
hưởng phụ
cấp
740
Theo dõi
BM&TE 6
tuần đầu
sau sinh
Hướng dẫn
Chăm sóc
Hướng dẫn
Vận động Hướng dẫn
BM&TE 6 tuần bệnh thông chăm sóc người trồng
trồng thuốc
đầu sau sinh
thường mắc bệnh xã hội thuốc nam
nam
5 (100)
49 (96,1)
14 (73,7)
27 (69,2)
33 (91,7)
28 (71,8)
33 (91,7)
30 (83,3)
38 (97,4)
Chuyên Đề Y Tế Công Cộng
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 18 * Phụ bản của Số 6 * 2014
Nghiên cứu Y học
Tham gia Tham gia
phát hiện giám sát
dịch bệnh vụ dịch
Phụ cấp
khu vực
khác
Phụ cấp
vùng sâu
Thời gian
lãnh phụ
cấp
Hàng tháng
Hàng quý
Theo dõi
BM&TE 6
tuần đầu
sau sinh
Hướng dẫn
Chăm sóc
Hướng dẫn
Vận động Hướng dẫn
BM&TE 6 tuần bệnh thông chăm sóc người trồng
trồng thuốc
đầu sau sinh
thường mắc bệnh xã hội thuốc nam
nam
41 (100)
37 (90,2)
37 (90,2)
30 (88,2)
23 (67,7
22 (64,7)
64 (97)
6 (66,7
64 (97)
4 (44,4)
Giữa thời gian lãnh phụ cấp và hoạt động
tham gia phát hiện vụ dịch có mối liên quan có
ý nghĩa thống kê (p<0,001) trong đó nhân viên
lãnh phụ cấp hàng quý có khả năng tham gia
phát hiện vụ dịch bằng 0,7 lần so với nhân
viên lãnh phụ cấp hàng tháng (PR: 0,7;
KTC95%: 0,4‐0,99).
Giữa thời gian giám sát của TYT xã và hoạt
động chăm sóc một số bệnh thông thường của
nhân viên có mối liên quan có ý nghĩa thống kê
(p = 0,03) trong đó nhân viên được giám sát hàng
tháng sẽ có khả năng thực hiện hoạt động này
gấp 1,2 lần so với nhân viên được giám sát hàng
quý (PR: 1,2; KTC: 0,7‐0,9).
Giữa phụ cấp được hưởng và hoạt động
tham gia giám sát vụ dịch bệnh có mối liên quan
có ý nghĩa thống kê (p = 0,02) trong đó nhân viên
được hưởng phụ cấp vùng sâu, vùng xa (525.000
đ/tháng) có khả năng thực hiện hoạt động này
chỉ bằng 0,8 lần so với nhân viên được hưởng
phụ cấp khu vực khác (< 525.000 đ/tháng) (PR:
0,8; KTC95%: 0,8‐0,99).
Giữa số ngày làm việc và hoạt động chăm
sóc một số bệnh thông thường của nhân viên có
mối liên quan có ý nghĩa thống kê (p = 0,03)
trong đó nhân viên làm việc 2 tuần sẽ có khả
năng thực hiện hoạt động này bằng 0,8 lần so
với nhân viên làm việc 1 tuần (PR: 0,8; KTC: 0,7‐
0,9). Hay nói cách khác, nhân viên càng làm việc
nhiều ngày sẽ ít có khả năng thực hiện hoạt
động này.
Giữa thời gian giám sát của TYT xã và hoạt
động theo dõi sức khoẻ bà mẹ và trẻ sơ sinh tại
nhà trong 6 tuần đầu sau sinh có mối liên quan
có ý nghĩa thống kê (p = 0,02) trong đó nhân
viên được giám sát hàng tháng sẽ có khả năng
thực hiện hoạt động này cao gấp 1,3 lần so với
nhân viên được giám sát hàng quý (PR: 1,3;
KTC: 1,1‐1,7).
Giữa thời gian lãnh phụ cấp và hoạt động
hướng dẫn chăm sóc người mắc bệnh xã hội,
bệnh không lây có mối liên quan có ý nghĩa
thống kê (p < 0,001) trong đó nhân viên lãnh phụ
cấp hàng quý sẽ có khả năng thực hiện hoạt
động này chỉ bằng 0,5 lần so với nhân viên lãnh
phụ cấp hàng tháng (PR: 0,5; KTC95%: 0,2‐0,9).
Giữa thời gian giám sát của trạm y tế xã và
hoạt động hướng dẫn chăm sóc sức khoẻ bà mẹ
và trẻ sơ sinh tại nhà trong 6 tuần sau sinh có
mối liên quan có ý nghĩa thống kê (p = 0,04)
trong đó nhân viên được giám sát hàng tháng sẽ
có khả năng thực hiện hoạt động này cao gấp 1,3
lần so với nhân viên không được hỗ trợ (PR: 1,3;
KTC: 1,1‐1,6).
Giữa phụ cấp được lãnh và hoạt động vận
động trồng cây thuốc nam có mối liên quan có
ý nghĩa thống kê (p = 0,01) trong đó nhân viên
được lãnh phụ cấp vùng sâu (525.000 đ/tháng)
sẽ có khả năng thực hiện hoạt động này bằng
0,7 lần so với nhân viên được lãnh phụ cấp
khu vực khác (< 525.000 đ/tháng) (PR: 0,7;
KTC95%: 0,6‐0,9).
Chuyên Đề Y Tế Công Cộng
741
Nghiên cứu Y học
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 18 * Phụ bản của Số 6 * 2014
Giữa phụ cấp được lãnh và hoạt động
hướng dẫn trồng cây thuốc nam có mối liên
quan có ý nghĩa thống kê (p = 0,01) trong đó
nhân viên được lãnh phụ cấp vùng sâu (525.000
đ/tháng) sẽ có khả năng thực hiện hoạt động này
bằng 0,7 lần so với nhân viên được lãnh phụ cấp
khu vực khác (< 525.000 đ/tháng) (PR: 0,7;
KTC95%: 0,6‐0,9).
BÀN LUẬN
Đặc điểm mẫu nghiên cứu
Các đặc điểm của mẫu nghiên cứu cho thấy
các NVYTTB có những đặc điểm phù hợp với
công tác y tế cấp cơ sở trên địa bàn huyện. Cụ
thể, độ tuổi của các đối tượng tương đối cao
giúp công tác tuyên truyền được thuyết phục
hơn, nữ giới chiếm đa số so với nam giới thuận
lợi cho các công tác kế hoạch hóa gia đình, chăm
sóc sức khỏe bà mẹ và trẻ em, trình độ chuyên từ
cấp II‐cấp III đáp ứng được các yêu cầu về đào
tạo tập huấn NVYTTB, và nghề nghiệp của đối
tượng chủ yếu là nội trợ và buôn bán tạo điều
kiện thuận lợi trong việc thiết lập mối quan hệ
với người dân giúp công tác tuyên truyền hiệu
quả hơn.
Hoạt động của nhân viên y tế thôn bản
Trong các hoạt động được quy định theo
Thông tư 39/2010/TT‐BYT thì hầu hết các hoạt
động đều có tỷ lệ NVYTTB thực hiện từ khá cao
động hỗ trợ sinh thường hoặc xử trí đẻ rơi phổ
biến hơn tại các tỉnh miền núi và trung du so với
tỉnh đồng bằng như Tây Ninh(8,9) vì vậy cần có sự
chỉnh sửa bổ sung cho hợp lý với bối cảnh chăm
sóc y tế tại tỉnh Tây Ninh.
Các đặc điểm công tác của nhân viên y tế
thôn bản
Theo Thông tư 39/2010/TT‐BYT hoạt động
của NVTTB sẽ chịu sự quản lý của TYT xã thông
qua các buổi họp giao ban và các buổi giám sát
hoạt động của NVYTTB hàng tháng hoặc hàng
quý. Kết quả khảo sát cho thấy hầu hết các
NVYTTB đều được giao ban với TYT xã một
tháng một lần (97,3%) và 52% NVYTTB được
TYT xã giám sát một quý một lần. Các nghiên
cứu cho thấy việc được giám sát thường xuyên
của cấp quản lý sẽ giúp cho hoạt động của
NVYTTB được hiệu quả hơn.
Trong quá trình hoạt động, NVYTTB luôn
được sự quan tâm của Trung tâm Y tế huyện
Châu Thành và Trạm y tế xã thông qua việc tổ
chức các lớp tập huấn nâng cao năng lực cho
NVYTTB. Ngoài ra NVYTTB còn được sự hỗ
trợ từ các ban ngành đoàn thể (khích lệ tinh
thần, chỉ đạo hoạt động, hỗ trợ nhân lực) và
ban quản lý ấp (phối hợp với NVYTTB tìm
nhà, dẫn đường, lựa chọn địa điểm, phát loa
tuyên truyền.
cộng, tham gia giám sát chất lượng nguồn nước
Mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa
hoạt động và các yếu tố khảo sát trong
nghiên cứu
có tỷ lệ thực hiện thấp vì hầu hết các NVYTTB
Trong nghiên cứu này các đặc điểm của mẫu
đều không được phân công làm các nhiệm vụ
nghiên cứu (tuổi, giới, trình độ học vấn…) và các
này. Riêng hoạt động hỗ trợ sinh thường sản
đặc điểm công tác của NVYTTB đều được khảo
phụ và xử trí sinh rơi có tỷ lệ thực hiện rất thấp
sát mối liên quan với các hoạt động của
(lần lượt 5,3% và 2,7%) là do trên địa bàn huyện
NVYTTB. Kết quả phân tích cho thấy NVYTTB
hầu như không có trường hợp sinh tại nhà hoặc
được hưởng phụ cấp vùng sâu ít có khả năng
đẻ rơi. Kết quả này cho thấy sự bất hợp lý của
thực hiện hoạt động tham gia giám sát vụ dịch
Thông tư 39/2010/TT‐BYT trong việc quy định
(PR: 0,8; KTC95%: 0,8‐0,99), hoạt động vận động
hoạt động chăm sóc sức khỏe bà mẹ trẻ em (hoạt
và hướng dẫn trồng thuốc nam (PR: 0,7;
(≥ 69,3%) cho đến rất cao (100%). Các hoạt động
tham gia giám sát công trình vệ sinh nơi công
742
Chuyên Đề Y Tế Công Cộng
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 18 * Phụ bản của Số 6 * 2014
Nghiên cứu Y học
phụ cấp khu vực khác (p<0,05). Lý do giải thích
Hoạt động NVYTT dưới góc nhìn của nhân
viên TYT và cán bộ ban ngành đoàn thể
cho kết quả này là NVYYTB lãnh phụ cấp vùng
Bên cạnh phỏng vấn trực tiếp NVYTTB,
sâu sinh sống tại các xã vùng sâu, vùng xa đi lại
trong nghiên cứu này, chúng tôi còn phỏng vấn
khó khăn do đó công tác y tế cơ sở cũng ít thực
sâu các cán bộ quản lý ban ngành đoàn thể
hiện hơn so với NVYTTB sinh sống tại các khu
nhằm thu thập ý kiến về hiệu quả hoạt động của
vực khác.
NVYTTB. Hầu hết các nhân viên y tế TYT và cán
KTC95%: 0,6‐0,9) so với NVYTTB được hưởng
Thời gian lãnh phụ cấp cũng có mối liên
bộ quản lý Ủy ban Nhân dân, cán bộ Hội Liên
quan có ý nghĩa thống kê với các hoạt động
hiệp Phụ nữ NVYTTB đều cho rằng NVYTTB rất
tham gia phát hiện vụ dịch bệnh (PR: 0,7;
cần thiết cho hoạt động y tế tuyến cơ sở. Họ là
KTC95%: 0,4‐0,99), hoạt động hướng dẫn chăm
cánh tay đắc lực giúp TYT thực hiện các chương
sóc người mắc bệnh xã hội (PR: 0,5; KTC95%:
trình y tế quốc gia trên địa bàn TYT xã quản lý.
0,2‐0,9). Hay nói cách khác, NVYTTB được
Đối với công tác quản lý NVYTTB, TYT xã là
lãnh phụ cấp hàng quý sẽ ít có khả năng thực
cơ quan y tế chịu trách nhiệm chính trong quản
hiện các hoạt động trên so với các NVYTTB
lý, điều phối hoạt động của NVYTTB. Qua các
được lãnh phụ cấp hàng tháng. Kết quả này
cuộc phỏng vấn các nhân viên y tế tại 75 TYT xã,
phù hợp với các nghiên cứu khác(2,5) và điều
chúng tôi nhận thấy công tác quản lý NVYTTB
này cho thấy rằng phụ cấp cũng như thời gian
vừa có những thuận lợi nhưng cũng có nhiều
lãnh phụ cấp có tác động đến hiệu quả hoạt
khó khăn. Thuận lợi đầu tiên là TYT luôn nhận
động của NVYTTB.
được sự quan tâm của Ủy Ban nhân dân trong
Thời gian TYT xã giám sát có mối liên quan
việc quản lý NVYTTB thông qua các buổi họp
có ý nghĩa thống kê với hoạt động theo dõi và
giao ban, giám sát của cán bộ quản lý Ủy Ban
hoạt động hướng dẫn chăm sóc sức khỏe bà mẹ
nhân dân. Tuy nhiên trong quá trình làm việc
và trẻ em trong 6 tuần sau sinh (PR: 1,3;
cùng với NVYTTB, TYT cũng gặp một số khó
KTC95%: 1,1‐1,6), hoạt động chăm sóc bệnh
khăn như một số NVYTTB không nhiệt tình với
thông thường (PR: 1,2; KTC95%: 0,7‐0,9). Hay
công việc vì lo kiếm sống, số khác phải đi làm ăn
nói cách khác NVYTTB được TYT giám sát hàng
xa nên TYT xã không thể giám sát hoạt động,
tháng sẽ có khả năng thực hiện các hoạt động
không thể liên lạc với NVYTTB khi cần họp giao
nhiều hơn so với các NVYTTB được giám sát
ban. Mặc dù có khó khăn, nhưng theo đa số ý
hàng quý.
kiến của nhân viên TYT thì hoạt động của
Số ngày làm việc có mối liên quan có ý nghĩa
thống kê với hoạt động chăm sóc bệnh thông
NVYTTB nhìn chung được quản lý tốt, mang lại
hiệu quả cao trong công việc.
thường (PR: 0,8; KTC95%: 0,7‐0,9). Những
Khi được hỏi về chế độ dành cho NVYTTB,
NVYTTB có số ngày làm việc càng nhiều thì hoạt
hầu hết (> 95%) cán bộ nhân viên đều cho rằng
động chăm sóc bệnh thông thường càng ít. Điều
chế độ đãi ngộ cho NVYTTB còn rất thấp, không
này được lý giải là do NVYTTB phải dành thời
thể tạo động lực cho NVYTTB gắn bó lâu dài với
gian cho nhiều hoạt động khác nên thời gian
công tác y tế thôn bản. Chính từ bất cập này, một
dành cho hoạt động chăm sóc bệnh ít hơn.
số đề nghị từ phía cán bộ nhân viên là chính
Chuyên Đề Y Tế Công Cộng
743
Nghiên cứu Y học
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 18 * Phụ bản của Số 6 * 2014
quyền nên tăng phụ cấp cho NVYTTB, cấp thẻ
NVYTTB thực hiện các hoạt động giám sát chất
bảo hiểm y tế miễn phí cho NVYTTB từ đó giúp
lượng nguồn nước, giám sát các công trình vệ
NVYTTB có thể an tâm công tác.
sinh nơi công cộng.Về thời gian giao ban và
Đối với hoạt động tập huấn cho NVYTTB, đa
giám sát hoạt động NVYTTB, TYT và Trung tâm
số cán bộ đều thừa nhận mặc dù công tác tập
Y tế huyện cần đánh giá, xem xét về thời gian
huấn vẫn được tổ chức hàng năm, nhưng chưa
giám sát và giao ban cụ thể cho từng hoạt động
đồng bộ, thống nhất trên địa bàn toàn huyện. Từ
của NVYTTB vì thời gian giám sát là một yếu tố
thực tế này nhiều cán bộ nhân viên đề xuất nên
ảnh hưởng đến nhiều hoạt động trong nghiên
tập huấn cho NVYTTB thường xuyên hơn.
cứu này.
Đối với các cấp chính quyền chức năng nên
KẾT LUẬN
Nghiên cứu cho thấy tỷ lệ thực hiện các hoạt
xem xét thay thế hoạt động hỗ trợ đẻ thường cho
động theo Thông Tư 39/2010/TT‐BYT của
sản phụ và xử trí đẻ rơi của NVYTTB bằng các
NVYTTB đều khá cao, tuy nhiên một số hoạt
hoạt động khác phù hợp hơn với tình hình tại
động có tỷ lệ thực hiện thấp bao gồm tham gia
địa phương. Ngoài ra chúng tôi cũng kiến nghị
giám sát chất lượng nguồn nước, tham gia giám
UBND xã ngoài phụ cấp hàng tháng mà
sát công trình vệ sinh nơi công cộng (tỷ lệ thực
NVYTTB được nhận nên có một nguồn kinh phí
hiện 36% và 49,3%), hoạt động hỗ trợ đẻ thường
hỗ trợ thêm dành cho NVYTTB nhằm khuyến
và xử trí đẻ rơi (tỷ lệ thực hiện 5,3% và 2,7%).
khích, tạo động lực hoạt động đối với NVYTTB
Khi phân tích mối liên quan giữa các yếu tố
Đối với Trung tâm Y tế huyện Châu Thành,
khảo sát và việc thực hiện hoạt động của
cần trang bị đầy đủ túi y tế thôn bản cho
NVYTTB, chúng tôi nhận thấy các yếu tố phụ
NVYTTB nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả hoạt
cấp nghề, thời gian lãnh phụ cấp, thời gian TYT
động sơ cấp cứu của NVYTTB trên địa bàn
xã giám sát, số ngày làm việc có mối liên quan có
huyện. Bên cạnh đó, Trung tâm Y tế huyện và
ý nghĩa thống kê với một số hoạt động của
TYT cần tăng cường công tác tập huấn kiến thức
NVYTTB. Kết quả này cho thấy đây là các yếu tố
cho NVYTTB ít nhất 3 lần/năm.
có thể ảnh hưởng đến hoạt động của NVYTTB vì
TÀI LIỆU THAM KHẢO
vậy cán bộ quản lý cần phải quan tâm và điều
chỉnh sao cho phù hợp với hoạt động tại địa
1.
Ban Chính Trị Trung Ương (2002). ʺChỉ thị số 06‐CT/TƯ về
củng cố và hoàn thiện mạng lưới y tế cơ sởʺ. Hà Nội. Tr. 2‐5
2.
Bhattacharyya K, Winch P, LeBan K, Tien M (2001).
Community health worker incentives and disincentives: how
they affect motivation, retention and sustainabilityʺ.
Arlington, Virginia, BASICS/USAID, 34‐36.
3.
Bộ Y Tế (2010) ʺThông Tư Quy Định Tiêu Chuẩn, Chức Năng,
Nhiệm Vụ Của Nhân Viên Y Tế Thôn, Bảnʺ. Hà Nội. Tr. 2‐4.
4.
Bộ Y Tế (2011) ʺBộ Tiêu Chí Quốc Gia Về Y Tế Xã Giai Đoạn
2011‐2020ʺ. Hà Nội. Tr. 4‐7.
5.
Charles H, Charles N. Chapter 71. Health Workers: Building
and Motivating the Workforce. Disease Control Priorities in
Developing Countries. 2nd edition, 78‐98
6.
Chính Phủ (1996) ʺNghị quyết của Chính Phủ về 37/CP ngày
20 tháng 6 năm 1996 về định hướng chiến lược công tác chăm
sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân trong thời gian 1996‐2000ʺ.
Hà Nội. Tr. 2‐3.
phương nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của
NVYTTB trong thời gian sắp tới.
KIẾN NGHỊ
Thông qua kết quả nghiên cứu, chúng tôi
kiến nghị các TYT xã tiếp tục duy trì hiệu quả
của các hoạt động tuyên truyền, giáo dục sức
khoẻ của NVYTTB vì kết quả khảo sát cho thấy
100% NVYTTB đều thực hiện đầy đủ các hoạt
động này. Ngoài ra TYT nên phân công
744
Chuyên Đề Y Tế Công Cộng
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 18 * Phụ bản của Số 6 * 2014
Nghiên cứu Y học
7.
8.
9.
Điện Biên Phủ Online (2011), Nỗi niềm y tế thôn bản,
/>t%E1%BA%BF/n%E1%BB%97i‐ni%E1%BB%81m‐y‐
t%E1%BA%BF‐th%C3%B4n‐b%E1%BA%A3n. Truy cập ngày
12/5/2013.
Rơ Mah Huân (2008) Đánh giá thực hiện chức năng nhiệm vụ
của y tế thôn, bản tại huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh năm
2008. Luận văn tốt nghiệp cao học y tế công cộng, Đại học Y tế
công cộng Hà Nội, 56‐76.
Ninhʺ. Luận văn thạc sĩ y tế công cộng, Trường Đại học Y tế
công cộng, Hà Nội. Tr. 34‐36.
Ngày nhận bài báo:
23/5/2014
Ngày phản biện nhận xét bài báo:
3/6/2014
Ngày bài báo được đăng:
14/11/2014
Trần Huy Dương (2001) Nghiên cứu thực trạng tổ chức và
hoạt động của mạng lưới y tế thôn huyện Tiên Du‐tỉnh Bắc
Chuyên Đề Y Tế Công Cộng
745