Lời cảm ơn
Trong thời gian làm luận văn, em đã nhận được nhiều sự giúp đỡ, quan
tâm từ các thầy cô, gia đình và bạn bè. Qua đây, em xin gửi lời cảm ơn chân
thành và sâu sắc đến thầy hướng dẫn TS. Lê Chí Dũng (Hội đồng An toàn hạt
nhân quốc gia, nguyên Cục phó Cục An toàn bức xạ và hạt nhân) đã tận tình giúp
em hoàn thành luận văn này.
Em xin được cảm ơn Th.S Nguyễn An Trung, Th.S Trần Thị Trang, Th.S
Nguyễn Hoàng Anh, Th.S Trương Công Thắng và các anh chị trong phòng an toàn
hạt nhân (Cục an toàn và bức xạ hạt nhân) đã giúp đỡ em trong quá trình em làm
luận văn ở phòng.
Em cũng xin chân thành cảm ơn sự quan tâm, giúp đỡ của các thầy cô
trong bộ môn Vật lý hạt nhân, khoa Vật lý, trường Đại học Khoa học tự nhiên
(Đại học Quốc gia Hà Nội) đã đạy dỗ và động viên em trong suốt thời gian em
học tập tại trường.
Tác giả
MỤC LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
ACC (Accumulators): Bế tích nước cao áp
ADS (Automatic Depressurization System): Hệ thống giảm áp tự động.
DVI (Direct Vessel Injection): Đường dẫn nước trực tiếp vào thùng lò
IRWRT (InContainment Refueling Water Storage Tank): Bể trữ nước thay đảo
nhiên liệu boongke lò.
LOCA (SmallLoss Of Coolant Accident): Sự cố mất nước làm mát nhỏ
PRHR (Passive Residual Heat Removal): Hệ thống tải nhiệt dư thụ động PXS
(Passive core Cooling System): Hệ thống làm mát vùng hoạt thụ động.
PWR (Pressurized Water Reactor): Lò phản ứng nước áp lực.
RCS (Reactor Cooling System): Hệ thống làm mát lò phản ứng.
TMI2 (ThreeMiles Island – 2): Tổ máy thứ 2 nhà máy điện hạt nhân Three Miles
Island.
U.S NRC (United States Nuclear Regulatory Commission): Ủy ban pháp quy hạt
nhân Hoa Kỳ
DANH MỤC BẢNG BIỂU
DANH MỤC HÌNH VẼ
MỞ ĐẦU
Do nhu cầu điện năng tăng cao, năm 2009, Quốc hội đã phê duyệt chủ
trương xây dựng hai nhà máy điện hạt nhân đầu tiên ở nước ta, ở Ninh Thuận,
theo công nghệ do Liên bang Nga (gọi là Ninh Thuận 1) và Nhật Bản (gọi là Ninh
Thuận 2) đề xuất. Dự kiến công nghệ đề xuất cho Ninh Thuận 2 có thể là
AP1000. Vì vậy, Luận văn này đã chọn một nội dung nghiên cứu liên quan đến
AP1000.
AP1000 là lò phản ứng hạt nhân thuộc loại PWR (lò nước áp lực) của Tập
đoàn Westinghouse.Đây là loại lò có nhiều cải tiến theo hướng an toàn thụ động
(Advanced Passive)có mức độ an toàn cao. AP1000 có bình điều áp với thể tích
gần gấp đôi các loại lò cùng công suất.
Nhà máy điện hạt nhân là loại hình sử dụng năng lượng với hiệu suất cao,
nhưng khi tai nạn xảy ra thì thiệt hại vô cùng lớn, nên vấn đề an toàn luôn được
đặt lên hàng đầu. Bất cứ cải tiến nào cũng yêu cầu phải có sự chú ý nghiên cứu
phù hợp. Vì vậy, Luận văn này đề xuất nghiên cứu về bình điều áp và sự cố bình
điều áp có thể xảy ra đối với lò phản ứng AP1000. Sự cố được mô phỏng tính
toán bằng phần mềm RELAP5 – một phần mềm được sử dụng tương đối phổ
cập hiện nay trong tính toán an toàn nhà máy điện hạt nhân nói chung, cũng như
được sử dụng để mô phỏng các sự cố giả định đối với các bộ phận, hệ thống
của nhà máy điện hạt nhân nói riêng.
Do vấn đề an toàn của nhà máy điện hạt nhân được xem xét chủ yếu trên
cơ sở phân tích các sự cố giả định của lò phản ứng hạt nhân. Vì vậy, dưới đây,
trong luận văn này, tác giả sẽ dùng cụm từ “nhà máy điện hạt nhân AP1000” với
cùng ý nghĩa như cụm từ “lò phản ứng hạt nhân AP1000”.
6
1. CHƯƠNG 1. LÒ PHẢN ỨNG AP1000, BÌNH ĐIỀU ÁP
1.1.
Giới thiệu về lò phản ứng AP1000
1.1.1. Giới thiệu chung
Lò phản ứng hạt nhân AP1000 có công suất 1117 MWe, trong luận văn
này, tác giả thống nhất gọi tắt là AP1000. Dựa trên 20 năm nghiên cứu và phát
triển, AP1000 được xây dựng và cải tiến dựa trên các công nghệ đã có từ các bộ
phận đang được sử dụng trong các thiết kế của Westinghouse. Bao gồm bình
sinh hơi, bình điều áp, thiết bị điều khiển – đo đạc, nhiên liệu và thùng lò được
sử dụng rộng rãi trên toàn thế giới và được kiểm chứng qua nhiều năm với độ
tin cậy cao khi vận hành. Các thành phần chính của AP1000 được giới thiệu ở
Hình 1.1
AP1000 thiết kế hướng tới sự an toàn cao và hiệu suất tối ưu. Hệ thống
an toàn được thụ động hóa bằng việc sử dụng các lực tự nhiên: Áp suất, trọng
lực và đối lưu. Bên cạnh đó các tác động điều hành phức tạp để điều khiển sự
an toàn được giảm thiểu.
Vùng hoạt AP1000 bao gồm 157 bó nhiên liệu, chiều dài 4.3 m, sắp xếp
theo mảng 17 17. Vùng hoạt AP1000 gồm ba lớp xuyên tâm có độ giàu khác
nhau; độ giàu của nhiên liệu theo dải từ 2.35 đến 4,8%. Thiết kế một chu kỳ
nhiên liệu của vùng hoạt là 18 tháng với yếu tố công suất là 93%, tốc độ trung
bình lớp phát ra cao cỡ 60000 MWD/t, các thông số chính của AP1000 được chỉ ra
ở Bảng 1.1.
Bảng 1. Các thông số chính của lò AP1000
Thông số
Công suất điện, MWe
Công suất nhiệt, MWt
Áp suất vận hành lò phản ứng, MPa
Nhiệt độ chân nóng, °C (°F)
Số bó nhiên liệu
Kiểu bó nhiên liệu
7
AP1000
1117
3400
15.5
321 (610)
157
17x17
Chiều dài hoạt động thanh nhiên liệu, m (ft)
Hệ số tuyến tính nhiệt, kw / ft
3
3
Lưu lượng nhiệt thùng lò 10m /h(10 gpm)
2 2
Diện tích bề mặt máy tạo hơi nước, m (Ft )
3
3
Thể tích bình điều áp, m (Ft )
4.3 (14)
5.71
68,1 (300)
11.600
(125.000)
59,5 (2100)
Hình 1.Nhà máy điện hạt nhân AP1000
Thùng lò: Thùng lò hình trụ, đầu trên và dưới hình bán cầu, có mặt bích và
có thể tháo rời phục vụ cho việc sửa chữa bên trong hoặc thay đảo nhiên liệu.
Thùng lò chứa vùng hoạt, kết cấu đỡ vùng hoạt, thanh điều khiển và các bộ phận
khác trực tiếp liên quan đến vùng hoạt. Thùng lò còn có các chi tiết bên trong lò
phản ứng, cụm đầu tích hợp (head packager), đường ống và được đỡ trên cấu
trúc bê tông tòa nhà lò.
Thùng lò có lối vào (chân lạnh) và lối ra (chân nóng) đặt tại 2 bề mặt ngang
giữa mặt bích và đỉnh của vùng hoạt. Chân lạnh được đặt trong thùng lò nhằm
cung cấp vận tốc dòng ngang đủ lớn cho lối ra và tạo điều kiện tối ưu cho thiết
bị hệ thống tải nhiệt lò phản ứng. Chân nóng và chân lạnh được sắp xếp lệch
nhau, chất tải nhiệt vào thùng thông qua chân lạnh và chảy xuống phía dưới vùng
hoạt (downcomer), rẽ ở đáy và chảy lên qua vùng hoạt đến chân nóng.
Bình sinh hơi: Có hai cái bình sinh hơi kiểu Delta125 được sử dụng trong
AP1000. Dựa trên thiết kế đã được chứng minh và qua sự cải tiến, bình sinh hơi
có thiết kế đáng tin cậy cao, hoạt động trên cả quá trình xử lý bay hơi hóa học
của vùng nước thứ cấp.
Thiết kế cải tiến của bình sinh hơi bao gồm sự mở rộng của các đường
ống, đường ống được làm từ hợp kim nhiệt 690 niken, cờ rôm, sắt chứa trong
các tấm bảng đục lỗ, cải thiện thanh chống rung, nâng cấp máy chia độ ẩm sơ
8
cấp và thứ cấp, nâng cao tính năng bảo trì và thiết kế một đầu kênh sơ cấp để
truy cập dễ dàng và bảo trì bởi công cụ máy móc. Tất cả các đường ống trong
bình sinh hơi có thể sử dụng ống lót trong khi cần thiết.
Bơm nước làm mát: Có sự quán tính cao, đáng tin cậy, hoạt động ổn định,
động cơ máy bơm được bao kín do đó chu trình nước làm mát chỉ xuyên qua vùng
hoạt, đường ống và bình sinh hơi. Kích thước động cơ giảm thiểu qua việc dùng
biến điều khiển tốc độ để làm giảm yêu cầu động cơ nguồn. Hai máy bơm gắn
trực tiếp vào đầu kênh của mỗi bình sinh hơi. Cấu hình này nhằm tối thiểu sự
giảm áp; đơn giản hoá các nền tảng và hỗ trợ của hệ thống cho bình sinh hơi,
máy bơm và đường ống; và giảm các khả năng rò rì vùng hoạt trong sự cố mất
nước làm mát nhỏ LOCA (SmallLoss Of Coolant Accident). Máy bơm nước làm
mát không có hệ thống dự báo, loại bỏ các khả năng dự báo LOCA sai, điều đó
có ý nghĩa nâng cao sự an toàn và giảm bảo trì máy bơm. Máy bơm dùng một loại
bánh xe (flywheel) làm tăng quán tính quay để đảm bảo khi mất điện máy hơm
vẫn có thể tự quay thêm một thời gian nữa.
Đường ống nước làm mát chính: Đường ống của hệ thống nước làm mát lò
phản ứng RCS được cấu hình từ hai hệ thống đơn giống hệt nhau, mỗi cái sử
dụng một chân nóng có đường kính trong 790 mm (31inch) để vận chuyển nước
làm mát lò phản ứng đến bình sinh hơi. Cả hai vòi của máy bơm nước làm mát lò
phản ứng được hàn trực tiếp đến các kênh lối ra ở đáy của bình sinh hơi. Hai
ống chân lạnh có đường kính trong 560 mm (22inch) trong mỗi hệ thống đơn
vận chuyển nước làm mát lò phản ứng trở lại thùng lò phản ứng để hoàn thiện
một vòng kín.
Máy bơm nước làm mát gắn trực tiếp vào đầu kênh của mỗi bình sinh hơi
cho phép máy bơm và bình sinh hơi có thể dùng cấu trúc hỗ trợ giống nhau, hệ
thống hỗ trợ rất đơn giản và cung cấp nhiều không gian hơn cho quá trình bảo
trì. Đầu kênh bình sinh hơi chỉ có một khối với sự chế tạo và kiểm tra lợi thế
hơn hệ thống đa mảnh hợp thành mối hàn. Sự kết hợp của đầu hút máy bơm vào
9
đáy dưới của đầu kênh bình sinh hơi loại bỏ sự chéo ngang qua các chân lạnh,
như vậy tránh các khả năng rò rỉ vùng hoạt trong sự cố mất nước làm mát nhỏ.
Dễ thấy, cách sắp xếp tập trung của RCS cũng cung cấp những lợi ích
khác: Hai dòng chân lạnh của hai hệ thống đơn giống hệt nhau (ngoại trừ thiết bị
đo đạc và các dòng kết nối nhỏ) bao gồm các khúc uốn cong có độ dẻo để cung
cấp một hướng dòng chảy có sự cản trở thấp để chịu được sự dãn nở khác nhau
giữa các ống kênh nóng và lạnh; Các đường ống được tôi luyện trước sau đó uốn
cong, điều đó sẽ làm giảm chi phí và các yêu cầu kiểm tra khi đang vận hành.
Cấu hình hệ thống đơn và sự lựa chọn vật liệu đường ống phải có sự uốn cong
đủ thấp để cho chu trình sơ cấp và các đường ống phụ lớn đáp ứng được yêu
cầu rò rĩ trước khi vỡ (leakbeforebreak).
1.1.2. Hệ thống tải nhiệt
Hệ thống tải nhiệt AP1000 bao gồm hai hệ thống đơn, mỗi hệ thống đơn
có một chân nóng và hai chân lạnh, bình sinh hơi, hai máy hơm nước đặt ở chân
lạnh của bình sinh hơi và chỉ một bình điều áp cho cả hai hệ thống đơn.
Hệ thống làm mát vùng hoạt thụ động PXS đảm bảo quá trình làm mát
vùng hoạt khi xảy ra những sự cố. PXS tải nhiệt dư từ vùng hoạt, bơm nước cấp
cứu và giảm áp suất mà không cần dùng một thiết bị tác động nào như máy bơm
hay nguồn điện. PXS dùng 3 nguồn nước để làm mát vùng hoạt là bể bù nước
vùng hoạt CMT, bể tích nước cao áp ACC và bể tích nước thay đảo nhiên liệu
IRWST.
Hệ thống CMT thay thế hệ thống phun an toàn áp suất cao HPSI (High
Pressure Safety Injection) của những loại lò phản ứng hạt nhân PWR thông
thường. CMT cung cấp nước trộn với axit boric dưới áp suất cao và dẫn dung
dịch axit boric theo hai đường song song. CMT được thiết kế để hoạt động dưới
mọi áp suất của hệ thống sơ cấp nhờ sự tác động của trọng lực do được đặt cao
hơn những đường ống của hệ thống làm mát lò phản ứng RCS. Một đường điều
chỉnh áp suất nối chân lạnh với đỉnh của CMT và đường ống ra kết nối phần
10
dưới của CMT qua đường dẫn nước trực tiếp vào thùng lò DVI (Direct Vessel
Injection).
ACC của AP1000 giống như ACC của những lò phản ứng hạt nhân PWR
thông thường. ACC có dạng hình cầu chứa ¾ nước lạnh có axit boric và chịu áp
suất nén bởi khí nitơ. Đường ống ra của ACC được kết nối với hệ thống DVI.
Một cặp van kiểm tra (check valves) ngăn chặn nước trong ACC khi vận hành
bình thường. Khi áp suất giảm xuống dưới áp suất của ACC (cộng với áp suất
của van kiểm tra), nước sẽ được đưa vào phần dưới của vùng hoạt downcomer
qua DVI.
Hình 1. Hệ thống làm mát lò phản ứng AP1000
PXS còn có hệ thống tải nhiệt dư thụ động, được thiết kế để tải nhiệt dư
của RCS trong quá trình sự cố. PRHR nằm trong IRWST ở chiều cao trên vùng
hoạt. Đường ống dẫn vào của PRHR được kết nối với một chân nóng trong khi
đó đường ống ra được kết nối với đầu ra của một trong hai bình sinh hơi. Đường
ống vào được mở với áp suất như của RCS, đường ống ra thường bị đóng bởi
hai van cô lập song song để thỏa mãi tiêu chí “sai hỏng đơn”. Trong quá trình vận
hành bình thường, nước trong đường ống của PRHR cân bằng với IRWST. Khi
tín hiệu bơm an toàn SI (Safety Injection) được kích hoạt sau một sự cố, những
van cô lập trên sẽ mở và do đó nhiệt dư của RCS sẽ được truyền đi theo cơ chế
đối lưu tự nhiên. Để gia tăng sự đối lưu tự nhiên, máy bơm sẽ bị ngắt khi tín
hiệu SI khởi động.
Hệ thống nước làm mát thụ động boongke lò PCS, tải nhiệt đối lưu tự
nhiên qua bể tích nước làm mát boongke lò thụ động PCCWST (Passive
Containment Cooling Water Storage Tank) bằng trọng lực. Nó tải nhiệt qua hệ
thống bồn nhiệt cuối cùng UHS (Ultimate Heat Sink) trong trường hợp áp suất
của boongke lò gia tăng quá cao.
11
1.1.3. Hệ thống an toàn
Hệ thống an toàn của AP1000 bao gồm bơm an toàn thụ động, loại bỏ
nhiệt dư thụ động và làm mát boongke lò thụ động. Tất cả những hệ thống thụ
động đáp ứng tiêu chuẩn của Ủy ban pháp quy hạt nhân Hoa Kỳ (U.S NRC) và
các tiêu chuẩn gần đây khác. Hệ thống được thụ động và sử dụng những thành
phần đã được kiểm chứng, đơn giản hóa toàn bộ hệ thống nhà máy, thiết bị,
hoạt động và bảo trì. Sự đơn giản hóa hệ thống nhà máy làm giảm nhiều tác
động phụ thuộc vào sự điều hành khi gặp sự cố. Hệ thống thụ động chỉ dùng lực
tự nhiên như là lực hấp dẫn, lưu thông tự nhiên và nén khí – đây là những nguyên
tắc vật lý đơn giản chúng ta tin cậy hàng ngày. Không có máy bơm, quạt, động
cơ diesel, máy làm lạnh, hoặc máy móc làm quay nào khác trong hệ thống an
toàn. Điều này loại bỏ các nhu cầu cho hệ thống an toàn cần tới nguồn điện xoay
chiều. Một vài van đơn giản liên kết hệ thống an toàn thụ động, khi đó các van
được khởi động một cách tự động. Trường hợp đặc biệt, những van này bị "lỗi
an toàn". Chúng cần năng lượng để trở lại trạng thái bình thường. Trong tất cả
trường hợp, sự vận động của các van này là sử dụng năng lượng lưu trữ từ lò xo,
nén khí hoặc pin.
Thiết kế của AP1000 cung cấp nhiều mức bảo vệ trong việc giảm nhẹ tai
nạn (bảo vệ chiều sâu), kết quả là xác suất hư hại vùng hoạt vô cùng thấp trong
khi giảm thiểu sự cố. Bảo vệ chiều sâu được thiết kế cho toàn bộ nhà máy
AP1000, với vô số tính năng riêng có khả năng cung cấp một số mức độ bảo vệ
an toàn của nhà máy. Có sáu khía cạnh của thiết kế AP1000 góp phần bảo vệ
chiều sâu:
Hình 1. Hệ thống an toàn thụ động
Ổn định hoạt động: Trong hoạt động bình thường, mức căn bản nhất của
bảo vệ chiều sâu đảm bảo rằng nhà máy có thể được hoạt động ổn định và đáng
tin cậy. Điều này đạt được qua sự lựa chọn vật liệu, qua sự bảo đảm chất lượng
12
trong khi thiết kế và xây dựng, qua sự đào tạo tốt người điều hành, qua hệ thống
điều khiển tiên tiến và thiết kế nhà máy, cung cấp gia số đáng kể cho hoạt động
của nhà máy trước khi tiếp cận giới hạn an toàn.
Ngăn chặn bức xạ: Một trong những khía cạnh quan trọng nhất để nhận
diện bảo vệ chiều sâu là bảo vệ an toàn môi trường qua việc ngăn chặn bức xạ
từ nhà máy. Các tia bức xạ được ngăn chặn trực tiếp bởi các lớp bảo vệ này
gồm vỏ nhiên liệu, thùng lò, boongke lò và nhà lò.
Hệ thống an toàn, hệ thống liên quan an toàn thụ động:Được thiết lập đầy
đủ tính tự động và duy trì làm mát vùng hoạt và toàn bộ boongke lò trong một
giai đoạn không giới hạn thời gian. Sau đó thiết kế các sự kiện cơ sở giả định
hạn chế nhất các lỗi đơn, không cần tác động điều hành và không cần sử dụng
nguồn điện.
Đa dạng trong hệ thống an toàn, hệ thống liên quan an toàn:Mức bảo vệ
bổ sung được cung cấp qua các chức năng giảm nhẹ khác nhau. Điều này tồn tại
đa dạng, ví dụ như chức năng loại bỏ nhiệt dư. Trong trường hợp có nhiều lỗi
của hệ thống loại bỏ nhiệt dư, bảo vệ chiều sâu được cung cấp bởi sự bơm an
toàn thụ động và chức năng tự động giảm áp của hệ thống làm mát vùng hoạt
thụ động.
Hư hại vùng hoạt:Thiết kế AP1000 cung cấp hoạt động điều khiển với
khả năng đưa nước vào lò phản ứng trong các sụ kiện mà vùng hoạt bị rò rỉ và
nóng chảy. Điều này ngăn ngừa hư hại thùng lò và tiếp theo là sự di chuyển các
mảnh vỡ nóng chảy vùng hoạt vào boongke lò. Ngăn chặn các mảnh vụn trong
thùng lò làm giảm đáng kể sai số khi đánh giá hư hại boongke lò và phóng xạ
vào môi trường.
Hình 1. So sánh tần số nóng chảy vùng hoạt
Tính năng bảo vệ theo chiều sâu của AP1000 nâng cao sự an toàn nên
không có sự phóng xạ nghiêm trọng từ sản phẩm phân hạch, được dự đoán tới
13
lúc xảy ra từ trạng thái ban đầu nguyên vẹn của boongke lò vào khoảng hơn 100
giờ sau sự công kích mạnh mẽ bởi hư hại vùng hoạt, giả định không có tác động
phục hồi. Lượng thời gian này cung cấp hiệu suất tác động quản lý sự cố để
hạn chế sự cố và phòng ngừa hư hại boongke lò. Tần số nóng chảy vùng hoạt
dự đoán qua tài liệu phân tích xác suất rủi ro PRA (Probabilistic Risk Assessment)
là 1,95x108 lò phản ứng/năm, thấp hơn nhiều với nhà máy khác Hình 1.4.
1.2.
Bình điều áp lò phản ứng AP000
1.2.1. Cấu tạo bình điều áp
Bình điều áp của lò phản ứng AP1000 là bộ phận chính của hệ thống kiểm
soát áp suất chất làm mát lò phản ứng. Bình điều áp là một thùng hình trụ đứng
có đầu trên và đầu dưới hình bán cầu. Trong vận hành bình thường, nước chiếm
khoảng một nửa dung tích bình điều áp. Phần nước này được đun nóng đến nhiệt
độ bão hòa bằng bộ gia nhiệt trong suốt quá trình vận hành bình thường. Nước
và hơi nước trong bình duy trì ở điều kiện bão hòa cân bằng.
Hình 1. Bình điều áp lò AP1000
Một đầu phun giảm áp, 2 đầu ra van an toàn và van giảm áp được đặt ở đầu
trên, bộ gia nhiệt dùng điện được bố trí ở đầu dưới và có thể tháo rời để thay
thế. Đầu dưới bao gồm một vòi gắn với đường nối bình điều áp với chân nóng.
Trong quá trình co và giãn nở nhiệt hệ thống chất làm mát, dòng chất làm mát đi
vào và đi ra khỏi bình điều áp thông qua đường nối này. Cấu tạo bình điều áp lò
phản ứng AP1000 được thể hiện qua Hình 1.5.
1.2.2. Van an toàn của bình điều áp
Hai van an toàn của bình điều áp là loại van tự dẫn động, tải lò xo có chức
năng giảm áp. Các van này được đặt ở nắp bình điều áp. Khi áp suất hệ thống
vượt quá áp suất phát động của các van này, thì áp suất sẽ được xả vào boongke
lò. Áp suất phát động của van là 17,23 MPa. Áp suất phát động và khả năng kết
14
hợp của chúng được thiết lập dựa trên nguyên tắc áp suất hệ thống chất làm mát
lò phản ứng không được vượt quá giới hạn áp suất tối đa trong điều kiện vận
hành mức B mất tải nhất thời (110% của 17,23 MPa).
Hình 1. Hệ thống giảm áp thụ độngtrong lò phản ứng AP1000
Kích thước van an toàn của bình điều áp được thiết kế dựa trên phân tích sự
cố mất toàn bộ dòng hơi nước đến tuabin khi lò phản ứng đang vận hành ở công
suất 102%. Tốc độ xả của van được yêu cầu ít nhất là bằng tốc độ dòng lớn
nhất từ đường ống nối bình điều áp với chân nóng vào bình điều áp trong suốt
quá trình chuyển tiếp sự cố này.
1.2.3. Hệ thống van giảm áp tự động ADS
Một số chức năng của hệ thống làm mát vùng hoạt thụ động của lò AP1000
được thiết kế dựa trên việc giảm áp của hệ thống chất làm mát lò phản ứng.
Chức năng này được thực hiện nhờ các van giảm áp thụ động ADS. Các van
giảm áp tự động gắn với bình điều áp được sắp xếp thành 6 bộ song song, mỗi
bộ gồm 2 van nối tiếp mở theo 3 giai đoạn. Khi áp suất hệ thống vượt quá áp
suất phát động của các van này, thì hơi nước sẽ được xả vào bể chứa trữ nước
tiếp nhiên liệu trong boongke lò IRWRT. Ngoài ra, một bộ van giảm áp tự động
giai đoạn thứ 4 được nối với mỗi chân nóng của lò phản ứng. Mỗi bộ gồm 2
nhánh song song, mỗi nhánh gồm 2 van đặt nối tiếp nhau. Hơi nước được xả từ
các van này trực tiếp ra boongke lò.
Để giảm thiểu hậu quả các kịch bản sự cố khác nhau, bộ điều khiển được
sắp xếp để mở van theo thứ tự định trước dựa vào mức nước bể bổ sung nước
cho vùng hoạt CMT và bộ định giờ. Các van ADS thứ 1,2 và 3 được phát động
khi mực nước trong bể bổ sung nước cho vùng hoạt giảm đến 67.5% và van ADS
thứ tư phát động khi mực nước trong bể bổ sung nước cho vùng hoạt giảm đến
20%.
Bảng 1. Các thông số thiết kế của bình điều áp
Bình điều áp
15
Thể tích (ft3)
Thể tích nước (ft3)
Đường kính trong (in.)
Chiều cao (in.)
Áp suất thiết kế (MPa)
Nhiệt độ thiết kế (°F)
Đường kính đường nối bình điều áp với chân nóng (in)
Chiều dày thành đường nối bình điều áp với chân nóng
2.100
1.000
90
607
17,23
680
18
1,78
(in)
Đường kính đường ống phun giảm áp (in)
Áp suất van phun giảm áp (bắt đầu mở, MPa)
Áp suất van phun giảm áp (mở hoàn toàn, MPa)
4
15,68
16,03
Bảng 1. Các thông số thiết kế của van an toàn của bình điều áp
Số lượng
Đường kính đầu van an toàn (in.)
Khả năng xả yêu cầu tối thiểu cho mỗi van (lb/h)
Áp suất thiết lập (MPa)
Nhiệt độ thiết kế (0F)
Dung dịch
2
14
750.000
17,23 ± 0,27
680
Hơi bão hòa
Bảng 1. Áp suất kích hoạt của các van ADS
P Thiết kế (MPa)
P Thông
thường
(MPa) (a)
Van ADS giai đoạn thứ nhất
Van cô lập ADS giai đoạn thứ nhất
Van ADS giai đoạn thứ 2
Van cô lập ADS giai đoạn thứ 2
Van ADS giai đoạn thứ 3
Van cô lập ADS giai đoạn thứ 3
MỞ
15,51
15,51
8,38
8,38
3,55
3,55
Lưu ý:
a.i.a)
Áp suất vận hành thông thường như kỳ vọng
16
ĐÓNG
15,51(b,c)
15,51
0,79(b)
0,79
0,79
0,79
MỞ
17,23
17,23
17,23
2.485
2.485
2.485
ĐÓNG
17,23
17,23
8,38
8,38
8,38
8,38
a.i.b)
Van được ngăn không cho đóng đến khi tín hiệu ADS được thiết lập
lại
a.i.c)
Van ADS giai đoạn thứ nhất có thể được kích hoạt bằng tay để có
sự giảm áp được kiểm soát hoặc thông khí.
1.2.4. Sự cố bình điều áp
Trong lịch sử, tuy chúng ta thấy không thấy có nhiều những sự cố của nhà
máy điện hạt nhân nhưng khi đã cố sảy ra thì hậu quả vô cùng lớn. Nguyên nhân
dẫn tới sự cố thì rất nhiều, trong đó liên quan tới bình điều áp cũng là một trong
những nguyên nhân chính. Lịch sử đã chứng kiến thảm họa Three Miles Island
với hậu quả là sự nóng chảy vùng hoạt tổ máy thứ 2 của nhà máy TMI2.Nhà
máy điện Three Miles Island đặt gần Harrisburg, Pennsylvania Mỹ. Nó có hai lò
phản ứng áp lực nước. Đầu tiên là một PWR với công suất 800MWe và được
đưa vào sử dụng năm 1974. Tổ máy thứ hai là PWR 906MWe và gần như là
thương hiệu mới.
Sự cố xảy ra tại tổ máy thứ hai của nhà máy vào hồi 4 giờ sáng ngày 28
tháng 3 năm 1979, khi lò phản ứng đang hoạt động với công suất 97%. Nguyên
nhân ban đầu là do một sự cố tương đối nhỏ trong hệ thống nước làm mát thứ
cấp làm cho nhiệt độ nước làm mát sơ cấp tăng. Tại thời điểm đó, một van xả
của bình điều áp vô ý mở, nhưng không được phát hiện, rất nhiều nước làm mát
trong hệ thống nước làm mát sơ cấp đã bị thoát đi. Khi đó, các kỹ thuật viên
không thể chuẩn đoán đúng để dập lò tự động ngoài ý muốn. Do việc thiếu thiết
bị phòng điều khiển và do quá trình đào tạo không đáp ứng đủ tình trạng khẩn
cấp này.
Đáp lại sự mất nước làm mát, bơm cao áp tự động bơm nước thay thế vào
lò phản ứng. Khi nước và hơi nước thoát qua van xả, thì nước thay thế vào bình
điều áp tăng, nâng cao mực nước trong đó. Các kỹ thuật viên được đào tạo rằng
mực nước trong bình điều áp là dấu hiệu đáng tin cậy nhất của lượng nước làm
mát trong hệ thống. Do đó họ nghĩ rằng nước làm mát trong vòng sơ cấp vẫn còn
17
đầy, nên họ đã dừng hệ thống bơm nước cấp cứu áp suất cao (HPIS) trong khi
thực tế thì nước làm mát trong vùng hoạt đã bị thất thoát. Do đó dẫn đến việc tan
chảy vùng hoạt và toàn bộ tổ máy thứ hai đã bị phá hủy. Vụ tai nạn nghiêm trọng
đã gây ra rất nhiều thiệt hại ảnh hưởng tới cả môi trường xung quanh, nhưng
may mắn là không có ai bị ảnh hưởng với phóng xạ.
Luận văn lựa chọn nghiên cứu mô phỏng sự cố tương tự như thảm họa
TMI2 nói trên, cụ thể là sự cố vô ý mở van an toàn của bình điều áp. Sự cố giả
định khi nhà máy đang hoạt động ở trạng thái dừng (là trạng thái nhà máy hoạt
động với các thông số ổn định) thì van xả của bình điều áp bị mở vô ý và bị kẹt
suốt trong quá trình sự cố. Nước làm mát thất thoát ra ngoài theo van van toàn này
dẫn đến việc tăng nhiệt độ và giảm áp suất hệ thống nước làm mát. Sau đó tín
hiệu dập lò được khởi phát đi kèm với các tín hiệu an toàn thụ động. Luận văn
chỉ tập trung nghiên cứu các hiện tượng liên quan tới bình điều áp như áp suất,
nhiệt độ, lưu lượng dòng các các van của bình điều áp.
18
2. CHƯƠNG 2. CHƯƠNG TRÌNH TÍNH TOÁN THỦY NHIỆT RELAP5
2.1. Giới thiệu về chương trình RELAP5
RELAP5 (Reactor Excursion and Leak Analysis Program) là phần mềm tính
toán thủy nhiệt lò phản ứng, cho phép chúng ta phân tích an toàn, thiết kế lò phản
ứng hoặc mô phỏng các sự cố trong trạng thái dừng và chuyển tiếp của hệ thống
làm mát và vùng hoạt lò phản ứng. RELAP5 được phát triển và chỉnh sửa tại
phòng thí nghiệm quốc gia Mỹ Idaho Nationl Engineering Laboratory (INEEL).
Tới phiên bản RELAP5/Mod3 được phát triển cùng Ủy ban pháp quy hạt nhân
Hoa Kỳ U.S NRC và một vài thành viên của ICAP (International Code Assessment
and Application Program). Phiên bản RELAP5/Mod3 được dùng phân tích trong
Luận văn này ra đời vào những năm 90 của thế kỷ trước.
Đặc trưng của RELAP5 là chương trình thủy nhiệt một chiều để mô
phỏng các hệ thống hạt nhân hoặc phi hạt nhân gồm hỗn hợp nước,hơi nước,
khí không ngưng tụ và chất tan. Mô hình thủy nhiệt được phát triển và đánh giá
qua chương trình đánh giá chương trình quốc tế ICAP. Ngoài ra, RELAP5 có thể
được sử dụng để giải quyết nhiều vấn đề thủy nhiệt của nhà máy. Mô hình hóa
các hệ thống một pha và hai pha có thể được thực hiện bằng cách sử dụng nhiều
loại van, trao đổi nhiệt và máy bơm.
RELAP5 tạo nên từ hệ sáu phương trình cơ bản là phương trình bảo toàn
khối lượng, động lượng và năng lượng cho hai pha nước và hơi/khí trong hệ
thống không cân bằng. Trong trường hợp cụ thể, kết hợp với điều kiện biên các
phương trình cơ bản được thiết kế để giải quyết các biến số phụ thuộc, trong đó
có áp suất (P), nội năng theo pha (Ug, Uf), tỷ lệ khối lượng pha ( αg, αf), vận tốc
dòng các pha (Vg, Vf), chất lượng hơi (Xn) và nồng độ Boron (ρb).
19
2.2. Cấu trúc của chương trình RELAP5
2.2.1. Cấu trúc của chương trình
Chương trình RELAP5có cấu trúc “trên – xuống”và được tổ chức theo
dạng môđun thể hiện trong Hình 2.1
Hình 2. Cấu trúc chương trình RELAP5
Cấu trúc chương trình ở mức cao nhất được chia thành 3 khối:
+ INPUT: Có nhiệm vụ đọc tệp dữ liệu đầu vào, kiểm tra và xử lý dữ liệu
nhập vào (New, Restart, Initialization…)
+ STRIP: Trích dữ liệu từ tệp RESTART.
+ TRNCTL: Có nhiệm vụ lựa chọn giải bài toán thủy nhiệt ở chuyển tiếp
hay trạng thái dừng. Gồm có các tổ chức thấp hơn:
TRANSET: Kết nối thông tin giữa các khối dữ liệu, cài đặt mảng để
điều khiển matrix giải.
TRANFIN: Được thực thi khi TRAN kết thúc chương trình con giải
phóng không gian cho các khối dữ liệu động học.
TRAN: Kiểm tra sự phát triển chuyển tiếp của lời giải, gần như mọi
thời gian được thực thi trong khối này, tiêu tốn nhiều bộ nhớ nhất và
gần như mọi khối dữ liệu động phải ở trong bộ nhớ trung tâm và bộ
nhớ yêu cầu khởi tạo; lưu trữ thường xuyên. Tổ chức thấp hơn của
TRAN là:
o DTSTEP: Quyết định kích cỡ của bước thời gian. Trong suốt
thồi gian chương trinh thực hiện, môđun này hiển thị lên màn
hình thông tin: thời gian chíp, thời gian bài toán,kích thước bước
thời gian.
o TRIP: Định giá trị các câu lệnh logic. Mỗi lệnh chíp là một câu
lệnh đơn giản trả về giá trị logic đúng hoặc sai. Ví dụ thành
20
phần van được cung cấp rằng đóng hay mở van trên cơ sở giá trị
của chíp.
o TSTATE: Phương trình trạng thái ở các thể tích biên, tính toán
trạng thái thủy lực của chất lỏng tại mỗi miền biên. Chương
trình con này tính toán vận tốc phụ thuộc vào thời gian tại mối
nối.
o HTADV: Giải phương trình truyền dẫn nhiệt,nó tính toán nhiệt
truyền qua mặt chất lỏng của miền thủy động.
o HYDRO: Giải phương trình thủy động.
o RKIN: Tính toán trạng thái năng lượng trong lò phản ứng sử
dụng gần đúng động học điểm.
o CONVAR: Cung cấp cả khả năng mô phỏng hệ thống tự động
sử dụng hệ thống thủy động.
2.2.2. Cấu trúc tệp dữ liệu đầu vào
Tệp dữ liệu đầu vào của RELAP5 mô tả toàn bộ các thuộc tính của hệ
thống thủy nhiệt cần tính toán. Do đó, trước khi viết tệp dữ liệu đầu vào cần thu
thập toàn bộ số liệu và hệ thống thủy nhiệt như: vật liệu trông cấu trúc nhiệt,hệ
số dẫn nhiệt của cấu trúc nhiệt, tiết diện dòng chảy của ống dẫn nước, tốc độ
bơm của bơm, chi tiết về vùng hoạt,…
Một số lưu ý khi mô hình hóa và viết tệp dữ liệu đầu vào:
+ Việc mô hình hóa phụ thuộc vào dạng chuyển tiếp
+ Kích thước của thể tích thỏa mãn điều kiện L/D >=1
+ Tiêu đề của bài toán bắt đầu bằng dấu “=”
+ Chú thích một dòng bằng dấu “*” hoặc dấu “$”
+ Các dữ liệu khác nhau cách nhau bằng dấu “space”
+ Độ dài tối đa của một dòng là 96 ký tự, trong đó 80 ký tự đầu được
sử dụng, các ký tự sau để ghi chú
21
+ Số các dấu cách không bắt buộc
+ Mỗi dòng số liệu nhập vào đều có một thẻ mô tả số liệu gì được
nhập vào, do đó trật tự các dòng có thể thay đổi.
Các thẻ trong tệp dữ liệu đầu vào của RELAP5 được tóm tắt trong Bảng
2.1
Bảng 2. Định dạng thẻ trong RELAP5
Thẻ
1 – 199
200 – 299
301 399
Các thành phần được mô tả
Dữ liệu mô tả bài toán
Điều khiển bước thời gian
Hiệu chỉnh lỗi nhỏ
407 – 799 hoặc 20600000 Đóng, ngắt
– 20620000
801 – 899
1001 – 1999
CCCXXNN
1CCCGXNN
6SSNNXXX
201MMMNN
202TTTNN
20300000 – 20349999
205CCCNN
30000NNN
22
Dữ liệu ảnh hưởng
Yêu cầu đóng/ngắt hoặc so sánh tập tin kết xuất
Dữ liệu cấu trúc thủy động
Dữ liệu cấu trúc nhiệt
Mô hình bức xạ
Thuộc tính của cấu trúc nhiệt
Bảng dữ liệu chung
Hình vẽ yêu cầu
Thành phần điều khiển hệ thồng
Dữ liệu động học lò
2.2.3. Dữ liệu mô tả bài toán
Thẻ 100 – kiểu bài toán và thuộc tính. Thẻ này luôn được yêu cầu phải có
trong mỗi tập tin đầu vào.
Cấu trúc thẻ đầu vào: 100 W1 W2
W1: Kiểu bài toán,được mô tả ở dữ liệu đầu tiên trong các từ sau: NEW,
RESTART.
W2: Thuộc tính,nếu dữ liệu thứ nhất là NEW hay RESTART thì dữ liệu thứ
hai là STDYST hay TRANSNT (mô tả bài toán dừng hay chuyển tiếp).
Ví dụ về thẻ 100 hay dùng: 100 NEW TRANSNT
Thẻ 101 – thuộc tính kiểm tra input hay chạy.
Cấu trúc thẻ đầu vào: 101 W1
W1: Dữ liệu nhập vào có thể là INPCHK hay RUN. Nếu INPCHK thì
chương trình sẽ dừng lại sau khi quá trình xử lý tệp tin đầu vào kết thúc. Nếu
RUN được nhập chương trình sẽ thực thi tập tin đầu vào sau quá trình xử lý dữ
liệu đầu vào.
Thẻ 102 – thẻ lựa chọn đơn vị. Thẻ này có hai dữ liệu mô tả đơn vị của dữ
liệu đầu vào và đầu ra. Đơn vị có thể dùng là hệ SI hay BRITISH.
Cấu trúc thẻ đầu vào: 102 W1 W2
W1: Đơn vị của dữ liệu đầu vào.
W2: Đơn vị của dữ liệu đầu ra, nếu không được nhập thì mặc định là SI.
Thẻ 103 điều khiển tệpdữ liệu khởi động lại.
Cấu trúc thẻ đầu vào: 103 W1 W2 W3 W4 W5 W6
Thẻ này được yêu cầu nhập với mọi kiểu bài toán được mô tả trong W1
của Thẻ 100 trừ trường hợp NEW. Nếu bài toán là kiểu NEW mà khai báo thẻ
này chương trình dễ báo lỗi.
W1: mô tả số khởi động lại.
W2 – W6: Mô tả tên hình vẽ của tập tin khởi động lại.
23
Thẻ 110 – thành phần khí không ngưng tụ.
Cấu trúc thẻ đầu vào: 110 W1 – WN
Các tham số theo sau Thẻ 110 mô tả các thành phần khí không ngưng tụ sử
dụng trong bài toán.Thẻ này không được nhập trong bài toán restart. Các khí
không ngưng tụ có thể sử dụng là: ARGON, HELIUM, HYDROGEN, XENON,
KRYPTON, AIR, hoặc SF6. Thành phần khối lượng của các khí không ngưng tụ
này được mô tả trong thẻ 115.
Thẻ 200 – 299 Điều khiển bước nhảy thời gian trong quá trình tính toán.
Cấu trúc thẻ đầu vào: 2XX W1 W2 W3 W4 W5 W6 W7
W1: Thời gian kết thúc việc cài đặt các tham số trong thẻ này.
W2: Bước thời gian tối thiểu.
W3: Bước thời gian tối đa.
W4: Thuộc tính điều khiển.
W5: Điều chỉnh nhỏ và tần số vẽ.
W6: Tần sốđiều chỉnh lớn.
W7: Tần số bắt đầu lại
2.2.4. Thành phần điều khiển
Để mô tả các thành phần được điều khiển trong hệ thống như: bơm, bật
hay tắt, van được mở hay đóng,…chúng ta sử dụng thành phần điều khiển. Mỗi
thành phần điều khiển bao gồm các biến và các biểu thức logic. Các biến được
mô tả bằng các thẻ 401 – 599 hoặc 20600010 – 20610000.
Cấu trúc thẻ đầu vào: 501 W1 W2 W3 W4 W5 W6 W7 W8
W1,W2: Biến dữ liệu(trong ví dụ là vận tốc khối chất lỏng qua mối nối
315000000)
W4,W5: dữ liệu tương ứng với W1,W2.
W3: Quan hệ so sánh có thể là: lớn hơn (GT), nhỏ hơn (LT), bằng (EG),...
W6: Hằng số cộng thêm vào.
W7: Chỉ số chốt.
24
W8: Thường bằng 1,0.
Ví dụ về biến: 502 mfloj 315000000 lt null 0 19,4 l 1,0
Dòng dữ liệu đầu vào trên có nghĩa là khi vận tốc khối chất lỏng qua mối
nối 315000000 nhỏ hơn 19,4 thì giá trị biến 502 sẽ là đúng.
Các thành phần điều khiển được sử dụng để mô phỏng các thành phần có
thể điều khiển và được sử dụng trong các vấn đề như: phân tích hoạt động của
lò phản ứng, mô tả kịch bản tai nạn…
2.2.5. Dữ liệu cấu trúc thủy động
Mô hình thủy động trong RELAP5 được mô hình hóa thông qua hai thành
phần cơ bản đó là khối (volume) và mối nối (juntion). Khối chứa tham số nhiệt
động có hướng tại tâm như: nhiệt độ, áp suất, nội năng, mật độ,…Mối nối chứa
các tham số nhiệt động có hướng như: vận tốc, lưu lượng dòng,…
Khối là các dòng có lối vào ra. Các khối được nối với nhau bằng các mối
nối tạo thành các dòng chảy chứa chất lưu. Dữ kiệu cơ bản của thành phẩn thủy
động gồm:
+ Hình học: Diện tích dòng chảy, Chiều dài, Thể tích, Góc, Chênh lệch độ
cao, Ma sát thành ống, Đường kính thủy nhiệt, Cờ điều khiển…
+ Điều kiện đầu: Áp suất, Nhiệt độ, Dòng chảy….
Thành phần thủy động là thành phần không thể thiếu trong tất cả các bài
toán phân tích thủy nhiệt.Do đó, thẻ dữ liệu đầu vào cho thành phần thủy động
bắt buộc phải có. Thẻ cho thành phần thủy nhiệt có dạng CCCXXNN với CCC
là số đại diện cho thành phần thủy động. XX là kiểu thẻ và NN là số cho kiểu
thẻ tương ứng.
Một thẻ không thể thiếu cho tất cả các thành phần thủy động là thẻ
CCC0000 Thẻ khai báo tên kiểu của thành phần thủy động.
Cấu trúc thẻ đầu vào: CCC0000 W1 W2
W1: Gồm tối đa 8 kí tự là tên của thành phẩn thủy động
25