Nghiên cứu Y học
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 18 * Phụ bản của Số 6 * 2014
KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ VÀ VIỆC TUÂN THỦ ĐIỀU TRỊ
CỦA BỆNH NHÂN TĂNG HUYẾT ÁP TẠI TRUNG TÂM Y TẾ
HUYỆN DƯƠNG MINH CHÂU TỈNH TÂY NINH
Đào Thị Lan*, Đặng Văn Chính**
TÓM TẮT
Đặt vấn đề: Tuân thủ điều trị là yếu tố quan trọng trong điều trị bệnh tăng huyết áp. Vì vậy đánh giá kiến
thức, thái độ và việc tuân thủ điều trị của bệnh nhân tăng huyết áp (THA) là rất cần thiết trong việc điều trị và
theo dõi bệnh nhân THA.
Mục tiêu nghiên cứu: Khảo sát kiến thức, thái độ và việc tuân thủ điều trị của bệnh nhân THA được điều
trị từ 3 tháng trở lên và các mối liên quan với các đặc điểm dân số xã hội.
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang trên 400 bệnh nhân THA ≥ 18 tuổi được
điều trị ngoại trú ≥ 3 tháng tại Trung Tâm Y tế huyện Dương Minh Châu, Tây Ninh.
Kết quả: Hơn 20% bệnh nhân có kiến thức chung về bệnh THA thấp, 71% trung bình. Tỷ lệ có thái độ phù
hợp và chưa phù hợp với điều trị THA là tương đương nhau. 86% bệnh nhân tuân thủ điều trị hoàn toàn và
70,5% bệnh nhân đạt HA mục tiêu sau thời gian điều trị. Các yếu tố liên quan đến kiến thức THA gồm: tuổi và
nghề nghiệp; đến thái độ điều trị THA gồm: giới, nghề nghiệp, học vấn, tình trạng hôn nhân và khoảng cách từ
nhà bệnh nhân đến TTYT; đến tuân thủ điều trị gồm: học vấn và bảo hiểm y tế của bệnh nhân. Bệnh nhân có kiến
thức càng cao, thái độ phù hợp thì sự tuân thủ điều trị càng tốt.
Kết luận: Tỷ lệ bệnh nhân có kiến thức thấp và có thái độ chưa phù hợp với điều trị THA còn cao. Sự tuân
thủ điều trị còn phụ thuộc vào kiến thức và thái độ của bệnh nhân.
Từ khóa: Tăng huyết áp, tuân thủ, điều trị.
ABTRACT
KNOWLEDGE, ATTITUDE AND TREATMENT COMPLIANCE OF HIGH BLOOD PRESSURE
PATIENTS AT MEDICAL STATION OF DUONG MINH CHAU DITSTRICT,
TAY NINH PROVINCE
Dao Thi Lan, Dang Van Chinh
* Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 18 ‐ Supplement of No 6‐ 2014: 177 – 185
Background: Treatment compliance is one of the most important factors in high blood pressure control.
Therefore, it’s necessary to evaluate patients’ knowledge, attitude and treatment compliance in high blood
pressure control and follow‐up.
Objectives: To evaluate knowledge, attitude and treatment compliance of high blood pressure patients, who
have been treated for over three months, and relationships between knowledge, attitude and compliance, and social
determinants.
Methods: This was a cross‐sectional survey based on direct interviews of a sample of 400 high blood pressure
outpatients aged 18 years and older at Health Center in Duong Minh Chau district, Tay Ninh province.
Result: More than 20% of patients had poor knowledge and 71% of patients had medium knowledge of
*
Bệnh viện đa khoa huyện Dương Minh Châu, Tây Ninh
**
Viện Y tế công cộng Thành phố Hồ Chí Minh
Tác giả liên lạc: BS. CKI Đào Thị Lan
176
ĐT: 0919 91 61 44
Email:
Chuyên Đề Y Tế Công Cộng
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 18 * Phụ bản của Số 6 * 2014
Nghiên cứu Y học
hypertension. The proportion of patients with appropriate attitude was similar to that of patients with
unappropriate attitide. After treatment period, 86% of patients completely complied treatment regimen, and
70.5% achieved high blood pressure treatment goals. There were significant relationships between knowledge and
social determinants such as age, occupations. There were also relationships between attitude and social
determinants such as gender, occupation, education, marriage status and distance from patient’ house to the
Health Care Center. Education and medical insurance were social determinants which were related to treatment
compliance in this study.
Conclusion: There were still high proportions of patients with poor knowledge and unappropriate attitude
towards high blood pressure treatment. Treatment compliance was dependent on patients’ knowledge and attitude.
Keywords: Highblood pressure, complied treatment regimen, treatment.
ĐẶT VẤN ĐỀ
Thế giới hiện nay có khoảng 1,6 tỷ người
tăng huyết áp (THA). Ước tính THA là nguyên
nhân gây tử vong 7,1 triệu người/năm và chiếm
4,5% gánh nặng bệnh tật toàn cầu, trong đó 64
triệu người sống trong tàn phế(2).
Tuân thủ điều trị (TTĐT) là yếu tố quyết
định thành công trong điều trị tuy nhiên vẫn còn
một tỷ lệ lớn bệnh nhân chưa thực sự tuân thủ
điều trị tốt, một nghiên cứu cho thấy hơn một
nửa bệnh nhân đang được điều trị bệnh THA
ngưng điều trị hoàn toàn sau một năm và chỉ có
50% trong số người còn lại chỉ dùng khoảng 80%
số thuốc đã được bác sỹ của họ kê toa(6).
THA là bệnh mạn tính nên việc điều trị gần
như suốt đời.Tuy nhiên việc giáo dục nhận thức
về TTĐT của bệnh nhân và công tác kiểm soát
huyết áp (HA) chưa đạt hiệu quả cao. Chính vì
thiếu sự TTĐT thuốc hạ huyết áp của bệnh nhân
với chẩn đoán THA, do đó xấp xỉ 75% bệnh
nhân không kiểm soát HA tốt nhất. Hậu quả là
gia tăng biến chứng của bệnh THA gây tổn
thương các cơ quan đích như: tim, thận, não và
làm tăng tỷ lệ tử vong do THA(6).
Có nhiều nghiên cứu TTĐT bệnh THA được
tiến hành ở nhiều nước cũng như ở Việt Nam.
Một số nghiên cứu chứng minh rằng không tuân
thủ dùng thuốc điều trị THA khả năng có biến
chứng bệnh mạch vành gấp 4,5 lần những người
tuân thủ tốt(6). Vì vậy đánh giá kiến thức, thái độ
và việc TTĐT của bệnh THA ở một vùng nông
thôn, nơi có nhiều bệnh nhân cao huyết áp,
Chuyên Đề Y Tế Công Cộng
thường thiếu kiến thức và sự tuân thủ điều trị
hạn chế là rất quan trọng trong việc này giúp
cho ngành y tế có kế hoạch can thiệp phù hợp
nhằm đạt được mục tiêu điều trị ngày càng có
hiệu quả hơn(6).
Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu chung
Xác định tỷ lệ bệnh nhân THA được điều trị
từ 3 tháng trở lên tại TTYT huyện Dương Minh
Châu năm 2013 có kiến thức, thái độ và tuân thủ
điều trị đúng về bệnh THA và mối liên quan
giữa kiến thức, thái độ và tuân thủ điều trị với
các đặc điểm dân số xã hội.
Mục tiêu cụ thể
Xác định tỷ lệ bệnh nhân THA có kiến thức
đúng về bệnh THA.
Xác định tỷ lệ bệnh nhân THA có thái độ
phù hợp về bệnh THA.
Xác định tỷ lệ bệnh nhân tuân thủ về điều trị
bệnh THA.
Xác định mối liên quan giữa KT, TĐ và mức
độ TTĐT của bệnh nhân với các đặc điểm dân số
xã hội.
Tìm hiểu mối liên quan giữa KT, TĐ về bệnh
THA với sự TTĐT của bệnh nhân.
ĐỐI TƯỢNG ‐ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu cắt ngang.Thực hiện trên bệnh
nhân ≥18 tuổi được chẩn đoán bệnh THA đang
sinh sống tại huyện Dương Minh Châu, Tây Ninh.
177
Nghiên cứu Y học
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 18 * Phụ bản của Số 6 * 2014
Cỡ mẫu được tính theo công thức:
Trong đó: Z1‐α/2 =1,96; d =0,05; p =0,508(8). Cỡ mẫu tính
được là n = 384 bệnh nhân. Để dự phòng mất mẫu, mẫu
được làm tròn là 400 bệnh nhân.
Dữ liệu được nhập bằng phần mềm Epidata
và phân tích bằng phầm mềm Stata.
KẾT QUẢ
Kiến thức về bệnh THA
Bảng 2: Kiến thức về bệnh THA (n=400)
Đặc điểm mẫu nghiên cứu
Đặc điểm
Bảng 1: Các đặc điểm của mẫu nghiên cứu (n=400)
Đặc điểm
Nhóm tuổi
30-44
45-59
60 trở lên
Giới
Nam
Nữ
Nghề nghiệp
Nội trợ
Nông dân
Công nhân viên chức
Khác
Học vấn
Mù chữ, cấp 1
Cấp 2
Cấp 3
Trên cấp 3
Tình trạng hôn nhân
Có gia đình
Ly thân/ly dị
Độc thân/góa
Bảo hiểm y tế
Có
Không
Khoảng cách từ nhà đến TTYT
Dưới 5 km
5 – 10 km
10 – 15 km
Trên 15 km
Tần số (n) Tỷ lệ (%)
27
179
6,7
44,8
194
48,5
145
255
36,3
63,7
146
116
103
35
36,5
29,0
25,8
8,7
204
51,0
113
66
28,2
16,5
17
4,3
299
8
92
74,7
2,0
23,3
366
34
91,5
8,5
158
85
63
94
39,5
21,3
15,8
23,5
Nữ giới chiếm tỷ lệ gấp đôi so với nam giới.
Trên 90% bệnh nhân có độ tuổi từ 45 tuổi trở lên.
Hơn 2/3 bệnh nhân nghiên cứu có nghề nghiệp
là nông dân hoặc nội trợ.Về học vấn, đa số đối
178
tượng có học vấn mù chữ hoặc cấp 1 với 51%,
chỉ có 4,3% đối tượng có học vấn trên cấp 3. Hơn
90% các đối tượng nghiên cứu đều có bảo hiểm y
tế (BHYT) và trên 70% đối tượng nghiên cứu có
thể tiếp cận cơ sở y tế gần nhất trong khoảng
cách dưới 15 km.
Kiến thức về bệnh THA
Thấp
Trung bình
Cao
Biết ít nhất một triệu chứng bệnh THA
Biết các yếu tố ảnh hưởng đến THA
Biết bệnh THA có thể được phòng
ngừa
Biết cách phát hiện bệnhTHA
Biết yếu tố làm thay đổi HA đột ngột
Bệnh THA phải điều trị lâu dài
Biến chứng bệnh THA
Biết cách hạn chế bệnh THA ngoài
uống thuốc
Tần số
(n)
Tỷ lệ
(%)
85
284
31
397
383
251
21,2
71,0
7,8
99,3
95,8
62,8
355
370
344
393
400
89,0
92,5
86,0
98,3
100,0
Hơn 20% đối tượng nghiên cứu có kiến thức
thấp về bệnh THA, 71% ở mức trung bình và 8%
ở mức cao.
Gần 100% bệnh nhân biếtít nhất một triệu
chứng của bệnh THA, 10% bệnh nhân không
biết cách phát hiện THA và 37% bệnh nhân
không biết bệnh THA có thể phòng ngừa. 96%
bệnh nhân biết ít nhất một yếu tố nguy cơ ảnh
hưởng đến THA, 93% biết yếu các tố làm thay
đổi HA đột ngột, 86% biết THA phải điều trị lâu
dài, 98% biết ít nhất một biến chứng của THA và
100% biết ít nhất một biện pháp hạn chế bệnh
THA ngoài uống thuốc.
Thái độ về bệnh THA
Bảng 3: Thái độ về bệnh THA (n = 400)
Đặc điểm
Tần số (n) Tỷ lệ (%)
Thái độ về bệnh THA
Phù hợp
202
50,5
Chưa phù hợp
198
49,5
399
99,8
Đồng ý theo dõi HA trong quá trình
điều trị
Đồng ý bệnh THA cần điều trị lâu
396
99,0
Chuyên Đề Y Tế Công Cộng
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 18 * Phụ bản của Số 6 * 2014
Nghiên cứu Y học
Đặc điểm
Tần số (n) Tỷ lệ (%)
399
79,8
Đồng ý cần tái khám bệnh THA định
kỳ
Đồng ý hút thuốc lá làm THA
201
46,3
Đồng ý uống bia rượu làm THA
212
53,1
Đồng ý ăn mặn làm THA
398
99,5
Đồng ý ít vận động làm THA
327
81,8
Đồng ý căng thẳng làm THA
337
84,3
Tỷ lệ bệnh nhân có thái độ phù hợp đối với
bệnh THA khoảng 50%, tương đương với tỷ lệ
bệnh nhân có thái độ chưa tốt. Hơn 90% bệnh
nhân đồng ý rằng cần phải theo dõi HA thường
xuyên, cần phải điều trị lâu dài, phải tái khám
định kỳ và ăn mặn là một trong những nguy cơ
của bệnh THA. Khoảng 80% bệnh nhân cho rằng
ít vận động và trạng thái tinh thần căng thẳng là
yếu tố nguy cơ của bệnh THA. Khoảng 50% số
bệnh nhân cho rằng hút thuốc là và uống nhiều
bia, rượu là yếu tố nguy cơ của bệnh THA.
Tuân thủ điều trị
Bảng 4: Mức độ TTĐT của đối tượng nghiên cứu
(n=400)
Đặc điểm
Mức độ TTĐT
Hoàn toàn
Không hoàn toàn
Tần số (n)
Tỷ lệ (%)
336
64
84,0
16,0
Đặc điểm
Tần số (n)
Bỏ hút thuốc lá theo hướng dẫn
97
Hạn chế rượu
44
Giảm ăn mặn
395
Tăng vận động
317
Uống đủ thuốc hạ áp
391
Uống thuốc đủ liều
367
Uống thuốc đúng thời gian
364
Tái khám đúng hẹn
341
Tình trạng sau 3 tháng điều trị
Tiếp tục điều trị
397
Bỏ điều trị
3
Đạt huyết áp mục tiêu
Đạt
282
Không
118
Tỷ lệ (%)
95,1
86,3
98,7
79,2
97,7
91,7
91,0
85,2
99,2
0,7
70,5
29,5
84% bệnh nhân TTĐT hoàn toàn, 70% đạt
HA mục tiêu là 70%. Trong số người hút thuốc
lá có hơn 95% bỏ thuốc lá hoặc có giảm hút theo
hướng dẫn. 86% hạn chế uống rượu. Hầu hết
bệnh nhân có giảm ăn mặn, tăng vận động thể
lực (98% và 79%). Gần 98% uống đủ thuốc hạ áp;
92% uống thuốc đủ liều; 91% uống thuốc đúng
thời gian và có 85% bệnh nhân tái khám đúng
hẹn. Sau 3 tháng điều trị, trên 99% bệnh nhân
tiếp tục điều trị.
Mối liên quan giữa kiến thức, thái độ và mức độ TTĐT với các điều kiện dân số xã hội
Bảng 5: Mối liên quan giữa kiến thức bệnh THA và một số đặc điểm dân số xã hội (n=400)
Đặc điểm
Nhóm tuổi
Giới
Nghề nghiệp
Học vấn
Hôn nhân
< 45
45 – 59
≥ 60
Nam
Nữ
Nội trợ
Nông dân
Công nhân viên chức
Khác
Mù chữ, cấp 1
Cấp 2
Cấp 3
Trên cấp 3
Có gia đình
Ly thân/ly dị
Độc thân/góa
Chuyên Đề Y Tế Công Cộng
Thấp (n, %)
12 (44,4)
34 (18,9)
39 (20,1)
27 (18,6)
58 (22,7)
30 (20,6)
22 (19,0)
21 (20,4)
12 (34,3)
45 (22,1)
30 (26,6)
7 (10,6)
3 (17,6)
66 (22,1)
2 (25,0)
17 (18,3)
Kiến thức
Trung bình (n, %)
14 (51,9)
130 (72,6)
140 (72,2)
107 (73,8)
177 (69,4)
100 (68,5)
88 (75,9)
77 (74,8)
19 (54,3)
142 (69,6)
78 (69,0)
52 (78,8)
12 (70,6)
209 (69,9)
6 (75,0)
69 (74,2)
Cao (n, %)
1 (3,7)
15 (8,4)
15 (7,7)
11 (7,6)
20 (7,8)
16 (11,0)
6 (5,2)
5 (4,8)
4 (11,4)
17 (8,3)
5 (4,4)
7 (10,6)
2 (11,8)
24 (8,0)
0
7 (7,5)
p
0,049
0,6
0,13
0,2
0,85
179
Nghiên cứu Y học
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 18 * Phụ bản của Số 6 * 2014
Đặc điểm
BHYT
Khoảng cách đến
trạm y tế gần nhất
Có
Không
<5 km
5 – 10 km
10 – 15 km
>15 km
Kiến thức
Trung bình (n, %)
259 (70,8)
25 (73,5)
109 (69,0)
58 (68,2)
49 (77,8)
68 (72,3)
Thấp (n, %)
77 (21,0)
8 (23,5)
34 (21,5)
21 (24,7)
9 (14,3)
21 (22,3)
Có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa
kiến thức về bệnh THA với đặc điểm tuổi của
bệnh nhân, tỷ lệ bệnh nhân tuổi càng cao thì tỷ lệ
có kiến thức về bệnh cao huyết áp càng cao.
Các đặc điểm: giới, học vấn, nghề nghiệp,
tình trạng hôn nhân, có hay không có BHYT,
khoảng cách từ nhà bệnh nhân đến TTYT không
có mối liên quan với kiến thức về bệnh THA.
Thái độ
p
Chưa phù Phù hợp
hợp (n, %) (n, %)
14 (51,8) 13 (48,2)
86 (48,0) 93 (52,0) 0,86
98 (50,5) 96 (49,5)
23 (15,9) 122 (84,1)
< 0,001
175 (68,6) 80 (31,4)
96 (65,8) 50 (34,2)
45 (38,8) 71 (61,2)
42 (40,8) 61 (59,2) <0,001
Dưới 45
Nhóm tuổi
45 – 59
60 trở lên
Nam
Giới
Nữ
Nội trợ
Nông dân
Nghề nghiệp Công nhân
viên chức
Khác
15 (42,9) 20 (57,1)
Mù chữ, cấp 117 (57,4) 87 (42,6)
1
Cấp 2
58 (51,3) 55 (48,7) <0,001
Học vấn
Cấp 3
19 (28,8) 47 (71,2)
Trên cấp 3
4 (23,5) 13 (76,5)
Có gia đình 137 (45,8) 162 (54,2)
Hôn nhân Ly thân/ly dị
5 (62,5)
3 (37,5)
0,04
Độc thân/góa 56 (60,2) 37 (39,8)
Có
176 (48,1) 190 (51,9)
Bảo hiểm y
0,06
tế
Không
22 (64,7) 12 (35,3)
<5 km
68 (43,0) 90 (57,0)
Khoảng cách 5 – 10 km
37 (43,5) 48 (56,5)
đến trạm y tế
0,02
10
–
15
km
36 (57,1) 27 (42,9)
gần nhất
>15 km
57 (60,6) 37 (39,4)
Bảng 6 cho thấy có sự khác biệt có ý nghĩa
thống kê giữa thái độ về THA của bệnh nhân với
các đặc điểm: giới, nghề nghiệp, trình độ học
180
p
0,54
0,68
vấn, tình trạng hôn nhân, và khoảng cách từ nhà
bệnh nhân đến TTYT (p<0,05). Các đặc điểm
tuổi, có hay không có BHYT không có mối liên
quan có ý nghĩa thống kê với thái độ về bệnh
THA của bệnh nhân.
Bảng 7: Mối liên quan giữa mức độ TTĐT bệnh
THA và một số đặc điểm dân số xã hội (n=400)
Đặc điểm
Bảng 6: Mối liên quan giữa thái độ về bệnh THA và
một số đặc điểm dân số xã hội (n=400)
Đặc điểm
Cao (n, %)
30 (8,2)
1 (2,9)
15 (9,5)
6 (7,1)
5 (7,9)
5 (5,3)
Nhóm tuổi
Giới
Nghề
nghiệp
Học vấn
Hôn nhân
BHYT
Khoảng
cách từ
nhà đến
TTYT
Dưới 45
45 – 59
60 trở lên
Nam
Nữ
Nội trợ
Nông dân
Công nhân viên
chức
Khác
Mù chữ, cấp 1
Cấp 2
Cấp 3
Trên cấp 3
Có gia đình
Ly thân/ly dị
Độc thân/góa
Có
Không
<5 km
5 – 10 km
10 – 15 km
>15 km
Mức độ tuân thủ
Không
Hoàn toàn
hoàn toàn
(n, %)
(n, %)
6 (22,2)
21 (77,8)
p
31 (17,3)
27 (13,9)
21 (14,5)
43 (16,9)
20 (13,7)
21 (18,1)
17 (16,5)
148 (82,7) 0,44
167 (86,1)
124 (85,5)
0,53
212 (83,1)
126 (86,3)
95 (81,9)
86 (83,5) 0,8
6 (17,1)
28 (13,7)
27 (23,9)
5 (7,6)
4 (23,5)
47 (15,7)
1 (12,5)
16 (17,2)
48 (13,1)
16 (47,1)
34 (21,5)
11 (12,9)
8 (12,7)
11(11,7)
29 (82,9)
176 (86,3)
86 (76,1)
0,02
51 (92,4)
13 (76,5)
252 (84,3)
7 (87,5)
0,9
77 (82,8)
318 (86,9)
<0,001
18 (52,9)
124 (78,5)
74 (87,1)
0,11
55 (87,3)
83 (88,3)
Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê
giữa mức độ TTĐT với các nhóm tuổi, giới tính,
nghề nghiệp, tình trạng hôn nhân và khoảng
cách nhà đến TTYT của đối tượng nghiên cứu.
Những người học vấn dưới cấp 2 hoặc có
học vấn cấp 3, tỷ lệ tuân thủ hoàn toàn trên 86%.
Chuyên Đề Y Tế Công Cộng
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 18 * Phụ bản của Số 6 * 2014
Nghiên cứu Y học
Những người có học vấn cấp 2 hoặc học vấn trên
cấp 3 thì tỷ lệ tuân thủ chỉ có 76%.Bệnh nhân có
BHYT tuân thủ hoàn toàn gần 87%, những bệnh
nhân không có BHYT tuân thủ hoàn toàn chỉ
khoảng 53%. Sự khác biệt này có ý nghĩa thống
kê (p< 0,05).
Mối liên quan giữa kiến thức, thái độ về bệnh
THA với mức độ TTĐT
Bảng 8: Mối liên quan giữa mức độ TTĐT bệnh THA
với kiến thức và thái độ đối với bệnh THA áp (n=400)
Đặc điểm
Kiến thức
Thấp
Trung bình
Cao
Thái độ
Phù hợp
Chưa phù hợp
Mức độ tuân thủ
Hoàn toàn Không hoàn toàn
(n, %)
(n, %)
57 (67,1)
250 (88,0)
29 (93,6)
28 (32,9)
34 (12,0)
2 (6,4)
181 (89,6)
155 (78,3)
21 (10,4)
43 (21,7)
p
<0,001
0,002
Bảng 8 cho thấy có mối liên quan có ý nghĩa
thống kê giữa mức độ TTĐT và kiến thức bệnh
THA và với thái độ bệnh THA.Tỷ lệ TTĐT tỷ lệ
thuận với kiến thức, kiến thức càng cao thì tuân
thủ hoàn toàn càng cao.Những người có thái độ
phù hợp tuân thủ hoàn toàn gần 90%, người có
thái độ chưa phù hợp tuân thủ hoàn toàn là 78%.
BÀN LUẬN
Về kiến thức, 21% bệnh nhân vẫn còn có kiến
thức thấp về THA, kiến thức cao chỉ đạt 8%, chủ
yếu kiến thức trung bình với 71%. 99% người
biết mô tả được từ 1 triệu chứng trở lên của bệnh
THA, kết quả này cao so với nghiên cứu của
Nguyễn Xuân Thắng (9%)(Error! Reference
source not found.). 89% bệnh nhân biết cách
phát hiện THA là đo HA thường xuyên, kết quả
này tương đương với kết quả của Nguyễn Tuấn
Khanh (87%)(7), cao hơn kết quả của Lâm Thanh
Vân (53%)(4). 63% bệnh nhân biết THA là bệnh
có thể phòng ngừa được. Trong khi đó kết quả
của Nguyễn Tuấn Khanh chỉ có 28%. Có sự khác
biệt này là do nhóm bệnh nhân THA của chúng
tôi đã được tư vấn về bệnh THA trong quá trình
theo dõi điều trị.
Chuyên Đề Y Tế Công Cộng
Về thái độ, tỷ lệ bệnh nhân có thái độ phù
hợp và chưa phù hợp về bệnh THA là tương
đương nhau. Kết quả này tương tự với nghiên
cứu của Nguyễn Xuân Thắng, thái độ đúng về
bệnh THA là 50%; cao hơn kết quả của Nguyễn
Tuấn Khanh (39%). Với tỷ lệ trên cho thấy thái
độ phù hợp của người tham gia nghiên cứu đối
với bệnh THA chưa cao. Ðiều này có thể là do
điều kiện sống chưa cao, trình độ học vấn còn
thấp, nên người dân chưa quan tâm nhiều đến
bệnh THA nói riêng và các vấn đề sức khỏe nói
chung. Đây cũng là cơ sở để tăng cường công tác
truyền thông giáo dục sức khỏe về bệnh THA
cho người dân. Gần 100% người tham gia
nghiên cứu có thái độ đúng là phải theo dõi trị
số HA trong quá trình điều trị. Điều này cho
thấy đây là dấu hiệu tốt, khi phần lớn người
tham gia nghiên cứu có học vấn không cao và
nghề nghiệp nội trợ và nông dân chiếm số đông.
Đối với các thói quen có nguy cơ THA gần
100% bệnh nhân có thái độ đồng ý ʺăn mặn làm
THAʺ, kết quả này tương đương với Nguyễn
Văn Út (97%)(9) và cao hơn của Nguyễn Xuân
Thắng (63%). Thái độ này cũng phù hợp với kiến
thức bệnh nhân.
Về TTĐT, 84% bệnh nhân TTĐT hoàn toàn.
Kết quả này cao hơn của Ðào Duy An (48%),
Trần Hữu Hậu (23%), của Nguyễn Tuấn Khanh
(41%), của Nguyễn Xuân Thắng (53%). Vẫn còn
26% bệnh nhân tuân thủ không hoàn toàn, đây
là điều mà nhân viên y tế cần phải tư vấn tích
cực hơn cho bệnh nhân về hậu quả của việc
không TTĐT sẽ gây ra các biến chứng nguy
hiểm của bệnh THA.
Người hút thuốc đã thực hành bỏ thuốc lá
theo hướng dẫn đạt tỷ lệ 88%. Đây là dấu hiệu
tích cực của người bệnh vì ngưng hút thuốc lá là
một trong các biện pháp hiệu quả nhất để giảm
các yếu tố nguy cơ tim mạch. Ngưng hút thuốc
lá giảm THA còn giảm cả bệnh động mạch vành
và đột quỵ, góp phần làm tăng tác dụng của
thuốc hạ áp. Kết quả này cao hơn của Trần Hữu
181
Nghiên cứu Y học
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 18 * Phụ bản của Số 6 * 2014
Hậu (70%), của Nguyễn Tuấn Khanh (68%)(7),
và cao là 72% và 8%, tỷ lệ này cao hơn nhóm
của Huỳnh Thị Tiền (41%)(3).
dưới 45 tuổi. Sự khác biệt này có ý nghĩa thống
Bệnh nhân uống rượu thực hiện giảm uống
kê (p<0,05). Những nhóm tuổi này là những
rượu theo hướng dẫn đạt tỷ lệ 86%. Kết quả này cao
bệnh nhân chiếm số đông trong mẫu, từng tiếp
hơn của Nguyễn Tuấn Khanh (79%), của Nguyễn
cận với y tế, với các phương tiện truyền thông
Xuân Thắng (45%), của Huỳnh Thị Tiền (52%).
nên phần nào đã được tư vấn và hiểu biết về
Kết quả của chúng tôi cao hơn có thể là do số
bệnh THA vì thế tỷ lệ kiến thức mức độ cao và
bệnh nhân uống rượu trong mẫu ít, nên việc tư
mức độ trung bình cao hơn nhóm khác. Bệnh
vấn, nhắc nhở dễ dàng và đạt hiệu quả hơn. Giảm
nhân có kiến thức thấp ở nhóm tuổi <45 là 44%,
ăn mặn: 99% bệnh nhân thực hành giảm ăn mặn,
điều này cho thấy cần phải giáo dục sức khỏe, tư
tỷ lệ này cao do bệnh nhân đã nhận thức được ăn
vấn bệnh THA cho nhóm bệnh nhân dứới 45
mặn là yếu tố nguy cơ của THA và đồng tình với
tuổi để họ có kiến thức dự phòng và điều trị
việc giảm ăn mặn khá cao nên bệnh nhân ý thức
bệnh THA.
ăn lạt để phòng ngừa và điều trị THA. Tỷ lệ này
Theo giới, nữ giới có tỷ lệ thái độ chưa phù
cao hơn của Nguyễn Văn Nành (28%)(8), Nguyễn
hợp cao hơn gấp đôi so với nam giới. Theo nghề
Tuấn Khanh (47%), Nguyễn Xuân Thắng (50%),
nghiệp, nhóm nghề nghiệp nội trợ có thái độ
Huỳnh Thị Tiền (63%)(3).
chưa phù hợp cao nhất. Nghiên cứu cũng ghi
Có 98% bệnh nhân uống đủ thuốc hạ áp
nhận, học vấn càng thấp thái độ chưa phù hợp
được bác sĩ kê đơn, tỷ lệ này cao hơn của
càng cao, những người chưa có gia đình hay góa
Nguyễn Văn Nành (32%), Bùi Thị Mai Tranh
có thái độ phù hợp thấp. Sự khác biệt này có ý
(28%), của Huỳnh Thị Tiền (35%). Và tương
nghĩa thống kê, đây là điểm đặc biệt cần chú ý
đương với kết quả của Trần Hữu Hậu (94%). Kết
trong công tác truyền thông, giáo dục sức khỏe
quả của chúng tôi cao đó là do TTYT Dương
về bệnh THA, tập trung nhiều vào giới nữ và
Minh Châu đã thành lập phòng khám chuyên
những người nội trợ. Các bệnh nhân có khoảng
khoa cho bệnh THA và bệnh nhân được làm hồ
cách nhà càng xa TTYT thì thái độ phù hợp càng
sơ bệnh án ngoại trú, theo dõi điều trị và xét
thấp. Điều này cho thấy điều kiện xa cơ sở y tế,
nghiệm định kỳ cho bệnh nhân.
việc tiếp xúc nhân viên y tế ít hơn, ít được tư vấn
Tái khám đúng hẹn: có 85% bệnh nhân tái
khám theo lịch hẹn, tỷ lệ này cao hơn của
cặn kẽ hơn nên thái độ đồng tình về bệnh THA
thấp hơn.
Nguyễn Văn Nành (32%), Bùi Thị Mai Tranh
Các đối tượng có học vấn là mù chữ hoặc
(34%), Nguyễn Tuấn Khanh (65%), Nguyễn
cấp 1 và nhóm có học vấn cấp 3 tuân thủ hoàn
Xuân Thắng (73%), Huỳnh Thị Tiền (31%) và
toàn cao nhất với hơn 86%. Sự TTĐT hoàn toàn
thấp hơn của Nguyễn Hữu Hậu (93%).
ở nhóm có học vấn cấp 2 và nhóm có học vấn
Một số mối liên quan
trên cấp 3 thấp hơn, khoảng 76%. Sự khác biệt
Nhóm tuổi từ 45‐59 có kiến thức mức trung
bình và cao là 73% và 8% tương đương với
nhóm từ 60 tuổi trở lên có kiến thức trung bình
182
này có ý nghĩa thống kê (p<0,05). Kết quả này
tương tự như kết quả của Huỳnh Thị Tiền(3), học
vấn có liên quan đến TTĐT bệnh THA của bệnh
nhân. Nhóm có BHYT, có tỷ lệ TTTĐT hoàn toàn
Chuyên Đề Y Tế Công Cộng
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 18 * Phụ bản của Số 6 * 2014
Nghiên cứu Y học
là 87% so với tỷ lệ 53% trong nhóm không có
của bệnh nhân về các biện pháp thay đổi lối
BHYT. Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê.
sống và biện pháp dùng thuốc đạt tỷ lệ khá cao.
Nguyên nhân có thể do người có BHYT quan
khám chữa bệnh, do đó họ TTĐT cao hơn.
Có mối liên quan giữa kiến thức về bệnh
THA với tuổi và nghề nghiệp của bệnh nhân;
giữa thái độ về bệnh THA với giới, nghề nghiệp,
học vấn, tình trạng hôn nhân và khoảng cách từ
nhà bệnh nhân đến Trung tâm y tế; giữa mức độ
TTĐT với học vấn và bảo hiểm y tế của bệnh
nhân; giữa mức độ tuân thủ hoàn toàn hay
không hoàn toàn với kiến thức và thái độ về
bệnh THA của bệnh nhân.
Nghiên cứu của Nguyễn Văn Nành cũng cho
KIẾN NGHỊ
thấy người có BHYT TTĐT gấp 5,7 lần so với
kết quả các yếu tố liên quan đến việc tuân thủ
Cần tư vấn giáo dục sức khỏe để nâng cao
kiến thức về bệnh THA cho bệnh nhân.Chú
trọng đến đối tượng có học vấn thấp và đối
tượng không có thẻ BHYT.
dùng thuốc chống THA trên bệnh nhân cao tuổi
Trong quán lý ca bệnh THA cần chú ý đối
tâm đến việc tái khám định kỳ để được lãnh
thuốc uống đúng liều, đủ liều nhiều hơn những
đối tượng không tham gia BHYT. Việc tham gia
BHYT cũng là yếu tố giúp cho bệnh nhân TTĐT
đầy đủ hơn, lý do quan trọng là bệnh nhân có
BHYT không phải trả nhiều chi phí cho dịch vụ
người không BHYT 8 . Huỳnh Thị Tiền cũng cho
( )
kết quả tương tự(3).Bùi Thị Mai Tranh cũng cho
THA là BHYT, tuổi và tình trạng hôn nhân(1).
Những người có kiến thức cao, TTĐT hoàn
toàn đạt 94% so với những người có kiến thức
tượng học vấn thấp, đối tượng trẻ tuổi, giới tính
nữ, đối tượng sống độc thân/ góa/ ly thân/ ly dị
và những đối tượng ở nơi xa cơ sở điều trị.
thấp TTĐT hoàn toàn chỉ có 67%. Nghiên cứu
Cần quan tâm hơn đến đối tượng không có
của Nguyễn Thị Minh Hằng, tại phòng khám
bảo hiểm y tế, đối tượng có kiến thức thấp về
Bệnh viện Đà Nẵng cũng có kết quả tương tự, có
bệnh cao huyết áp. Việc kiểm soát tốt huyết áp
kiến thức về bệnh THA thì tuân trị và kiểm soát
chỉ được thực hiện khi bệnh nhân có sự tuân thủ
THA tốt hơn(5). Những người có thái độ phù
điều trị tốt do đó cần hướng dẫn bệnh nhân thực
hợp thì tỉ lệ TTĐT đạt 90% so với tỷ lệ 78% ở
hiện nghiêm túc tuân thủ điều trị.
những người có thái độ chưa phù hợp. Sự khác
TÀI LIỆU THAM KHẢO
biệt này có ý nghĩa thống kê.
1.
Bùi Thị Mai Tranh (2012). Sự tuân thủ dùng thuốc hạ áp trên
bệnh nhân cao tuổi THA tại phòng khám Bệnh Viện Quận 7. Luận
án chuyên Khoa II chuyên ngành Nội Lão khoa. Đại học Y
Dược TP. Hồ Chí Minh. Tr. 41‐72.
2.
Hội Tim mạch Việt Nam (2006). Khuyến cáo về các bệnh lý tim
mạch và chuyển hoá giai đoạn 2006‐2010. Nhà xuất bản Y học.
Thành phố Hồ Chí Minh. Tr. 1‐24.
3.
Huỳnh Thị Tiền (2007). Khảo sát sự tuân thủ điều trị bệnh nhân
THA. Luận văn thạc sỹ y học. Đại học Y Dược TP. Hồ Chí
Minh. Tr. 36‐98.
4.
Lâm Thanh Vân (2008). Kiến thức và thực hành điều trị THA ở
người có tuổi tại Viện Tim TP. Hồ Chí Minh. Luận văn thạc sỹ y
học. Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh. Tr. 32‐85.
5.
Nguyễn Thị Minh Hằng (2008). Khảo sát sự tuân thủ thuốc điều
trị trên bệnh nhân THA tại phòng khám Bệnh Viện Đà Nẵng.Luận
văn thạc sỹ y học. Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh. Tr. 46‐90.
6.
Nguyễn Thị Mỹ Hạnh (2010). Kiến thức. thái độ về sử dụng
thuốc và tuân thủ dùng thuốc của bệnh nhân tăng huyết áp đang
KẾT LUẬN
Bệnh nhân có kiến thức về triệu chứng, các
yếu tố nguy cơ, cách phát hiện bệnh và các biện
pháp dự phòng, điều trị. Tuy nhiên sự hiểu biết
này không đồng bộ. Tỷ lệ bệnh nhân có kiến
thức chung về bệnh THA còn thấp. Đa số bệnh
nhân có thái độ đồng tình cao với các biện pháp
dự phòng và điều trị THA. Tỷ lệ bệnh nhân có
thái độ phù hợp và tỷ lệ bệnh nhân có thái độ
chưa phù hợp là tương đương nhau.Sự TTĐT
Chuyên Đề Y Tế Công Cộng
183
Nghiên cứu Y học
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 18 * Phụ bản của Số 6 * 2014
điều trị ngoại trú tại Bệnh viện cấp cứu Trưng Vương. Luận văn
thạc sỹ y học chuyên ngành Điều dưỡng. Đại học Y Dược TP.
Hồ Chí Minh. Tr. 41‐95.
7.
Nguyễn Tuấn Khanh (2012). Tỷ lệ THA và kiến thức. thực hành
về phòng ngừa. điều trị THA ở người lớn tuổi tại Thành phố Mỹ
Tho năm 2011. Luận văn thạc sỹ y học chuyên ngành Lão
khoa. Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh. Tr. 31‐66.
8.
Nguyễn Văn Nành (2011). Các yếu tố liên quan đến tỷ lệ bệnh
nhân tuân thủ điều trị THA tại Bệnh Viện Đa Khoa Huyện Phong
Điền TP. Cần Thơ. Luận án chuyên khoa cấp II chuyên ngành
Quản Lý Y tế. Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh. Tr. 38‐83.
9.
184
Nguyễn Văn Út (2007). Đánh giá kiến thức. thái độ và thực hành
của bệnh nhân cao HA tại Bệnh Viện Nguyễn Tri Phương về
những biện pháp phòng bệnh cao HA năm 2006. Luận án chuyên
khoa cấp II. Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh. Tr. 36‐67.
10.
Nguyễn Xuân Thắng (2008). Kiến thức. thái độ. thực hành về
phòng ngừa và điều trị của bệnh nhân tăng huyết áp tại Bệnh viện
Đa khoa tình Bình Phước. Luận văn thạc sỹ y học chuyên ngành
Nội khoa. Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh. Tr. 32‐86
Ngày nhận bài báo:
23/5/2014
Ngày phản biện nhận xét bài báo:
27/6/2014
Ngày bài báo được đăng:
14/11/2014
Chuyên Đề Y Tế Công Cộng