Tải bản đầy đủ (.pdf) (5 trang)

Những yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng giấc ngủ của người bệnh phẫu thuật bụng trong giai đoạn hậu phẫu tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bình Dương

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (341.23 KB, 5 trang )

Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 18 * Phụ bản của Số 5 * 2014 

Nghiên cứu Y học

NHỮNG YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHẤT LƯỢNG GIẤC NGỦ  
CỦA NGƯỜI BỆNH PHẪU THUẬT BỤNG TRONG GIAI ĐOẠN  
HẬU PHẪU TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TỈNH BÌNH DƯƠNG 
Nguyễn Thị Trường Xuân*, Pawana Keeratiyutawong**, Wanlapa Kunsongkeit**  

TÓM TẮT 
Đặt vấn đề: Ngủ là một trong những nhu cầu cơ bản của cơ thể. Một giấc ngủ đạt chất lượng tốt, đủ độ 
sâu và đủ thời lượng, là một đòi hỏi thiết yếu trong việc đảm bảo nguồn cung năng lượng cho hoạt động của cơ 
thể nói chung và của hệ thống miễn dịch nói riêng. Vì vậy, chất lượng giấc ngủ luôn là đề tài có tầm quan trọng 
đối với quá trình hồi phục của người bệnh, đặc biệt là người bệnh trong giai đoạn hậu phẫu. 
Mục tiêu nghiên cứu: Nhận biết thực trạng giấc ngủ và các yếu tố ảnh đến chất lượng giấc ngủ của người 
bệnh trong giai đoạn hậu phẫu.  
Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang được tiến hành tại khoa ngoại tổng quát của Bệnh viện 
đa khoa Tỉnh Bình Dương với cỡ mẫu là 90 người bệnh trong giai đoạn hậu phẫu. Dữ liệu được thu thập từ 
tháng 01 đến tháng 03 năm 2013 bằng cách sử dụng 04 bộ câu hỏi tự điền được tham khảo từ các nghiên cứu 
trước và 01 bộ câu hỏi được phát triển bởi nhà nghiên cứu.  
Kết quả:Chất lượng giấc ngủ của người tham gia nghiên cứu ở mức độ kém (M=206,65; SD=47,80). Chất 
lượng giấc ngủ bị ảnh hưởng bởi các yếu tố như: đau, bị quấy nhiễu từ môi trường trong phòng bệnh, lo lắng (r 
= ‐0,38, p < 0,001; r = ‐0,41, p < 0,001; r = ‐0,36, p < 0.001). Với mỗi một điểm tăng lên trong tổng điểm của yếu 
tố quấy nhiễu của môi trường trong phòng bệnh thì chất lượng giấc ngủ sẽ bị giảm xuống .17 lần (R 2 = .17, p < 
0,001). 
Kết luận: Nhân viên y tế, hệ thống chăm sóc sức khỏe nên đặc biệt quan tâm chú ý đến các yếu tố gây ảnh 
hưởng đến chất lượng giấc ngủ của người bệnh trong giai đoạn hậu phẫu. Chương trình giáo dục về tầm quan 
trọng của chất lượng giấc ngủ của người bệnh trong giai đoạn hậu phẫu cần được quan tâm và phổ biến, góp 
phần hạn chế tác động tiêu cực của các yếu tố gây ảnh hưởng nhằm giúp người bệnh nâng cao chất lượng giấc 
ngủ hướng tới mục tiêu hồi phục tốt nhất.  
Từ khóa: chất lượng giấc ngủ, người bệnh hậu phẫu, bệnh viện đa khoa Tỉnh Bình Dương 



ABSTRACT 
FACTORS PREDICTING QUALITY OF SLEEP AMONG POSTOPERATIVE PATIENTS 
 WITH ABDOMINAL SURGERY IN BINH DUONG HOSPITAL, BINH DUONG PROVINCE, 
VIETNAM. 
Nguyen Thi Truong Xuan, Pawana Keeratiyutawong,Wanlapa Kunsongkeit  
* Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 18 ‐ Supplement of No 5‐ 2014: 113 ‐ 117 
Background: Quality of sleep has long been known as a basic need of human well‐being. A good quality of 
sleep  is  an  essential  requirement  for  the  normal  functioning  of  the  bodyʹs  immune  system  and  ability  to  fight 
disease and sickness. Therefore, it is very important to human well‐being, especially to patient who got surgery. 
However,  lack  of  research  reported  about  quality  of  sleep  among  surgicaly  patients,  especially  in  Vietnamese 
literature.  
Purposes:  This study aims to examine predicting factors on quality of sleep among postoperative patients 
** Khoa Ngoại ‐ Bệnh viện đa khoa tỉnh Bình Dương 
* Trường Cao đẳng Y tế Bình Dương 
Tác giả liên lạc: Ths Nguyễn Thị Trường Xuân 
 ĐT: 0918770505 
 Email:  

Chuyên Đề Điều Dưỡng Kỹ Thuật Y Học

113


Nghiên cứu Y học 

Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 18 * Phụ bản của Số 5 * 2014

with abdominal surgery.  
Methods: Ninety postoperative abdominal surgery patients in surgical ward at Binh Duong Hospital who 

met  inclusion  criteria  were  randomly  recruited  for  this  predictive  correlation  study.  Subjects  were  asked  for 
completing four questionnaires including the Richard‐Campbell Sleep Questionnaire (RCSQ), the Numeric Pain 
Intensity Scale, the Hospital Anxiety and Depression Scale (HADS‐A), the Disturbances from Environmental 
Care Questionnaire on postoperative period.  
Results: The results showed that that mean score of quality of sleep was at a poor level (M = 206.65, SD = 
47.80). Quality of sleep was moderately and inversely related to pain, disturbances from environmental care, and 
anxiety (r = ‐ .38, p < .001; r = ‐ .41, p < .001; r = ‐ .36, p < .001, respectively). The average of mean score of 
disturbances from environmental care could predict quality of sleep 17% (r 2 = 0.17, p < 0.001).  
Conclusions: These findings suggest the need to improve quality of sleep in these patients by controlling the 
predicting factors. Besides, health education about quality of sleep and its predicting factors should be provided to 
improve quality of sleep among postoperative abdominal surgery patients.  
Keywords: quality of sleep, postoperative abdominal surgery patient, Binh Duong Hospital. 

ĐẶT VẤN ĐỀ 

chất lượng công tác chăm sóc, giúp người bệnh 

Theo  thống  kê,  vì  nhiều  lý  do,  người  bệnh 

trong  giai  đoạn  hậu  phẫu  được  chăm  sóc  chú 

trong  giai  đoạn  hậu  phẫu  thường  bị  mất  ngủ 

trọng  hơn  nữa  trong  việc  nâng  cao  chất  lượng 

(89%)1,2,3,6,9. Nguyên nhân này đã gây tác động 

giấc ngủ, hướng tới mục tiêu phục hồi sau bệnh 

bất  lợi  không  nhỏ  đến  sự  phục  hồi  của  người 


một cách tốt nhất. 

bệnh  trong  giai  đoạn  hậu  phẫu,  một  giai  đoạn 

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 

quan  trọng  trong  quá  trình  hồi  phục  của  một 

Thiết kế nghiên cứu 

người bệnh ngoại khoa. Bởi vì, ngủ là một trong 
những nhu cầu cơ bản của cơ thể. Một giấc ngủ 

Phương pháp cắt ngang mô tả. 

Đối tượng nghiên cứu 

đạt chất lượng tốt, đủ độ sâu và đủ thời lượng, là 

Người  bệnh  sau  phẫu  thuật  bụng  nằm  tại 

một đòi hỏi thiết yếu trong việc đảm bảo nguồn 

khoa  ngoại  tổng  quát  Bệnh  viện  đa  khoa  Tỉnh 

cung  năng  lượng  cho  hoạt  động  của  cơ  thể  nói 

Bình Dương. 


chung và của hệ thống miễn dịch nói riêng3. Các 
thí  nghiệm  đã  chứng  minh  rằng  chất  nội  tiết 
đóng  vai  trò  quan  trọng  trong  kích  thích  đáp 
ứng  miễn  dịch  (cytokine)  hoạt  động  mạnh  mẽ 
khi cơ thể trong trạng thái ngủ sâu23. Tồi tệ hơn, 
tình  trạng  mất  ngủ  sau  mổ  còn  có  thể  kéo  dài 

Cỡ mẫu 
Dựa  vào  công  thức  Tabachnick  and 
Fidell1010,  nghiên  cứu  này  đã  chọn  ra  90  người 
bệnh bằng phương pháp lấy mẫu ngẫu nhiên. 

Tiêu chuẩn chọn mẫu 

cho đến sau khi xuất viện, gây ảnh hưởng không 

Người  bệnh  sau  phẫu  thuật  bụng  nằm  tại 

nhỏ đến sức khỏe, đời sống của người bệnh sau 

khoa  ngoại  tổng  quát  của  Bệnh  viện  Bình 

khi xuất viện. 

Dương, có thể giao tiếp, đọc, hiểu tiếng Việt, và 

Tuy nhiên, các nghiên cứu về chất lượng giấc 
ngủ  trên  đối  tượng  người  bệnh  sau  phẫu  thuật 

sẵn sàng tham gia vào nghiên cứu. 


Công cụ thu thập dữ kiện 

còn  ít,  đặc  biệt  là  ở  Việt  Nam.  Mong  rằng,  kết 

Nghiên  cứu  sử  dụng  04  bộ  câu  hỏi  tự  điền 

quả  của  nghiên  cứu  này  sẽ  góp  phần  nâng  cao 

được  tham  khảo  từ  các  nghiên  cứu  trước  và  01 

114

Chuyên Đề Điều Dưỡng Kỹ Thuật Y Học 


Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 18 * Phụ bản của Số 5 * 2014 

Nghiên cứu Y học

bộ câu hỏi được phát triển bởi tác giả. Các bộ câu 

cả  người  tham  gia  đều  được  sử  dụng  thuốc 

hỏi này đều đã được kiểm định độ tin cậy bằng 

giảm đau. 

một nghiên cứu một thực nghiệm với 30 người 


Thực trạng của các yếu tố: chất lượng giấc 
ngủ, đau, lo lắng, bị quấy nhiễu do yếu tố 
môi trường trong phòng bệnh 

bệnh  có  cùng  đặc  điểm  với  mẫu.  Kết  quả  cho 
thấy  độ  tin  cậy  cao  đối  với  04  bộ  tham  khảo 
(Cronbach’s  α=  .95)  cũng  như  bộ  tự  phát  triển 
bởi  nhà  nghiên  cứu  (CVI  =  .90;  Cronbach’s  α 
=.86). 

Bảng 2: Mức độ của chất lượng giấc ngủ, đau, lo 
lắng, bị quấy nhiễu của yếu tố môi trường (N=90) 
Yếu tố (Tổng điểm)

 Phân tích dữ liệu: 
Dữ  liệu  được  nhập  và  phân  tích  bằng  cách 
sử dụng phần mềm phân tích dữ liệu SPSS.  

KẾT QUẢ 

SD

Chất lượng giấc ngủ (500)
206.65 47.80
Đau (10)
5.81
.82
Lo lắng (28)
20.91 2.76
Bị quấy nhiễu bởi yếu tố

47.73 10.68
môi trường trong phòng bệnh (120)

Ghi chú. M: trung bình, SD : độ lệch chuẩn 

Nhân khẩu học 
Bảng 1: Đặc điểm nhân khẩu học (N=90) 
Đặc điểm nhân khẩu học
Giới tính

M

Tần suất Tỷ lệ (%)

Nam
Nữ
Trình độ học vấn

57
33

63.3
36.7

Chưa tốt nghiệp PTTH
Tốt nghiệp PTTH
Tốt nghiệp đại học hoặc cao hơn
Tình trạng hôn nhân

12

50
28

13.3
55.6
31.1

Độc thân
Kêt hôn
Mất vợ/chông
Ly hôn
Tiền sử phẫu thuật

12
65
3
10

13.3
72.2
3.3
11.1

Đã từng phẫu thuật
Chưa từng phẫu thuật
Loại phẫu thuật

4
86


4.4
95.6

Cấp cứu
Chương trình
Dùng thuốc giảm đau

42
48
90

46.7
53.3
100

Dữ  liệu  từ  bảng  1  cho  thấy,  đa  phần  đối 
tượng  tham  gia  trong  nghiên  cứu  này  là  nam 
giới  (63,3%),  tỉ  lệ  đã  tốt  nghiệp  PTTH  cao 
(55,6%),  đa  số  đã  kết  hôn  (72,2%),  phần  lớn 
người tham gia nghiên cứu chưa từng trải qua 
phẫu  thuật  (95,6%),  phẫu  thuật  chương  trình 
nhiều  hơn  phẫu  thuật  cấp  cứu  (53,3%),  và  tất 

Chuyên Đề Điều Dưỡng Kỹ Thuật Y Học

Mức
độ
Kém
TB
TB

TB

 

Theo dữ liệu bảng 2, chất lượng giấc ngủ của 
người  tham  gia  nghiên  cứu  ở  mức  độ  kém. 
Trong khi đó, các yếu tố gây ảnh hưởng đến chất 
lượng chất ngủ như đau, lo lắng, bị quấy nhiễu 
của yếu tố môi trường ở mức độ trung bình. 

Mối  liên  quan  giữa  từng  yếu  tố  đau,  lo 
lắng,  quấy  nhiễu  của  môi  trường  trong 
phòng bệnh với chất lượng giấc ngủ 
Bảng 3: Mối liên quan giữa từng yếu tố, đau, lo lắng, 
quấy nhiễu của môi trường trong phòng bệnh với 
chất lượng giấc ngủ (N=90) 
Chất lượng giấc ngủ (r)
Đau
Yếu tố quấy nhiễu từ môi trường trong
phòng bệnh
Lo lắng

-.38***
-.41***
-.36***

* p < .05, ** p < .01, *** p < .001 

Dữ liệu từ bảng 3 cho thấy, chất lượng giấc 
ngủ  bị  ảnh  hưởng  bởi  các  yếu  tố  đau,  lo  lắng, 

quấy nhiễu của môi trường trong phòng bệnh (r 
= ‐ .38, p < .001; r = ‐ .41, p < .001; r = ‐ .36, p < .001). 

Yếu tố dự đoán mức độ ảnh hưởng với chất 
lượng giấc ngủ 
Bảng 4: Yếu tố dự đoán mức độ ảnh hưởng với chất 
lượng giấc ngủ (N=90) 
Biến số
Quấy nhiễu của môi trường trong phòng
bệnh

R2
.17

p
.000

* p < .05, ** p < .01, *** p < .001. Ghi chú: biến số phụ 
thuộc: chất lượng giấc ngủ.  

115


Nghiên cứu Y học 

Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 18 * Phụ bản của Số 5 * 2014

Dữ liệu từ bảng 4 cho thấy, chất lượng giấc 
ngủ của người nghiên cứu có thể được dự đoán 
được  bởi  yếu  tố  quấy  nhiễu  của  môi  trường 

trong  phòng  bệnh.  Với  mỗi  một  điểm  tăng  lên 
trong tổng điểm của yếu tố quấy nhiễu của môi 
trường  trong  phòng  bệnh  thì  chất  lượng  giấc 
ngủ sẽ bị giảm xuống .17 lần (R 2 = ,17, p < ,001).  

BÀN LUẬN 
Kết quả nghiên cứu cho thấy, chất lượng giấc 
ngủ  của  người  tham  gia  nghiên  cứu  ở  mức  độ 
kém.  Đây  là  một  kết  quả  cần  được  quan  tâm. 
Nhân viên y tế cần có các biện pháp thích hợp để 
cải  thiện  chất  lượng  giấc  ngủ  nhằm  giúp  cho 
nguời  bệnh  nâng  cao  sức  khỏe,  rút  ngắn  thời 
gian lành bệnh bằng cách kiểm soát tốt các yếu 
tố nguy cơ. 

Qua khảo sát cho thấy, chất lượng giấc ngủ 
bị  ảnh  hưởng  bởi  các  yếu  tố  đã  được  chọn  để 
khảo sát như đau, lo lắng, bị quấy nhiễu từ yếu 
tố  môi  trường  trong  phòng  bệnh.  Sau  phẫu 
thuật, người bệnh bị đau như là một hậu quả tất 
yếu của sự tổn thương cơ, thần kinh, mạch máu. 
Bên  cạnh  đó,  lo  lắng  là  yếu  tố  không  thể  tránh 
khỏi, người bệnh lo lắng về khả năng lành bệnh, 
tiến  triển  phục  hồi,  cũng  như  một  số  vấn  đề 
thuộc  phạm  vi  riêng  tư  như  gia  đình,  tài 
chính…Thêm vào đó, như là một yếu tố truyền 
thống,  phòng  bệnh  tại  các  khoa  phòng  luôn  có 
người nuôi bệnh túc trực bên cạnh người bệnh, 
vì vậy việc chất lượng giấc ngủ của người bệnh 
bị  ảnh  hưởng  từ  tiếng  ồn  do  thân  nhân  nuôi 

bệnh gây ra là điều không thể tránh khỏi. Người 
bệnh khó thích nghi với điều kiện nằm viện và bị 
quấy nhiễu bởi tiếng ồn trong phòng bệnh như 
tiếng  chuông  điện  thoại  di  động,  tiếng  trò 
chuyện của thân nhân nuôi bệnh, ánh sáng đèn. 
Kết  quả  của  nghiên  cứu  này  tương  tự  như  kết 
quả của các nghiên cứu trước, người bệnh bị mất 
ngủ sau phẫu thuật do đau, lo lắng, không thích 
nghi  với  điều  kiện  nằm  viện  là  phổ  biến  và 
chiếm tỉ lệ khá cao (89%)41,4,6,9.  

trọng, 100% người bệnh được dùng thuốc giảm 
đau sau mổ, nhân viên y tế trong hệ thống chăm 
sóc  vẫn  cần  chú  trọng  hơn  nữa  công  tác  chăm 
sóc  giảm  đau,  sử  dụng  các  phương  pháp  giảm 
đau  vật  lý  kết  hợp  với  dùng  thuốc,  để  đem  lại 
hiệu quả giảm đau tốt nhất cho người bệnh, giúp 
cải thiện chất lượng giấc ngủ.Thêm vào đó, việc 
tăng cường công tác chăm sóc trên lĩnh vực tâm 
lý  trước  và  sau  phẫu  thuật  cũng  nên  được  chú 
trọng,  giúp  người  bệnh  an  tâm  để  hạn  chế  tác 
động tiêu cực của yếu tố này lên chất lượng giấc 
ngủ. Riêng đối với yếu tố bị quấy nhiễu từ môi 
trường  trong  phòng  bệnh,  theo  như  kết  quả 
khảo  sát,  nếu  có  thể  kiểm  soát  tốt,  chất  lượng 
giấc ngủ của người bệnh chắc chắn sẽ được nâng 
cao.  Vì  vậy, nhân  viên y  tế  cần  có  kế  hoạch  cắt 
giảm bớt độ phiền nhiễu của yếu tố này. Ví dụ, 
có thể tắt giảm bớt đèn ở những vị trí không cần 
thiết  vào  ban  đêm,  có  quy  định  giờ  tắt  mở  đèn 

trong  phòng  bệnh  cụ  thể;  có  chương  trình  giáo 
dục về nội quy bệnh viện hằng tuần, có biển báo 
nhắc nhở mọi người giữ yên lặng khi vào bệnh 
viện,  có  biển  báo  cấm  chuông  điện  thoại  trong 
phòng bệnh, thường xuyên nhắc nhở thân nhân 
giữ yên tĩnh phòng bệnh.  

KẾT LUẬN 
Theo  kết  quả  nghiên  cứu,  chất  lượng  giấc 
ngủ của người bệnh sau phẫu thuật chắc chắn sẽ 
bị ảnh hưởng bởi đau, lo lắng, và bị quấy nhiễu 
từ yếu tố môi trường trong phòng bệnh. Vì vậy, 
nhân viên y tế, hệ thống chăm sóc sức khỏe nên 
đặc biệt quan tâm chú ý đến các yếu tố gây ảnh 
hưởng này, đặc biệt là yếu tố môi trường trong 
phòng bệnh. Việc xây dựng kế hoạch chăm sóc 
để kiểm soát tốt các yếu tố gây ảnh hưởng đến 
chất  lượng giấc  ngủ  là  việc  làm  cần thiết  nhằm 
nâng cao chất lượng chăm sóc, giúp người bệnh 
hồi phục nhanh nhất và toàn diện nhất. 

TÀI LIỆU THAM KHẢO 
1.

Chung F, Un V, & Su. (1996). Các triệu chứng thường gặp ở 
người  bệnh  hậu  phẫu  sau  gây  mê  bằng  nội  khí  quản.  Can 
Journal Anaesthesia, 43(11), 1121‐1127. 
Irwin M, McClintik J, Costlow C, Fortner M, White J, & Gillin 
JC. (1996). Sự gián đoạn giấc ngủ về đêm và sự giảm sút khả 


Từ  kết  quả  trên  ta  thấy  rằng,  dù  chăm  sóc 
giảm đau sau  mổ  cho người  bệnh  đã  được  chú 

2.

116

Chuyên Đề Điều Dưỡng Kỹ Thuật Y Học 


Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 18 * Phụ bản của Số 5 * 2014 

3.

4.

5.

6.

7.

năng đáp ứng miễn dịch ở con người. Federation of American 
Societies for Experimental Biology Journal, 10, 643‐648. 
Knutson KL, Spiegel K, Penev P, & VanCauter E. (2007). Tác 
động  của  mất  ngủ  trên  chuyển  hóa.  Sleep  Medicine  Review, 
11(3), 163‐178. 
Ku CM, & Ong BC. (2003). Tổng hợp y văn trong giai đoạn 
hiện thời về triệu chứng nôn và ói sau mổ. Singapore Medicine 
Journal, 44(7), 366‐374. 

Long NH. (2010). Các nhân tố liên quan đến các triệu chứng sau 
mổ ở người bệnh phẫu thuật bụng. Master’s  thesis,  Department 
of Adult Nursing, Burapha University. 
Pavlin D, Chen C, Penaloza D, & Buckley F. (2004). Khảo sát 
đau và các triệu chứng ảnh hưởng lên quá trình phục hồi sau 
phẫu thuật. Journal of Clinical Anesthesia, 16, 200‐206. 
Richards DA. (1987 a). Công cụ đo lường chất lượng giấc ngủ. 
Focus on Critical Care, 14(4), 34‐40. 

8.

9.

10.
11.

Nghiên cứu Y học

Richardson KC, O’Sullivan PS, & Phillips RL. (2007). Đánh giá 
phương pháp đo lường chất lượng giấc ngủ trên người bệnh 
cấp tính. Journal of Nursing Measurement, 8, 2‐2000. 
Schulz P, Zimmerman L, Pozehl B, Barnason S, & Nieveen J. 
(2009). Chiến lược quản lý các triệu chứng ở người bệnh cao 
tuổi  sau  phẫu  thuật  mạch  vành.  Applied  Nursing  Research, 
24(2), 65‐73.  
Tabachnick  BG,  &  Fidell  LS.  (2001).  Phương  pháp  chọn  mẫu. 
Boston: Allyn and Bacon. 
Zigmond  AS,  &  Snaith  RP.  (1983).Thang  đo  lo  lắng  và  trầm 
cảm. Acta Psychiatric Scandinavica, 67(6), 361‐370. 


 
Ngày nhận bài báo: 

 

 

Ngày phản biện nhận xét bài báo: 
Ngày bài báo được đăng: 

 

05/9/2014 

 

29/9/2014 
20/10/2014 

 

 

Chuyên Đề Điều Dưỡng Kỹ Thuật Y Học

117




×