v PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY
TẠO CẢM HỨNG HỌC TẬP TRONG GIẢNG DẠY
TỪ VỰNG VÀ NGỮ PHÁP TIẾNG THÁI LAN
CƠ SỞ THÔNG QUA TRÒ CHƠI
PHÙNG THỊ HƯƠNG GIANG *
Đại học Hà Nội,
Ngày nhận bài: 21/5/2018; ngày sửa chữa: 18/6/2018; ngày duyệt đăng: 20/6/2018
*
TÓM TẮT
Tiếng Thái Lan là một trong các ngôn ngữ Đông Nam Á được đưa vào giảng dạy chính thức tại
một số trường đại học của Việt Nam từ nhiều năm qua. Tuy nhiên, những tài liệu nghiên cứu về
tình hình giảng dạy, các chương trình đào tạo tiếng Thái Lan, đặc biệt là các tài liệu liên quan đến
phương pháp giảng dạy tiếng Thái Lan tại Việt Nam vẫn còn rất hạn chế.
Bài viết trình bày về vai trò của việc tạo cảm hứng trong các tiết học ngữ pháp và từ vựng, đặc
điểm của các trò chơi được áp dụng trong tiết dạy từ vựng và ngữ pháp tiếng Thái Lan cơ sở nhằm
tạo cảm hứng học tập cho sinh viên, đồng thời giới thiệu một số trò chơi có thể áp dụng trong các
tiết học ngữ pháp và từ vựng tiếng Thái. Bằng phương pháp áp dụng trò chơi trong các tiết dạy
từ vựng và ngữ pháp tiếng Thái Lan sẽ khiến sinh viên cảm thấy thoải mái, có hứng thú tiếp nhận
kiến thức mới và có thể vận dụng các kiến thức được học vào thực tế thông qua các hoạt động vui
chơi. Ngoài ra, đây cũng là phương pháp giúp giáo viên có thể phát triển kỹ năng dạy, đồng thời
có thể kiểm tra đánh giá khả năng của sinh viên một cách hiệu quả.
Từ khóa: phương pháp dạy qua trò chơi, từ vựng, ngữ pháp, tiếng Thái Lan
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong thời đại hiện nay, việc đẩy mạnh, khuyến
khích mở rộng và phát triển các chương trình dạy
và học các ngôn ngữ trong khu vực Đông Nam
Á là nhiệm vụ rất quan trọng và cần thiết đối với
nước ta, nhất là khi Cộng đồng kinh tế ASEAN
vừa chính thức thành lập ngày 31/12/2015, bởi lẽ
ngôn ngữ chính là phương tiện giao tiếp tốt nhất và
là tiền đề cho việc phát triển mối quan hệ giao lưu
trong tất cả các lĩnh vực như kinh tế, văn hóa, xã
hội giữa các quốc gia Đông Nam Á. Trong số các
ngôn ngữ của các nước ASEAN, không thể không
54
KHOA HỌC NGOẠI NGỮ QUÂN SỰ
Số 14 - 7/2018
kể đến tiếng Thái Lan, ngôn ngữ chính thức của đất
nước có nền kinh tế phát triển mạnh trong khu vực,
có mối quan hệ khăng khít cả về văn hóa, thể thao,
kinh tế và du lịch với Việt Nam. Trong những năm
qua, tiếng Thái Lan đã được đưa vào đào tạo và
giảng dạy ở một số trường đại học của nước ta như
Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn TPHCM
(1998), Đại học Khoa học Xã Hội & Nhân văn
Hà Nội (2000), Đại học Ngoại ngữ - Đại học quốc
gia Hà Nội (2001), Đại học Hà Nẵng (2005) và
Trường Đại học Hà Nội (2009). Tại Trường Đại
học Hà Nội, tiếng Thái Lan được giảng dạy với
PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY v
tư cách là ngoại ngữ hai tự chọn, đối tượng học
là các sinh viên năm thứ ba chuyên ngành ngôn
ngữ. Mặc dù đã được đưa vào giảng dạy được 9
năm với số lượng đăng ký học là 487 sinh viên
và có xu hướng tăng dần theo các năm, tuy nhiên,
tiếng Thái Lan vẫn là ngôn ngữ có số lượng sinh
viên học còn rất hạn chế so với các ngôn ngữ khác
trong trường.
Qua thực tế tìm hiểu về cảm nhận của sinh
viên khi lựa chọn việc học ngoại ngữ 2 tiếng Thái
Lan tại Đại học Hà Nội thông qua hình thức phỏng
vấn trực tiếp và qua quá trình giảng dạy thực tế từ
năm học 2014-2015 đến nay, tác giả nhận thấy,
ngoài việc sinh viên chưa nhận thức được ý nghĩa
quan trọng của việc học một trong các ngôn ngữ
ASEAN như tiếng Thái Lan thì còn có nhiều lý
do khiến tiếng Thái Lan chưa phải là ngôn ngữ
thu hút được nhiều sinh viên lựa chọn như: tâm lý
cho rằng tiếng Thái Lan có cách phát âm đặc biệt,
có nhiều điểm tương đồng với tiếng dân tộc của
người Việt Nam, vì vậy, khi nói chuyện hay giao
tiếp bằng tiếng Thái Lan, sinh viên sẽ gặp phải tâm
lý dè dặt, lo lắng, khiến bản thân mất tự tin. Một số
khác cho rằng, chữ viết tiếng Thái Lan rất ngoằn
ngoèo, nhìn rối mắt và không tạo ra cảm hứng khi
học tập. Hơn nữa, trong chương trình đào tạo của
Trường Đại học Hà Nội, tiếng Thái Lan chỉ là một
môn ngoại ngữ 2, nhiều sinh viên có suy nghĩ rằng,
môn ngoại ngữ 2 chỉ là một môn phụ, vì vậy, nếu
dành quá nhiều thời gian để tìm hiểu một ngôn
ngữ ngoằn ngoèo và phức tạp thì sẽ rất mất thời
gian và nếu kết quả đạt được không cao thì sẽ ảnh
hưởng nhiều đến kết quả học tập chuyên ngành
chính của mình... Chính vì những lý do liên quan
đến suy nghĩ và tâm lý dè dặt của sinh viên khi
lựa chọn đăng ký học tiếng Thái Lan đó mà vai
trò và nhiệm vụ cấp thiết của giảng viên là phải
tìm tòi, vận dụng, sáng tạo và đổi mới các phương
pháp giảng dạy tích cực nhất để tạo ra không khí
thoải mái trong học tập cho sinh viên, để việc học
nặng nề thành một niềm vui, biến tâm lý dè dặt,
lo lắng của sinh viên thành tâm lý thoải mái, giúp
sinh viên có hứng thú và say mê trong học tập. Sự
say mê và hứng thú của sinh viên trong quá trình
học là chính là yếu tố then chốt để sinh viên có thể
học tốt tiếng Thái Lan và tâm lý thoải mái khi học
chính là chiếc cầu nối ngắn nhất để đưa tiếng Thái
Lan đến gần hơn với nhiều đối tượng sinh viên
cũng như thu hút được sự quan tâm của sinh viên
nhiều hơn nữa.
2. NỘI DUNG
2.1. Tại sao cần tạo cảm hứng học tập trong
dạy từ vựng và ngữ pháp tiếng Thái Lan cơ sở
Trong giảng dạy và đào tạo ngoại ngữ nói
chung và giảng dạy tiếng Thái Lan nói riêng, kiến
thức về từ vựng và ngữ pháp là hai khối kiến thức
cơ bản và vô cùng quan trọng mà người giảng viên
cần truyền đạt cho sinh viên, như Stewich (1972)
nhận định rằng, “đối với việc học một ngôn ngữ
mới thì việc học từ vựng đóng một vai trò rất quan
trọng, vốn từ vựng, khả năng phát âm và khả năng
xây dựng cấu trúc câu đúng ngữ pháp của ngôn
ngữ đó là ba yếu tố quan trọng quyết định sự thành
công của một người học ngoại ngữ, chỉ khi người
học ngoại ngữ có thể vận dụng và kết hợp đúng cả
ba yếu tố này với nhau thì mới có thể hiểu được
những gì người khác muốn nói và giúp người khác
hiểu được ý đồ giao tiếp của bản thân khi nói”. Tuy
nhiên, đây cũng là hai khối kiến thức đòi hỏi người
học phải trải qua một quá trình tích lũy và trau dồi
kiến thức một cách bền bỉ. Ở giai đoạn đầu, khi
mới tiếp xúc với một ngôn ngữ mới, người học
thường có cảm hứng học tập vì tò mò muốn khám
phá tìm hiểu, tuy nhiên sau đó vì những lý do hay
tác động khác nhau khiến người học bị mất cảm
hứng hoặc cảm thấy chán nản với việc phải tiếp
nhận lượng từ vựng và kiến thức ngữ pháp ngày
càng nhiều thì sẽ gây ảnh hưởng tiêu cực đến kết
quả của việc học ngoại ngữ sau này. Điều này rất
dễ gặp phải với sinh viên khi học tiếng Thái Lan
do tiếng Thái Lan có những đặc điểm riêng dễ gây
ra mất cảm hứng trong quá trình học như:
- Tiếng Thái Lan là ngôn ngữ có sự khác biệt
rất lớn về chữ viết so với các thứ tiếng Latin nói
chung và tiếng Việt nói riêng. Chữ viết tiếng Thái
Lan thường tạo ra cảm giác khó khăn, dễ sinh ra
tâm lý nản chí cho người học.
KHOA HỌC NGOẠI NGỮ QUÂN SỰ
Số 14 - 7/2018
55
v PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY
- Cách xây dựng cấu trúc câu và cách sử dụng
từ trong tiếng Thái Lan và tiếng Việt tưởng như
gần giống nhau nhưng về cơ bản vẫn có điểm khác
nhau, nếu không chú ý và không dành thời gian
luyện tập thì rất dễ sử dụng nhầm lẫn và thậm chí
là sử dụng sai cấu trúc câu.
- Tuy phần lớn các thanh điệu trong ngữ âm
tiếng Thái Lan và tiếng Việt đều có những điểm
tương đồng nhất định do cùng là ngôn ngữ đơn
lập, tuy nhiên, về bản chất thanh điệu trong tiếng
Thái Lan có những đặc điểm riêng biệt, đòi hỏi
người học phải luyện tập phát âm thường xuyên
một cách nghiêm túc, nếu không sẽ nói sai dẫn đến
hiểu lầm trong giao tiếp.
Vì thế, trong quá trình giảng dạy từ vựng và
ngữ pháp tiếng Thái Lan người dạy luôn luôn phải
đề cao yếu tố tạo cảm hứng và duy trì cảm hứng
cho người học, đồng thời giảm bớt áp lực về số
lượng từ vựng hay mức độ phức tạp trong ngữ
pháp có thể gây ra cho người học. Để làm được
điều này người dạy cần lồng ghép những kiến thức
mà mình muốn truyền đạt thông qua các hoạt động
trò chơi có tính chất giải trí vui vẻ, để người học
luôn có tâm lý thoải mái và chủ động muốn tiếp
nhận lượng kiến thức mới.
2.2. Đặc điểm của trò chơi được áp dụng
trong dạy từ vựng và ngữ pháp tiếng Thái Lan
cơ sở nhằm tạo cảm hứng học.
Có nhiều nghiên cứu cũng như các nhà nghiên
cứu đã đưa ra những định nghĩa khác nhau về trò
chơi trong học tập. Steven J. Brams (1998) đã đưa
ra định nghĩa: “Trò chơi là một hoạt động có tính
giải trí giúp người chơi có thể vận dụng các kiến
thức được học vào hoạt động chơi, trò chơi có thể
được tổ chức dưới dạng thi đấu hoặc không, nhưng
việc tổ chức trò chơi nhất định phải có quy luật
và nguyên tắc rõ ràng và phải có sự đánh giá kết
quả của người chơi dựa theo các quy luật đã đề ra
trước đó”, hay như Rawiwan Srikhramkhran (ระวิ
วรรณ ศรีคร้ามครัน, 1998) đã định nghĩa về trò chơi
như sau: “Trò chơi là một công cụ giúp ích cho
trẻ trong việc học tập, nó giúp thúc đẩy việc phát
triển theo cách tự nhiên của trẻ, một số loại trò
56
KHOA HỌC NGOẠI NGỮ QUÂN SỰ
Số 14 - 7/2018
chơi giúp trẻ phát triển về thể chất, một số khác
lại giúp trẻ phát triển về tư duy, còn đối với người
lớn trò chơi là một phương pháp giảm căng thẳng
hiệu quả”.
Từ những định nghĩa trên có thể thấy rằng, bản
chất của phương pháp dạy học thông qua trò chơi
chính là thông qua việc tổ chức hoạt động cho sinh
viên, dưới sự hướng dẫn của giảng viên, sinh viên
được hoạt động và tiếp thu kiến thức bằng cách
tự chơi trò chơi, trong đó, mục đích của trò chơi
có chuyển tải mục tiêu của bài học. Luật chơi hay
cách chơi chính là bước thể hiện nội dung kiến
thức và phương pháp học mà giảng viên muốn
truyền đạt cho sinh viên.
Đặc điểm của từng loại trò chơi cần phải được
xây dựng và sáng tạo sao cho phù hợp với nội
dung của bài học và khả năng của từng đối tượng
người học. Điểm mấu chốt quan trọng của trò chơi
chính là phải tạo ra hiệu quả nhiều nhất đối với
việc tiếp thu kiến thức của người học, điều này đòi
hỏi người dạy phải tìm tòi, sáng tạo để tự tạo ra
các trò chơi khác nhau hay cải biên trò chơi mới từ
những trò chơi đã có sẵn sao cho phù hợp với mục
tiêu đề ra. Trò chơi trong giáo dục học tập được
phân loại dựa theo nhiều tiêu chí khác nhau như
phân loại trò chơi theo sự năng động có hai loại
là trò chơi động (active games) và trò chơi tĩnh
(passive games), phân loại trò chơi theo đối tượng
chơi lại chia ra thành các loại như trò chơi cá nhân
và trò chơi tập thể (trò chơi nhóm)...
Thông thường, trong việc thiết kế, tổ chức các
trò chơi lồng ghép vào giảng dạy từ vựng và ngữ
pháp thì việc áp dụng các trò chơi theo nhóm sẽ
có hiệu quả hơn việc tổ chức trò chơi theo từng cá
nhân, vì hoạt động theo nhóm sẽ giúp cho người
học có tính đoàn kết, biết tổ chức sắp xếp, phân
công công việc khi làm việc theo nhóm. Người dạy
có thể tổ chức trò chơi theo nhóm lớn hay nhóm
nhỏ tuỳ theo từng loại trò chơi và từng nội dung
của bài học, tuy nhiên, cần chú ý đến một số điểm:
Trò chơi phải tạo được cảm giác hứng thú,
thoải mái khi chơi, đồng thời giúp ôn tập và vận
dụng nội dung bài học vào thực hành.
PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY v
Nên tổ chức trò chơi trong một thời gian ngắn
nhất định, không nên để thời gian tổ chức trò chơi
chiếm toàn bộ thời gian học trên lớp của sinh viên.
Trò chơi phải có yêu cầu, luật chơi rõ ràng
tránh hiện tượng hiểu lơ mơ, không nắm rõ luật
chơi, khiến mục đích muốn lồng ghép nội dung
kiến thức vào trò chơi bị sai lệch.
Nếu trò chơi mang tính chất thi đấu thì nên đưa
ra luật chơi một cách dễ hiểu, để tiện cho việc đánh
giá và đưa ra quyết định thắng thua.
Phải tạo cơ hội cho tất cả các sinh viên ở các
trình độ khác nhau được tham gia trò chơi.
Giảng viên nên quản lý việc tham gia trò chơi
của sinh viên sao cho không ảnh hưởng đến các
lớp khác. Nếu giảng viên thấy trò chơi không phù
hợp khi chơi trong không gian lớp học thì nên tìm
địa điểm khác phù hợp để chơi.
Trong trường hợp cần tổ chức trò chơi tại một
địa điểm ngoài lớp học thì giảng viên nên chuẩn bị
trước địa điểm để tổ chức trò chơi đó.
Việc tổ chức trò chơi cần phải giúp sinh viên
có thể vận động cơ thể vừa phải và thiên về phát
triển kỹ năng phản xạ trong học ngoại ngữ.
Giảng viên nên xây dựng hình thức khen
thưởng phù hợp sau mỗi trò chơi để kích thích sự
hứng thú cho sinh viên và tạo động lực để sinh
viên tiếp tục học tập.
Trong thực tế dạy học, giảng viên thường tổ
chức trò chơi học tập để khởi động, củng cố kiến
thức. Tuy nhiên, cũng có thể tổ chức cho sinh viên
chơi các trò chơi để hình thành kiến thức, kỹ năng
mới, tạo hứng thú học tập cho sinh viên ngay từ
khi bắt đầu bài học mới.
2.3. Một số trò chơi có thể áp dụng nhằm tạo
cảm hứng học trong dạy từ vựng và ngữ pháp
tiếng Thái Lan cơ sở
2.3.1. Trò chơi ngữ pháp
Hái hoa theo nguyên âm
Mục đích: Giúp sinh viên có thể phân biệt hai
nhóm nguyên âm dài và nguyên âm ngắn trong tiếng
Thái Lan thông qua kỹ năng đọc từ và quan sát.
Chuẩn bị: Giảng viên chuẩn bị một số mảnh
giấy cắt hình hoa, bên trong ghi từ vựng có sử
dụng các nguyên âm khác nhau. Nên chọn các từ
ngắn, dễ đọc.
Cách chơi: Chia sinh viên thành hai đội đứng
thành hai hàng dọc, giảng viên dán các mảnh giấy
hình hoa có ghi nguyên âm lên bảng sau đó ra
hiệu lệnh “hãy hái những bông hoa có loại nguyên
âm...”. Sau đó 2 sinh viên đầu hàng của hai đội
phải di chuyển thật nhanh lên bảng tìm từ chứa
loại nguyên âm mà giảng viên cần và đem về vị trí
của đội mình và lần lượt các thành viên tiếp theo
di chuyển lên tìm từ tiếp theo. Giảng viên quy định
trong một khoảng thời gian nhất định đội nào hái
được nhiều hoa có chứa loại nguyên âm đúng theo
yêu cầu sẽ là đội giành chiến thắng.
Lưu ý: Trò chơi này áp dụng đối với sinh viên
mới bắt đầu học phụ âm và nguyên âm tiếng Thái
Lan, do sinh viên vẫn đang trong giai đoạn làm
quen và khả năng nhớ bảng chữ cái chưa tốt, vì
vậy, giảng viên cần chuẩn bị các từ dễ, ngắn, các
từ có một âm tiết, từ không có phụ âm cuối và chưa
có dấu để sinh viên dễ dàng nhận biết, nhớ và phân
biệt được đặc điểm của các dạng nguyên âm theo
đúng nội dung kiến thức cần truyền tải.
Đứng – ngồi theo nguyên âm
Mục đích: Giúp sinh viên có thể phân biệt hai
nhóm nguyên âm dài và nguyên âm ngắn trong
tiếng Thái Lan thông qua kỹ năng nghe.
Chuẩn bị: Giảng viên chuẩn bị một số câu hoặc
một đoạn văn ngắn có nội dung đơn giản, dễ hiểu, và
chứa các từ có nguyên âm ngắn và nguyên âm dài.
Cách chơi: Chia sinh viên thành hai đội đứng
thành hai hàng dọc, giảng viên đọc to câu hoặc
đoạn văn đã chuẩn bị sẵn, yêu cầu sinh viên nghe
kỹ các từ có chứa nguyên âm ngắn và nguyên âm
dài có trong câu hoặc đoạn văn đó. Khi nghe được
các từ có nguyên âm ngắn, các thành viên trong
đội phải cùng nhau ngồi xuống. Khi nghe được các
KHOA HỌC NGOẠI NGỮ QUÂN SỰ
Số 14 - 7/2018
57
v PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY
từ có nguyên âm dài, các thành viên trong đội phải
cùng nhau đứng nguyên tại chỗ. Đội nào có tất cả
các thành viên làm đúng theo yêu cầu và nhanh
hơn đội còn lại, đội đó sẽ giành được chiến thắng.
Lưu ý: Trò chơi này áp dụng đối với sinh viên
đã bắt đầu học các ghép vần của từ và có thể nhận
biết nguyên âm ngắn và dài xuất hiện trong các từ
đã có đầy đủ các thành phần phụ âm, nguyên âm,
phụ âm cuối và thanh điệu.
Câu cá phụ âm kép/phụ âm dẫn
Mục đích: Giúp kiểm tra đánh giá khả năng
tiếp thu kiến thức về phụ âm kép, phụ âm dẫn
trong tiếng Thái Lan.
Chuẩn bị: Giảng viên chuẩn bị các tờ giấy cắt
hình con cá, trong đó ghi sẵn các từ khác nhau bao
gồm các từ sử dụng phụ âm kép hoặc phụ âm dẫn
và các từ không sử dụng phụ âm kép hoặc phụ âm
dẫn. Trên mỗi tờ giấy có đính nam châm, giảng
viên chuẩn bị hai thanh que dài có buộc dây dính
nam châm ở đầu dây để làm cần câu.
Cách chơi: Giảng viên chia sinh viên thành hai
đội, để cá trong một chiếc hộp lớn. Các thành viên
trong mỗi đội lần lượt cầm cần câu cá theo yêu cầu
của giảng viên đưa ra, ví dụ: giảng viên yêu cầu
“Hãy câu những con cá có chứa phụ âm kép”. Khi
thành viên nào câu được cá theo đúng yêu cầu rồi
thì phải đọc phát âm đúng được từ ghi trên con cá
đó thì mới được tính điểm và đưa cần cho thành
viên tiếp theo trong đội để tiếp tục câu. Nếu trong
trường hợp thành viên nào câu được cá đúng theo
yêu cầu nhưng đọc không đúng từ ghi trong con cá
đó thì đội đó không được tính điểm và phải bỏ con
cá đó lại vào thùng. Thời gian chơi khoảng 3 phút,
đội nào câu được nhiều cá và đọc đúng được nhiều
từ hơn sẽ giành chiến thắng.
Lưu ý: Trò chơi này có thể được áp dụng để
kiểm tra hoặc cho sinh viên luyện tập với nhiều
phạm trù kiến thức ngữ pháp khác như ba nhóm
phụ âm trung, cao, thấp; các nhóm phụ âm cuối
hoặc luyện tập về thanh điệu trong tiếng Thái Lan.
58
KHOA HỌC NGOẠI NGỮ QUÂN SỰ
Số 14 - 7/2018
2.3.2. Trò chơi từ vựng
Bingo tìm nghĩa từ
Mục đích: Giúp kiểm tra đánh giá khả năng
nhớ từ của sinh viên.
Chuẩn bị: Giảng viên chuẩn bị file chứa hình
ảnh tương ứng với nghĩa của những từ liên quan
đến nội dung bài học mà giảng viên muốn kiểm
tra. Ngoài ra, chuẩn bị thêm giấy A4 trong đó kẻ
bảng thành nhiều ô vuông nhỏ khác nhau, trong
mỗi ô vuông có ghi một chữ cái khác nhau và
sắp xếp các chữ cái sao cho có thể tạo ra các từ
có nghĩa theo hàng ngang hoặc hàng dọc bất kỳ
(khoảng 10 - 15 từ).
Cách chơi: Giảng viên chia sinh viên thành các
đội nhỏ, mỗi đội khoảng 2-3 người. Giảng viên
phát cho mỗi đội một bảng Bingo đã chuẩn bị sẵn,
sau đó cho các đội xem hình ảnh, trong thời gian
khoảng 30 giây, các đội phải tìm ra được ô chữ
có nghĩa tương ứng với hình ảnh đã xem. Sau khi
xem hết hình ảnh, đội nào tìm được nhiều từ đúng
nhất đội đó sẽ giành chiến thắng.
Từ câm
Mục đích: Giúp kiểm tra đánh giá khả năng
nhớ từ và khả năng giải thích nghĩa của từ bằng
tiếng Thái Lan
Chuẩn bị: Những mảnh giấy nhỏ có ghi từ vựng
liên quan đến nội dung kiến thức cần kiểm tra.
Cách chơi: Giảng viên chia sinh viên thành
hai đội, mỗi đội cử ra một đội trường đại diện,
đứng trước lớp và quay lưng về phía đội của mình.
Giảng viên lần lượt cho các thành viên còn lại của
hai đội xem tờ giấy có ghi từ vựng đã chuẩn bị
sẵn, sau khi giảng viên ra hiệu lệnh bắt đầu chơi
thì 2 đội trưởng mới có quyền quay mặt về phía
của đội mình. Các thành viên còn lại của từng đội
phải dùng các cách giải thích khác nhau bằng tiếng
Thái Lan để đội trưởng của mình có thể đoán đúng
từ mà giảng viên vừa đưa ra, nhưng không được
phép nhắc lại từ đó, đánh vần từ đó hay nói nghĩa
của từ đó bằng một ngôn ngữ khác.
PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY v
Thi viết từ
Mục đích: Giúp kiểm tra đánh giá và luyện tập
kỹ năng viết từ của sinh viên
Chuẩn bị: Giảng viên chuẩn bị lượng từ vựng
nhất định liên quan đến nội dung cần kiểm tra
(khoảng 5-6 từ), nên chọn những từ quan trọng
hay dùng nhưng có cách viết đặc biệt cần lưu ý để
luyện tập cho sinh viên.
Cách chơi: Giảng viên chia sinh viên thành
từng đội nhỏ. Mỗi đội 5-6 người, yêu cầu sinh
viên đứng thành hàng cách bảng viết khoảng 1
mét. Giảng viên đọc từ đã chuẩn bị sẵn, sau khi
đọc xong, dành thời gian khoảng 30 giây để lần
lượt từng thành viên trong mỗi đội lên bảng để viết
từng chữ cái có trong từ được yêu cầu và cứ tiếp
tục thay phiên nhau cho đến khi viết thành từ hoàn
chỉnh (mỗi thành viên trong đội chỉ được viết một
chữ cái). Sau khi đọc hết số lượng từ đã chuẩn bị
sẵn, đội nào viết đúng được nhiều từ nhất sẽ giành
chiến thắng.
Lưu ý: Khi kiểm tra đánh giá khả năng viết từ
của sinh viên giảng viên cần sửa lỗi sai (nếu có)
cho sinh viên và củng cố lại cách viết của các từ
đặc biệt giúp sinh viên nhớ chính xác cách viết
của từ.
Ngôi nhà của tôi
Mục đích: Giúp kiểm tra đánh giá khả năng
nhớ từ và phát âm từ đúng
Chuẩn bị: Một mô hình ngôi nhà bằng giấy rực
rỡ nhiều màu sắc (tạo cảm giác vui tươi bắt mắt
cho sinh viên), hoặc mô hình ngôi nhà đồ chơi.
Cách chơi: Giảng viên cho sinh viên ngồi thành
vòng tròn hoặc hình chữ U. Sinh viên đầu tiên cầm
mô hình ngôi nhà và nói bằng tiếng Thái Lan câu:
“Ngôi nhà của tôi có rất nhiều đồ như là: bàn” sau
đó chuyển ngôi nhà sang cho một sinh viên khác
và yêu cầu sinh viên đó nói lại câu trên cộng thêm
tên một đồ vật khác. Tiếp tục cho đến khi có người
quên mất đi một loại đồ vật hoặc nói nhầm tên
đồ vật đã nói trước đó thì sẽ bị loại. Người chiến
thắng là người còn lại cuối cùng.
3. KẾT LUẬN
Việc áp dụng trò chơi trong giảng dạy để tạo
cảm hứng trong học tập là một phương pháp cần
thiết đối với việc giảng dạy tiếng Thái Lan, nhất
là dạy từ vựng và ngữ pháp. Phương pháp này
giúp người học có thể hiểu và tiếp thu kiến thức
được sâu rộng hơn, góp phần tạo cho buổi học sinh
động và tinh thần sinh viên cũng sẽ thấy thoải mái
hơn, có hứng thú hơn và muốn chủ động tiếp nhận
những kiến thức mới, giúp thay đổi suy nghĩ và
tâm lý dè dặt của mình khi phải tiếp xúc với ngôn
ngữ tượng hình. Bên cạnh việc tạo hứng thú cho
người học, việc áp dụng trò chơi trong các tiết học
còn giúp sinh viên có cơ hội được thể hiện khả
năng của bản thân, phát triển khả năng làm việc
nhóm, rèn luyện tính kỷ luật, tuân thủ các nguyên
tắc đề ra. Hơn thế nữa, việc áp dụng trò chơi trong
giảng dạy còn là phương pháp giúp tăng khả năng
truyền đạt, kỹ năng dạy cho giảng viên và giúp
giảng viên có thể kiểm tra đánh giá trình độ của
sinh viên một cách chính xác nhất./.
Tài liệu tham khảo:
Trần Cẩm Tú (2014), “Tình hình dạy tiếng Thái
Lan tại các trường đại học Việt Nam” (Situation
of thai language teaching in Vietnamese
universities). Kỷ yếu hội thảo khoa học quốc
tế chiến lược ngoại ngữ trong xu thế hội nhập,
Trường Đại học Hà Nội, tr.267- 276.
Stewick, Earl W. (1972), Language Learning
Teaching and Learning English. London:
Longman Group Limited.
Steven J. Brams (1998), Game Theory and
Politics: Encyclopaedia Britannica, Inc
อัจฉารา ชวิพันธ์ (2008), พัฒนาทักษะภาษาพัฒนา
ค ว า ม คิ ด ด้ ว ย กิ จ ก ร ร ม ก า ร เ ล่ น ป ร ะ ก อ บ ก า ร
สอนภาษาไทย.
สำ�นักพิมพิแห่งจุฬาลงกรณ์
มหาวิทยาลัย.
ระวิวรรณ ศรีคร้ามครัน (1998),
มหาวิทยาลัยรามคำ�แหง.
เทคนิคการสอน.
อัจฉารา ชวิพันธ์ (2009), ภาษาพาสอนเรื่องน่ารู้
สำ�หรับครูภาษาไทย. สำ�นักพิมพิแห่งจุฬาลงกรณ์
มหาวิทยาลัย.
KHOA HỌC NGOẠI NGỮ QUÂN SỰ
Số 14 - 7/2018
59
v PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY
CREATING LEARNING MOTIVATION IN TEACHING BASIC THAI VOCABULARY
AND GRAMMAR THROUGH GAMES
PHUNG THI HUONG GIANG
Abstract: Thai is one of the Southeast Asian languages, which is taught formally at the Universities
of Vietnam for many years, however the research document on the teaching and training programs
Thai, especially documents related to Thai teaching methods in Vietnam is still limited.
This article presents the importance of creating inspiration and motivation in basic Thai grammar
and lexicology classes and the characteristics of games applied, with the aim of inspiring students as
well as introducing some applicable games in classes. By means of applying games in the lesson on
vocabulary and grammar, students will feel comfortable and interested in receiving new knowledge
and can apply the knowledge gained into the practice through active games. This method not only helps
teachers develop their teaching skill but also helps evaluate effectively the ability of their students.
Keywords: teaching methods through the games, vocabulary, grammar, Thai
Received: 21/5/2018; Revised: 18/6/2018; Accepted for publication: 20/6/2018
60
KHOA HỌC NGOẠI NGỮ QUÂN SỰ
Số 14 - 7/2018