Tải bản đầy đủ (.pdf) (9 trang)

Kiến thức, thái độ và việc tuân thủ điều trị của bệnh nhân tăng huyết áp tại Trung Tâm Y tế huyện Dương Minh Châu, Tây Ninh

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (366.11 KB, 9 trang )

Nghiên cứu Y học 

Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 18 * Phụ bản của Số 6 * 2014

 

KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ VÀ VIỆC TUÂN THỦ ĐIỀU TRỊ  
CỦA BỆNH NHÂN TĂNG HUYẾT ÁP TẠI TRUNG TÂM Y TẾ  
HUYỆN DƯƠNG MINH CHÂU TỈNH TÂY NINH 
Đào Thị Lan*, Đặng Văn Chính** 

TÓM TẮT 
 Đặt vấn đề: Tuân thủ điều trị là yếu tố quan trọng trong điều trị bệnh tăng huyết áp. Vì vậy đánh giá kiến 
thức, thái độ và việc tuân thủ điều trị của bệnh nhân tăng huyết áp (THA) là rất cần thiết trong việc điều trị và 
theo dõi bệnh nhân THA. 
Mục tiêu nghiên cứu: Khảo sát kiến thức, thái độ và việc tuân thủ điều trị của bệnh nhân THA được điều 
trị từ 3 tháng trở lên và các mối liên quan với các đặc điểm dân số xã hội. 
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang trên 400 bệnh nhân THA ≥ 18 tuổi được 
điều trị ngoại trú ≥ 3 tháng tại Trung Tâm Y tế huyện Dương Minh Châu, Tây Ninh. 
Kết quả: Hơn 20% bệnh nhân có kiến thức chung về bệnh THA thấp, 71% trung bình. Tỷ lệ có thái độ phù 
hợp và chưa phù hợp với điều trị THA là tương đương nhau. 86% bệnh nhân tuân thủ điều trị hoàn toàn và 
70,5% bệnh nhân đạt HA mục tiêu sau thời gian điều trị. Các yếu tố liên quan đến kiến thức THA gồm: tuổi và 
nghề nghiệp; đến thái độ điều trị THA gồm: giới, nghề nghiệp, học vấn, tình trạng hôn nhân và khoảng cách từ 
nhà bệnh nhân đến TTYT; đến tuân thủ điều trị gồm: học vấn và bảo hiểm y tế của bệnh nhân. Bệnh nhân có kiến 
thức càng cao, thái độ phù hợp thì sự tuân thủ điều trị càng tốt. 
Kết luận: Tỷ lệ bệnh nhân có kiến thức thấp và có thái độ chưa phù hợp với điều trị THA còn cao. Sự tuân 
thủ điều trị còn phụ thuộc vào kiến thức và thái độ của bệnh nhân. 
Từ khóa: Tăng huyết áp, tuân thủ, điều trị. 

ABTRACT 
KNOWLEDGE, ATTITUDE AND TREATMENT COMPLIANCE OF HIGH BLOOD PRESSURE 


PATIENTS AT MEDICAL STATION OF DUONG MINH CHAU DITSTRICT,  
TAY NINH PROVINCE 
Dao Thi Lan, Dang Van Chinh 
* Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 18 ‐ Supplement of No 6‐ 2014: 177 – 185 
Background:  Treatment  compliance  is  one  of  the  most  important  factors  in  high  blood  pressure  control. 
Therefore,  it’s  necessary  to  evaluate  patients’  knowledge,  attitude  and  treatment  compliance  in  high  blood 
pressure control and follow‐up. 
Objectives: To evaluate knowledge, attitude and treatment compliance of high blood pressure patients, who 
have been treated for over three months, and relationships between knowledge, attitude and compliance, and social 
determinants. 
Methods: This was a cross‐sectional survey based on direct interviews of a sample of 400 high blood pressure 
outpatients aged 18 years and older at Health Center in Duong Minh Chau district, Tay Ninh province. 
Result:  More  than  20%  of  patients  had  poor  knowledge  and  71%  of  patients  had  medium  knowledge  of 
*

 Bệnh viện đa khoa huyện Dương Minh Châu, Tây Ninh 

**

 Viện Y tế công cộng Thành phố Hồ Chí Minh 

Tác giả liên lạc: BS. CKI Đào Thị Lan 

176

ĐT: 0919 91 61 44

Email:  

Chuyên Đề Y Tế Công Cộng 



Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 18 * Phụ bản của Số 6 * 2014 

Nghiên cứu Y học

 
hypertension.  The  proportion  of  patients  with  appropriate  attitude  was  similar  to  that  of  patients  with 
unappropriate  attitide.  After  treatment  period,  86%  of  patients  completely  complied  treatment  regimen,  and 
70.5% achieved high blood pressure treatment goals. There were significant relationships between knowledge and 
social  determinants  such  as  age,  occupations.  There  were  also  relationships  between  attitude  and  social 
determinants  such  as  gender,  occupation,  education,  marriage  status  and  distance  from  patient’  house  to  the 
Health Care Center. Education and medical insurance were social determinants which were related to treatment 
compliance in this study. 
Conclusion:  There  were  still  high  proportions  of  patients  with  poor  knowledge  and  unappropriate  attitude 
towards high blood pressure treatment. Treatment compliance was dependent on patients’ knowledge and attitude. 
Keywords: Highblood pressure, complied treatment regimen, treatment. 

ĐẶT VẤN ĐỀ 
Thế  giới  hiện  nay  có  khoảng  1,6  tỷ  người 
tăng huyết áp (THA). Ước tính THA là nguyên 
nhân gây tử vong 7,1 triệu người/năm và chiếm 
4,5%  gánh  nặng  bệnh  tật  toàn  cầu,  trong  đó  64 
triệu người sống trong tàn phế(2). 
Tuân  thủ  điều  trị  (TTĐT)  là  yếu  tố  quyết 
định thành công trong điều trị tuy nhiên vẫn còn 
một tỷ lệ lớn bệnh nhân chưa thực sự tuân thủ 
điều  trị  tốt,  một  nghiên  cứu  cho  thấy  hơn  một 
nửa  bệnh  nhân  đang  được  điều  trị  bệnh  THA 
ngưng điều trị hoàn toàn sau một năm và chỉ có 

50% trong số người còn lại chỉ dùng khoảng 80% 
số thuốc đã được bác sỹ của họ kê toa(6). 
THA là bệnh mạn tính nên việc điều trị gần 
như suốt đời.Tuy nhiên việc giáo dục nhận thức 
về  TTĐT  của  bệnh  nhân  và  công  tác  kiểm  soát 
huyết áp (HA) chưa đạt hiệu quả cao. Chính vì 
thiếu sự TTĐT thuốc hạ huyết áp của bệnh nhân 
với  chẩn  đoán  THA,  do  đó  xấp  xỉ  75%  bệnh 
nhân không kiểm soát HA tốt nhất. Hậu quả là 
gia  tăng  biến  chứng  của  bệnh  THA  gây  tổn 
thương các cơ quan đích như: tim, thận, não và 
làm tăng tỷ lệ tử vong do THA(6). 
Có nhiều nghiên cứu TTĐT bệnh THA được 
tiến  hành  ở  nhiều  nước  cũng  như  ở  Việt  Nam. 
Một số nghiên cứu chứng minh rằng không tuân 
thủ dùng thuốc  điều  trị THA  khả năng  có  biến 
chứng bệnh mạch vành gấp 4,5 lần những người 
tuân thủ tốt(6). Vì vậy đánh giá kiến thức, thái độ 
và việc TTĐT của bệnh THA ở một vùng nông 
thôn,  nơi  có  nhiều  bệnh  nhân  cao  huyết  áp, 

Chuyên Đề Y Tế Công Cộng 

thường  thiếu  kiến  thức  và  sự  tuân  thủ  điều  trị 
hạn  chế  là  rất  quan  trọng  trong  việc  này  giúp 
cho  ngành  y  tế  có  kế  hoạch  can  thiệp  phù  hợp 
nhằm  đạt  được  mục  tiêu  điều  trị  ngày  càng  có 
hiệu quả hơn(6). 

Mục tiêu nghiên cứu 

Mục tiêu chung 
Xác định tỷ lệ bệnh nhân THA được điều trị 
từ 3 tháng trở lên tại TTYT huyện Dương Minh 
Châu năm 2013 có kiến thức, thái độ và tuân thủ 
điều  trị  đúng  về  bệnh  THA  và  mối  liên  quan 
giữa  kiến  thức,  thái  độ  và  tuân  thủ  điều  trị  với 
các đặc điểm dân số xã hội.  

Mục tiêu cụ thể 
Xác định tỷ lệ bệnh nhân THA có kiến thức 
đúng về bệnh THA. 
Xác  định  tỷ  lệ  bệnh  nhân  THA  có  thái  độ 
phù hợp về bệnh THA. 
Xác định tỷ lệ bệnh nhân tuân thủ về điều trị 
bệnh THA. 
Xác định mối liên quan giữa KT, TĐ và mức 
độ TTĐT của bệnh nhân với các đặc điểm dân số 
xã hội. 
Tìm hiểu mối liên quan giữa KT, TĐ về bệnh 
THA với sự TTĐT của bệnh nhân. 

ĐỐI TƯỢNG ‐ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 
Nghiên  cứu  cắt  ngang.Thực  hiện  trên  bệnh 
nhân  ≥18  tuổi  được  chẩn  đoán  bệnh  THA  đang 
sinh sống tại huyện Dương Minh Châu, Tây Ninh. 

177


Nghiên cứu Y học 


Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 18 * Phụ bản của Số 6 * 2014

 
Cỡ mẫu được tính theo công thức:  
Trong đó: Z1‐α/2 =1,96; d =0,05; p =0,508(8). Cỡ mẫu tính 
được là n = 384 bệnh nhân. Để dự phòng mất mẫu, mẫu 
được làm tròn là 400 bệnh nhân. 

Dữ liệu được nhập bằng phần mềm Epidata 
và phân tích bằng phầm mềm Stata. 

KẾT QUẢ  

Kiến thức về bệnh THA 
Bảng 2: Kiến thức về bệnh THA (n=400) 

Đặc điểm mẫu nghiên cứu 

Đặc điểm

Bảng 1: Các đặc điểm của mẫu nghiên cứu (n=400) 
Đặc điểm
Nhóm tuổi
30-44
45-59
60 trở lên
Giới
Nam
Nữ

Nghề nghiệp
Nội trợ
Nông dân
Công nhân viên chức
Khác
Học vấn
Mù chữ, cấp 1
Cấp 2
Cấp 3
Trên cấp 3
Tình trạng hôn nhân
Có gia đình
Ly thân/ly dị
Độc thân/góa
Bảo hiểm y tế

Không
Khoảng cách từ nhà đến TTYT
Dưới 5 km
5 – 10 km
10 – 15 km
Trên 15 km

Tần số (n) Tỷ lệ (%)
27
179

6,7
44,8


194

48,5

145
255

36,3
63,7

146
116
103
35

36,5
29,0
25,8
8,7

204

51,0

113
66

28,2
16,5


17

4,3

299
8
92

74,7
2,0
23,3

366
34

91,5
8,5

158
85
63
94

39,5
21,3
15,8
23,5

Nữ giới chiếm tỷ lệ gấp đôi so với nam giới. 
Trên 90% bệnh nhân có độ tuổi từ 45 tuổi trở lên. 

Hơn 2/3 bệnh nhân nghiên cứu có nghề nghiệp 
là  nông  dân  hoặc  nội  trợ.Về  học  vấn, đa số  đối 

178

tượng  có  học  vấn  mù  chữ  hoặc  cấp  1  với  51%, 
chỉ có 4,3% đối tượng có học vấn trên cấp 3. Hơn 
90% các đối tượng nghiên cứu đều có bảo hiểm y 
tế (BHYT) và trên 70% đối tượng nghiên cứu có 
thể  tiếp  cận  cơ  sở  y  tế  gần  nhất  trong  khoảng 
cách dưới 15 km.  

Kiến thức về bệnh THA
Thấp
Trung bình
Cao
Biết ít nhất một triệu chứng bệnh THA
Biết các yếu tố ảnh hưởng đến THA
Biết bệnh THA có thể được phòng
ngừa
Biết cách phát hiện bệnhTHA
Biết yếu tố làm thay đổi HA đột ngột
Bệnh THA phải điều trị lâu dài
Biến chứng bệnh THA
Biết cách hạn chế bệnh THA ngoài
uống thuốc

Tần số
(n)


Tỷ lệ
(%)

85
284
31
397
383
251

21,2
71,0
7,8
99,3
95,8
62,8

355
370
344
393
400

89,0
92,5
86,0
98,3
100,0

Hơn 20% đối tượng nghiên cứu có kiến thức 

thấp về bệnh THA, 71% ở mức trung bình và 8% 
ở mức cao. 
Gần  100%  bệnh  nhân  biếtít  nhất  một  triệu 
chứng  của  bệnh  THA,  10%  bệnh  nhân  không 
biết  cách  phát  hiện  THA  và  37%  bệnh  nhân 
không  biết  bệnh  THA  có  thể  phòng  ngừa.  96% 
bệnh  nhân  biết  ít  nhất  một  yếu  tố  nguy  cơ  ảnh 
hưởng  đến  THA,  93%  biết  yếu  các  tố  làm  thay 
đổi HA đột ngột, 86% biết THA phải điều trị lâu 
dài, 98% biết ít nhất một biến chứng của THA và 
100%  biết  ít  nhất  một  biện  pháp  hạn  chế  bệnh 
THA ngoài uống thuốc. 

Thái độ về bệnh THA 
Bảng 3: Thái độ về bệnh THA (n = 400) 
Đặc điểm
Tần số (n) Tỷ lệ (%)
Thái độ về bệnh THA
Phù hợp
202
50,5
Chưa phù hợp
198
49,5
399
99,8
Đồng ý theo dõi HA trong quá trình
điều trị
Đồng ý bệnh THA cần điều trị lâu
396

99,0

Chuyên Đề Y Tế Công Cộng 


Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 18 * Phụ bản của Số 6 * 2014 

Nghiên cứu Y học

 
Đặc điểm
Tần số (n) Tỷ lệ (%)
399
79,8
Đồng ý cần tái khám bệnh THA định
kỳ
Đồng ý hút thuốc lá làm THA
201
46,3
Đồng ý uống bia rượu làm THA
212
53,1
Đồng ý ăn mặn làm THA
398
99,5
Đồng ý ít vận động làm THA
327
81,8
Đồng ý căng thẳng làm THA
337

84,3

Tỷ lệ bệnh nhân có thái độ phù hợp đối với 
bệnh  THA  khoảng  50%,  tương  đương  với  tỷ  lệ 
bệnh  nhân  có  thái  độ  chưa  tốt.  Hơn  90%  bệnh 
nhân đồng ý rằng cần phải theo dõi HA thường 
xuyên,  cần  phải  điều  trị  lâu  dài,  phải  tái  khám 
định kỳ và ăn mặn là một trong những nguy cơ 
của bệnh THA. Khoảng 80% bệnh nhân cho rằng 
ít vận động và trạng thái tinh thần căng thẳng là 
yếu tố nguy cơ của bệnh THA. Khoảng 50% số 
bệnh nhân cho rằng hút thuốc là và uống nhiều 
bia, rượu là yếu tố nguy cơ của bệnh THA. 

Tuân thủ điều trị 
Bảng 4: Mức độ TTĐT của đối tượng nghiên cứu 
(n=400) 
Đặc điểm
Mức độ TTĐT
Hoàn toàn
Không hoàn toàn

Tần số (n)

Tỷ lệ (%)

336
64

84,0

16,0

Đặc điểm
Tần số (n)
Bỏ hút thuốc lá theo hướng dẫn
97
Hạn chế rượu
44
Giảm ăn mặn
395
Tăng vận động
317
Uống đủ thuốc hạ áp
391
Uống thuốc đủ liều
367
Uống thuốc đúng thời gian
364
Tái khám đúng hẹn
341
Tình trạng sau 3 tháng điều trị
Tiếp tục điều trị
397
Bỏ điều trị
3
Đạt huyết áp mục tiêu
Đạt
282
Không
118


Tỷ lệ (%)
95,1
86,3
98,7
79,2
97,7
91,7
91,0
85,2
99,2
0,7
70,5
29,5

84%  bệnh  nhân  TTĐT  hoàn  toàn,  70%  đạt 
HA mục tiêu là 70%. Trong số người hút thuốc 
lá có hơn 95% bỏ thuốc lá hoặc có giảm hút theo 
hướng  dẫn.  86%  hạn  chế  uống  rượu.  Hầu  hết 
bệnh  nhân  có  giảm  ăn  mặn,  tăng  vận  động  thể 
lực (98% và 79%). Gần 98% uống đủ thuốc hạ áp; 
92% uống thuốc đủ liều; 91% uống thuốc đúng 
thời  gian  và  có  85%  bệnh  nhân  tái  khám  đúng 
hẹn.  Sau  3  tháng  điều  trị,  trên  99%  bệnh  nhân 
tiếp tục điều trị. 

Mối liên quan giữa kiến thức, thái độ và mức độ TTĐT với các điều kiện dân số xã hội 
Bảng 5: Mối liên quan giữa kiến thức bệnh THA và một số đặc điểm dân số xã hội (n=400) 
Đặc điểm
Nhóm tuổi

Giới

Nghề nghiệp

Học vấn

Hôn nhân

< 45
45 – 59
≥ 60
Nam
Nữ
Nội trợ
Nông dân
Công nhân viên chức
Khác
Mù chữ, cấp 1
Cấp 2
Cấp 3
Trên cấp 3
Có gia đình
Ly thân/ly dị
Độc thân/góa

Chuyên Đề Y Tế Công Cộng 

Thấp (n, %)
12 (44,4)
34 (18,9)

39 (20,1)
27 (18,6)
58 (22,7)
30 (20,6)
22 (19,0)
21 (20,4)
12 (34,3)
45 (22,1)
30 (26,6)
7 (10,6)
3 (17,6)
66 (22,1)
2 (25,0)
17 (18,3)

Kiến thức
Trung bình (n, %)
14 (51,9)
130 (72,6)
140 (72,2)
107 (73,8)
177 (69,4)
100 (68,5)
88 (75,9)
77 (74,8)
19 (54,3)
142 (69,6)
78 (69,0)
52 (78,8)
12 (70,6)

209 (69,9)
6 (75,0)
69 (74,2)

Cao (n, %)
1 (3,7)
15 (8,4)
15 (7,7)
11 (7,6)
20 (7,8)
16 (11,0)
6 (5,2)
5 (4,8)
4 (11,4)
17 (8,3)
5 (4,4)
7 (10,6)
2 (11,8)
24 (8,0)
0
7 (7,5)

p
0,049
0,6

0,13

0,2


0,85

179


Nghiên cứu Y học 

Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 18 * Phụ bản của Số 6 * 2014

 
Đặc điểm
BHYT

Khoảng cách đến
trạm y tế gần nhất


Không
<5 km
5 – 10 km
10 – 15 km
>15 km

Kiến thức
Trung bình (n, %)
259 (70,8)
25 (73,5)
109 (69,0)
58 (68,2)
49 (77,8)

68 (72,3)

Thấp (n, %)
77 (21,0)
8 (23,5)
34 (21,5)
21 (24,7)
9 (14,3)
21 (22,3)

Có  sự  khác  biệt  có  ý  nghĩa  thống  kê  giữa 
kiến  thức  về  bệnh  THA  với  đặc  điểm  tuổi  của 
bệnh nhân, tỷ lệ bệnh nhân tuổi càng cao thì tỷ lệ 
có kiến thức về bệnh cao huyết áp càng cao. 
Các  đặc  điểm:  giới,  học  vấn,  nghề  nghiệp, 
tình  trạng  hôn  nhân,  có  hay  không  có  BHYT, 
khoảng cách từ nhà bệnh nhân đến TTYT không 
có mối liên quan với kiến thức về bệnh THA. 

Thái độ
p
Chưa phù Phù hợp
hợp (n, %) (n, %)
14 (51,8) 13 (48,2)
86 (48,0) 93 (52,0) 0,86
98 (50,5) 96 (49,5)
23 (15,9) 122 (84,1)
< 0,001
175 (68,6) 80 (31,4)
96 (65,8) 50 (34,2)

45 (38,8) 71 (61,2)
42 (40,8) 61 (59,2) <0,001

Dưới 45
Nhóm tuổi
45 – 59
60 trở lên
Nam
Giới
Nữ
Nội trợ
Nông dân
Nghề nghiệp Công nhân
viên chức
Khác
15 (42,9) 20 (57,1)
Mù chữ, cấp 117 (57,4) 87 (42,6)
1
Cấp 2
58 (51,3) 55 (48,7) <0,001
Học vấn
Cấp 3
19 (28,8) 47 (71,2)
Trên cấp 3
4 (23,5) 13 (76,5)
Có gia đình 137 (45,8) 162 (54,2)
Hôn nhân Ly thân/ly dị
5 (62,5)
3 (37,5)
0,04

Độc thân/góa 56 (60,2) 37 (39,8)

176 (48,1) 190 (51,9)
Bảo hiểm y
0,06
tế
Không
22 (64,7) 12 (35,3)
<5 km
68 (43,0) 90 (57,0)
Khoảng cách 5 – 10 km
37 (43,5) 48 (56,5)
đến trạm y tế
0,02
10

15
km
36 (57,1) 27 (42,9)
gần nhất
>15 km
57 (60,6) 37 (39,4)

Bảng  6  cho  thấy  có  sự  khác  biệt  có  ý  nghĩa 
thống kê giữa thái độ về THA của bệnh nhân với 
các  đặc  điểm:  giới,  nghề  nghiệp,  trình  độ  học 

180

p

0,54

0,68

vấn, tình trạng hôn nhân, và khoảng cách từ nhà 
bệnh  nhân  đến  TTYT  (p<0,05).  Các  đặc  điểm 
tuổi,  có hay không  có  BHYT  không có mối  liên 
quan  có  ý  nghĩa  thống  kê  với  thái  độ  về  bệnh 
THA của bệnh nhân. 
Bảng 7: Mối liên quan giữa mức độ TTĐT bệnh 
THA và một số đặc điểm dân số xã hội (n=400) 
Đặc điểm

Bảng 6: Mối liên quan giữa thái độ về bệnh THA và 
một số đặc điểm dân số xã hội (n=400) 
Đặc điểm

Cao (n, %)
30 (8,2)
1 (2,9)
15 (9,5)
6 (7,1)
5 (7,9)
5 (5,3)

Nhóm tuổi

Giới
Nghề
nghiệp


Học vấn

Hôn nhân

BHYT
Khoảng
cách từ
nhà đến
TTYT

Dưới 45
45 – 59
60 trở lên
Nam
Nữ
Nội trợ
Nông dân
Công nhân viên
chức
Khác
Mù chữ, cấp 1
Cấp 2
Cấp 3
Trên cấp 3
Có gia đình
Ly thân/ly dị
Độc thân/góa

Không

<5 km
5 – 10 km
10 – 15 km
>15 km

Mức độ tuân thủ
Không
Hoàn toàn
hoàn toàn
(n, %)
(n, %)
6 (22,2)
21 (77,8)

p

31 (17,3)
27 (13,9)
21 (14,5)
43 (16,9)
20 (13,7)
21 (18,1)
17 (16,5)

148 (82,7) 0,44
167 (86,1)
124 (85,5)
0,53
212 (83,1)
126 (86,3)

95 (81,9)
86 (83,5) 0,8

6 (17,1)
28 (13,7)
27 (23,9)
5 (7,6)
4 (23,5)
47 (15,7)
1 (12,5)
16 (17,2)
48 (13,1)
16 (47,1)
34 (21,5)
11 (12,9)
8 (12,7)
11(11,7)

29 (82,9)
176 (86,3)
86 (76,1)
0,02
51 (92,4)
13 (76,5)
252 (84,3)
7 (87,5)
0,9
77 (82,8)
318 (86,9)
<0,001

18 (52,9)
124 (78,5)
74 (87,1)
0,11
55 (87,3)
83 (88,3)

Không  có  sự  khác  biệt  có  ý  nghĩa  thống  kê 
giữa mức độ TTĐT với các nhóm tuổi, giới tính, 
nghề  nghiệp,  tình  trạng  hôn  nhân  và  khoảng 
cách nhà đến TTYT của đối tượng nghiên cứu. 
Những  người  học  vấn  dưới  cấp  2  hoặc  có 
học vấn cấp 3, tỷ lệ tuân thủ hoàn toàn trên 86%. 

Chuyên Đề Y Tế Công Cộng 


Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 18 * Phụ bản của Số 6 * 2014 

Nghiên cứu Y học

 
Những người có học vấn cấp 2 hoặc học vấn trên 
cấp 3 thì tỷ lệ tuân thủ chỉ có 76%.Bệnh nhân có 
BHYT tuân thủ hoàn toàn gần 87%, những bệnh 
nhân  không  có  BHYT  tuân  thủ  hoàn  toàn  chỉ 
khoảng 53%. Sự khác biệt này có ý nghĩa thống 
kê (p< 0,05). 

Mối liên quan giữa kiến thức, thái độ về bệnh 

THA với mức độ TTĐT 
Bảng 8: Mối liên quan giữa mức độ TTĐT bệnh THA 
với kiến thức và thái độ đối với bệnh THA áp (n=400) 
Đặc điểm
Kiến thức
Thấp
Trung bình
Cao
Thái độ
Phù hợp
Chưa phù hợp

Mức độ tuân thủ
Hoàn toàn Không hoàn toàn
(n, %)
(n, %)
57 (67,1)
250 (88,0)
29 (93,6)

28 (32,9)
34 (12,0)
2 (6,4)

181 (89,6)
155 (78,3)

21 (10,4)
43 (21,7)


p

<0,001

0,002

Bảng 8 cho thấy có mối liên quan có ý nghĩa 
thống kê giữa mức độ TTĐT và kiến thức bệnh 
THA và với thái độ bệnh THA.Tỷ lệ TTĐT tỷ lệ 
thuận với kiến thức, kiến thức càng cao thì tuân 
thủ hoàn toàn càng cao.Những người có thái độ 
phù hợp tuân thủ hoàn toàn gần 90%, người có 
thái độ chưa phù hợp tuân thủ hoàn toàn là 78%. 

BÀN LUẬN 
Về kiến thức, 21% bệnh nhân vẫn còn có kiến 
thức thấp về THA, kiến thức cao chỉ đạt 8%, chủ 
yếu  kiến  thức  trung  bình  với  71%.  99%  người 
biết mô tả được từ 1 triệu chứng trở lên của bệnh 
THA,  kết  quả  này  cao  so  với  nghiên  cứu  của 
Nguyễn  Xuân  Thắng  (9%)(Error!  Reference 
source  not  found.).  89%  bệnh  nhân  biết  cách 
phát hiện THA là đo HA thường xuyên, kết quả 
này tương đương với kết quả của Nguyễn Tuấn 
Khanh (87%)(7), cao hơn kết quả của Lâm Thanh 
Vân  (53%)(4).  63%  bệnh  nhân  biết  THA  là  bệnh 
có  thể  phòng ngừa được.  Trong  khi  đó  kết  quả 
của Nguyễn Tuấn Khanh chỉ có 28%. Có sự khác 
biệt này là do nhóm bệnh nhân THA của chúng 
tôi đã được tư vấn về bệnh THA trong quá trình 

theo dõi điều trị. 

Chuyên Đề Y Tế Công Cộng 

Về  thái  độ,  tỷ  lệ  bệnh  nhân  có  thái  độ  phù 
hợp  và  chưa  phù  hợp  về  bệnh  THA  là  tương 
đương  nhau.  Kết  quả  này  tương  tự  với  nghiên 
cứu  của  Nguyễn  Xuân  Thắng,  thái  độ  đúng  về 
bệnh THA là 50%; cao hơn kết quả của Nguyễn 
Tuấn  Khanh  (39%).  Với  tỷ  lệ  trên  cho  thấy  thái 
độ phù hợp của người tham gia nghiên cứu đối 
với  bệnh  THA  chưa  cao.  Ðiều  này  có  thể  là  do 
điều  kiện  sống  chưa  cao,  trình  độ  học  vấn  còn 
thấp,  nên  người  dân  chưa  quan  tâm  nhiều  đến 
bệnh THA nói riêng và các vấn đề sức khỏe nói 
chung. Đây cũng là cơ sở để tăng cường công tác 
truyền  thông  giáo  dục  sức  khỏe  về  bệnh  THA 
cho  người  dân.  Gần  100%  người  tham  gia 
nghiên cứu có thái độ đúng là phải theo dõi trị 
số  HA  trong  quá  trình  điều  trị.  Điều  này  cho 
thấy  đây  là  dấu  hiệu  tốt,  khi  phần  lớn  người 
tham  gia  nghiên  cứu  có  học  vấn  không  cao  và 
nghề nghiệp nội trợ và nông dân chiếm số đông. 
Đối  với  các  thói  quen  có  nguy  cơ  THA  gần 
100% bệnh nhân có thái độ đồng ý ʺăn mặn làm 
THAʺ,  kết  quả  này  tương  đương  với  Nguyễn 
Văn  Út  (97%)(9)  và  cao  hơn  của  Nguyễn  Xuân 
Thắng (63%). Thái độ này cũng phù hợp với kiến 
thức bệnh nhân. 
Về TTĐT, 84% bệnh nhân TTĐT hoàn toàn. 

Kết  quả  này  cao  hơn  của  Ðào  Duy  An  (48%), 
Trần Hữu Hậu (23%), của Nguyễn Tuấn Khanh 
(41%), của Nguyễn Xuân Thắng (53%). Vẫn còn 
26%  bệnh nhân  tuân thủ  không hoàn toàn,  đây 
là  điều  mà  nhân  viên  y  tế  cần  phải  tư  vấn  tích 
cực  hơn  cho  bệnh  nhân  về  hậu  quả  của  việc 
không  TTĐT  sẽ  gây  ra  các  biến  chứng  nguy 
hiểm của bệnh THA. 
Người  hút  thuốc  đã  thực  hành  bỏ  thuốc  lá 
theo hướng dẫn đạt tỷ lệ 88%. Đây là dấu hiệu 
tích cực của người bệnh vì ngưng hút thuốc lá là 
một trong các biện pháp hiệu quả nhất để giảm 
các yếu tố nguy cơ tim mạch. Ngưng hút thuốc 
lá giảm THA còn giảm cả bệnh động mạch vành 
và  đột  quỵ,  góp  phần  làm  tăng  tác  dụng  của 
thuốc hạ áp. Kết quả này cao hơn của Trần Hữu 

181


Nghiên cứu Y học 

Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 18 * Phụ bản của Số 6 * 2014

 
Hậu  (70%),  của  Nguyễn  Tuấn  Khanh  (68%)(7), 

và  cao  là  72%  và  8%,  tỷ  lệ  này  cao  hơn  nhóm 

của Huỳnh Thị Tiền (41%)(3).  


dưới 45 tuổi. Sự khác biệt này có ý nghĩa thống 

Bệnh  nhân  uống  rượu  thực  hiện  giảm  uống 

kê  (p<0,05).  Những  nhóm  tuổi  này  là  những 

rượu theo hướng dẫn đạt tỷ lệ 86%. Kết quả này cao 

bệnh nhân chiếm số đông trong mẫu, từng tiếp 

hơn của Nguyễn Tuấn Khanh (79%), của Nguyễn 

cận  với  y  tế,  với  các  phương  tiện  truyền  thông 

Xuân Thắng (45%), của Huỳnh Thị Tiền (52%). 

nên  phần  nào  đã  được  tư  vấn  và  hiểu  biết  về 

Kết quả của chúng tôi cao hơn có thể là do số 

bệnh THA vì thế tỷ lệ kiến thức mức độ cao và 

bệnh  nhân  uống  rượu  trong  mẫu  ít,  nên  việc  tư 

mức  độ  trung  bình  cao  hơn  nhóm  khác.  Bệnh 

vấn, nhắc nhở dễ dàng và đạt hiệu quả hơn. Giảm 

nhân có kiến thức thấp ở nhóm tuổi <45 là 44%, 


ăn mặn: 99% bệnh nhân thực hành giảm ăn mặn, 

điều này cho thấy cần phải giáo dục sức khỏe, tư 

tỷ lệ này cao do bệnh nhân đã nhận thức được ăn 

vấn  bệnh  THA  cho  nhóm  bệnh  nhân  dứới  45 

mặn là yếu tố nguy cơ của THA và đồng tình với 

tuổi  để  họ  có  kiến  thức  dự  phòng  và  điều  trị 

việc giảm ăn mặn khá cao nên bệnh nhân ý thức 

bệnh THA. 

ăn lạt để phòng ngừa và điều trị THA. Tỷ lệ này 

Theo giới, nữ giới có tỷ lệ thái độ chưa phù 

cao hơn của Nguyễn Văn Nành (28%)(8), Nguyễn 

hợp cao hơn gấp đôi so với nam giới. Theo nghề 

Tuấn  Khanh  (47%),  Nguyễn  Xuân  Thắng  (50%), 

nghiệp,  nhóm  nghề  nghiệp  nội  trợ  có  thái  độ 

Huỳnh Thị Tiền (63%)(3). 


chưa  phù  hợp  cao  nhất.  Nghiên  cứu  cũng  ghi 

Có  98%  bệnh  nhân  uống  đủ  thuốc  hạ  áp 

nhận, học vấn càng thấp thái độ chưa phù hợp 

được  bác  sĩ  kê  đơn,  tỷ  lệ  này  cao  hơn  của 

càng cao, những người chưa có gia đình hay góa 

Nguyễn  Văn  Nành  (32%),  Bùi  Thị  Mai  Tranh 

có thái độ phù hợp thấp. Sự khác biệt này có ý 

(28%),  của  Huỳnh  Thị  Tiền  (35%).  Và  tương 

nghĩa thống  kê, đây  là điểm đặc  biệt  cần  chú ý 

đương với kết quả của Trần Hữu Hậu (94%). Kết 

trong công tác truyền thông, giáo dục sức khỏe 

quả  của  chúng  tôi  cao  đó  là  do  TTYT  Dương 

về  bệnh  THA,  tập  trung  nhiều  vào  giới  nữ  và 

Minh  Châu  đã  thành  lập  phòng  khám  chuyên 

những người nội trợ. Các bệnh nhân có khoảng 


khoa cho bệnh THA và bệnh nhân được làm hồ 

cách nhà càng xa TTYT thì thái độ phù hợp càng 

sơ  bệnh  án  ngoại  trú,  theo  dõi  điều  trị  và  xét 

thấp. Điều này cho thấy điều kiện xa cơ sở y tế, 

nghiệm định kỳ cho bệnh nhân. 

việc tiếp xúc nhân viên y tế ít hơn, ít được tư vấn 

Tái  khám  đúng  hẹn:  có  85%  bệnh  nhân  tái 
khám  theo  lịch  hẹn,  tỷ  lệ  này  cao  hơn  của 

cặn kẽ hơn nên thái độ đồng tình về bệnh THA 
thấp hơn. 

Nguyễn  Văn  Nành  (32%),  Bùi  Thị  Mai  Tranh 

Các  đối  tượng  có  học  vấn  là  mù  chữ  hoặc 

(34%),  Nguyễn  Tuấn  Khanh  (65%),  Nguyễn 

cấp 1 và nhóm có học vấn cấp 3 tuân thủ hoàn 

Xuân  Thắng  (73%),  Huỳnh  Thị  Tiền  (31%)  và 

toàn cao nhất với hơn 86%. Sự TTĐT hoàn toàn 


thấp hơn của Nguyễn Hữu Hậu (93%). 

ở  nhóm  có  học  vấn  cấp  2  và  nhóm  có  học  vấn 

Một số mối liên quan 

trên  cấp  3  thấp  hơn,  khoảng  76%.  Sự  khác  biệt 

Nhóm tuổi từ 45‐59 có kiến thức mức trung 
bình  và  cao  là  73%  và  8%  tương  đương  với 
nhóm từ 60 tuổi trở lên có kiến thức trung bình 

182

này  có  ý  nghĩa  thống  kê  (p<0,05).  Kết  quả  này 
tương tự như kết quả của Huỳnh Thị Tiền(3), học 
vấn có liên quan đến TTĐT bệnh THA của bệnh 
nhân. Nhóm có BHYT, có tỷ lệ TTTĐT hoàn toàn 

Chuyên Đề Y Tế Công Cộng 


Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 18 * Phụ bản của Số 6 * 2014 

Nghiên cứu Y học

 
là  87%  so  với  tỷ  lệ  53%  trong  nhóm  không  có 


của  bệnh  nhân  về  các  biện  pháp  thay  đổi  lối 

BHYT.  Sự  khác  biệt  này  có  ý  nghĩa  thống  kê. 

sống và biện pháp dùng thuốc đạt tỷ lệ khá cao. 

Nguyên  nhân  có  thể  do  người  có  BHYT  quan 

khám  chữa  bệnh,  do  đó  họ  TTĐT  cao  hơn. 

Có  mối  liên  quan  giữa  kiến  thức  về  bệnh 
THA  với  tuổi  và  nghề  nghiệp  của  bệnh  nhân; 
giữa thái độ về bệnh THA với giới, nghề nghiệp, 
học vấn, tình trạng hôn nhân và khoảng cách từ 
nhà bệnh nhân đến Trung tâm y tế; giữa mức độ 
TTĐT  với  học  vấn  và  bảo  hiểm  y  tế  của  bệnh 
nhân;  giữa  mức  độ  tuân  thủ  hoàn  toàn  hay 
không  hoàn  toàn  với  kiến  thức  và  thái  độ  về 
bệnh THA của bệnh nhân. 

Nghiên  cứu  của  Nguyễn  Văn  Nành  cũng  cho 

KIẾN NGHỊ 

thấy  người  có  BHYT  TTĐT  gấp  5,7  lần  so  với 

kết  quả  các  yếu  tố  liên  quan  đến  việc  tuân  thủ 

Cần  tư  vấn  giáo  dục  sức  khỏe  để  nâng  cao 
kiến  thức  về  bệnh  THA  cho  bệnh  nhân.Chú 

trọng  đến  đối  tượng  có  học  vấn  thấp  và  đối 
tượng không có thẻ BHYT. 

dùng thuốc chống THA trên bệnh nhân cao tuổi 

Trong  quán  lý  ca  bệnh  THA  cần  chú  ý  đối 

tâm  đến  việc  tái  khám  định  kỳ  để  được  lãnh 
thuốc uống đúng liều, đủ liều nhiều hơn những 
đối tượng không tham gia BHYT. Việc tham gia 
BHYT cũng là yếu tố giúp cho bệnh nhân TTĐT 
đầy  đủ  hơn,  lý  do  quan  trọng  là  bệnh  nhân  có 
BHYT không phải trả nhiều chi phí cho dịch vụ 

người không BHYT 8 . Huỳnh Thị Tiền cũng cho 
( )

kết quả tương tự(3).Bùi Thị Mai Tranh cũng cho 

THA là BHYT, tuổi và tình trạng hôn nhân(1). 
Những  người  có  kiến  thức  cao,  TTĐT  hoàn 
toàn  đạt  94%  so  với  những  người  có  kiến  thức 

tượng học vấn thấp, đối tượng trẻ tuổi, giới tính 
nữ, đối tượng sống độc thân/ góa/ ly thân/ ly dị 
và những đối tượng ở nơi xa cơ sở điều trị. 

thấp  TTĐT  hoàn  toàn  chỉ  có  67%.  Nghiên  cứu 

Cần quan tâm hơn đến đối tượng không có 


của  Nguyễn  Thị  Minh  Hằng,  tại  phòng  khám 

bảo  hiểm  y  tế,  đối  tượng  có  kiến  thức  thấp  về 

Bệnh viện Đà Nẵng cũng có kết quả tương tự, có 

bệnh  cao huyết áp.  Việc kiểm  soát tốt huyết áp 

kiến thức về bệnh THA thì tuân trị và kiểm soát 

chỉ được thực hiện khi bệnh nhân có sự tuân thủ 

THA  tốt  hơn(5).  Những  người  có  thái  độ  phù 

điều trị tốt do đó cần hướng dẫn bệnh nhân thực 

hợp  thì  tỉ  lệ  TTĐT  đạt  90%  so  với  tỷ  lệ  78%  ở 

hiện nghiêm túc tuân thủ điều trị. 

những người có thái độ chưa phù hợp. Sự khác 

TÀI LIỆU THAM KHẢO 

biệt này có ý nghĩa thống kê. 

1.

Bùi  Thị  Mai  Tranh  (2012).  Sự  tuân  thủ  dùng  thuốc  hạ  áp  trên 

bệnh nhân cao tuổi THA tại phòng khám Bệnh Viện Quận 7. Luận 
án  chuyên  Khoa  II  chuyên  ngành  Nội  Lão  khoa.  Đại  học  Y 
Dược TP. Hồ Chí Minh. Tr. 41‐72. 

2.

Hội Tim mạch Việt Nam (2006). Khuyến cáo về các bệnh lý tim 
mạch và chuyển hoá giai đoạn 2006‐2010.  Nhà  xuất  bản  Y  học. 
Thành phố Hồ Chí Minh. Tr. 1‐24. 

3.

Huỳnh Thị Tiền (2007). Khảo sát sự tuân thủ điều trị bệnh nhân 
THA.  Luận  văn  thạc  sỹ  y  học.  Đại  học  Y  Dược  TP.  Hồ  Chí 
Minh. Tr. 36‐98. 

4.

Lâm  Thanh  Vân (2008). Kiến thức và thực hành điều trị THA ở 
người có tuổi tại Viện Tim TP. Hồ Chí Minh. Luận văn thạc sỹ y 
học. Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh. Tr. 32‐85. 

5.

Nguyễn Thị Minh Hằng (2008). Khảo sát sự tuân thủ thuốc điều 
trị trên bệnh nhân THA tại phòng khám Bệnh Viện Đà Nẵng.Luận 
văn thạc sỹ y học. Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh. Tr. 46‐90. 

6.


Nguyễn  Thị  Mỹ  Hạnh  (2010).  Kiến  thức.  thái  độ  về  sử  dụng 
thuốc và tuân thủ dùng thuốc của bệnh nhân tăng huyết áp đang 

KẾT LUẬN 
Bệnh  nhân  có  kiến  thức  về  triệu  chứng,  các 
yếu tố nguy cơ, cách phát hiện bệnh và các biện 
pháp dự phòng, điều trị. Tuy nhiên sự hiểu biết 
này  không  đồng  bộ.  Tỷ  lệ  bệnh  nhân  có  kiến 
thức chung về bệnh THA còn thấp. Đa số bệnh 
nhân có thái độ đồng tình cao với các biện pháp 
dự phòng và điều trị THA. Tỷ lệ bệnh nhân có 
thái  độ  phù  hợp  và  tỷ  lệ  bệnh  nhân  có  thái  độ 
chưa  phù  hợp  là  tương  đương  nhau.Sự  TTĐT 

Chuyên Đề Y Tế Công Cộng 

183


Nghiên cứu Y học 

Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 18 * Phụ bản của Số 6 * 2014

 
điều trị ngoại trú tại Bệnh viện cấp cứu Trưng Vương. Luận văn 
thạc sỹ y học chuyên ngành Điều dưỡng. Đại học Y Dược TP. 
Hồ Chí Minh. Tr. 41‐95. 
7.

Nguyễn Tuấn Khanh (2012). Tỷ lệ THA và kiến thức. thực hành 

về  phòng ngừa. điều trị THA ở người lớn tuổi tại Thành phố Mỹ 
Tho  năm  2011.  Luận  văn  thạc  sỹ  y  học  chuyên  ngành  Lão 
khoa. Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh. Tr. 31‐66. 

8.

Nguyễn  Văn  Nành  (2011).  Các yếu tố liên quan đến tỷ lệ bệnh 
nhân tuân thủ điều trị THA tại Bệnh Viện Đa Khoa Huyện Phong 
Điền TP. Cần Thơ. Luận án chuyên khoa cấp II chuyên ngành 
Quản Lý Y tế. Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh. Tr. 38‐83. 

9.

 

184

Nguyễn Văn Út (2007). Đánh giá kiến thức. thái độ và thực hành 
của  bệnh  nhân  cao  HA  tại  Bệnh  Viện  Nguyễn  Tri  Phương  về 
 

những biện pháp phòng bệnh cao HA năm 2006. Luận án chuyên 
khoa cấp II. Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh. Tr. 36‐67. 
10.

Nguyễn  Xuân  Thắng  (2008).  Kiến  thức.  thái  độ.  thực  hành  về 
phòng ngừa và điều trị của bệnh nhân tăng huyết áp tại Bệnh viện 
Đa khoa tình Bình Phước. Luận văn thạc sỹ y học chuyên ngành 
Nội khoa. Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh. Tr. 32‐86 


 
Ngày nhận bài báo:  

 

 

23/5/2014 

Ngày phản biện nhận xét bài báo:  

27/6/2014 

Ngày bài báo được đăng:  

14/11/2014 

 

 

Chuyên Đề Y Tế Công Cộng 



×