Tải bản đầy đủ (.pdf) (71 trang)

Luận văn Thạc sĩ Ngữ văn: Phong cách nghệ thuật Hồ Dzếnh trong truyện ngắn và tiểu thuyết của ông

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (519.72 KB, 71 trang )

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH


TẠ VIỆT HÀ

PHONG CÁCH NGHỆ THUẬT HỒ DZẾNH
TRONG TRUYỆN NGẮN VÀ TIỂU THUYẾT CỦA ÔNG
CHUYÊN NGÀNH : VĂN HỌC VIỆT NAM
MÃ SỐ : 5.04.33

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

PGS-TS TRẦN HỮU TÁ

TP. HỒ CHÍ MINH - 2005


LỜI CẢM ƠN
Luận văn này được hoàn thành với sự giúp đỡ của quý thầy cô, gia đình và bạn bè,
đặc biệt là sự chỉ bảo tận tình, ân cần của PGS. TS Trần Hữu Tá – Trường Đại học Sư
phạm Thành phố Hồ Chí Minh.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Học viên Cao học

Tạ Việt Hà


PHẦN THỨ NHẤT : MỞ ĐẦU


1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Lặng lẽ đến với làng văn vào những năm 40 của thế kỉ trước thế nhưng Hồ Dzếnh
cũng kòp khắc sâu trong lòng người đọc ấn tượng về một ngòi bút luôn dạt dào xúc cảm
trước cuộc sống muôn màu. Này là một miền quê ngoại thân thuộc nơi có những em Dìn,
chò Yên, bóng mẹ … Kia là đất quê cha xa thẳm với thằng cháu đích tôn, chú Nhì, người
chò dâu Trung Hoa. Thấm đẫm trong từng trang văn là một Hồ Dzếnh với lòng yêu quê
hương đằm thắm. Khuất sau nỗi buồn của từng trang văn là một Hồ Dzếnh với tấm lòng
đôn hậu, bao dung. Giống như văn xuôi, thơ của ông bao giờ cũng nhất quán một cảm
xúc như vậy. Đó là những tên đất tên làng đơn sơ, mộc mạc “gợi nhớ cánh đồng Ngọc
Giáp_Sông Yên, bến Ghép, chợ Còng”. Cảnh quê trong thơ Hồ Dzếnh thật dung dò mà
tình quê thì rất đỗi đậm đà.
Tôi yêu, nhưng chính là say
Tình quê hương Việt, bàn tay dòu dàng
Thơ tôi: đê thắm, bướm vàng
Con sông be bé, cái làng xa xa.
(Lũy tre xanh)
Cũng như nhiều thi só với bước chân giang hồ phiêu lãng đương thời, Hồ Dzếnh đã
đi nhiều và viết nhiều.Viết truyện ngắn, tiểu thuyết feuilleton, làm thơ, soạn kòch, viết
báo … lónh vực nào Hồ Dzếnh cũng từng thử bút. Thế nhưng có thể nói ở thể loại truyện
ngắn và tiểu thuyết Hồ Dzếnh mới đònh hình một phong cách nghệ thuật rõ nét hơn cả.
Điều đó lí giải vì sao nhà nghiên cứu văn học Trần Hữu Tá đã nhận xét rằng “truyện
ngắn Hồ Dzếnh sẽ có sức sống lâu bền hơn thơ ông”. Quả thật Hồ Dzếnh đã tạo được
cho mình một khuôn mặt văn chương dù số lượng tác phẩm của ông không nhiều. Tìm
chọn đề tài “Phong cách nghệ thuật Hồ Dzếnh trong truyện ngắn và tiểu thuyết của ông”,
người viết không ngoài mong muốn được hiểu rõ và yêu hơn những trang văn có sức
thấm sâu đến đáy lòng của một chân tài lặng lẽ, từ đó góp phần thiết thực vào việc giảng


dạy tác phẩm Hồ Dzếnh trong chương trình Ngữ văn trung học phổ thông chuyên ban
khoa học xã hội. Cùng với các công trình khoa học khác về tác giả Hồ Dzếnh, luận văn

cũng mong muốn được góp thêm một tiếng nói khẳng đònh những đóng góp của nhà văn
này vào sự phát triển của văn học nước nhà giai đoạn 1930-1945.
2. LỊCH SỬ VẤN ĐỀ:
Trong số những bài viết và chuyên luận về Hồ Dzếnh mà người viết có được, dù
chưa thật đầy đủ nhưng sơ bộ có thể nhận thấy rằng cho đến nay vẫn chưa có một công
trình nào chọn riêng truyện ngắn và tiểu thuyết của Hồ Dzếnh làm đối tượng nghiên cứu
một cách toàn diện dưới góc độ phong cách học. Hầu hết các tác giả chỉ tập trung vào
phê bình một số bài thơ, đặc biệt là tập truyện ngắn đầu tay đặc sắc của Hồ Dzếnh, tập
Chân trời cũ. Tuy vậy đối với hầu hết các công trình nghiên cứu của những nhà phê bình,
những người đi trước, chúng tôi đều kế thừa được nhiều ý kiến quý báu. Đó thực sự là
những gợi ý quan trọng và hữu ích. Nó giúp chúng tôi đònh được hướng đi trong suốt quá
trình thực hiện đề tài. Điểm lại lòch sử nghiên cứu về con người và tác phẩm của Hồ
Dzếnh có thể thấy ngay từ khi tập truyện ngắn đầu tay của Hồ Dzếnh – Chân trời cũ – ra
đời năm 1942 đã có một số bài phê bình về tác phẩm này. Năm 1973 tạp chí Giai phẩm
Văn ở Sài Gòn đã ra số đặc biệt về Hồ Dzếnh. Đặc biệt từ những năm 80 trở đi đã có
nhiều bài viết về con người và sáng tác của Hồ Dzếnh đăng trên các báo, tạp chí. Từ
nguồn tài liệu đó hai tác giả Lại Nguyên Ân và Ngô Văn Phú đã tập hợp, chọn lọc và
phân loại làm nên một cuốn sách tư liệu mang tên “Hồ Dzếnh – Một hồn thơ đẹp” do nhà
xuất bản Văn hoá thông tin Hà Nội ấn hành năm 2001. Sáng tác của Hồ Dzếnh, gần đây
còn là đề tài nghiên cứu trong nhiều luận văn tốt nghiệp của sinh viên Đại học và học
viên Cao học.
Ở bài viết năm 1942 có tựa đề “Phê bình Chân trời cũ – tập truyện ngắn của Hồ
Dzếnh”, nhà phê bình Kiều Thanh Quế đã “để ý đến tính cách ngòi bút của tác giả (tức
Hồ Dzếnh) nhiều hơn cốt truyện tác giả dàn xếp” [8;86]. Chú ý đến nghệ thuật kể


chuyện của Hồ Dzếnh, Kiều Thanh Quế nhận xét: “Văn chương Hồ Dzếnh có những
nhòp uyển chuyển và buồn lạ như một khúc nhạc lâm li ai oán” [8;87].
Theo lời tâm sự của Hồ Dzếnh được Vương Trí Nhàn ghi lại thì sinh thời Hồ Dzếnh
có tặng Nguyễn Tuân một bản Chân trời cũ, Nguyễn đã có lời khen: những truyện đó có

được cái giọng nhân hậu.[8;16].
Trần Hữu Tá khi biên soạn mục “Hồ Dzếnh” trong Từ điển văn học (Nxb Khoa học
xã hội, Hà Nội 1983) đã cho rằng: “Do từ nhỏ sống nhiều với mẹ, với làng quê, với
những người nông dân Việt Nam nghèo khổ nhưng có nhiều đức tính cao quý, Hồ Dzếnh
có nhiều trang viết thiết tha xúc động”, tác phẩm của ông “mang đậm sắc thái trữ tình
hiện thực”. [81;315].
Cũng nhà nghiên cứu Trần Hữu Tá ở một bài viết khác (“Hồ Dzếnh – một hồn thơ
đẹp” đăng trên Tạp chí Kiến thức ngày nay số 10-1988) đã nhận đònh “Hồ Dzếnh được
nhiều người yêu và nhớ dù ông viết không nhiều vì ông có được tiếng nói nghệ thuật
riêng”. Theo ông, thế mạnh của ngòi bút Hồ Dzếnh là “chất thơ thấm vào từng trang văn
tạo nên phong vò trữ tình ảo diệu”. Đọc Chân trời cũ, Trần Hữu Tá cảm nhận “trong bất
cứ truyện nào dù nói về ai nhưng ẩn sau những dòng chữ in, nhân vật chính vẫn là tác
giả, là tâm hồn giàu yêu thương xao xuyến của ông”.
Nhà thơ Vũ Quần Phương trong lời giới thiệu chung về văn nghiệp Hồ Dzếnh cũng
có nhận xét tương tự: “Ở cả thơ lẫn truyện, người ta dễ dàng nhận ra một tâm hồn giàu
cảm xúc, tràn ngập yêu thương, trắc ẩn, gắn bó chặt chẽ với những phận người hẩm hiu
nghèo khổ trong xã hội cũ”. Văn Hồ Dzếnh có “giọng kể chân thật từ tốn với rất nhiều
thương cảm xót xa” [74;13,14].
Còn Phạm Khải khi đọc Chân trời cũ đã cho rằng “giọng văn Hồ Dzếnh bao giờ
cũng bày tỏ một sự cảm thông nâng niu đầy thương cảm” đối với những người lao động
thôn quê chòu thương chòu khó, giàu sự độ lượng và lòng hi sinh (Thanh Hoá trong thơ văn
Hồ Dzếnh, 1989),[8;158].
Nhận xét về ngòi bút Hồ Dzếnh, trong một bài viết năm 1991, Lê Quang Trang
nhận thấy Hồ Dzếnh “hướng lòng mình về những người nghèo khổ, chia sẻ với họ những


bất trắc, bất hạnh, bi kòch gặp trong đường đời bởi vậy truyện của ông thường được đậm
đặc bản chất nhân đạo … Văn ông trầm tónh, đều đều như những cơn mưa ngâu dai dẳng,
dầm dề, không ào ạt nhưng vẫn tạo được cảm giác lắng đọng, ngấm sâu …” [8;181,182].
Cũng thời điểm trên, khi đọc tiểu thuyết Cô gái Bình Xuyên của Hồ Dzếnh, Tạ Bảo

cảm nhận: văn Hồ Dzếnh “dung dò, nhuần nhuyễn không chút cầu kì rắc rối, không chữ
to ý lớn phô phang mà sao lại vấn vương quấn quýt ai đó đã một lần đọc ông” [8;188].
Trong bài viết năm 1996 có tựa đề “Hồ Dzếnh với những Chân trời cũ” (Một số
gương mặt văn chương học thuật Việt Nam hiện đại, Nxb Giáo dục – Hà nội, 2001) Phong
Lê cho rằng “mạch kể chuyện của Hồ Dzếnh rủ rỉ và sa đà”, văn Hồ Dzếnh có những
đoạn “thật giàu âm điệu, như đồng vọng lại từ sâu thẳm của một tâm hồn cực kì đa cảm
và một quá khứ xa xưa. Những đoạn văn dài như tâm tưởng và huy hoàng trang nghiêm
một vẻ đẹp cổ điển” [53;107].
Mai Hương, trong một bài viết sau đó ít lâu, cũng có ý kiến tương tự rằng Hồ
Dzếnh có “giọng văn tự nhiên, man mác buồn và rủ rỉ miên man như một dòng tâm sự”
[8;193]
Khá thống nhất với các ý kiến trên, Phan Quốc Lữ, trong luận văn thạc só khoa học
ngữ văn đã cho rằng “giọng văn Hồ Dzếnh chân thực, từ tốn với một niềm tin thương
cảm day dứt”[59;82]. Gần đây nhất là lời nhận xét của Tôn Phương Lan trong một bài
báo đăng ở Tạp chí Văn học năm 1999. Theo bà thì tập truyện ngắn Chân trời cũ “được
thể hiện bằng một giọng kể chân thật, từ tốn với sự đồng cảm xót xa nên để lại trong tâm
tưởng người đọc cái dư vò vừa ngọt ngào, vừa day dứt” [8;205]
Còn sinh viên Phạm Ngọc Lan trong khoá luận tốt nghiệp Đại học của mình cũng
đã nói đến giọng điệu nghệ thuật của Hồ Dzếnh trong Chân trời cũ. Đó là một giọng kể
trầm buồn, day dứt, ngẫu hứng tâm tình. [46;71]
Trên đây là một số nhận đònh quan trọng của các nhà nghiên cứu về những vấn đề
cơ bản có liên quan đến đề tài. Các ý kiến này dù chỉ dừng lại ở mức độ khái quát và chủ
yếu tập trung vào truyện ngắn Hồ Dzếnh nhưng nhìn chung khá thống nhất. Và như đã
nói, đó là những gợi ý hết sức hữu ích để người viết thực hiện đề tài, thực hiện hàn h trình


đi từ những nhận xét khái quát đến những khảo sát chi tiết, cụ thể, đầy đủ và có hệ thống
hơn. Nói khác đi các bài viết trên là cơ sở ban đầu để luận văn tiếp tục triển khai việc
tiếp cận truyện ngắn và tiểu thuyết Hồ Dzếnh theo hướng phong cách học.
3. GIỚI HẠN, PHẠM VI NGHIÊN CỨU:

Để thực hiện đề tài luận văn, người viết sẽ khảo sát trên toàn bộ sáng tác văn xuôi
của Hồ Dzếnh bao gồm truyện ngắn và tiểu thuyết, ngoài ra còn tham khảo thêm các tập
thơ và thư từ trong di bút của ông. Hồ Dzếnh sáng tác chủ yếu trước Cách mạng tháng
Tám trong đó Chân trời cũ là tập truyện ngắn xuất sắc mang rõ nét phong cách riêng của
ông. Sau Cách mạng, dù không đều đặn nhưng Hồ Dzếnh cũng có viết thêm và có thể
nói ở thời gian này, những tác phẩm ấy không có đóng góp gì nhiều cho tác giả Chân trời
cũ. Do vậy luận văn chỉ tìm hiểu giai đoạn sáng tác trước Cách mạng của Hồ Dzếnh. Khi
cần luận văn cũng có thể mở rộng phạm vi, đề cập đến sáng tác của những nhà văn khác
để soi sáng vấn đề cần nghiên cứu.
* GIỚI THUYẾT VỀ PHONG CÁCH NGHỆ THUẬT

Có thể thấy trong giới nghiên cứu đang tồn tại nhiều đònh nghóa khác nhau về
phong cách văn học. Trong công trình Cá tính sáng tạo của nhà văn và sự phát triển của
văn học (Nxb Tác phẩm mới, 1978), Khrapchenco đã phân tích khá thấu đáo một số đònh
nghóa tiêu biểu cho các quan niệm khác nhau về phong cách. Chẳng hạn quan niệm của
D.Likhachev, A. Grogorian, V. Turbin, V. Jirmunxki, V. Kôvalev, L.Nôvichencô … Và
chính Khrapchenkô cũng đưa ra một quan niệm của riêng mình về phong cách.
Ở Việt Nam, trong một số sách công cụ như Từ điển văn học, Từ điển thuật ngữ
văn học, các giáo trình Lí luận văn học hoặc trong các công trình nghiên cứu cụ thể như
Tìm hiểu phong cách Nguyễn Du trong Truyện Kiều (Nxb Thanh niên,2001) của Phan
Ngọc, Nhà văn, tư tưởng và phong cách (Nxb Văn học Hà Nội, 1979) của Nguyễn Đăng
Mạnh, Một số vấn đề về thi pháp học hiện đại (Bộ Giáo dục và Đào tạo – Vụ Giáo viên,
1993) của Trần Đình Sử, Phong cách học Tiếng Việt (Nxb Giáo dục, 1998) của Đinh


Trọng Lạc và Nguyễn Thái Hoà … khi đề cập tới khái niệm này cũng đề xuất cách hiểu
về phong cách của mình.
Sau khi tham khảo các quan niệm về phong cách và khảo sát từ thực tế nghiên cứu
lâu nay chúng tôi nghó có thể đưa ra một quan niệm về phong cách như sau.
* Trước hết phong cách nghệ thuật của nhà văn là cá tính của chủ thể sáng tạo

trong việc lựa chọn chất liệu và cách tiếp cận đối tượng nghệ thuật, cách thức xây dựng
tác phẩm, các thủ pháp và phương tiện biểu đạt, nghệ thuật ngôn từ … Phong cách nghệ
thuật của nhà văn còn là biểu hiện những đặc điểm của cá tính sáng tạo của họ trong
nhận thức, trong cách nhìn cũng như trong các phương thức thể hiện của nhà văn đối với
thế giới hiện thực, con người. Sự biểu hiện đó trước tiên và bao giờ cũng đòi hỏi phải có
sự độc đáo.
Nói đến phong cách là nói đến dấu ấn cá nhân của người nghệ só được in đậm lên
tác phẩm từ cách thức tổ chức tác phẩm, cách xử lí đề tài, cách xây dựng nhân vật, tạo
tình huống đến giọng điệu, ngôn ngữ … trong đó tư tưởng nghệ thuật như một tiêu chí
quan trọng. “Văn là người” – câu nói nổi tiếng của Buffon có lẽ cũng bắt đầu trên tinh
thần ấy.
Như vậy phong cách chính là khuôn mặt riêng, giọng điệu riêng của từng nghệ só
trong thế giới nghệ thuật. Một nhà văn không có phong cách, không có khuôn mặt riêng,
giọng điệu riêng sẽ hoà lẫn vào đám đông, khó gây được ấn tượng ở người đọc. Về điều
này, Turgenev có nói : “Cái quan trọng trong tài năng văn học và tôi nghó rằng cũng có
thể trong bất kì một tài năng nào là cái tôi muốn gọi là tiếng nói của mình. Vâng, điều
quan trọng là tiếng nói riêng của mình, những nốt đặc biệt của mình, những nốt không dễ
tìm thấy ở bất kì một người nào khác”.[48,11]
* Tìm hiểu phong cách nghệ thuật của một tác giả không chỉ nghiên cứu những yếu
tố có tính chất hình thức mặt dù hình thức có vai trò cực kì quan trọng. Nhà văn chân
chính sáng tác theo quy luật của cái đẹp và phong cách chính là chỗ độc đáo về tư tưởng
cũng như nghệ thuật. Nói đến phong cách, theo cách hiểu của người viết, là nói đến sự


thống nhất giữa nội dung và hình thức. Một tác phẩm nghệ thuật độc đáo không thể là
một tác phẩm kém cỏi về một trong hai phương diện. Nội dung chỉ tồn tại bằng hình thức
và ngược lại. Một tác phẩm văn học hay là khi với nội dung đó, tác giả của nó đã lựa
chọn được một hình thức thích hợp để diễn đạt thành công nội dung. Có những nhà văn
gần nhau về tư tưởng, có cùng một thế giới quan, cùng viết về một đề tài nhưng tác phẩm
nghệ thuật đó như thế nào lại hoàn toàn phụ thuộc vào hình thức mà nhà văn chọn, vào

cái “tạng” của mỗi nhà văn. Giá trò của một văn bản nghệ thuật được xác đònh bởi toàn
bộ các thành tố như tình tiết, cốt truyện, nhân vật … trong một thể thống nhất, in dấu ấn
riêng của mỗi nhà văn.
* Phong cách nhà văn được vận động, phát triển và chòu ảnh hưởng của thế giới
quan, của môi trường sống, của bối cảnh thời đại, của các nhà văn mà họ yêu thích.
Phong cách được hình thành trên cơ sở tài năng và cũng là quá trình nỗ lực không ngừng
của nhà văn trong lao động nghệ thuật. Phấn đấu để có được một phong cách nghệ thuật
- đó là sự đóng góp đích thực của mỗi nhà văn cho sự phát triển chung của cả nền văn
học.
4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.
Để thấy được phong cách nghệ thuật Hồ Dzếnh, luận văn sẽ vận dụng hai phương
pháp – phương pháp phân tích tác phẩm và so sánh đối chiếu.
Bên cạnh đó, luận văn cũng chú ý vận dụng các phương pháp khác như phương
pháp hệ thống, phương pháp lòch sử, phương pháp phân loại – thống kê. Chúng sẽ hỗ trợ
cho hai phương pháp trên nhằm tìm ra những nét tương đồng, gần gũi hoặc dò biệt của
ngòi bút Hồ Dzếnh so với các nhà văn cùng thời. Từ đó có một cái nhìn toàn diện, khách
quan về dấu ấn cá nhân của Hồ Dzếnh trong văn chương.
5. CẤU TRÚC CỦA LUẬN VĂN.
Luận văn được bố cục theo các phần sau.
Phần thứ nhất : MỞ ĐẦU


Phần này bao gồm các mục: Lý do chọn đề tài, Lòch sử vấn đề, Phạm vi–giới hạn
nghiên cứu, Phương pháp nghiên cứu và Cấu trúc của luận văn.
Phần thứ hai : NỘI DUNG
Đây là trọng tâm của luận văn. Phần này gồm các chương sau đây.
- Chương 1: Xác đònh vò trí của truyện ngắn và tiểu thuyết của Hồ Dzếnh trong sự
nghiệp văn chương Hồ Dzếnh nói riêng và trong giai đoạn văn học Việt Nam
1930-1945 nói chung, đồng thời tập trung tìm hiểu tư tưởng, tình cảm của nhà
văn qua trang viết.

- Chương 2: Tập trung phân tích những biểu hiện độc đáo của phong cách nghệ
thuật Hồ Dzếnh ở những phương diện như phương thức, điểm nhìn trần thuật và
yếu tố tư truyện.
- Chương 3: Tìm hiểu đặc trưng của tác giả về mặt ngôn ngữ và giọng điệu nghệ
thuật.
Phần thứ ba: KẾT LUẬN
Sau cùng là danh mục tài liệu tham khảo.

--


PHẦN THỨ HAI : NỘI DUNG
Chương 1
HỒ DZẾNH – NHÀ VĂN CỦA YÊU THƯƠNG
1.1 Những tiền đề hình thành tư tưởng nghệ thuật của Hồ Dzếnh.
1.1.1 Hồ Dzếnh với quê hương Việt Nam

Nhà văn Hồ Dzếnh mang trong mình hai dòng máu Việt và Hoa. Cha ông là người
Trung Quốc di cư sang Việt Nam vào những năm cuối cùng của thế kỉ XIX, gặp và kết
duyên với một cô gái Việt chở đò ngang trên sông Ghép, Thanh Hoá. Đối với quê cha –
vùng đất Trung Hoa xa xôi, Hồ Dzếnh đã dành nhiều tình cảm.
Mây ơi có tạt về phương Bắc
Chầm chậm cho ta gửi mấy lời
Từ thû li hương ta vẫn nhớ
Nhưng tình xa lắm gió mây ơi!
(Tư hương)
Dù có hai quê hương thế nhưng do hoàn cảnh, suốt đời Hồ Dzếnh chỉ sống ở quê
ngoại. Vì thế mà hình ảnh đất nước và con người Trung Hoa hiện lên trong thơ văn ông
chỉ dừng lại ở những ước lệ, khuôn sáo,:
Tô Châu lớp lớp phù kiều

Trăng đêm Dương Tử, mây chiều Giang Nam
(Đợi thơ)
hoặc mơ hồ, bâng khuâng trong những dòng hoài niệm của Chân trời cũ “Lòng tôi nghe
vang một thứ gió âm u của miền sa mạc Mông Cổ, trôi qua Thiểm Tây, Cam Túc, luồn
vào những khu rừng không tên của hai tỉnh Lưỡng Quảng, vượt trùng dương sang tôi, như
tiếng thở dài não nùng của những linh hồn phiêu bạt. Không hiểu sao lòng tôi rưng rưng”.
Có thể thấy rằng hầu như tất cả sức nặng của tình cảm Hồ Dzếnh đã dành cho con
người và cảnh vật quê ngoại – nơi ông sinh ra và lớn lên. Chẳng phải ông đã lấy quê


ngoại làm tên cho tập thơ đầu đấy sao?. Nói vậy để thấy rằng cái neo giữ mạnh mẽ tâm
hồn Hồ Dzếnh là tình người, tình yêu quê hương xứ sở. Chính tình yêu ấy đã đònh hướng
cho ngòi bút của ông. Sinh thời nhà văn từng bộc bạch rằng “Lòng yêu quê hương – một
cái làng nhỏ bé ngày nay không còn tên nữa, nhất là lòng yêu mẹ là yếu tố giúp tôi sáng
tác”[8;11]. Ông đã tâm sự chân thành: “Dòng máu Trung Hoa đến tôi không còn nguyên
vẹn nữa. Nhưng đó là dòng máu của cội nguồn, quê cha đã hoà chung cùng dòng máu
Việt Nam để làm nên tâm tư, tình cảm và văn phong của Chân trời cũ. Thêm vào đó là
cuộc sống quá ư nghèo nàn, tù túng của một làng quê với những số phận con người hẩm
hiu, nghèo khổ mà tôi gần gũi, thân yêu ngay từ khi còn thơ ấu, đã tạo dựng cho tôi cái
“đất” để viết văn và trở thành cảm hứng khơi nguồn cho tôi trong sáng tác”[8;11].
Từ tấm lòng ấy của một người nghệ só, ta càng hiểu vì sao trên những trang viết
của Hồ Dzếnh thường đầy ắp hình ảnh của một cuộc sống dân dã thuần phác với những
cảnh sắc, “mùi vò” đất quê. Ở đó nổi rõ sự bình lặng đến mỏi mòn nhưng không kém
phần thân thiết. Người đọc thường bắt gặp trong văn Hồ Dzếnh những nét chấm phá đơn
sơ nhưng giàu sức gợi hình, gợi không khí đời sống. Đó là “Cảnh yên lặng của những
ngày thôn dã, mất đi đều đều không tăm không tiếng, đôi lúc người phu trạm gầy khổ
đến gõ cái gậy tre trên cổng nứa, trao cho tôi những phong thư từ Hà Nội chuyển về”. Là
một đêm trăng mờ trên sông nước “Gió sông lên đầy. Làng mạc xa xa, chìm mờ trong
bóng tối, đôi lúc để lọt ra vài tiếng chó sủa ma. Mấy điểm đèn hạt đậu run trên sông như
những con mắt buồn từ kiếp trước”. Đó là những “lũy tre xanh vây kín xã Hoà Trường

êm ái” với hình bóng người thiếu phụ “tay vòn cành găng”, cố hỏi qua hàng rào bằng một
giọng kín đáo, là cái bóng dáng hiền lành của anh đỏ Phụ “thấp thoáng bên kia hàng rào
cây duối”. Đó là “buổi trưa đột nhiên vọng một tiếng gà gáy lạ lùng”, là “một mảnh
vườn đầy nắng gió … thứ nắng gió hiền hoà nhẹ nhàng phe phẩy ngọn cau, giậu hoa dâm
bụt”. Đó là hình ảnh “những người mặc áo chàm cũn cỡn tay cầm lăm lăm con dao quai
… Bóng họ bình yên trộn vào bóng rừng thẳm và mỗi bước chân gieo xuống đất làm sống
lại những nỗi buồn u kín của ngày xưa”.


Cái khả năng chấm phá ấy cũng thật tài tình trong những vần thơ của Hồ Dzếnh. Ở
đó đầy ắp những “đê thắm bướm vàng”, những đám “rau sam vẫn mọc chân rào trước”,
tiếng cá đớp trăng “đêm đêm cá đớp, trăng sầu đêm đêm”.
Sinh ra và lớn lên trên dải đất hiền hoà, nói như chính nhà văn từng viết, “cái dải
đất thoát được ra ngoài sự lọc lừa, phản trắc, cái dải đất chỉ bò bạc đãi mà không bạc đãi
ai bao giờ”, Hồ Dzếnh đã yêu quê mẹ đến “trên bậc tuyệt vời của tôn giáo”, đã luôn
nặng lòng biết ơn mảnh đất Việt Nam. Ông đã dành cho nơi mình sống những lời lẽ nồng
nàn, trìu mến “Ngủ trong tình thương yêu của mẹ, trong lòng yêu của Yên, tôi say sưa
trọn mười mấy năm trời đằng đẵng và chỉ tỉnh dậy, cách đây không bao lâu, để tin rằng
nước Nam, quê hương thứ hai của tôi còn đẹp lắm, người nước Nam vẫn rất đỗi hiền
lành” (Chò Yên). Có lúc tình cảm của ông dành cho nơi này được thể hiện bằng nét bút
khá thiết tha: “Tôi sinh ra giữa cái ánh sáng dòu dàng, mùi hương thơm ngát ấy, tâm hồn
được tiếp xúc ngay với cảnh sắc thân yêu, được buộc ngay vào cội rễ đất nước. Mặt trời
viễn phương tuy đẹp đẽ, tuy thôi miên nhưng vẫn không giảm được cái thi vò của căn lầu
biếc ánh nến … Tôi đua đòi chạy tìm những chân trời xa lạ, nhưng mỗi lúc dừng chân, tôi
vẫn thích quay về Quê Mẹ. Ở đấy mới thực rộn và sôi lên cái gì là lòng, là máu, máu và
lòng không vay mượn, không chế tạo, thiết thực và đơn sơ” (Mơ về nước Chúa).
Có thể thấy lòng yêu đất nước Việt Nam của Hồ Dzếnh gắn bó khăng khít với lòng
yêu mẹ, yêu những người thân yêu. Ông đã yêu Tổ quốc từ tình yêu những người dân lao
khổ, thiệt thòi. Những con người mà nhà văn gặp gỡ, kẻ ít người nhiều đã là những bóng
mát chở che, bao bọc để nuôi lớn trong nhà văn này một tình yêu, một tình cảm vò tha

hơn là vò kỉ. Đó là một bà mẹ Việt Nam tảo tần, nhẫn nhòn nuôi con ; là một người chò
nuôi tận tụy hết lòng mà phải chòu bao nỗi bất hạnh, là người anh rể hụt hiền lành hai lần
lỡ dở tình duyên, là một em Fin xinh đẹp nhưng thờ ơ lạnh lẽo, là thím Củ sống trong
cảnh khổ mà không biết mình khổ .v.v.. Ta gặp ở văn Hồ Dzếnh một con người đa sầu đa
cảm, nhạy cảm trước những nỗi buồn đau của thân phận con người. Tình yêu chân thực
ấy đã góp phần tạo nên cái âm hưởng ai hoài, ngân nga của văn ông. Âm hưởng ấy trở


thành một đặc trưng rõ nét, một dòng chảy mạnh mẽ góp phần vào việc hình thành nên ở
ông giọng điệu và bản sắc riêng trong ngôn ngữ nghệ thuật.
1.1.2 Hồ Dzếnh với “Chân trời cũ” của quá khứ
Với văn chương nghệ thuật, Hồ Dzếnh tự nhận mình luôn đi bên lề của nó. Ông coi
sáng tác như một nhu cầu bộc lộ cảm xúc, suy nghó thật của lòng mình, “cho vơi nhẹ nỗi
niềm” như ông nói. Viết tập truyện ngắn đầu tay khi mới ngoài hai mươi tuổi, Hồ Dzếnh
tâm sự rằng: “Tôi chỉ ghi chép lại những điều mắt thấy tai nghe về số phận trôi dạt của
những con người mà tôi đã chứng kiến và đã làm tôi xúc động” [8;10]. Sống gắn bó, sẻ
chia với những con người lầm lũi, bất hạnh xung quanh – đó chính là cội nguồn sâu xa
của cảm quan nhân đạo của Hồ Dzếnh. Và cũng vì vậy mà trang văn Hồ Dzếnh thấm
đượm một nỗi sầu nhân thế. Có thể nói chỉ bằng đôi nét khắc hoạ đơn sơ nhưng tróu nặng
tâm tình, Hồ Dzếnh đã khắc hoạ thật cảm động và cũng thật sinh động những chân dung
cuộc đời một thû ông đã từng chứng kiến. Dường như ai cũng khổ, ai cũng không tránh
được bất hạnh. Song từ trong miền sâu thẳm của tâm hồn, ở mỗi người đều ánh lên
những vẻ đẹp dung dò, thầm lặng và đầy sức ám ảnh. Tất cả đều là những người có chân
tâm. Họ lặng lẽ sống, nhẫn nại chòu đựng, âm thầm chia sẻ và lặng lẽ yêu thương,
nhường nhòn đến cảm động. Bằng trái tim nhân ái và đa cảm, Hồ Dzếnh đã tài tình phát
hiện ra cái khổ, cái đẹp ấy của những con người quanh ông. Và cũng từ đó, ông chắt
chiu, dành dụm những tình cảm đằm thắm, nồng hậu nhất cho họ. Ông xót xa chia sẻ
cùng họ từng nỗi ấm lạnh trong nhân tình thế thái, từng cảnh ngộ buồn đau, bất hạnh của
mỗi số phận, mỗi cuộc đời. Tác giả đã đau khổ, đã sống thật sự những truyện của mình,
đã nhớ lại cuộc đời cũ với tình xót thương, lòng nhân đạo khá sâu sắc. Ở điểm này Hồ

Dzếnh có những nét giống hai nhà văn Thạch Lam và Thanh Tònh. Đó là những nhà văn
tình cảm, thường tả về những con người nghèo khổ, những chuyện đau thương trong xã
hội với một lòng trắc ẩn chân thành. Hồ Dzếnh, bằng trái tim nhạy cảm, đã biết rung
động, sẻ chia với tất cả. Ông viết tác phẩm Chân trời cũ trong nỗi “băn khoăn quay đầu
về phương trời đã mất, sống lại cái gì đã qua, khóc ngày xưa không bao giờ về nữa … Tôi
vơ vào lòng tôi những cái gì là chua xót nhất để mong làm dòu cái chua xót đang tàn phá


trong tôi”. Ông viết về họ- “những con người hẩm hiu, nghèo khổ trong xã hội cũ”
(Thạch Lam) thân thuộc quanh ông - bằng nét bút trìu mến, cảm động. Đó là chò Yên –
người con gái trong truyện ngắn cùng tên: “Ngày hai lượt chò gánh hàng cho mẹ tôi đi, về
chợ, tiếng kẽo kẹt của chiếc đòn tre trên vai bình yên nhòp với tháng ngày âm u, vắng
mọi xa hoa của một người đàn bà Việt Nam chân chính”. Đó là hình ảnh anh đỏ Phụ sớm
khuya gắn bó với nghề: “Cuộc đời sông nước của người con trai xã Hoà Trường bắt đầu
từ đó. Đã nhiều canh gà lạ eo óc trên những bến sông xa. Đã nhiều lần sao hôm, sao mai
thay nhau hiện ra rồi tắt lòm” (Anh đỏ Phụ). Tình cờ gặp lại anh Phụ trên tỉnh, biết anh
sắp đi phu bên Tân thế giới, tác giả thao thức trong đêm: “Đêm đó, tôi mong cho con tàu
đừng đến, mong anh Phụ đổi ý, trở về. Nhưng tất cả chỉ là ước mơ hờ hão. Anh đỏ Phụ đã
lăn tay, đã điểm chỉ rồi. Anh đã dúi vào bàn tay người chò gái tờ giấy bạc con công năm
đồng, nửa số tiền bán đời mình để gửi về phụng dưỡng bố. Và con tàu đang lù lù tiến
đến, sau một hồi còi thét lên, xé ruột. Anh đỏ Phụ đứng bật dậy. Tôi ôm ghì lấy anh,
khóc nức nở”. Đó là chò đỏ Đương nhan sắc, goá chồng lúc nào cũng dành cho cậu bé
học trò ngây thơ những nụ cười “cái nụ cười chò từng nở trong bóng mát của một tấm
lòng giàu yêu thương cũng như nhiều cực nhục” (Sáng trăng suông). Đó là người đàn bà
Tàu, chò dâu của tác giả, chỉ sau hai năm sang làm dâu xứ lạ đã “hoàn toàn thành một
người đàn bà quê Việt Nam đặc” để rồi “trên cánh đồng rộng rãi của làng Đông Bích
người ta thường thấy một dải áo chàm in đậm trên nền trời mỗi sáng, chăm chỉ và lặng
lẽ”… Viết về người đàn bà phải “lìa quê hương” đến “làm dâu một gia đình cơ khổ” trên
đất Việt, “người đàn bà buồn khổ sàng từng hạt tấm xuống nong, trong khi trời chiều
sàng từng giọt hoàng hôn xuống tóc”, Hồ Dzếnh mong mỏi “Chò hãy nhận ở đây, trong

mấy dòng chữ này, một lời yên ủi để may ra lòng đau khổ của chò được san sẻ một vài
phần”.(Người chò dâu tôi).
Nâng niu những kỉ niệm của một tuổi thơ chưa xa, Hồ Dzếnh còn biết gạn chắt từ
lòng mình những tình cảm máu mủ ruột thòt để có thể cảm thông hơn với người chú mà
cậu chẳng hề thiện cảm bởi thói keo kiệt (Chú Nhì), với người cậu giả trá đã làm hại đời
một cô gái đáng thương (Chò Yên). “Bây giờ ba chúng tôi đã mất rồi. Cái người chú kia


dẫu keo kiệt, dẫu hóc hiểm nhưng là cái bóng tàn còn sót lại ở một chi họ gần nhất và
cũng bắt đầu xa nhất của chúng tôi.” Chính tình cảm ấy mà tác giả có cái nhìn bao dung
hơn với người chú của mình: “Lần đầu tiên khói tàu hoả che lấp bóng chú Nhì, ngừng lại
trong mắt tôi, lâu lắm.” (Chú Nhì). Nói vậy để thấy Hồ Dzếnh như mở lòng mình để chia
sẻ nỗi đau với những người thân và như nghiêng mình trước những phẩm chất tuyệt vời
của những con người không chòu chết chìm trong cơ cực, buồn khổ.
Sự khám phá ra cái khổ, cái đẹp của những người sống quanh mình còn giúp cho
ngòi bút Hồ Dzếnh thường xuyên đi sâu được vào đời sống nội tâm phong phú và phức
tạp của con người. Từ đó nhà văn đã tìm được sự giao cảm với con người qua những niềm
vui cũng như nỗi buồn, sự mất mát cũng như đau khổ. Điều này thật đúng như nhiều cây
bút phê bình đã nhận xét về một Hồ Dzếnh sâu sắc, nhân hậu và đằm thắm. Đây là một
phẩm chất độc đáo. Nó tiếp tục trong hầu hết các sáng tác sau này của ông được kí với
bút danh Lưu Thò Hạnh và ngày càng trở thành một đặc trưng rõ nét, góp phần vào việc
hình thành nên ở ông một phong cách nghệ thuật riêng. Ở đây có thể nhắc đến nhân vật
Hậu, người đàn bà goá bụa trong tiểu thuyết Những vành khăn trắng – được tác giả đặt
vào tình thế đi bước nữa hoàn toàn không bình lặng trong nỗi giằng xé, đan xen giữa
những luồng tình cảm khác nhau, một bên là nỗi cô đơn, là bổn phận đối với mẹ chồng,
với con và một bên là lòng khao khát được yêu, được sống như một người bình thường.
Cuối cùng thì thiên chức làm mẹ, bổn phận làm con đã khiến chò âm thầm chòu đựng
cảnh chăn đơn gối chiếc, từ chối hạnh phúc mà lẽ ra chò rất đáng được hưởng.
Đọc văn Hồ Dzếnh dễ nhận ra rằng với những người phụ nữ, Hồ Dzếnh bao giờ
cũng dành cho họ một tình thương đặc biệt, một lời ngợi ca tha thiết về vẻ đẹp tâm hồn

của họ. Họ “đã bao nhiêu lần đau khổ, chua xót, nhưng vẫn bò lãng quên trong luỹ tre
xanh”. Họ là “những con người chỉ biết có trung thành, tận tụy”. Chính họ đã gợi lên
trong ông những xúc cảm cao quý để tin rằng “Nước Việt Nam quê hương thứ hai của tôi
còn đẹp lắm, người nước tôi vẫn rất đỗi hiền lành”. Và trong những chân trời cũ ấy có
một chân trời riêng sâu thẳm và tha thiết nhất Hồ Dzếnh tặng mẹ. Người mẹ suốt một
đời “chỉ biết vâng theo một cách nhẫn nhục, một cách lặng lẽ, một cách chua xót vô


cùng” cái số phận do “Trời đònh”. Người từng lầm lũi để cho “bao nhiêu thế kỉ rồi, những
tiếng thở dài mất tăm trong đêm tối, những mái đầu bù rối nghiêng xuống bổn phận hàng
ngày, tầm thường và nhỏ mọn”. Hồ Dzếnh cảm nhận với tấm tình biết ơn sâu nặng, thấm
thía cái mênh mang, sâu thẳm của lòng mẹ suốt một đời che chở ông. Mẹ như một tâm
điểm để nhà văn hướng tầm nhìn về nỗi khổ đau, bất hạnh cũng như vẻ đẹp của con
người, để rồi từ đó ông biết cảm thông, biết sống nhân ái, bao dung. Phải chăng tấm lòng
đó là một trong những yếu tố cơ bản tạo nên chất thơ thấm đẫm cũng như cách sử dụng
ngôn từ rất gây ấn tượng trong từng trang văn Hồ Dzếnh. Chẳng hạn ông tả về chân dung
người khách ngoại quốc năm nào: “chỉ sau mươi phút, không còn một miếng cơm, một
khúc cá nào còn sót lại trên mảnh lá chuối héo. Tất cả lương thực ngọt ngào trôi qua cổ
họng, đảo lộn trong cái dạ dày vô bệnh, để biến thành những dòng máu hùng cường luân
lưu nuôi mạch sống và nuôi lớn mãi cái chí nguyện giang hồ” (Ngày gặp gỡ) ; về người
chò dâu với “tiếng xay lúa ồ ồ đến tận hai giờ sáng như những nhòp đời thương nhớ âm
vọng trong thời khắc và lòng người” ; hay sự cảm nhận về một số phận cực nhọc “tóc chò
rối ren như tâm hồn chò bận rộn, bập bùng và sâu thẳm như ánh đèn dầu lạc soi không đủ
sáng một góc nhỏ trong căn nhà tranh” (Người chò dâu tôi), hoặc những câu văn trong
trẻo diễn đạt sự hoà quyện giữa cảnh sắc thiên nhiên và tâm trạng con người “Quanh
Thuỷ, buổi chiều tàn trong bóng giờ hấp hối. Vài ba chiếc lá tre rơi yếu ớt xuống mặt
đường. Cánh đồng xa thêm vắng thêm để trơ ra cuối chân trời những chân rạ lởm chởm,
hoặc những đám lúa xanh non. Thuỷ thấy cái gì tắt đi như váng ngày trước ánh ngọn đèn
dầu yếu ớt” (Một chuyện tình mười lăm năm về trước).
Ê-rê-min có nhận xét rằng con người trong sự miêu tả của nhà văn là một trong

những tâm điểm mà qua đó phong cách của nhà văn được thể hiện sáng rõ hơn hết. Các
nhà văn lớn của mọi thời tìm đến con người, tiếp cận, giải mã cuộc đời và con người dẫu
có theo những cách thức khác nhau thì cái đích cuối cùng vẫn là để hiểu nó hơn. Với Hồ
Dzếnh, ông tiếp cận con người bình thường trong đời sống thường nhật và nhìn nhận ở họ
những phẩm chất đẹp đẽ và cao quý. Giống như Thạch Lam, ông tìm đến những đề tài


tưởng như là nhỏ – những câu chuyện hồn nhiên như là sự sống có ở bất cứ đâu quanh ta
– song vấn đề của truyện vẫn mang một tầm vóc nhất đònh. Độc giả nhận ra con người
trong sự lầm lụi đời thường, trong những bôn ba khó nhọc để mưu sinh vẫn cặm cụi, lặng
lẽ làm nên các giá trò tốt đẹp. Để rồi từ đó, mỗi câu chuyện của Hồ Dzếnh khiến ta
không khỏi bâng khuâng, phảng phất nỗi buồn thương sâu nặng về thân phận con người.
Nó cho ta cơ hội hiểu thấu nghóa lý sâu xa của cuộc đời giản dò, nhắc nhở ta hướng tới
một lối sống đôn hậu nghóa tình. Hồ Dzếnh thực sự làm chủ được phong cách trữ tình
không thể lẫn, nên những vấn đề đời thường, qua cảm quan văn học của ông, vừa đầy ắp
chất thơ với “phong vò trữ tình ảo diệu” lại vừa có được tính nhân văn sâu sắc.
1.2 Tác giả Hồ Dzếnh và dòng văn xuôi trữ tình 1932-1945
1.2.1 Vò trí của truyện ngắn và tiểu thuyết trong văn nghiệp
Hồ Dzếnh.
Hồ Dzếnh (1916-1991) được xem như một cây bút đa năng. Văn nghiệp của ông
tuy không đồ sộ nhưng khá phong phú về thể loại. Ông làm thơ, viết truyện ngắn, tiểu
thuyết và tiểu luận-phê bình. Với bản tính dè dặt, trầm lặng, sinh thời ông chưa từng đưa
ra một tuyên ngôn nghệ thuật nào và cũng chưa hề tham gia những cuộc tranh luận, bút
chiến về văn nghệ trên báo chí. Có lẽ vì thế mà chân dung văn học Hồ Dzếnh đã không
được Hoài Thanh – Hoài Chân và Vũ Ngọc Phan ghi lại trong Thi nhân Việt Nam và Nhà
văn hiện đại.
Hồ Dzếnh là một trong số không nhiều những tác giả có tên tuổi vừa làm thơ vừa
viết văn xuôi giai đoạn 1932-1945 như Thế Lữ, Lưu Trọng Lư, Huy Cận, Xuân Diệu,
Thanh Tònh. Nhưng cũng giống như Thanh Tònh, Hồ Dzếnh nổi tiếng và để lại dấu ấn tài
năng của mình trong truyện nhiều hơn là thơ. Có lẽ sự hoà quyện tuyệt vời giữa tư chất

thi só trong tâm hồn nhà văn với một bút pháp trữ tình nhẹ nhàng sâu lắng đã mang lại
cho truyện Hồ Dzếnh một vẻ đẹp riêng, một sức sống lâu bền trong lòng người đọc.
Hồ Dzếnh sáng tác ở nhiều thể loại nhưng như một số nhà nghiên cứu đã nhận
đònh thì chỉ ở đòa hạt văn xuôi ngòi bút Hồ Dzếnh mới phát huy được sở trường của mình.


Văn xuôi Hồ Dzếnh tuy đóng khung trong thể loại tự sự song lại cứ vượt tràn sang khu
vực trữ tình. Thêm vào đó lại là tự truyện. Chính từ sự kết hợp giữa các yếu tố vừa nêu
mà văn xuôi Hồ Dzếnh đã tạo nên được một giọng điệu, một bút pháp riêng. Đó là cái
chất giọng tâm tình cứ nhẩn nha mà khắc hoạ, mà lưu giữ trong tâm trí người đọc bao
nhiêu cung bậc thiết tha, vui buồn, yêu ghét.
Trong văn học Việt Nam có không ít những tác giả mà cả đời văn chỉ thu gọn trong
một vài quyển sách, vài tác phẩm. Có thể kể đến Thạch Lam, Thanh Tònh, Nguyễn
Nhược Pháp và lùi về phía sau một chút là Quang Dũng. Hồ Dzếnh cũng thuộc những
người như thế. Khi đánh giá về sự nghiệp văn học của ông, Trần Hữu Tá đã viết trong Từ
điển văn học như sau: “Tác phẩm tiêu biểu của Hồ Dzếnh là tập truyện Chân trời cũ”,
Vương Trí Nhàn cũng cho rằng “với tập truyện Chân trời cũ, Hồ Dzếnh đã tạo ra một vò
trí vững vàng trong đời sống văn học trước 1945”. Quả thật tập truyện ngắn này là một
đỉnh cao trong văn nghiệp Hồ Dzếnh.
Lúc Hồ Dzếnh đặt bút viết tập truyện ngắn Chân trời cũ cũng là lúc các nhà văn
cùng thời quay nhìn về dó vãng của mình, viết tự truyện về cái “tôi” và hồi tưởng lại thời
thơ ấu. Có thể kể đến Những ngày thơ ấu của Nguyên Hồng, Sống nhờ của Mạnh Phú Tư,
Cỏ dại của Tô Hoài … Hồ Dzếnh cũng vậy. Qua tập Chân trời cũ, ông đã ngoái nhìn về
quá khứ với những kỉ niệm buồn đau của gia đình trong những năm tháng tuổi thơ. Tác
phẩm là những hồi tưởng đượm buồn về những cảnh đời, những số phận của những người
thân quen, ruột thòt trong gia đình tác giả. Ông viết tập truyện này trong nỗi “băn khoăn
quay đầu về phương trời đã mất, sống lại cái gì đã qua, khóc ngày xưa không bao giờ về
nữa”. Kí ức trong Chân trời cũ là thứ kí ức đắng cay nhưng đậm chất lãng mạn, ở đó mỗi
truyện ngắn “là một bài thơ triền miên cảm xúc” (Võ Văn Trực). Độc giả sẽ còn gặp lại
ngòi bút trữ tình quen thuộc của Hồ Dzếnh trong lối văn trong trẻo, sáng sủa ở những tiểu

thuyết sau này của ông được kí bằng bút danh Lưu Thò Hạnh. Với văn phong trữ tình,
trong sáng vốn là thế mạnh, Hồ Dzếnh đã miêu tả một cách tinh tế tình cảm và tâm lí
của những người phụ nữ góa bụa, hiền lành, xinh đẹp và giàu đức hi sinh (Những vành
khăn trắng). Và cũng ngòi bút quen thuộc ấy đã giúp tác giả diễn đạt được nhiều trạng


thái tình cảm khác nhau của nhân vật trong tiểu thuyết Một chuyện tình mười lăm năm về
trước. Tác giả đã tỏ ra khéo léo khi miêu tả cảnh sắc thiên nhiên và tâm trạng đang yêu
của Nguyện – nhân vật chính trong tác phẩm. “Nguyện nhận thấy sự hoà hợp thanh tú dễ
chòu của lá, nắng và gió, với nỗi sầu dìu dòu, những mong nhớ xa xôi trong lòng nàng.
Một vài con chim chuyền đi chuyền lại trong hàng rào, một vài chiếc lá rụng xuống đất,
buổi trưa hè êm ả đem lại cái khung cảnh trầm mặc như tâm hồn nàng. Rất nhẹ nhàng,
nàng nhớ đến Thuỷ, đến chuyến tàu điện hôm nào đã bắt đầu đánh dấu vào đời nàng
những tình cảm tuyệt đẹp, kín đáo như câu hứa hẹn của hai người yêu nhau” .v.v..
Tuy số lượng truyện ngắn và tiểu thuyết còn khiêm tốn (20 truyện ngắn và 4 tiểu
thuyết) và cũng không tránh khỏi có mấy truyện chưa hay nhưng Hồ Dzếnh cũng đã góp
được vào văn học trước cách mạng một tiếng nói, một cách cảm, cách nghó riêng về cuộc
đời khá đặc sắc. Cái đặc sắc chủ yếu làm nên giá trò của văn xuôi Hồ Dzếnh là tiếng nói
thấm đẫm tình thương, niềm đồng cảm trước những nỗi đau của những cuộc đời khốn
khổ, tẻ nhạt. Điều đó góp phần khẳng đònh trong nền văn học Việt Nam hiện đại, trong
số những nhà văn Việt Nam hiện đại có một gương mặt lặng lẽ, hiền lành và nhân ái –
nhà văn Hồ Dzếnh.
1.2.2 Hồ Dzếnh và văn xuôi trữ tình – dòng riêng giữa nguồn chung
Thời kì 1932-1945 là thời kì hoàn thiện diện mạo hiện đại trên mọi phương diện
của đời sống văn chương, học thuật dân tộc. Tiếp nhận, thừa hưởng thành quả của 30
năm khởi động và chuyển giao cũ – mới theo gia tốc lòch sử, thời kì 1932-1945 là thời kì
xuất hiện thật đông đảo những gương mặt tác gia tiêu biểu trên tất cả các xu hướng sáng
tác và thể loại. Trên văn đàn, bên cạnh những tên tuổi lớn gắn với những tác phẩm lớn
còn có sự xuất hiện của những truyện ngắn với giọng kể thủ thỉ gần như thì thầm. Những
tiếng kể thì thầm, nhỏ nhẹ ấy kể về một thế giới đã mất, đang mất hoặc sắp mất, cái thế

giới ẩn chứa biết bao cái đẹp xa xưa với những con người nhỏ bé, lầm lụi như đất, những
không gian và thời gian tróu nặng nỗi u hoài. Đây chính là dòng truyện ngắn trữ tình với


sự du nhập chất trữ tình tinh tế vào lónh vực văn xuôi làm cho truyện ngắn trở thành
“những bài thơ văn xuôi” thấm sâu vào hồn người.
Truyện ngắn trữ tình là loại truyện có cốt truyện mỏng mảnh. Nó tái hiện một hiện
thực đã được trải nghiệm, được nghiền ngẫm, được lọc qua cảm xúc của nhà văn. Có lẽ
không ở đâu cái “tôi” của chủ thể sáng tạo lại được thể hiện một cách trực tiếp như thế.
Có thể thấy ẩn sau mỗi trang sách, mỗi cảnh đời bao giờ cũng thấp thoáng bóng hình tác
giả với tất cả biến điệu của hình ảnh ấy. Trên dòng phát triển của cốt truyện và nhân vật,
tác giả đã khéo léo cùng hiện diện. Đôi lúc biến cố và cốt truyện như ngừng lại để người
viết tự bộc lộ. Ở đây yếu tố tự sự và yếu tố trữ tình được kết hợp ở mức “ngang quyền
như nhau”.
Ở thể loại truyện ngắn này các nhân vật thường ít hành động. Họ suy ngẫm, tự
thức tỉnh, tự phân tích và cắt nghóa các trạng thái biểu cảm và phản ứng của tâm thức đối
với các hiện tượng xảy ra trong đời sống hiện thực. Vì thế, đề tài của truyện ngắn trữ tình
không phải là những vấn đề xã hội rộng lớn. Ngược lại, nó thu hẹp trong phạm vi thế giới
bên trong của con người với tất cả những mặt lấp khuất, những bí ẩn và bất trắc của nó.
Qua đó nhân vật hiện ra với sự không hoàn kết, không đơn giản mà tập trung của những
nét tính cách đôi khi rất trái ngược nhau : vừa e ấp vừa mạnh mẽ, vừa ích kỉ vừa nhân
hậu, vừa dữ dội vừa yên ả, vừa sâu sắc vừa nông nổi.
Truyện ngắn trữ tình đã khơi dậy lòng yêu quý, trân trọng pha chút hoài cảm nuối
tiếc đối với những vẻ đẹp, những giá trò truyền thống của dân tộc, của đất nước trong mỗi
con người Việt Nam trước những thay đổi của thời cuộc. Qua những trang văn miêu tả
cảnh sắc quê nhà với bờ tre mái rạ, với dòng sông câu hò, hương đồng cỏ nội, người đọc
cảm nhận thấm thía linh hồn đất nước thân thuộc và hoang sơ. Truyện ngắn trữ tình còn
hướng ngòi bút của mình về phía những con người nhỏ bé, bất hạnh trong xã hội bằng
một niềm trắc ẩn sâu sắc.
Dù mới thực sự trưởng thành từ sau năm 1936 thế nhưng truyện ngắn trữ tình đã

nhanh chóng phát triển thành một dòng văn xuôi nghệ thuật với những đặc điểm riêng
(như đã nói sơ qua ở trên) với một đội ngũ tác giả riêng. Ở đòa hạt này, nhà văn Thạch


Lam được xem như người mở đường. Tiếp sau ông là Thanh Tònh, Hồ Dzếnh và một vài
tác giả khác như Xuân Diệu, Đỗ Tốn, Ngọc Giao … đã nối tiếp nhau tạo thành một mảng
màu rất đáng quan tâm trong bức tranh chung của văn học Việt Nam thời kì 1930-1945.
Với Thạch Lam hầu hết các nhà phê bình đều thừa nhận đó là một cây bút có sở
trường về phương diện miêu tả nội tâm, cảm giác, miêu tả thế giới tinh thần sâu kín, tế vi
của con người.
Còn Thanh Tònh được xem là “nhà văn hiện thực có phong cách lãng mạn đậm
nét” (Nguyễn Đăng Mạnh), truyện ngắn của ông “như một bài thơ vònh gọn và có dư vò
trữ tình lắng sâu”. Khá gần gũi với họ, các tác phẩm của Hồ Dzếnh cũng được cho là
“mang đậm sắc thái trữ tình hiện thực”, “chất thơ thấm đẫm trong từng trang văn tạo nên
một phong vò trữ tình ảo diệu” (Trần Hữu Tá).
Bằng loại hình văn xuôi trữ tình, các nhà văn này đã đem đến văn đàn Việt Nam
1930-1945 một tiếng nói mới lạ, đầy khác biệt. Sự khác biệt đó chính là sự du nhập chất
trữ tình vào văn xuôi, kết hợp nhuần nhuyễn giữa bút pháp hiện thực và khí sắc lãng mạn
làm cho văn xuôi trở nên mềm mại, tinh tế, thấm đẫm chất thơ đồng thời có khả năng
diễn tả những rung động tế vi nhất của tâm hồn con người. Nói cách khác, tố chất hiện
thực khi đi vào văn xuôi trữ tình thường không có cái xù xì của “chất văn xuôi đời sống”.
Còn tố chất lãng mạn lại được dựa trên nền tảng vững chãi của tố chất hiện thực nên
không chủ quan hời hợt, không tiêu cực, thoát ly. Vì thế trong văn xuôi trữ tình, hiện thực
của đời sống thường được phủ bọc bởi chất thơ bàng bạc nhiều ý vò.
Chính sự kết hợp giữa bút pháp hiện thực và khí sắc lãng mạn đã tạo nên “tính khó
xác đònh” của một hiện tượng văn học đa dạng, độc đáo. Các nhà văn này đã đập vỡ đòa
giới của các thể loại, các phương pháp sáng tác, xáo trộn, pha chế lại chúng theo một
kiểu riêng tạo nên những vùng giao thoa lồng trong nhau, xen kẽ nhau để nhằm diễn đạt
những gì mà họ muốn diễn đạt. Sự kết hợp này đã tạo cho văn xuôi trữ tình có thêm một
ưu thế riêng trong việc khám phá, biểu đạt những uẩn khúc tinh tế trong đời sống nội

tâm. Đây cũng chính là những đóng góp vào tiến trình văn học dân tộc của những nhà
văn tiêu biểu cho dòng văn xuôi này mà Hồ Dzếnh là một trong số đó.


Ở loại hình văn xuôi nghệ thuật, người ta vẫn thường nói đến khuynh hướng tự sự
phi cốt truyện, phi hành động. Truyện ngắn Hồ Dzếnh đã gặp gỡ với truyện ngắn Thạch
Lam, Thanh Tònh ở khuynh hướng ấy. Tất nhiên tuỳ thuộc vào tiếng nói riêng của tâm
hồn mỗi nhà văn mà những câu chuyện kể có từng ý vò khác nhau.
Chẳng hạn truyện ngắn Thạch Lam không hề có những xung đột gay gắt, kòch tính
lớn lao. Tất cả chỉ được đan dệt bằng những chi tiết nhỏ nhặt đến vụn vặt của cái
“thường ngày”. Có thể kể đến Gió lạnh đầu mùa như một minh chứng tiêu biểu. Đây là
truyện không thể kể. Cái lạnh đầu mùa đến sớm đã gợi lên ở Sơn bao thương cảm xót xa
cho Hiên và đám trẻ nghèo co ro vì “chỉ mặc có manh áo rách tả tơi, hở cả lưng và tay”.
Vì thương bạn Sơn đã lấy chiếc áo bông cũ của người em đem cho Hiên. Sau đó Sơn sợ
mẹ mắng phải lấy áo về, mẹ Hiên đem trả áo và mẹ Sơn cho mẹ Hiên vay tiền để mua
áo cho con. Rõ ràng câu chuyện chỉ là một tình huống đời thường, không có gì to tát, sự
kiện thưa thoáng, cốt truyện mờ nhạt. Tương tự thế là truyện Hai đứa trẻ. Truyện kể về
hai chò em Liên và An ngồi trên một chiếc chõng tre trước cửa hàng của một phố huyện
dõi ngắm cuộc sống lúc chiều tối ở một miền quê. Mặc dù đã buồn ngủ ríu cả mắt nhưng
hai chò em Liên vẫn kiên nhẫn cố thức để đợi chuyến tàu đêm đi qua rồi mới khép cửa
hàng đi ngủ. Câu chuyện dừng lại ở đó thế nhưng đằng sau những hiện tượng tưởng như
bình thường, nhỏ bé như trong Hai đứa trẻ, Gió lạnh đầu mùa bao giờ ta cũng thấy ẩn
chứa một thế giới bao la, âm ỉ những cảm xúc, những khát vọng, những suy tư chiêm
nghiệm của người trong truyện.
Cũng giống như Thạch Lam, nghệ thuật dựng truyện của Thanh Tònh thường giản
đơn, ít sự kiện. Ông thường viết về những chuyện cỏn con trong tập tục, sinh hoạt của
chốn hương thôn miền Trung. Thông qua những chi tiết sinh hoạt, thông qua những cảnh
trí, cảnh ngộ nhà văn đã len lách ngòi bút vào phân giải những tình cảm, suy tư và đời
sống tinh thần của nhân vật. Con so về nhà mẹ, Quê mẹ là những chuyện sinh hoạt không
có biến cố, nhân vật không có số phận éo le. Câu chuyện hấp dẫn người đọc ở chỗ từ

những chi tiết đời thường người đọc cảm nhận được tình người, tình quê dung dò, mộc mạc
và nhất là chiều sâu của những chi tiết tâm trạng. Ví như “cô Hoa vì nhớ chồng, phần


thương con liền đưa vạt áo lên chấm nước mắt” (Con so về nhà mẹ) hoặc “rồi chiều chiều
gặp những lúc nhàn rỗi, cô lại ra đứng cửa sau vơ vẩn nhìn về làng Quận Lão. Nhưng
làng Quận Lão ẩn sau đám tre xanh đã kéo một gạch đen dài trên ven đồi xa thẳm” (Quê
mẹ).
Đến Hồ Dzếnh, với tập truyện ngắn Chân trời cũ, ông đã thật sự mở rộng khả năng
của truyện ngắn trữ tình. Phá bỏ cái khung chật hẹp của thể loại, đưa vào đó cái kích
thước tối ưu của sự tự biểu hiện, ông đã tạo nên một sự giao thoa, tiếp nối giữa truyện và
thơ – loại truyện rất gần với thơ, không cốt truyện gay cấn ly kì, không nhân vật có cá
tính độc đáo, xác đònh. Nói khác đi truyện ngắn Hồ Dzếnh không giàu kòch tính, cốt
truyện không sắc nhọn, nhiều hành động. Ông chỉ quan tâm tới các biến cố, các thăng
trầm trong số phận nhân vật. Ông xem đó như duyên cớ để bộc lộ niềm cảm khái, trắc ẩn
của mình. Nói như Võ Văn Trực thì “nhân vật chỉ là cái đinh để ông treo lên đó bức tranh
tâm hồn của mình”[70;127]. Cái mà Hồ Dzếnh hướng tới không phải là cốt truyện mà
chính là sự tự thể hiện cái tôi đầy nội cảm của ông.

Nếu so với truyện ngắn Thạch

Lam , Thanh Tònh hay Xuân Diệu thì truyện ngắn Hồ Dzếnh thường mang dung lượng
sống lớn hơn. Truyện ngắn Hồ Dzếnh thường ôm trùm dung lượng cả một đoạn đời, thậm
chí cả một kiếp người. Nó cũng có thể có nhiều biến cố thăng giáng, trôi dạt và thường là
những biến cố bất hạnh đẩy nhân vật đến tình trạng bi đát, (Người anh xấu số, Em Dìn,
Chò Yên …). Nhưng ở đây nhà văn không kể, không tả tỉ mỉ các biến cố như là những bước
ngoặt trong cuộc đời nhân vật. Điều khiến ông hứng thú chính là thái độ riêng tư, niềm
thương cảm xót xa của ông trước những cảnh ngộ, biến cố ấy. Do vậy dấu ấn của tình
cảm, cảm xúc và trạng thái tinh thần của người kể chuyện thường đậm hơn, chiếm phần
nhiều hơn so với các biến cố và sự kiện.

Ví dụ trong truyện ngắn Chò Yên. Truyện bao quát cả cuộc đời, gồm những biến cố,
những gấp gãy trong số phận một con người. Nhưng những sự kiện và biến cố ấy không
được miêu tả như một quá trình vận động, phát triển của mâu thuẫn. Vì vậy cốt truyện
mờ nhạt về kòch tính và xung đột. Trung tâm cảm hứng của tác phẩm lại là một sự bộc lộ
niềm thương cảm xót xa của tác giả trước nỗi bất hạnh của người chò nuôi. Cốt truyện


được kiến tạo bởi sự liên kết các trạng thái tâm lí gồm sự ân hận vì hành vi bất công, thô
bạo, độc ác với Yên trong quá khứ, nỗi căm phẫn trước người cậu đốn mạt đã làm tan nát
cả đời chò, lòng đau xót trước cái chết bi thảm của chò và chồng con chò. Và rồi từ đó lòng
xót thương đã chắp cánh cho liên tưởng để nhà văn biến đổi hình tượng cái mô đá nhô
lên trên đỉnh núi Nhồi trong quan niệm dân gian là người mẹ dắt con thành hình dáng chò
dắt em. “Trên đỉnh núi Nhồi ngày nay vẫn còn nhô lên một mô đá, tượng hình người mẹ
dắt con đợi chồng trong quãng bao la vô hạn. Và ngày nay, mỗi lần về Thanh Hoá, ngồi
trong tàu, đưa mắt nhìn ra mô đá cũ, tôi ngờ đó là hình dáng người chò dắt em …”.
Hoặc trong truyện Lòng mẹ – tác phẩm này được xây dựng từ những sự kiện lẻ tẻ
tưởng chừng vụn vặt: đứa bé ngây thơ hỏi mẹ về câu chuyện nhân duyên của bố mẹ từ
năm mươi năm trước, người mẹ gọi con ra lấy bánh vào giữa tiết học của con, đứa con lo
lắng về số tiền học phí cắt họng, người mẹ nộp tiền học cho con bằng những đồng tiền
“mượn tạm” của người thím và cuối cùng hai mẹ con đều bò khinh bỉ, sỉ nhục đến điều …
Lồng trong những sự kiện lẻ tẻ ấy là dòng cảm xúc rất đỗi chân thật của người viết :
“Ngày nhỏ tôi yêu mẹ tôi một cách bòn ròn. Người chiều, có lẽ vì người thấy ở tôi một
cuộc đời đau khổ ủ gói lấy cái số phận thiếu êm vui”. Hình bóng người mẹ như nơi neo
đậu bình yên cho tâm hồn tác giả: “Mẹ tôi, cái bóng mờ ấy, nguyên nhân sự chua xót ở
tôi, tôi vùng đứng dậy, như một người trác táng đứng dậy, ra ngoài đường, hất đổ những
tảng đau khổ trước mặt, chạy đến với nó, ôm lấy nó, hồi sinh nó như một bệnh nhân
giằng cướp ngày sống khỏi sa vào đôi tay tàn ác của tử thần”.
Có thể nói về phương diện kiến tạo cốt truyện, truyện ngắn Hồ Dzếnh thường lỏng
lẻo hơn so với Thạch Lam, Thanh Tònh. Song cũng vì thế mà ở ông khả năng bộc lộ mình
trong những dòng độc thoại nội tâm cũng rộng rãi hơn, chủ quan hơn, thống thiết hơn.

Tác phẩm Thiên truyện cuối cùng chẳng hạn. Toàn truyện chỉ là một lời tâm sự, một lời
ai điếu hướng về người anh đã mất, những sự kiện, biến cố hầu như vắng bóng. Trước cái
chết của người anh, tác giả viết “Nhưng em thương anh lắm, anh Cả ạ, em thương anh,
nghẹn ngào và tức tủi, bằng những giây nhỏ nhất của cảm giác em, bằng những hơi thở
âm u nhất của lá phổi em. Em thương anh như thế thì linh hồn anh có mát mẻ không, hỡi


×