1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong khoảng 10 năm trở lại đây, ngành Dệt May đã có những bước phát
triển đáng kể. Tốc độ tăng trưởng bình quân năm của giá trị sản xuất ngành
Dệt May giai đoạn 2005 – 2015 đạt 13,64%, tốc độ tăng trưởng xuất khẩu bình
quân giai đoạn này đạt 18,61%,đưa ngành Dệt May trở thành ngành có vai trò
quan trọng đối với nền kinh tếxã hội Việt Nam (năm 2015, kim ngạch xuất
khẩu dệt may đạt 22,8 tỷ USD, chiếm 14,06% tổng kim ngạch xuất khẩu cả
nước), và ngành Dệt May Việt Nam cũng có vị trí quan trọng trên thị trường
dệt may thế giới. Cụ thể, Việt Nam nằm trong tốp 5 quốc gia xuất khẩu dệt
may lớn nhất thế giới, chiếm 3,8% tổng kim ngạch xuất khẩu dệt may toàn
cầu.
Tuy có tốc độ phát triển cao, giá trị kim ngạch xuất khẩu lớn, nhưng giá
trị gia tăng trong các mặt hàng dệt may của Việt Nam thấp, tỷ suất lợi nhuận
trong gia công chỉ vào khoảng 5 – 8%, và chỉ được xếp vào nước có nền công
nghiệp sản xuất dệt may và thời trang vào loại trung bình trên thế giới (Theo
BMI, 2012) nhưng năng lực cạnh tranh của ngành Dệt May còn nhiều khuyết
điểm, sự liên kết giữa các mắt xích chưa chặt chẽ khiến giá trị gia tăng còn
thấp. Một trong những yếu tố quan trọng khiến cho năng lực cạnh tranh của
ngành còn nhiều khiếm khuyết và thiếu tính bền vững là do tuy số lượng doanh
nghiệp trong ngành lên đến gần 6.800 doanh nghiệp nhưng phần lớn các doanh
nghiệp này là những doanh nghiệp siêu nhỏ hoặc nhỏ với nguồn vốn yếu, sản
xuất phân tán khắp cả nước. Do hầu hết các doanh nghiệp dệt may Việt Nam
là nhỏ và siêu nhỏ, vốn yếu, khả năng đầu tư phát triển công nghệ không cao,
khả năng huy động vốn đầu tư thấp, hạn chế khả năng đổi mới công nghệ,
trang thiết bị. Chính quy mô nhỏ đã khiến các doanh nghiệp chưa đạt được
hiệu quả kinh tế nhờ quy mô, và chỉ có thể cung ứng cho một thị trường nhất
định. Do đó, khi thị trường gặp vấn đề, các doanh nghiệp dệt may sẽ gặp khó
khăn trong việc điều chỉnh phương thức thâm nhập thị trường hoặc chuyển đổi
sang thị trường khác.
Trước thực trạng yếu kém về năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp
nhỏ và vừa (DNNVV) của ngành Dệt May cũng đang đứng trước thách thức
cạnh tranh gay gắt cả ở trong và ngoài nước, đặc biệt là các doanh nghiệp có
quy mô nhỏ và vừa. Để nâng cao năng lực cạnh tranh cho các các DNNVV
ngành Dệt May Việt Nam cần thiết có những nghiên cứu tổng thể nhằm đánh
giá thực trạng năng lực cạnh tranh của các DNNVV trong ngành từ đó đề xuất
được các chính sách và giải pháp nhằm giúp các doanh nghiệp này có thể tồn
tại và phát triển bền vững ngay trong nước cũng như thị trường quốc tế trong
bối cảnh hội nhập ngày càng sâu rộng của nền kinh tế nước ta hiện nay. Xuất
phát từ những lý do đó, tác giả đã lựa chọn vấn đề “Nâng cao năng lực cạnh
tranh của các doanh nghiệp nhỏ và vừa Dệt May Việt Nam” làm đề tài
nghiên cứu Luận án tiến sĩ.
2
2. Mục đích, đối tượng, phạm vi và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
2.1. Mục đích nghiên cứu
Làm rõ các vấn đề lý luận về năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp
ngành Dệt May làm cơ sở cho việc phân tích và đánh giá thực trạng năng lục
cạnh tranh của các DNNVV ngành Dệt May Việt Nam, đồng thời cung cấp các
luận cứ khoa học trong việc đề xuất các định hướng và các giải pháp cốt yếu
nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh cho các DNNVV ngành Dệt may phục vụ
cho việc thực hiện các chiến lược phát triển ngành trong thời gian tới.
2.2. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là DNNVV ngành Dệt May và năng
lực cạnh tranh của các DNNVV ngành Dệt May trong mối quan hệ phát triển
kinh tếxã hội và hội nhập kinh tế của Việt Nam.
2.3. Phạm vi nghiên cứu
Về thời gian: Các DNNVV dệt may Việt Nam giai đoạn 2010 2014.
Về không gian: Luận án tập trung nghiên cứu các DNNVV dệt may
sản xuất may mặc, không nghiên cứu lĩnh vực dệt trong phạm vi cả nước.
3. Những đóng góp của luận án
Thứ nhất, hệ thống hóa và luận giải một số cơ sở lý luận về nâng cao
năng lực cạnh tranh của DNNVV của một số tác giả trong nước và thế giới.
Trên cơ sở tổng quan về mặt lý luận tăng cường năng lực cạnh tranh của
doanh nghiệp, đã phân tích và đề xuất sử dụng các nhóm chỉ tiêu, yếu tố cấu
thành năng lực cạnh tranh của DNNVV ngành Dệt May.
Thứ hai, trên cơ sở phân tích kinh nghiệm nâng cao năng lực cạnh tranh
của một số DNNVV trên thế giới như: Trung Quốc, Ấn Độ, Thổ Nhĩ Kỳ đã
làm rõ các tham vấn về nâng cao năng lực cạnh tranh cho các DNNVV dệt may
Việt Nam.
Thứ ba, trên cơ sở khảo sát, phân tích và đánh giá về thực trạng năng lực
cạnh tranh của DNNVV dệt may giai đoạn 2010 2014, Luận án rút ra được các
thành tựu nổi bật và phát hiện được những bất cập làm hạn chế năng lực cạnh
tranh của DNNVV dệt may Việt Nam trong thời gian qua.
Thứ tư, trên cơ sở kết quả phân tích về thực trạng năng lực cạnh tranh của
DNNVV dệt may thời gian qua, Luận án đã đề xuất hệ thống các giải pháp đột phá và
các giải pháp hỗ trợ khác, đặc biệt là hệ thống các giải pháp đột phá mang tính trọng
tâm trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh của DNNVV dệt may thời gian tới.
4. Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử
làm phương pháp luận, trong quá trình nghiên cứu luận án đã sử dụng các
phương pháp:
(1) Phương pháp phân tích thống kê; tổng hợp; phương pháp chuyên gia,
trong đó tổng hợp, trích dẫn, kế thừa một số công trình nghiên cứu của các học
giả, các số liệu phản ánh kết quả kinh doanh và năng lực cạnh tranh của
3
DNNVV Dệt may và một số đối thủ cạnh tranh chính trong việc đánh giá thực
trạng năng lực cạnh tranh của DNNVV Dệt may.
(2) Phương pháp thu thập thông tin qua việc thực hiện điều tra, khảo sát
thực tế: điều tra phỏng vấn qua mẫu phiếu điều tra với số lượng 300 phiếu
điều tra, có 285 phiếu trả lời, đối tượng điều tra là các nhà quản lý, các khách
hàng sử dụng sản phẩm của các DNNVV trong ngành Dệt May.
(3) Ngoài ra, luận án sử dụng các phương pháp phân tích cả định tính và
định lượng các số liệu từ các báo cáo tổng kết, từ kết quả điều tra thực tế, sử
dụng ma trận SWOT để phân tích các điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách
thức đối với DNNVV Dệt May trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh so với
một số đối thủ cạnh tranh chính.
Việc sử dụng các phương pháp trên có phân tích và so sánh cho phù hợp
với nội dung cần nghiên cứu của luận án, đặc biệt là có kế thừa, sử dụng các
kết quả nghiên cứu của các công trình nghiên cứu, các tư liệu hiện có trong
sách báo, tạp trí, internet và các báo cáo nghiên cứu chuyên sâu.
5. Bố cục của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục các bảng, biểu, danh mục từ
viết tắt và tài liệu tham khảo, luận án gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh của
doanh nghiệp nhỏ và vừa
Chương 2: Thực trạng năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp nhỏ và
vừa Dệt may Việt Nam
Chương 3: Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp nhỏ
và vừa Dệt may Việt Nam.
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CẠNH TRANH VÀ NĂNG LỰC
CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA
NGÀNH DỆT MAY
1.1. Khái niệm về cạnh tranh và lợi thế cạnh tranh
1.1.1. Khái niệm cạnh tranh
“Cạnh tranh” là một phạm trù kinh tế cơ bản. Qua lịch sử có thể thấy
nổi lên hai trường phái tiêu biểu: trường phái cổ điển và trường phái hiện đại.
Trường phái cổ điển với các đại biểu tiêu biểu như: Adam Smith; John Stuart
Mill; Darwin và C.Mác đã có những đóng góp nhất định trong lý thuyết cạnh
tranh này. Trường phái hiện đại với hệ thống lý thuyết đồ sộ với 3 quan điểm
tiếp cận: tiếp cận theo tổ chức ngành với đại diện là trường phái Chicago và
Harvard; tiếp cận tâm lý với đại diện là Meuger, Mises, Chumpeter, Hayek
thuộc học phái Viên; tiếp cận “cạnh tranh hoàn hảo” phát triển lý thuyết của
Tân cổ điển. Như vậy, cạnh tranh là một khái niệm được sử dụng trong nhiều
lĩnh vực khác nhau và có nhiều quan niệm khác nhau dưới các góc độ khác
nhau.
4
Theo định nghĩa được A.Lobe có thể hiểu cạnh tranh là sự cố gắng
của hai hay nhiều người thông qua hành vi hay khả năng nhất định để cùng đạt
được một mục đích.
Khi bàn về cạnh tranh, Adam Smith cho rằng nếu tự do cạnh tranh, các
cá nhân chèn ép nhau thì cạnh tranh buộc mỗi cá nhân phải cố gắng làm công
việc của mình một cách chính xác. Ngược lại, chỉ có mục đích lớn lao nhưng
lại không có động cơ thúc đẩy thực hiện mục đích ấy thì rất ít có khả năng tạo
ra được bất kỳ sự cố gắng nào. Như vậy, có thể hiểu cạnh tranh khơi dậy sự
nỗ lực chủ quan của con người, góp phần làm tăng của cải của nền kinh tế.
Khi nghiên cứu về cạnh tranh, K.Marx cho rằng “ Cạnh tranh là sự
ganh đua, sự đấu tranh gay gắt giữa những nhà tư bản nhằm giành giật những
điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ hàng hóa để thu lợi nhuận siêu
ngạch”.
Kinh tế học của P.Samuelson định nghĩa: “Cạnh tranh là sự tranh
giành thị trường để tiêu thụ sản phẩm giữa các nhà doanh nghiệp”.
Từ điển rút gọn về kinh doanh định nghĩa: “Cạnh tranh là sự ganh
đua, kình định giữa các nhà kinh doanh trên thị trường nhằm giành cùng một
loại tài nguyên sản xuất hoặc cùng một loại khách hàng về phía mình”, tức là
nâng cao vị thế của người này và giảm vị thế của người khác.
Theo từ điển Bách khoa của Việt Nam thì: “Cạnh tranh (trong kinh
doanh) là hoạt động tranh đua giữa những người sản xuất hàng hóa, giữa các
thương nhân, các nhà kinh doanh trong nền kinh tế thị trường, chi phối quan
hệ cung cầu nhằm giành các điều kiện sản xuất và tiêu thụ sản phẩm có lợi
nhất”.
Theo các tác giả của cuốn Các vấn đề pháp lý về thể chế, về chính
sách cạnh tranh và kiểm soát độc quyền kinh doanh thì: “Cạnh tranh có thể
được hiểu là sự ganh đua giữa các doanh nghiệp trong việc giành một số nhân
tố sản xuất hoặc khách hàng nhằm nâng cao vị thế của mình trên thị trường để
đạt được mục tiêu kinh doanh cụ thể”.
Ở Việt Nam, khi đề cập đến “cạnh tranh” người ta thường đề cập đến
vấn đề giành lợi thế về giá cả hàng hóa, dịch vụ mua bán và đó là phương thức
để giành lợi nhuận cao cho các chủ thể kinh tế. Trên quy mô toàn xã hội, cạnh
tranh là phương thức phân bổ các nguồn lực một cách tối ưu và do đó nó là
động lực bên trong thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Mặt khác, với mục tiêu tối
đa hóa lợi nhuận của các chủ thể kinh doanh, cạnh tranh cũng dẫn đến yếu tố
thúc đẩy quá trình tích lũy và tập trung tư bản không đồng đều ở các doanh
nghiệp.
Mặc dù còn nhiều khái niệm khác nhau về cạnh tranh, qua các định nghĩa
trên có thể rút ra những nét chung về cạnh tranh như sau:
Thứ nhất, khi nói đến cạnh tranh là nói đến sự ganh đua giữa một (hoặc
một nhóm) người nhằm giành lấy phần thắng của nhiều chủ thể cùng tham
dự. Cạnh tranh nâng cao vị thế của người này và làm giảm vị thế của những
5
người còn lại.
Thứ hai, mục đích trực tiếp của cạnh tranh là một đối tượng cụ thể nào
đó mà các bên đều muốn giành giật (như một cơ hội, một sản phẩm dịch vụ,
một dự án hay một thị trường, một nhóm khách hàng…) với mục đích cuối
cùng là kiếm được lợi nhuận cao.
Thứ ba, cạnh tranh diễn ra trong một môi trường cụ thể, có các ràng
buộc chung mà các bên tham gia phải tuân thủ như: đặc điểm sản phẩm, thị
trường, các điều kiện pháp lý, các thông lệ kinh doanh…
Thứ tư, trong quá trình cạnh tranh, các chủ thể tham gia cạnh tranh có thể
sử dụng nhiều công cụ khác nhau: cạnh tranh bằng đặc tính và chất lượng sản
phẩm dịch vụ, cạnh tranh bằng giá bán sản phẩm dịch vụ; cạnh tranh bằng
nghệ thuật tiêu thụ sản phẩm (tổ chức các kênh tiêu thụ); cạnh tranh bằng dịch
vụ bán hàng; cạnh tranh bằng hình thức thanh toán…
Đúc kết từ những quan điểm trên, xem xét dưới góc độ kinh tế và góc độ
doanh nghiệp, theo tác giả, cạnh tranh là sự ganh đua giữa các tổ chức (doanh
nghiệp) cố gắng để đạt được những mục tiêu như tăng lợi nhuận, thị phần, và
khối lượng bán hàng bằng cách thay đổi các yếu tố hỗn hợp: giá cả, sản
phẩm, phân phối và xúc tiến. thông qua việc thực hiện phân bổ một cách hiệu
quả nguồn lực của tổ chức (doanh nghiệp).
1.1.2. Khái niệm lợi thế cạnh tranh
Lợi thế cạnh tranh là thuật ngữ được sử dụng phổ biến trên các tài liệu,
trong nghiên cứu và kinh doanh. Tuy nhiên, cho đến nay dường như vẫn còn
thiếu một khái niệm chính thống về lợi thế cạnh tranh.
Theo cách hiểu thông thường, lợi thế cạnh tranh là sở hữu của những giá
trị đặc thù, cho phép có thể “nắm bắt cơ hội” kinh doanh để mang lại lợi
nhuận. Vì vậy, khi nói đến lợi thế cạnh tranh là nói đến lợi thế mà một doanh
nghiệp, một quốc gia đang có và có thể có so với các đối thủ cạnh tranh. Nghĩa
là, lợi thế cạnh tranh là một khái niệm vừa có tính vi mô (giữa các doanh
nghiệp trong cùng một ngành của một quốc gia), vừa có tính vĩ mô (giữa các
ngành trong cùng một quốc gia hoặc giữa các quốc gia với nhau).
Theo M.Porter: Cạnh tranh là vấn đề cơ bản quyết định sự thành công
hay thất bại của doanh nghiệp…Chiến lược cạnh tranh là sự tìm kiếm vị thế
cạnh tranh thuận lợi trong ngành – đấu trường chính của cạnh tranh…Chiến
lược cạnh tranh nhằm mục đích tạo lập một vị thế cạnh tranh thuận lợi và bền
vững trước những sức ép quyết định sự cạnh tranh trong ngành.
Có hai vấn đề trọng tâm làm nền tảng cho việc lựa chọn chiến lược
cạnh tranh. Thứ nhất là mức độ hấp dẫn của ngành để có thể mang lại lợi
nhuận lâu dài và các yếu tố quyết định điều này…Thứ hai là vị thế tương đối
của doanh nghiệp trong ngành. Định vị doanh nghiệp sẽ xác định khả năng thu
lợi nhuận của doanh nghiệp cao hơn hay thấp hơn mức trung bình của ngành.
Một doanh nghiệp có khả năng định vị tốt sẽ có thể thu lợi nhuận nhiều hơn
ngay cả khi cấu trúc ngành bất lợi và do đó khả năng sinh lợi của ngành cũng
6
khá khiêm tốn.
Nền tảng cơ bản để hoạt động của doanh nghiệp đạt được mức trên
trung bình trong dài hạn là lợi thế cạnh tranh bền vững. Cho dù doanh nghiệp
có vô số điểm mạnh và điểm yếu trước các đối thủ khác, tựu trung lại có hai
loại lợi thế cạnh tranh mà doanh nghiệp có thể sở hữu: chi phí thấp hoặc khác
biệt hóa. Điều quan trọng của bất cứ thế mạnh hay nhược điểm nào của doanh
nghiệp cuối cùng vẫn là việc ảnh hưởng từ những ưu/ khuyết điểm đó đến chi
phí và sự khác biệt hóa có liên quan. Hai loại lợi thế cạnh tranh cơ bản này kết
hợp với phạm vi hoạt động của một doanh nghiệp đang theo đuổi sẽ cho phép
tạo ra ba chiến lược cạnh tranh tổng quát để đạt được hiệu quả trên mức trung
bình của ngành, đó là chiến lược chi phí thấp, chiến lược khác biệt hóa và
chiến lược tập trung.
Về cơ bản lợi thế cạnh tranh phát sinh từ các giá trị mà doanh nghiệp có
thể tạo cho người mua, giá trị này phải lớn hơn các chi phí mà doanh nghiệp đã
bỏ ra. Giá trị này là mức người mua sẵn lòng thanh toán và một giá trị cao hơn
xuất hiện khi mức giá thấp hơn các đối thủ cạnh tranh; hoặc cung cấp những
tiện ích độc đáo khiến người mua vẫn hài lòng với mức giá cao hơn bình
thường. Do đó, cách giải thích này có thể thấy:
Thứ nhất, chiến lược cạnh tranh và mục đích của nó là tìm kiếm, tạo lập
cho doanh nghiệp một vị thế cạnh tranh thuận lợi và bền vững trong ngành trước
các đối thủ. Vì đây chính là điều kiện để doanh nghiệp thu được lợi nhuận trên
mức trung bình và do đó mục tiêu của doanh nghiệp có thể đạt được. Song, điều
đó chỉ xảy ra khi doanh nghiệp tạo lập và duy trì được lợi thế cạnh tranh bền
vững.
Thứ hai, lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp xuất hiện và được duy trì
bền vững, nói cách khác doanh nghiệp thu được lợi nhuận trên mức trung bình
trong dài hạn khi cùng một chi phí, doanh nghiệp tạo ra cho người mua một giá
trị vượt trội so với các đối thủ. Vì thế, “Điều quan trọng đối với bất kỳ một tổ
chức kinh doanh nào là phải xây dựng và duy trì được lợi thế cạnh tranh bền
vững. Nghĩa là doanh nghiệp phải liên tục cung cấp cho thị trường một giá trị
đặc biệt mà không có đối thủ nào có thể cung cấp được”. Bởi vậy, lợi thế
cạnh tranh là khái niệm dùng để chỉ vị thế cạnh tranh thuận lợi của doanh
nghiệp so với đối thủ. Đó là “vị trí tương đối” của doanh nghiệp trên thị
trường, mà ở vị trí đó cho phép doanh nghiệp có thể mang đến cho khách hàng
một giá trị vượt trội so với các đối thủ. Vì thế, khách hàng sẽ chọn sản phẩm,
dịch vụ của doanh nghiệp và nhờ đó doanh nghiệp sẽ thu được lợi nhuận cao
hơn mức trung bình của ngành.
Như vậy, lợi thế cạnh tranh là một khái niệm kinh doanh mô tả các
thuộc tính cho phép một tổ chức (doanh nghiêp) thực hiện tốt hơn đối thủ.
Những thuộc tính này có thể bao gồm quyền khai thác tài nguyên thiên nhiên, vị
trí địa lý, rào cản gia nhập cao, nguồn cung cấp nhân viên có tay nghề cao, khả
năng khai thác và ứng dụng hiệu quả công nghệ, trang thiết bị và các công
7
nghệ mới, khả năng đáp ứng tốt nhất nhu cầu khách hàng, hoặc (và) năng lực
quản trị doanh nghiệp…
1.1.3. Khái niệm năng lực và năng lực cạnh tranh
Cạnh tranh gắn liền với hành vi của chủ thể như hành vi của doanh nghiệp
kinh doanh, của cá nhân kinh doanh và của một nền kinh tế. Trong quá trình cạnh
tranh với nhau, để giành lợi thế về phía mình các chủ thể phải áp dụng nhiều
biện pháp nhằm duy trì và phát triển lợi thế của mình trên thị trường. Các biện
pháp này thể hiện một sức mạnh nào đó của chủ thể, được gọi là năng lực cạnh
tranh hay sức cạnh tranh hoặc khả năng cạnh tranh của chủ thể đó. Khi muốn chỉ
một sức mạnh, một khả năng duy trì vị trí của sản phẩm hoặc dịch vụ nào đó trên
thị trường thì người ta dùng thuật ngữ “sức cạnh tranh của hàng hóa” hoặc “năng
lực cạnh tranh của hàng hóa”.
Hiện nay, các thuật ngữ “năng lực cạnh tranh”, “sức cạnh tranh” và “khả
năng cạnh tranh” được sử dụng nhiều ở Việt Nam và chúng có thể dùng để thay
thế cho nhau. Theo M.Porter, hiện chưa có một định nghĩa nào về năng lực cạnh
tranh được thừa nhận một cách phổ biến, có thể thống kê một số định nghĩa như
sau:
Đối với các nhà lãnh đạo doanh nghiệp, năng lực cạnh tranh có nghĩa là
sức cạnh tranh trên thị trường nhờ xây dựng và áp dụng chiến lược hợp lý mà
có.
Trong Từ điển thuật ngữ chính sách thương mại: “Sức cạnh tranh là
năng lực của một doanh nghiệp hoặc một ngành, một quốc gia không bị doanh
nghiệp khác, ngành khác đánh bại về năng lực kinh tế”.
Do vậy, khi nghiên cứu năng lực cạnh tranh người ta thường xem xét, phân
biệt năng lực cạnh tranh theo 4 cấp độ: năng lực cạnh tranh quốc gia, năng lực
cạnh tranh ngành, năng lực cạnh tranh doanh nghiệp và năng lực cạnh tranh sản
phẩm.
Tóm lại, năng lực của một doanh nghiệp là những nguồn lực cấn thiết
để doanh nghiệp có thể vận hành và thực hiện được các chiến lược trong sản
xuất, kinh doanh. Năng lực cạnh tranh của một doanh nghiệp là những nguồn
lực cần thiết để doanh nghiệp có thể vận hành và thực hiện được các chiến
lược cạnh tranh trong sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp.
Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là thể hiện thực lực và lợi thế của
doanh nghiệp so với đối thủ cạnh tranh trong việc thoả mãn tốt nhất các đòi hỏi
của khách hàng để thu lợi ngày càng cao hơn. Như vậy, năng lực cạnh tranh của
doanh nghiệp trước hết phải được tạo ra từ thực lực của doanh nghiệp. Đây là
các yếu tố nội hàm của mỗi doanh nghiệp, không chỉ được tính bằng các tiêu chí
về công nghệ, tài chính, nhân lực, tổ chức quản trị doanh nghiệp… một cách riêng
biệt mà cần đánh giá, so sánh với các đối tác cạnh tranh trong hoạt động trên cùng
một lĩnh vực, cùng một thị trường. Sẽ là vô nghĩa nếu những điểm mạnh và điểm
yếu bên trong doanh nghiệp được đánh giá không thông qua việc so sánh một cách
tương ứng với các đối tác cạnh tranh. Trên cơ sở các so sánh đó, muốn tạo nên
8
năng lực cạnh tranh, đòi hỏi doanh nghiệp phải tạo lập được lợi thế so sánh với
đối tác của mình. Nhờ lợi thế này, doanh nghiệp có thể thoả mãn tốt hơn các đòi
hỏi của khách hàng mục tiêu cũng như lôi kéo được khách hàng của đối tác cạnh
tranh.
1.2. Đề xuất mô hình phân tích năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp nhỏ
và vừa ngành Dệt May
Mô hình nghiên cứu được lựa chọn trong luận án về cơ bản mô hình này
phỏng theo mô hình của Michael Porter có lược đi một vài yếu tố “ngoại vi” và
bổ sung thêm yếu tố “nội vi” cho phù hợp với mục đích nghiên cứu của đề tài.
Xác lập các tiêu chí và chỉ tiêu đánh giá năng lực cạnh tranh của DNNVV
ngành Dệt May dựa trên mô hình của Michael Porter
Có rất nhiều tiêu chí dùng để đánh giá năng lực cạnh tranh của một
doanh nghiệp. Tuy nhiên, khi xem xét, nghiên cứu và phân tích cụ thể tình hình
thực tế mỗi lĩnh vực sẽ có thể sử dụng các tiêu chí khác mà phạm vi nghiên
cứu chưa thể bao quát đầy đủ. Dưới đây là một số yếu tố chủ yếu thường
được xem xét khi đánh giá năng lực cạnh tranh của DNNVV ngành Dệt May
như sau:
(i) Năng lực tài chính
Một doanh nghiệp muốn cạnh tranh được trước hết phải có đủ năng lực
về tài chính. Tình hình tài chính của doanh nghiệp thể hiện sức mạnh của
doanh nghiệp trong cạnh tranh. Trong đó, vốn là một trong những điều kiện
cần để doanh nghiệp duy trì và mở rộng hoạt động của mình. Do đó, khả năng
huy động vốn và sử dụng vốn hiệu quả sẽ làm cho năng lực tài chính của
doanh nghiệp mạnh lên.
(ii) Năng lực quản lý và điều hành
Đây là tiêu chí đánh giá trình độ quản lý, lãnh đạo doanh nghiệp trong tổ
chức sản xuất của doanh nghiệp. Tiêu chí về năng lực quản lý và điều hành
doanh nghiệp được xác định bởi hiệu quả và hiệu lực của các chiến lược,
chính sách kinh doanh cụ thể sau: các chính sách Marketing; chính sách đào tạo
và phát triển nguồn nhân lực; chính sách đầu tư…Tăng cường năng lực quản lý
và điều hành doanh nghiệp góp phần quan trọng trong việc đưa doanh nghiệp
dành thắng lợi trên thương trường trước các áp lực cạnh tranh gay gắt của các
doanh nghiệp trong và ngoài nước. Điều này thể hiện ở việc ban hành các công
cụ quản lý, các chế độ chính sách, các chiến lược kinh doanh và phối hợp mọi
nguồn lực của doanh nghiệp nhằm thúc đẩy doanh nghiệp phát triển.
(iii) Tài sản vô hình của doanh nghiệp
Trong cơ chế thị trường, sự cạnh tranh luôn diễn ra quyết liệt, mà yếu tố
quan trọng nhất là vị trí của doanh nghiệp trong lòng khách hàng. Do vậy, uy tín
đóng vai trò quyết định tới sự thành bại trong cuộc chiến để khẳng định sự tồn
tại và sức mạnh của doanh nghiệp. Giá trị vô hình của doanh nghiệp được đánh
giá thông qua hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp đến thái độ và hành vi của
khách hàng, các đối tác của doanh nghiệp trong và ngoài nước. Mức độ nhận
9
biết được tiềm lực này thông qua mức độ nhận biết/hiểu rõ/quen thuộc về sản
phẩm, những đặc điểm hình ảnh cụ thể, những yếu tố cân nhắc khi mua sắm,
mức độ thỏa mãn hay sự giới thiệu cho những người khác.
(iv) Trình độ trang thiết bị và công nghệ
Ngày nay, khoa học và công nghệ đóng vai trò quan trọng đối với doanh
nghiệp trong việc sản xuất ra sản phẩm, dịch vụ cạnh tranh trên thị trường. Sự thay
đổi của công nghệ ảnh hưởng đến chu kỳ sống của một sản phẩm hoặc một dịch
vụ.
(v) Năng lực Marketing
Hệ thống bán hàng và các hoạt động Marketing đưa sản phẩm đến với
khách hàng, thỏa mãn tốt nhất nhu cầu của khách hàng. Sức mạnh cạnh tranh
được tạo ra bởi hoạt động marketing và bán hàng hết sức to lớn. Chất lượng
phục vụ khách hàng góp phần không nhỏ tới việc nâng cao chất lượng sản
phẩm dịch vụ. Nó xây dựng hình ảnh tốt đẹp của doanh nghiệp trong lòng
khách hàng, giữ khách hàng trung thành với sản phẩm của doanh nghiệp. Để
đánh giá năng lực Marketing của doanh nghiệp cần phải đánh giá được hệ
thống các tiêu chí như: hệ thống phân phối; các chính sách về giá; chiết khấu;
hoa hồng hay các chính sách chăm sóc khách hàng. Đặc biệt các hoạt động
quảng bá tuyên truyền sản phẩm dịch vụ cũng như hình ảnh của doanh nghiệp.
(vi) Cơ cấu tổ chức
Việc xem xét, phân tích sự phù hợp của mô hình tổ chức và bộ máy quản
lý một cách thường xuyên sẽ giúp doanh nghiệp hạn chế được các bất cập
đang tác động bất lợi đến hoạt động sản xuất chung của một doanh nghiệp
đồng thời đưa ra các quyết định về điều chỉnh, hoàn thiện mô hình tổ chức hợp
lý sẽ giúp cho hoạt động sản xuất kinh doanh của toàn doanh nghiệp được
hiệu quả.
(vii) Nguồn nhân lực
Con người là yếu tố quan trọng quyết định đến sự tồn tại, phát triển của
doanh nghiệp. Trình độ, chất lượng đội ngũ lao động ảnh hưởng đến chất
lượng của sản phẩm dịch vụ mà doanh nghiệp đang cung cấp. Lao động phải
có trình độ, cùng với lòng hăng say làm việc thì mới tiếp cận, vận hành được
công nghệ trình độ cao. Đó là cơ sở để tạo nên sức mạnh cạnh tranh cho doanh
nghiệp. Tiêu chí về trình độ của người lao động được đánh giá thông qua sự
phát triển trình độ của người lao động và năng suất lao động.
(viii) Năng lực đầu tư nghiên cứu và phát triển
Nghiên cứu và phát triển đóng vai trò quan trọng trong việc phát hiện và
ứng dụng những công nghệ mới kịp thời, để tạo lợi thế cạnh tranh trên thị
trường như: phát triển sản phẩm mới trước đối thủ cạnh tranh; nâng cao chất
lượng sản phẩm; cải tiến quy trình sản xuất để giảm chi phí… Hoạt động này
có sự khác nhau giữa các doanh nghiệp, giữa các ngành, đồng thời còn phụ
thuộc vào nhiều yếu tố như: đặc trưng của sản phẩm; nguồn nhân lực; nguồn
vốn; sự hỗ trợ của Chính phủ… Các doanh nghiệp theo đuổi chiến lược phát
10
triển sản phẩm mới rất quan tâm đến hoạt động R&D, liên kết với các đơn vị
nghiên cứu khác để đưa các công trình nghiên cứu mới vào sản xuất.
(ix) Năng lực hợp tác trong nước và quốc tế
Hội nhập Kinh tế quốc tế, trước hết các doanh nghiệp phải khẳng định
được vị thế trên thị trường trong nước trên cơ sở tăng cường hợp tác kinh
doanh với các đối tác trong nước để các bên cùng có lợi. Sau đó buộc các doanh
nghiệp phải cân nhắc, xem xét đến khả năng tham gia kinh doanh trên thị
trường quốc tế mà không chỉ bó hẹp chiếm lĩnh thị trường trong nước. Việc
tham gia hợp tác quốc tế sẽ tận dụng được các cơ hội để mở rộng thị trường,
tìm các đối tác để cùng kinh doanh có lợi. Khi đó doanh nghiệp có thể đứng
vững trên thương trường, khẳng định vị thế của doanh nghiệp ở thị trường
trong và ngoài nước.
Từ các chỉ tiêu đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp nhỏ và
vừa trên ta có thể tổng hợp lại như sau:
Bảng 1.1. Các chỉ tiêu đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
nhỏ và vừa ngành Dệt May
Nhóm chỉ số
Năng lực tài chính
Tài sản vô hình của
doanh nghiệp
Trình độ trang thiết bị
và công nghệ
Năng lực quản lý và
điều hành
Năng lực Marketing
Cơ cấu tổ chức
Nguồn nhân lực
Năng lực đầu tư R&D
Năng lực hợp tác trong
nước và quốc tế
Các chỉ số thành phần
Tăng trưởng doanh thu, lợi nhuận
Tỷ suất lợi nhuận
Tăng trưởng thị phần
Khả năng phân tích đối thủ cạnh tranh
Phân tích và dự báo môi trường kinh doanh
Năng lực hoạch định và tổ chức thực hiện chiến lược
Khả năng nâng cao thương hiệu và uy tín doanh nghiệp
Khả năng nâng cao thương hiệu về sản phẩm, dịch vụ
trên thị trường
Năng lực về công nghệ
Khả năng ứng dụng KHCN vào cung cấp sản phẩm dịch
vụ
Khả năng và tốc độ đổi mới công nghệ
Mức độ hiện đại và công nghệ đang sử dụng
Năng lực nâng cao chất lượng sản phẩm, dịch vụ
Khả năng giảm giá bán
Khả năng phân phối và xúc tiến hỗn hợp
Độ linh hoạt trong tổ chức, đổi mới sản xuất
Mức độ chuyên môn hóa trong sản xuất
Đánh giá lao động
Động lực đối với người lao động
Phương tiện và thiết bị dành cho R&D
Nguồn nhân lực cho R&D
Khả năng liên doanh, liên kết, hợp tác trong nước
Khả năng hợp tác quốc tế trong mở rộng thị trường
Nguồn: Kế thừa từ mô hình Michael Porter
11
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA
CÁC DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA DỆT MAY VIỆT NAM
2.1. Đánh giá cụ thể năng lực cạnh tranh của các DNNVV ngành Dệt May
qua kết quả khảo sát thực tế
Hoạt động cạnh tranh của DNNVV dệt may gặp nhiều khó khăn, thách
thức khi những đối thủ cạnh tranh trực tiếp là các doanh nghiệp quy mô lớn và
các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI). Việc chiếm lĩnh
khả năng cạnh tranh bằng nhiều khía cạnh của doanh nghiệp quy mô lớn,
doanh nghiệp FDI bởi những sản phẩm đa dạng, những chính sách phân phối
sản phẩm hiệu quả, chính sách tài chính ổn định và phát triển...Những khó
khăn, thách thức này là rào cản lớn đối với DNNVV, gây ra nhiều khó khăn cho
hoạt động của sản xuất kinh doanh của DNNVV. Điều này được thể hiện
thông qua một số chỉ tiêu đánh giá năng lực cạnh tranh của DNNVV như sau:
2.1.1. Năng lực tài chính
Năng lực tài chính có vai trò quan trọng trong hoạt động của DNNVV dệt
may, năng lực tài chính quyết định việc đầu tư máy móc, thiết bị, công nghệ
hiện đại, năng lực tài chính quyết định việc có mở rộng sản xuất kinh doanh
hay không, hay năng lực tài chính quyết định đến thu nhập của người lao động.
Một số chỉ tiêu tài chính của DNNVV dệt may được khái quát trong bảng 2.1.
Bảng 2.1 Một số chỉ tiêu về năng lực tài chính của DNNVV ngành Dệt
May
Đơn vị: Giá trị (nghìn tỷ đồng); Tốc độ (%)
Năm
STT
Chỉ tiêu
2010
2011
2012
2013
2014
1
Doanh thu
Tổng doanh thu
502,34 570,86 616,47 715,80
1.1
861,538
5
6
5
8
1.2 Tốc độ tăng doanh thu
13,64
7,98
16,11
20,35
2
Lợi nhuận
2.1 Tổng lợi nhuận
8,724
10,962 13,153 19,144 16,583
2.2 Tốc độ tăng lợi nhuận
25,63
19,98
45,54
13,37
3
Vốn đầu tư
3.1 Tổng vốn đầu tư
39,724 48,375 44,650 37,259 69,627
Tốc độ tăng vốn đầu
3.2
21,77
7,70
16,55
86,87
tư
Nghĩa vụ nộp ngân
4
sách
4.1 Nộp NSNN
1,7448 2,1924 2,6306 3,8288 3,3166
4.2 Tốc độ tăng nộp NSNN
25,65
19,98
45,54
13,37
12
Nguồn: Tổng cục Thống kê và tổng hợp của tác giả 2015
Bảng 2.1 cho thấy: tổng doanh thu của DNNVV dệt may đều tăng qua các
năm, từ năm 2010 – 2014. Đây là dấu hiệu tốt đánh giá hoạt động sản xuất
kinh doanh của DNNVV có hiệu quả. Điển hình tổng doanh thu năm 2014 tăng
20,35% so với năm 2013, chứng tỏ tốc độ tăng của ngành dệt may nói chung,
của DNNVV dệt may nói riêng là lớn. Bảng 2.1 cũng cho thấy: mặc dù tổng
doanh thu tăng qua các năm, nhưng lợi nhuận không phải năm nào cũng tăng.
Điều này được thể hiện ở năm 2014 so với năm 2013, tuy doanh thu tăng nhưng
lợi nhuận năm 2014 lại giảm so với năm 2013, nguyên nhân một phần do năm
2014 DNNVV gặp nhiều khó khăn khi cạnh tranh với sản phẩm nhập khẩu, giá
nguyên vật liệu đầu vào tăng cao và phải đầu tư nhiều vào cơ sở vật chất, máy
móc thiết bị...
2.1.2. Năng lực quản lý và điều hành
Trong những năm trở lại đây, đối với DNNVV công tác quản lý và điều
hành ở cấp độ vĩ mô đã có sự chuyển biến tích cực. Điều này được thể hiện ở
mức độ đánh giá của chính cán bộ, công nhân viên trong doanh nghiệp khi được
khảo sát. Tuy nhiên, sự chậm trễ và kém linh động của thời gian trước đã ảnh
hưởng đáng kể đến việc quản lý và điều hành, do đó muốn thay đổi không
phải một sớm, một chiều có thể thay đổi được ngay. Sự nhận thức thấy tầm
quan trọng của việc quản lý và điều hành sẽ tác động tích cực đến hiệu quả
của nó.
Bên cạnh đó, đối với các doanh nghiệp có quy mô lớn, với doanh nghiệp
FDI của ngành dệt may thì yếu tố này đóng vai trò quan trọng. Các đối thủ
cạnh tranh này chú trọng và thường xuyên điều chỉnh cách thức điều hành
nhằm gắn sát sườn với cán bộ, công nhân viên của doanh nghiệp. Điển hình có
thể thấy hàng loạt hệ thống văn bản, các quy định của doanh nghiệp được
điều chỉnh đúng thời điểm, nhằm tạo thuận lợi cho cán bộ, công nhân viên làm
việc một cách phù hợp hơn.
Qua kết quả khảo sát của tác giả có thể đánh giá các DNVVV yếu kém
hơn các đối thủ cạnh tranh chính về năng lực quản lý và điều hành. Lý giải cho
phần này cũng xuất phát từ nhận thức theo cách mô hình quản lý gia đình, các
DNNVV bị động hơn trong việc thay đổi cách thức quản lý và điều hành theo
thời gian. Số liệu khảo sát kết quả này của DNNVV, doanh nghiệp quy mô lớn
và doanh nghiệp FDI lần lượt theo mức độ cao khá trung bình là: 44 82
156/285 phiếu đánh giá (phụ lục mẫu phiếu số 1).
2.1.3. Tiềm lực vô hình (giá trị phi vật chất của doanh nghiệp)
Tiềm lực vô hình là một trong những vũ khí cạnh tranh sắc bén của doanh
nghiệp trên thị trường. Đo lường giá trị này rất khó mà đó là những giá trị được
cảm nhận bởi chính khách hàng của doanh nghiệp. Đối với các DNNVV dệt
may trên thị trường hiện nay gặp bất lợi trong cạnh tranh với các đối thủ chính,
điều này cũng dễ hiểu bởi hình ảnh của các DNNVV là không rõ nét trong tâm
trí khách hàng trên thị trường. Các doanh nghiệp này ít chú trọng đến việc xây
13
dựng và phát huy hình ảnh của mình. Họ cho rằng, vấn đề trọng tâm là làm sao
để tiêu thụ được nhiều sản phẩm hàng hóa.
Việc làm không bài bản và thiếu khoa học, nên các DNNVV không nhận
thức được sự tác động mạnh mẽ và hiệu quả của giá trị phi vật chất của doanh
nghiệp, làm cho giá trị của doanh nghiệp được nâng cao. Do vậy, các DNNVV
thường gặp bất lợi khi cạnh tranh với các đối thủ chính trên thị trường.
Kết quả khảo sát của tác giả cũng đã chỉ ra nhược điểm này của các
DNNVV dệt may trên thị trường Việt Nam. Làm sao để nâng cao giá trị phi vật
chất của DNNVV để tăng dấu ấn của doanh nghiệp trong tâm trí khách hàng là
việc làm cần thiết trong DNNVV hiện nay. Kết quả khảo sát của DNNVV,
doanh nghiệp quy mô lớn và doanh nghiệp FDI ngành dệt may lần lượt theo
mức độ cao – khá – trung bình là: 26 – 59 – 183/285 phiếu đánh giá (phụ lục –
mẫu phiếu số 1).
2.1.4. Trình độ trang thiết bị và công nghệ
Trình độ trang thiết bị và công nghệ sẽ quyết định đến khả năng sản xuất
ra sản phẩm của doanh nghiệp. Sản phẩm đạt chất lượng ở cấp độ nào, trình độ
trang thiết bị và công nghệ quyết định đến năng suất và giá thành sản phẩm của
doanh nghiệp.
Đối với các DNNVV trình độ trang thiết bị và công nghệ được đánh giá ở
một số nội dung như: Năng lực ứng dụng công nghệ vào sản xuất của các
doanh nghiệp này hạn chế nhiều so với các đối thủ cạnh tranh chính. Một mặt
do khó khăn về nguồn vốn của doanh nghiệp, DNNVV thường tận dụng những
trang thiết bị cũ, điều đó làm giảm năng suất và chất lượng sản phẩm, dẫn đến
giá thành sản phẩm cao. Mặt khác, đa số các DNNVV sản xuất ở quy mô nhỏ
lẻ, manh mún nên không chú trọng nhiều đến trang thiết bị và công nghệ.
Thêm vào đó, khi muốn ứng dụng trang thiết bị và công nghệ hiện đại
vào sản xuất, buộc các DNNVV phải chuẩn bị được đội ngũ nhân lực có tay
nghề, trình độ nhằm đáp ứng yêu cầu về ứng dụng khoa học kỹ thuật. Đảm
bảo có thể sử dụng một cách thành thạo công nghệ hiện đại, nhằm đạt hiệu
quả kinh tế cao.
Thực tế, đối với các doanh nghiệp dệt may quy mô lớn, hay các doanh
nghiệp FDI luôn có nền tảng tài chính vững mạnh, họ sẵn sàng đầu tư, đổi
mới công nghệ nhằm tăng năng suất, chất lượng và giảm giá thành sản phẩm.
Điều này rất quan trọng để doanh nghiệp có thể cạnh tranh trên thị trường.
Kết quả khảo sát của tác giả về yếu tố trình độ trang thiết bị và công
nghệ cũng cho thấy, đa số các DNNVV được khảo sát thống nhất quan điểm,
thiếu vốn, cách tiếp cận các tổ chức, tín dụng hạn chế đã dẫn đến kết quả là
khó khăn trong việc ứng dụng công nghệ tiên tiến, hiện đại trong sản xuất sản
phẩm. Điều đó được thể hiện đối với các DNNVV, doanh nghiệp quy mô lớn
và doanh nghiệp FDI ngành dệt may theo mức độ cao – khá – trung bình lần
lượt là: 19 – 91 – 152/285 phiếu đánh giá (phụ lục – mẫu phiếu số 1) . Kết quả
14
điều tra này chứng tỏ DNNVV ít thay đổi và ứng dụng công nghệ tiên tiến,
hiện đại hơn so với các đối thủ cạnh tranh chính.
2.1.5. Năng lực Marketing
‒ Chính sách giá bán sản phẩm
Trước tình hình ngày càng khó khăn của thị trường như hiện nay, việc
các DNNVV sử dụng chính sách giá bán linh hoạt và hiệu quả là cần thiết.
Nhưng điều đó dường như khó thực hiện, DNNVV chưa linh động, bám sát thị
trường trong việc điều chỉnh chính sách giá bán một cách linh hoạt, nhằm đáp
ứng tâm lý và thị hiếu của khách hàng. Các DNNVV thường xây dựng chính
sách giá bán sản phẩm trong khoảng thời gian dài, khó điều chỉnh chính sách
giá bán vì thị trường nhỏ hẹp, chủ yếu là các nhà buôn bán nhỏ lẻ, thị trường là
thị trường ngách. Điều này gây bất lợi so với các đối thủ cạnh tranh chính trong
cạnh tranh.
Chính sách giá bán linh hoạt giúp khách hàng tiếp cận sản phẩm dễ dàng
hơn, tác động trực tiếp đến số lượng sản phẩm tiêu thụ của doanh nghiệp.
DNNVV khó khăn trong việc đảm bảo doanh số bán khi thị trường có sự biến
động, những tác động của thị trường làm thay đổi thói quen, khả năng thanh toán
của khách hàng. Do đó, trong mọi hoàn cảnh và điều kiện của thị trường các
DNNVV cần xây dựng chính sách giá bán sản phẩm một cách linh hoạt, nhằm
đảm bảo doanh số tiêu thụ.
Kết quả khảo sát cho thấy đa số các doanh nghiệp được khảo sát đều
đánh giá mức độ linh hoạt của chính sách giá bán là trung bình, thậm trí một số
doanh nghiệp còn đánh giá chỉ tiêu này là thấp. Chỉ tiêu này ở các DNNVV so
với doanh nghiệp quy mô lớn và doanh nghiệp FDI theo mức độ cao – khá –
trung bình lần lượt là: 61 – 105 – 127/285 phiếu đánh giá (phụ lục – mẫu phiếu
số 1).
‒ Chính sách chăm sóc khách hàng
Chính sách chăm sóc khách hàng của các DNNVV còn nhiều yếu kém,
thiếu tính chuyên nghiệp và đôi khi không tồn tại ở một số doanh nghiệp. Việc
thiếu chuyên nghiệp trong việc xây dựng và ứng dụng chính sách chăm sóc
khách hàng, làm cho các DNNVV gặp nhiều khó khăn đối với khách hàng.
Khách hàng dường như không có thói quen mua lặp lại đối với sản phẩm của
DNNVV, vì đại đa số DNNVV khi bán được sản phẩm thì sẽ ít và thậm trí
không quan tâm đến việc khách hàng sử dụng sản phẩm đó như thế nào.
Kết quả khảo sát chỉ tiêu này của DNNVV so với doanh nghiệp quy mô
lớn và doanh nghiệp FDI theo mức độ cao – khá – trung bình lần lượt là: 18 –
107 – 126/285 phiếu đánh giá (phụ lục – mẫu phiếu số 1).
‒ Chính sách quảng cáo, khuyến mại và tiếp thị
Thời gian gần đây các DNNVV đã bắt đầu và dần ý thức được việc xây
dựng những chương trình xúc tiến bán hàng cho doanh nghiệp mình, một trong
những chính sách mà các DNNVV xây dựng và áp dụng ngoài thị trường đó là
việc khuyến mại bằng nhiều hình thức khác nhau. Trong đó chính sách giảm
15
giá bán sản phẩm được các DNNVV áp dụng nhiều nhất, việc áp dụng chính
sách này đem lại hiệu quả tức thời cho các DNNVV, một mặt nó tác động trực
tiếp đến sức mua của khách hàng, mặt khác các doanh nghiệp có thể giảm
lượng hàng tồn kho và thu hồi vốn nhanh nhất. Bên cạnh đó, chính sách quảng
cáo và tiếp thị các DNNVV ít quan tâm hơn, đây là yếu điểm lớn của DNNVV
so với các đối thủ cạnh tranh chính. Các DNNVV cho rằng chính sách này
không tác động trực tiếp đến hiệu quả bán hàng của doanh nghiệp, nên nhiều
doanh nghiệp đã không xây dựng và áp dụng chính sách này.
Để nâng cao năng lực cạnh tranh của DNNVV trên thị trường, cần xây
dựng và áp dụng chương trình xúc tiến bán hàng một cách khoa học và thường
xuyên. Một mặt các DNNVV nâng cao nhận thức để thấy tầm quan trọng của
chương trình xúc tiến bán hàng, mặt khác đây là vũ khí cạnh tranh quan trọng
của DNNVV so với các đối thủ cạnh tranh chính trên thị trường. Tỷ lệ các
DNNVV sử dụng công cụ khuyến mại ngày càng tăng cao, việc xây dựng và áp
dụng chính sách quảng cáo và tiếp thị cũng đã trở thành việc cần thiết đối với
các doanh nghiệp này.
Tóm lại, qua kết quả khảo sát, phân tích cho thấy năng lực marketing của
DNNVV bất lợi đáng kể so với các đối thủ cạnh tranh. Tỷ lệ lớn các doanh
nghiệp được khảo sát cho rằng, năng lực marketing của doanh nghiệp ở mức
khá so với các đối thủ cạnh tranh chính (chiếm tới 50,1%), và nhiều doanh
nghiệp cũng khẳng định năng lực marketing của doanh nghiệp chỉ ở mức trung
bình so với các đối thủ cạnh tranh trên thị trường. Đặc biệt, trong hệ thống chỉ
tiêu này thì chỉ tiêu năng lực nghiên cứu thị trường và chăm sóc khách hàng của
DNNVV, chỉ ở mức trung bình so với đối thủ cạnh tranh chính (chiếm tới trên
44%).
2.1.6. Về cơ cấu tổ chức
Hiện nay hầu hết các DNNVV cơ cấu tổ chức là đơn giản, gọn nhẹ. Số
lượng các phòng, ban đều hạn chế nhằm giảm thiểu chi phí cho doanh nghiệp.
Bộ máy tổ chức tinh gọn cũng vì đặc thù của các doanh nghiệp này, sản phẩm
đơn giản, khách hàng chủ yếu ở thị trường ngách, nên các phòng, ban chỉ đảm
bảo tối thiểu cho hoạt động của doanh nghiệp. Ví dụ như, đa số các DNNVV
bộ phận thiết kế sản phẩm là không có, nếu có cũng chỉ dừng lại ở mức hạn
chế về quy mô và số lượng nhân viên. Việc đơn giản hóa bộ phận các phòng,
ban dẫn đến các DNNVV thiếu tính chuyên nghiệp trong tổ chức. Một bộ phận
có thể phải đảm nhận nhiều công việc khác nhau.
Trong khi đó, các đối thủ cạnh tranh chính của DNNVV thì cơ cấu tổ
chức được bố trí một cách đầy đủ, khoa học và có tính chuyên môn hóa cao.
Việc các đối thủ cạnh tranh xây dựng cơ cấu tổ chức đầy đủ, sẽ đảm bảo việc
tạo ra sản phẩm một cách đa dạng, có tính cạnh tranh cao hơn. Sản phẩm đa
dạng sẽ dẫn đến tình trạng những khách hàng ở thị trường phụ cũng có thể
được đáp ứng sản phẩm, điều đó dẫn đến việc các DNNVV dần dần sẽ mất
thị phần vào tay đối thủ cạnh tranh.
16
Kết quả khảo sát cho thấy, các DNNVV đều đánh giá cơ cấu tổ chức, sản
xuất của doanh nghiệp chỉ ở mức trung bình (chiếm khoảng 45%), trong đó yếu
tố tính chuyên môn hóa trong sản xuất sản phẩm của doanh nghiệp là bất lợi thế
nhất (chiếm gần 52%) so với đối thủ cạnh tranh. Yếu tố này ở mức khá chỉ là
32,2%.
2.1.7. Về nguồn nhân lực
Nguồn nhân lực của DNNVV là vấn đề lớn mà các doanh nghiệp này đề
cập tới, khi muốn tăng khả năng cạnh tranh với các đối thủ chính. Số lượng và
chất lượng nhân lực trong DNNVV đều thiếu, doanh nghiệp thường sử dụng
nguồn nhân lực ở mức độ trung bình, nhằm giảm chi phí. Mặt khác, nguồn
nhân lực trong các DNNVV dường như không làm việc trong thời gian dài,
mang tính cố định, mà thường thay đổi nơi làm việc khi có cơ hội tốt hơn.
Thực trạng này đã tồn tại trong các DNNVV thời gian dài, muốn thay đổi thì
phải thay đổi từ nhận thức của chính lãnh đạo và chủ doanh nghiệp. Hơn nữa,
công tác đào tạo nhằm duy trì và phát triển nhân lực trong mỗi doanh nghiệp
cũng không được thực hiện thường xuyên. Họ cho rằng, với trình độ và tay
nghề hiện có của nhân lực thì chỉ sử dụng ở mức độ đấy, không cần nâng cao
trình độ, tay nghề. Như vậy, sau thời gian hệ quả tất yếu sẽ là đội ngũ nhân
lực trong doanh nghiệp sẽ hạn chế về tay nghề, yếu về chuyên môn. Gián tiếp
làm giảm tính cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường.
17
Thực trạng nguồn nhân lực của DNNVV dệt may được khái quát như
sau:
Bảng 2.2. Thực trạng lực lượng lao động của DNNVV DM giai đoạn 2010 –
2014
Đơn vị: SL: Số lượng (người); Tỷ lệ (%)
TT
1
2
3
4
5
6
Cơ cấu
lao động
(Người)
Tổng số
LĐ
Trên ĐH
Đại học và
CĐ
Trung cấp
Công nhân
Chưa qua
đào tạo
2010
2011
Năm
2012
Tỷ
SL
lệ
SL
Tỷ
lệ
SL
Tỷ
lệ
563.080
100
630.929
100
701.320
281
0,04
316
0,04
28.154
5,00
40.632
6,44
2013
2014
SL
Tỷ
lệ
SL
Tỷ
lệ
100
815.753
100
1.573.820
100
422
0,06
571
0,07
1.574
0,10
56.176
8,01
90.549
11,1
195.154
12,4
19.708 3,49 38.108 6,04 57.929 8,26 104.008 12,75
291.112 51,70 375.213 59,47 440.428 62,80 467.753 57,34
213.095
946.653
13,54
60,15
223.937 39,77 176.660 28,01 146.365 20,87 152.872 18,74
217.344
13,81
Nguồn: Niên giám thống kê và tổng hợp của tác giả 2014
Số liệu bảng 2.2 cho thấy: từ năm 2010 đến năm 2014 số lượng nhân lực
ngành DM của DNNVV tăng lên, từ trên 500.000 lao động năm 2010 tăng lên
trên 1,5 triệu lao động năm 2014. Đây là số liệu đáng mừng đối với ngành, tốc
độ tăng số lượng lao động của ngành có sự chuyển dịch theo hướng tích cực.
Lao động chưa qua đào tạo có xu hướng giảm dần, lao động có trình độ (đặc
biệt lao động có trình độ cao) có xu hướng tăng đáng kể. Tỷ lệ lao động chưa
qua đào tạo năm 2010 khoảng gần 40%, đến năm 2014 đã giảm xuống chỉ còn
gần 14%. Tỷ lệ lao động trình độ trên đại học năm 2010 chỉ ở mức 0,04%, năm
2014 tăng lên 0,1%. Đây là thời cơ tốt để các doanh nghiệp tăng khả năng cạnh
tranh.
Hình 2.1. Cơ cấu lao động DNNVV ngành DM theo trình độ năm 2014
Nguồn: Tổng hợp của tác giả 2014
Hình 2.1 cho thấy cơ cấu lao động DNNVV ngành DM năm 2014 thì tỷ
lệ công nhân chiếm cao nhất (trên 60%), thấp nhất là lao động có trình độ trên
18
đại học (chiếm tỷ lệ 0,1%). Thực trạng lao động có trình độ cao đang thiếu
trầm trọng, cần có những chiến lược và giải pháp để đào tạo và thu hút lao
động có trình độ vào làm việc trong ngành DM thời gian tới. Kết quả khảo sát
cũng cho thấy chất lượng và trình độ lao động của DNNVV so với đối thủ
cạnh tranh cũng thấp, tỷ lệ cao – trung bình – thấp tương ứng là: 3 – 121 –
149/285 phiếu đánh giá (phụ lục – mẫu phiếu số 1). Hơn nữa, yếu tố tạo động
lực khuyến khích người lao động của DNNVV so với đối thủ cạnh tranh cũng
yếu, tỷ lệ cao – trung bình – thấp tương ứng là: 2 – 86 – 151/285 phiếu đánh
giá (phụ lục – mẫu phiếu số 1).
2.1.8. Năng lực đầu tư nghiên cứu và triển khai
Nghiên cứu khoa học là một trong những nhiệm vụ thường xuyên để các
doanh nghiệp có thể tạo ra sản phẩm mới. Ứng dụng NCKH hiệu quả góp
phần sản xuất sản phẩm có chất lượng cao hơn, giá thành rẻ hơn và quan
trọng là tăng sức cạnh tranh trên thị trường.
Thực tế cho thấy, các DNNVV thường ít chú trọng đến khâu này. Họ cho
rằng công tác R&D quá tốn kém và không có lợi ích, việc nghiên cứu đòi hỏi
phải có đội ngũ nhân lực có trình độ cao, có khả năng ứng dụng vào sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp. Kết quả khảo sát cho thấy: tỷ lệ lớn các
DNNVV cho rằng việc R&D là không quan trọng đối với doanh nghiệp, cụ thể
các DNNVV cho rằng năng lực R&D của doanh nghiệp so với đối thủ cạnh
tranh theo các tiêu chí: Rất quan trọng – Quan trọng – Không quan trọng lần
lượt là: 26 – 93 – 166/285 phiếu đánh giá (phụ lục – mẫu phiếu số 4). Điều này
đồng nghĩa với việc các DNNVV không quan tâm đến công tác R&D.
Bên cạnh đó, năng lực ứng dụng NCKH và cải tiến kỹ thuật vào sản
xuất của DNNVV cũng có nhiều hạn chế. Đây là yếu điểm lớn, một mặt là do
trình độ năng lực nhân lực của doanh nghiệp yếu kém, không có khả năng đáp
ứng. Mặt khác, do các DNNVV không có những bộ phận chuyên trách về lĩnh
vực NCKH để đảm trách công việc này. Kết quả khảo sát cho thấy tỷ lệ các
DNNVV đánh giá về mức độ: Rất quan trọng – Quan trọng – Không quan trọng
lần lượt là: 40 – 103 – 142/285 phiếu đánh giá (phụ lục – mẫu phiếu số 4).
Từ những số liệu và thực trạng của DNNVV có thể thấy: do không chú
trọng và quan tâm đến khâu R&D đã làm cho sức cạnh tranh của DNNVV so
với đối thủ cạnh tranh chính bị bất lợi.
2.1.9. Năng lực hợp tác trong nước và quốc tế
DNNVV ngành dệt may hiện nay chủ yếu hoạt động ở thị trường trong
nước, các DNNVV có mối quan hệ chặt chẽ với các doanh nghiệp khác trong
ngành. Chính điều này đã tạo thói quen cho DNNVV khách hàng chủ yếu là nội
địa, khách hàng nội địa dễ tính và có nhiều lựa chọn hơn cho doanh nghiệp
cung cấp sản phẩm. Việc chỉ duy trì khách hàng nội địa làm cho DNNVV khó
có thể cạnh tranh với các đối thủ chính. Nói cách khác, việc hợp tác và liên
doanh liên kết với nước ngoài gặp nhiều khó khăn đối với DNNVV.
19
Thực tế cũng chứng minh, kết quả khảo sát các DNNVV về chỉ tiêu năng
lực hợp tác trong nước và quốc tế, đa số các DNNVV chỉ quan tâm đến việc liên
doanh, hợp tác với các doanh nghiệp khác trong nước. Chỉ tiêu này phản ánh ở các
mức độ: cao – khá – trung bình là: 87 – 151 – 38/285 phiếu đánh giá ( phụ lục –
mẫu phiếu số 1). Mặt khác, việc liên doanh liên kết với thị trường quốc tế thì
DNNVV ít quan tâm, họ mặc định việc làm này là vô cùng khó khăn, khi doanh
nghiệp của họ chỉ có quy mô nhỏ và vừa. Điều này cũng được phản ánh bằng kết
quả khảo sát ở các mức độ: cao – khá – trung bình là: 7 – 28 – 157/285 phiếu đánh
giá (phụ lục – mẫu phiếu số 1).
Vậy, việc chỉ quan tâm đến thị trường trong nước mà không có chiến
lược để vươn ra thị trường quốc tế, đã đồng tình với việc làm giảm sức cạnh
tranh của DNNVV ngành dệt may so với đối thủ cạnh tranh chính.
2.1.1. Tổng hợp so sánh năng lực cạnh tranh của DNNVV so với đối thủ
cạnh tranh chính
Từ việc phân tích thực trạng về năng lực cạnh tranh của DNNVV ngành
dệt may VN, kết hợp với việc khảo sát năng lực cạnh tranh của DNNVV so
với những đối thủ cạnh tranh chính (DN dệt may có quy mô lớn, DN dệt may
FDI), có thể tổng hợp và so sánh một cách khách quan về năng lực cạnh tranh
của DNNVV so với những đối thủ này. Kết quả tổng hợp so sánh các chỉ tiêu
cạnh tranh mang tính chất tại một thời điểm nhất định, vì những chỉ tiêu này có
thể thay đổi nhanh chóng nhờ sự thay đổi của mỗi DN trong những thời điểm
khác nhau. Kết quả tổng hợp được thể hiện trong các bảng 2.3:
Bảng 2.3. So sánh giá trị năng lực cạnh tranh của DNNVV so với
đối thủ cạnh tranh chính là các DN quy mô lớn và DN FDI
Tầm Giá trị năng lực cạnh
Điểm số đánh giá
quan tranh của DNNVV
TT
Chỉ tiêu
DN
DN
DN trọn
DN
DN
DN
g
NVV LỚN
FDI
NVV LỚN
FDI
Về năng lực
1.08
1
3
1.270 1.252
3.252 3.810 3.756
tài chính
4
Năng lực về
1.02
2 quản lý điều
3
1.241 1.242
3.063 3.723 3.726
1
hành
Tiềm lực vô
3
3
949 1.163 1.257
2.847 3.489 3.771
hình
Trình độ trang
4 thiết bị và
3
955 1.224 1.263
2.865 3.672 3.789
công nghệ
Vể năng lực
1.15
5
2
1.247 1.243
2.304 2.494 2.486
Marketing
2
929 1.228 1.232
1.858 2.456 2.464
6 Cơ cấu tổ
2
20
Điểm số đánh giá
TT
7
8
9
Chỉ tiêu
chức, sản xuất
Về nguồn
nhân lực
Năng lực
nghiên cứu và
triển khai
Năng lực hợp
tác trong nước
và quốc tế
Tầm Giá trị năng lực cạnh
quan tranh của DNNVV
trọn
DN
DN
DN
g
NVV LỚN
FDI
DN
NVV
DN
LỚN
DN
FDI
1.01
3
1.251
1.271
3
3.039
3.753
3.813
950
1.237
1.228
2
1.900
2.474
2.456
1.18
8
1.255
1.243
2
2.376
2.510
2.486
9.24 11.11 11.23
23.50 28.38
28.747
1
6
1
4
1
Nguồn: Kết quả khảo sát và tính toán của tác giả 2014
Kết quả phân tích trong bảng cho thấy: Doanh nghiệp có vốn đầu tư
nước ngoài FDI có tổng giá trị phản ánh năng lực cạnh tranh là cao nhất
(28.747 điểm), sau đó đến doanh nghiệp có quy mô lớn (28.381 điểm) và cuối
cùng là DNNVV (23.504 điểm). Kết quả này phản ánh đúng thực trạng năng
lực cạnh tranh của các doanh nghiệp, doanh nghiệp FDI có nhiều lợi thế vượt
trội như: nguồn nhân lực có chất lượng cao; tạo được hình ảnh rõ nét của sản
phẩm với người tiêu dùng. Trong khi đó, doanh nghiệp có quy mô lớn lại có lợi
thế về một số chỉ tiêu như: Năng lực nghiên cứu và triển khai; năng lực hợp tác
trong nước và quốc tế.
Bảng 2.4. Tổng hợp kết quả phân tích và so sánh lợi thế cạnh tranh của
DNNVV so với các đối thủ cạnh tranh chính
Tổng cộng
DNVVV
STT
Chỉ tiêu
I
1
2
3
Về năng lực tài chính
Tăng trưởng doanh thu
Tăng trưởng lợi nhuận
Tăng trưởng thị phần
Năng lực về quản lý và
điều hành
Năng lực phân tích năng
lực cạnh tranh và đề xuất
II
1
Có
lợi
thế
Tươ
Bất
ng
lợi
đươ
thế
ng
X
x
x
x
Đối thủ cạnh tranh
chính
Khó
Tươ Khó
Có Bất
xác
ng
xác
lợi lợi
địn
đươ địn
thế thế
h
ng
h
X
x
x
x
X
X
x
x
21
DNVVV
STT
2
3
III
1
2
IV
1
2
3
4
5
6
V
1
2
3
4
5
Chỉ tiêu
phương án NLCT của
DNNVV so với đối thủ
Năng lực phân tích và dự
báo môi trường cạnh tranh
Năng lực quản trị, hoạch
định chiến lược và tổ chức
thực hiện chiến lược
Tiềm lực vô hình
Hình ảnh và uy tín DN
Mức độ nổi tiếng của
SP/DV và độ tin cậy của
các đối tác KD
Trình độ trang thiết bị và
công nghệ
Năng lực ứng dụng công
nghệ trong DN
Trình độ công nghệ sản
xuất sản phẩm
Năng lực đổi mới công
nghệ trong DN
Năng lực trang thiết bị và
mức độ thích ứng công
nghệ trong DN
Trình độ công nghệ thiết
kế sản phẩm
Chất lượng sản phẩm so
với đối thủ cạnh tranh
Về năng lực Marketing
Giá bán sản phẩm so với
đối thủ cạnh tranh
Chính sách giá bán và độ
linh hoạt của chính sách giá
bán so với đối thủ
Mức độ đa dạng về sản
phẩm của DN
Năng lực cung cấp sản
phẩm của DN
Năng lực nghiên cứu thị
Có
lợi
thế
Tươ
Bất
ng
lợi
đươ
thế
ng
Đối thủ cạnh tranh
chính
Khó
Tươ Khó
Có Bất
xác
ng
xác
lợi lợi
địn
đươ địn
thế thế
h
ng
h
x
x
x
x
X
x
X
x
x
x
X
X
x
x
x
x
x
x
x
x
x
x
x
x
X
X
x
x
x
x
x
x
x
x
x
x
22
DNVVV
STT
6
7
VI
1
2
3
VII
1
2
3
4
5
6
7
8
VIII
1
2
3
Chỉ tiêu
trường và chăm sóc khách
hàng của DN
Mạng lưới và năng lực
phân phối sản phẩm của
DN
Năng lực xúc tiến bán hàng
của DN
Cơ cấu tổ chức, sản xuất
Năng lực tổ chức sản xuất
trong DN
Năng lực tổ chức mạng
lưới bán hàng của DN
Tính chuyên môn hóa sản
xuất sản phẩm của DN
Nguồn nhân lực
Chất lượng và trình độ lao
động của DN
Chất lượng và thái độ phục
vụ khách hàng của DN
Số lượng lao động của DN
Tạo động lực khuyến
khích người lao động của
DN
Chính sách phát triển
nguồn nhân lực của DN
Trình độ học vấn nhân lực
của DN
Chế độ, chính sách đãi ngộ
người lao động của DN
Trình độ tổ chức lao động
khoc học của DN
Năng lực nghiên cứu và
triển khai (R&D)
Năng lực R&D của DN
Năng lực ứng dụng nghiên
cứu khoa học và cải tiến
kỹ thuật vào SX của DN
Trang thiết bị và nguồn lực
Có
lợi
thế
Tươ
Bất
ng
lợi
đươ
thế
ng
Đối thủ cạnh tranh
chính
Khó
Tươ Khó
Có Bất
xác
ng
xác
lợi lợi
địn
đươ địn
thế thế
h
ng
h
x
x
x
x
X
X
x
x
x
x
x
x
X
X
x
x
x
x
x
x
x
x
x
x
x
x
x
x
x
x
X
X
x
x
x
x
x
x
23
DNVVV
STT
4
IX
1
2
Chỉ tiêu
R&D của DN
Trình độ nhân lực R&D
của DN
Năng lực hợp tác trong
nước và quốc tế
Năng lực liên doanh liên
kết với đối tác trong nước
Năng lực liên doanh liên
kết với đối tác nước ngoài
Có
lợi
thế
Tươ
Bất
ng
lợi
đươ
thế
ng
Đối thủ cạnh tranh
chính
Khó
Tươ Khó
Có Bất
xác
ng
xác
lợi lợi
địn
đươ địn
thế thế
h
ng
h
x
x
X
X
x
x
x
x
Nguồn: Kết quả khảo sát và tính toán của tác giả 2014
Từ bảng 2.4 cho thấy, đa số các chỉ tiêu phản ánh lợi thế cạnh tranh của
DNNVV ngành dệt may so với các đối thủ cạnh tranh chính là bất lợi. Điều
này cũng phản ánh đúng thực trạng năng lực cạnh tranh hiện nay của DNNVV,
một số chỉ tiêu quan trọng phản ánh lợi thế cạnh tranh thì các DNNVV đều bất
lợi, như: năng lực tài chính; nguồn nhân lực; trình độ nghiên cứu và phát triển
hay hoạt động marketing. Đây là những chỉ tiêu có lợi thế đối với những DN có
quy mô lớn hoặc những DN có vốn đầu tư nước ngoài FDI.
Vậy, để nâng cao năng lực cạnh tranh của DNNVV dệt may là việc làm
khó khăn và đầy thử thách. Muốn cải thiện và nâng cao các chỉ tiêu phản ánh
năng lực cạnh tranh, các DN này phải không ngừng nỗ lực và phấn đấu, đặc
biệt phải có sự định hướng và trợ giúp, nhất là sự hỗ trợ từ các chính sách của
Chính phủ, tạo môi trường thuận lợi để các DNNVV vận dụng và phát huy.
Như đã phân tích về thực trạng năng lực cạnh tranh của DNNVV dệt
may Việt Nam thời gian qua, đối mặt với những khó khăn và thách thức từ thị
trường trong và ngoài nước. Các DNNVV đã cố gắng và phấn đấu để đạt được
những thành tích đáng kể, góp phần vào việc cung cấp cho thị trường những
sản phẩm có chất lượng, đóng góp chung vào GDP của cả nước cũng như làm
gia tăng giá trị của ngành. Một số ưu điểm có thể đánh giá như sau:
Thứ nhất, sự tham gia vào thị trường của các DNNVV đã giải quyết
được phần lớn công ăn việc làm cho thị trường lao động Việt Nam thời gian
qua, đóng góp đáng kể vào GDP và làm tăng ngân sách Nhà nước. Sự tham gia
ngày một tích cực của các DNNVV đã phần nào phân chia lại thị phần thị
trường trong nước với các đối thủ cạnh tranh. Điều đó làm gia tăng thêm sự lựa
chọn sản phẩm của khách hàng trên thị trường nội địa. Từ đó, các DNNVV tạo
sức ép cạnh tranh ngày càng lớn đối với đối thủ cạnh tranh, làm cho khách hàng
có nhiều lợi thế hơn trong việc lựa chọn tiêu dùng sản phẩm.
24
Thứ hai, các DNNVV ngành dệt may nhờ tận dụng tốt các nguồn lực sẵn
từ thị trường nội địa như: giá nhân công rẻ, một số chính sách tín dụng hỗ trợ
từ Chính phủ, đã phần nào giúp các DNNVV kiểm soát được giá thành sản
phẩm. Đây là yếu tố quan trọng để cạnh tranh với các sản phẩm từ nước ngoài
tại thị trường nội địa. Từ những yếu tố đó, các DNNVV đã linh hoạt hơn trong
việc điều chỉnh chính sách giá bán sản phẩm theo nhu cầu thị trường. Việc linh
hoạt điều chỉnh chính sách giá bán sản phẩm tác động trực tiếp tới sức mua
của khách hàng trên thị trường.
Thứ ba, DNNVV ngành dệt may không ngừng nỗ lực trong việc liên
doanh, liên kết với các nhà đầu tư nước ngoài, nhằm cải tiến và thay thế máy
móc, công nghệ thiết bị cũ, lạc hậu để nâng cao chất lượng sản phẩm và hiệu
quả sản xuất kinh doanh. Cải tiến và ngày một hoàn thiện hơn về chất lượng
nguồn nhân lực, xây dựng chính sách đào tạo nâng cao tay nghề người lao
động, nhằm có được nguồn nhân lực chất lượng cao, ngày càng tham gia sâu
hơn nữa vào chuỗi giá trị dệt may toàn cầu.
Thứ tư, DNNVV tận dụng tối đa đối tượng khách hàng nội địa, khách hàng thu
nhập thấp chiếm tỷ lệ lớn, trong khi đó các DNNVV có chính sách giá linh hoạt
khi tiêu thụ sản phẩm tại thị trường nội địa. Với nhóm khách hàng này yếu tố
giá đóng vai trò quan trọng bậc nhất, tác động trực tiếp tới sức mua. Do đó, đây
là lợi thế không nhỏ của các DNNVV ngành dệt may Việt Nam.
CHƯƠNG 3
GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH
CỦA DNNVV DỆT MAY VIỆT NAM
3.1. Các giải pháp đột phá nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của
DNNVV Dệt May Việt Nam
Từ việc phân tích và đánh giá thực trạng năng lực cạnh tranh của
DNNVV dệt may Việt Nam, tác giả có cách nhìn tổng thể bức tranh hiện nay
của DNNVV dệt may. Qua đó, tác giả mạnh dạn đề xuất một số giải pháp
mang tính đột phá cần thiết nhằm giúp các DNNVV dệt may Việt Nam có thể
nâng cao năng lực cạnh tranh trên thị trường, hướng tới việc có thể cạnh tranh
với các đối thủ cùng ngành ở thị trường nước ngoài.
3.1.1. Tập trung và đẩy mạnh liên doanh, liên kết với doanh nghiệp, nhà
đầu tư nước ngoài nhằm tăng cường năng lực tài chính của DNNVV
Theo kết quả điều tra, phân tích về khả năng cạnh tranh của DNNVV so
với các đối thủ cạnh tranh chính, ta thấy năng lực tài chính của DNNVV so với
các đối thủ cạnh tranh chính hiện nay là trung bình và yếu. Điều này thể hiện
ở tỷ lệ 32,6% các DNNVV được khảo sát cho rằng năng lực tài chính của DN
mình chỉ ở mức trung bình so với các đối thủ cạnh tranh chính. Do vậy, để
nâng cao năng lực cạnh tranh của các DNNVV cần thiết phải nâng cao năng
25
lực tài chính, để làm việc này các DNNVV cần phải thực hiện một số giải
pháp sau:
3.1.1.1. Xây dựng cơ chế, chính sách khuyến khích sự liên doanh, liên kết của
các doanh nghiệp, nhà đầu tư nước ngoài
3.1.1.2. Tăng cường liên kết và hợp tác trong các DNNVV ngành dệt may
3.1.1.3. Chủ động trong việc minh bạch tài chính và tích cực cải tiến, đầu tư
đổi mới thiết bị, công nghệ hiện đại
3.1.1.4. Chủ động hội nhập và thực hiện các Hiệp định thương mại tự do
(FTA) đa phương và song phương thế hệ mới
3.1.2. Cần chủ động hơn nữa về nguồn nguyên liệu sản xuất, nhất là
trong bối cảnh Việt Nam đã tham gia hiệp định TPP
Trong các công đoạn sản xuất nguyên liệu cho ngành dệt may ở Việt
Nam thì ngành trồng bông là khó phát triển như mục tiêu đề ra. Nguyên nhân
chính là do nước ta không có lợi thế cạnh tranh tự nhiên. Trồng bông là ngành
rất thâm dụng đất đai, lại chịu tác động nhiều bởi thời tiết, khí hậu, nước tưới.
Tuy nhiên hiện nay diện tích trồng bông ở Việt Nam vẫn chưa nhiều và còn
manh mún, bên cạnh đó, trình độ thâm canh của nông dân chưa tốt, không có hệ
thống thủy lợi hỗ trợ, điều kiện trồng trọt chủ yếu phụ thuộc vào thiên nhiên,
sản xuất thu hoạch bằng thủ công nên năng suất, chất lượng bông của nước ta
kém xa các nước khác trên thế giới dẫn tới giá bán không cạnh tranh so với các
nước khác trên thế giới. Chính vì vậy, trong nhiều năm qua Việt Nam phải
nhập khẩu ngày càng nhiều loại nguyên liệu thô bông, xơ để phục vụ nhu cầu
nguyên liệu cho kéo sợi và là một trong năm nước nhập khẩu bông lớn nhất
thế giới, chủ yếu là từ Hoa Kỳ (43%) kế đến là Ấn Độ, Australia, Braxin, Bờ
Biển Ngà, Pakixtan, Trung Quốc, Indonesia. Rõ ràng, đây không phải là công
đoạn mà các DNNVV dệt may trong nước có lợi thế và điều này ảnh hưởng ít
nhiếu đến năng lực cung cấp nguyên liệu đầu vào cho các doanh nghiệp hoạt
động trong công đoạn kế tiếp là kéo sợi.
3.1.2.1. Tăng cường mạng lưới sản xuất nguyên phụ liệu (sợi, dệt vải, nhuộm,
hoàn tất)
3.1.2.2. Phát triển ngành dệt may theo hướng nâng cấp công nghiệp, tức là
nâng cấp chuỗi giá trị và hoàn thiện cụm công nghiệp dệt may.
3.1.3. Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao cho DNNVV dệt may một
cách bền vững và dài hạn
Vấn đề chất lượng nguồn nhân lực luôn là một trong những yếu tố quan
trọng quyết định sự thành công trong mỗi DN nói chung và DNNVV nói riêng.
Việc xây dựng chiến lược, thu hút và sử dụng nguồn nhân lực một cách khoa
học và hiệu quả sẽ giúp DNNVV có được chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng