Tải bản đầy đủ (.pdf) (259 trang)

Luận án Tiến sĩ: Thích ứng với hoạt động dạy học của giảng viên trẻ tại các học viện, trường đại học Công an nhân dân

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.85 MB, 259 trang )

Lời cam đoan
Tôi   xin   cam   đoan   đây   là   công  
trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số  
liệu, kết quả  trong luận  án là trung  
thực, có nguồn gốc, xuất xứ rõ ràng.
TÁC GIẢ LUẬN ÁN

Trần Thu Hương


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Chương 1 CƠ  SỞ  LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA THÍCH 
ỨNG  VỚI HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC CỦA GIẢNG  
VIÊN TRẺ  TẠI CÁC HỌC VIỆN, TRƯỜNG  ĐẠI 
HỌC CÔNG AN NHÂN DÂN
1.1.
Các khái niệm cơ bản
1.2.
Cấu trúc tâm lý thích  ứng với hoạt động dạy học của 
giảng viên trẻ  tại các học viện, trường đại học Công an 
nhân dân
1.3.
Đặc điểm của đội ngũ giảng viên trẻ  và đặc điểm hoạt  
động dạy học tại các học viện, trường đại học Công an  
nhân dân
1.4.
Những yếu tố  cơ  bản  ảnh hưởng  đến thích  ứng với  
hoạt động dạy học của giảng viên trẻ
1.5.


Tiêu chí cơ  bản đánh giá mức độ  thích  ứng với hoạt 
động   dạy   học   của   giảng   viên   trẻ   tại   các   học   viện,  
trường đại học Công an nhân dân
Chương 2 TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1.
Nghiên cứu lý luận 
2.2.
Nghiên cứu thực tiễn 
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1.
Thực trạng thích  ứng với hoạt động dạy học của giảng 
viên trẻ  tại các học viện, trường đại học Công an nhân 
dân
3.2.
Kết quả  nghiên cứu các yếu tố cơ  bản ảnh hưởng tới 
thích ứng với hoạt động dạy học của giảng viên trẻ tại 
các học viện, trường đại học Công an nhân dân
3.3.
Biện pháp tâm lý ­ sư  phạm nhằm nâng cao  mức độ 
thích ứng với hoạt động dạy học của giảng viên trẻ tại 
các học viện, trường đại học Công an nhân dân
3.4.
Thực nghiệm tác động
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

3
10

24
24


37

55
60

68
75
75
77
87
87

124

132
169
181


DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC

186
187
196


DANH MỤC CÁC BẢNG

STT
Bảng 1.
Bảng 2.
Bảng 3.
Bảng 4.
Bảng 5.
Bảng 6.
Bảng 7.
Bảng 8.
Bảng 9.
Bảng 10.
Bảng 11.
Bảng 12.
Bảng 13.
Bảng 14.
Bảng 15.
Bảng 16.
Bảng 17.
Bảng 18.

NỘI DUNG
Trang
Số lượng và tỷ lệ % khách thể nghiên cứu
80
Cách tính điểm cho mỗi phương án trả lời
83
Số lượng và tỷ lệ % về mức độ  thích ứng với hoạt động 
87
dạy học của giảng viên trẻ
Điểm trung bình và độ  lệch chuẩn về  mức độ  thích  ứng 

88
biểu hiện trên 3 mặt: nhận thức, cảm xúc, hành động
Mức độ thích ứng của giảng viên trẻ với hoạt động dạy học 
89
theo giới tính
Mức độ thích ứng với hoạt động dạy học của giảng viên trẻ 
89
theo thâm niên dạy học
Mức độ thích ứng biểu hiện ở mặt nhận thức
91
Điểm trung bình và thứ bậc các biểu hiện cụ thể về nhận 
91
thức của giảng viên trẻ đối với hoạt động dạy học
Mức độ hài lòng của giảng viên trẻ
96
Điểm trung bình và thứ  bậc về  sự  hài lòng của giảng viên  
97
trẻ
Kết quả thực hiện các hành động dạy học của giảng viên  
103
trẻ
Điểm trung bình và thứ bậc các biểu hiện cụ thể về hoạt  
104
động dạy học của giảng viên trẻ
Điểm trung bình và thứ bậc về thực hiện hành động soạn 
108
giáo án của giảng viên trẻ theo các nội dung cụ thể
Điểm trung bình và độ  lệch chuẩn về  hành động giảng 
111
dạy trên lớp

Điểm trung bình và thứ bậc về thực hiện hành động kiểm  
113
tra, đánh giá của giảng viên trẻ theo các nội dung cụ thể
Điểm trung bình và thứ bậc về thực hiện hành động biên 
116
soạn giáo tài liệu dạy học
Điểm   trung   bình   và   thứ   bậc   về   thực   hiện   hành   động 
118
nghiên cứu khoa học
Điểm trung bình và thứ bậc về hành động hướng dẫn học  120


Bảng 19.

viên tự học, tự nghiên cứu
Điểm trung bình và thứ  bậc về  hành động thực hiện mối  

Bảng 20.

quan hệ xã hội
Điểm trung bình và thứ bậc về mức độ ảnh hưởng của các 
yếu tố chủ quan đến thích ứng với hoạt động dạy học của 
giảng viên trẻ do giảng viên trẻ và lãnh đạo khoa, bộ môn 

Bảng 21.

122

126


đánh giá
Điểm trung bình và thứ  bậc về  mức độ   ảnh hưởng của 
các yếu tố  khách quan đến thích  ứng với hoạt động dạy  
học  của  giảng  viên  trẻ   do  giảng  viên   trẻ  và  lãnh   đạo 

Bảng 22.
Bảng 23.
Bảng 24.

khoa, bộ môn đánh giá
Kế hoạch giúp giảng viên trẻ thích ứng của khoa, bộ môn
Giảng viên trẻ xây dựng và thực hiện kế hoạch thích ứng
Mức độ  thực hiện hành động biên soạn tài liệu dạy học 

Bảng 25.

của nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng
Điểm trung bình và thứ bậc về thực hiện hành động biên 
soạn   tài   liệu   dạy   học   của   thực   nghiệm   và   nhóm   đối 
chứng

129
162
163
169
170


3
MỞ ĐẦU

1. Giới thiệu khái quát về luận án
Trong môi trường tự nhiên và xã hội luôn biến động, phát triển không 
ngừng, con người cần có sự thích ứng để  hòa nhập nhanh với sự biến đổi 
và phát triển đó. Vấn đề thích ứng được nhiều nhà tâm lý học, tâm lý giáo 
dục nghiên cứu  ở  nhiều góc độ  khác nhau nhằm tìm ra bản chất của vấn  
đề  thích  ứng, các yếu tố   ảnh hưởng đến thích  ứng, đề  ra các giải pháp 
nâng cao khả năng thích ứng của con người. 
“Thich 
́ ưng v
́
ơi hoat đông day hoc cua giang viên tre t
́
̣
̣
̣
̣
̉
̉
̉ ại cac hoc
́
̣  
viên, tr
̣
ương đai hoc 
̀
̣
̣ Công an nhân dân” là công trình nghiên cứu thích ứng  
mang tính chất đặc thù về  hoạt động dạy học của giảng viên trẻ  trong 
Công an nhân dân (CAND). Công trình nghiên cứu có tính độc lập, chưa có 
tác giả nào ở Việt Nam và trên thế giới nghiên cứu, do đó đảm bảo yêu cầu 

nghiên cứu.
Trên cơ  sở  khái quát và nghiên cứu các công trình có liên quan đến 
vấn đề  nghiên cứu, đề  tài đã xây dựng khái niệm về  thích  ứng với hoạt  
động dạy học của giảng viên trẻ tại các học viện, trường đại học  CAND; 
xác định cấu trúc và các yếu tố   ảnh hưởng đến thích  ứng với hoạt động 
dạy học của giảng viên trẻ; xây dựng các biện pháp tâm lý ­ sư  phạm  
nhằm nâng cao mức độ  thích  ứng đối với hoạt động dạy học của giảng  
viên trẻ tại các học viện, trường đại học CAND.
2. Lý do lựa chọn đề tài luận án
Chất lượng dạy học của đội ngũ giảng viên là một trong những yếu  
tố quan trọng đảm bảo chất lượng giáo dục và đào tạo. Đảng và Nhà nước  
luôn coi trọng phát triển đội ngũ giảng viên trong sự nghiệp giáo dục và đã  


4
đề  ra những định hướng, chính sách đúng đắn nhằm nâng cao chất lượng  
đội ngũ giảng viên, đáp  ứng yêu cầu, đòi hỏi của sự  phát triển đất nước.  
Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng đã khẳng định:  
“Phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu. Đổi mới căn bản, toàn diện 
nền giáo dục Việt Nam theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, 
dân chủ  hóa và hội nhập quốc tế, trong đó đổi mới cơ  chế  quản lý giáo  
dục, phát triển đội ngũ giảng viên và cán bộ  quản lý là khâu then chốt” 
[61,   tr.130­131].   Quán   triệt   các   nghị   quyết   của   Đảng, Nhà   nước,   Bộ 
Công an luôn coi trọng phát triển, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo, 
cán bộ  quản lý giáo dục, từng bước hoàn thiện hệ  thống các văn bản 
pháp quy về xây dựng, phát triển đội ngũ nhà giáo CAND, tạo cơ sở pháp 
lý quan trọng để  cơ  quan quản lý và các cơ  sở  đào tạo thống nhất thực  
hiện. Bằng những chủ tr ương đúng đắn và sự quan tâm của lãnh đạo Bộ 
Công an đối với nhà giáo CAND, trải qua 70 năm phát triển, đến nay, đội  
ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục trong CAND đã phát triển cả về 

số  lượng và chất lượng , đáp  ứng tốt nhu cầu giáo dục và đào tạo trong 
từng giai đoạn. 
Cùng với đội ngũ giảng viên các học viện, trường đại học CAND, 
đội ngũ giảng viên trẻ  đang là một lực lượng góp phần quan trọng đảm 
bảo chất lượng giáo dục, đào tạo trong CAND. Hiện nay, đội ngũ giảng 
viên trẻ  tại các học viện, trường đại học CAND chiếm đến 60 ­ 70% số 
lượng đội ngũ giảng viên. Do nhu cầu về  việc mở  rộng quy mô đào tạo 
trong các học viện, trường đại học CAND; và do quy luật tự  nhiên về  sự 
thay thế thế hệ giảng viên nhiều tuổi bằng thế hệ giảng viên trẻ trong các 
học viện, trường đại học CAND cho nên số  lượng giảng viên trẻ  ngày 
càng gia tăng trong những năm gần đây. Bên cạnh những thành tích đã đạt 


5
được, giảng viên trẻ  gặp những khó khăn trong thực hiện hoạt động dạy 
học do nhiều nguyên nhân khác nhau. Về  nguyên nhân khách quan, như:  
khối lượng công việc nhiều; tính chất, mức độ đòi hỏi của hoạt động dạy 
học ngày càng cao, có nhiều sự  thay đổi trong bối cảnh toàn cầu hóa, sự 
phát triển của khoa học, công nghệ  và nền kinh tế  tri thức. Về  nguyên 
nhân chủ quan, như: giảng viên trẻ chưa chủ động tích cực trong việc học  
tập, rèn luyện để  hình thành phẩm chất nhân cách người giảng viên, sĩ  
quan CAND; kỹ  năng thực hiện hành động dạy học chưa tốt…  Bởi vậy, 
giảng viên trẻ  gặp nhiều khó khăn trong việc thực hiện tốt chức trách, 
nhiệm vụ  được giao, như: tổ  chức, thực hiện giảng dạy; biên soạn tài 
liệu dạy học, nghiên cứu khoa học... Bên cạnh đó, giảng viên trẻ  còn có 
những biểu hiện mệt mỏi, căng thẳng trong việc thực hiện hoạt động dạy  
học. Đặc biệt, có một số giảng viên trẻ đã không đáp ứng được yêu cầu dạy 
học, bị điều động sang làm công tác khác. Từ thực trạng trên, đặt ra yêu cầu  
cần thiết phải nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn của thích ứng với hoạt 
động dạy học của giảng viên trẻ  tại các học viện, trường đại học  CAND 

nhằm xây dựng biện pháp nâng cao mức độ  thích  ứng với hoạt động dạy 
học của giảng viên trẻ, góp phần đảm bảo chất lượng giáo dục và đào tạo 
tại các học viện, trường đại học CAND.
Những năm qua, các học viện, trường đại học  CAND  đã có nhiều 
biện pháp nhằm đảm bảo chất lượng giáo dục, đào tạo, nhất là những biện 
pháp nâng cao chất  lượng  dạy học cho  đội ngũ giảng viên. Tuy nhiên,  
những nghiên cứu chuyên sâu về  thích  ứng với hoạt động dạy học của 
giảng viên trẻ chưa được đề cập đến, do đó, nghiên cứu thích ứng với hoạt  
động dạy học của giảng viên trẻ tại các học viện, trường đại học CAND là 


6
đòi hỏi cấp thiết từ thực tiễn yêu cầu phát triển của các học viện, trường  
đại học CAND trong giai đoạn hiện nay.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
3.1. Mục đích nghiên cứu
Làm rõ cơ  sở  lý luận và thực tiễn về  thích  ứng với hoạt động dạy 
học của giảng viên trẻ tại các học viện, trường đại học CAND, luận án đề 
xuất một số biện pháp tâm lý ­ sư phạm nhằm nâng cao mức độ thích ứng 
với hoạt động dạy học của giảng viên trẻ tại các học viện, trường đại học  
CAND.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu, đề tài làm rõ những nội dung sau:
­ Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn thích ứng với hoạt động dạy học 
của giảng viên trẻ tại các học viện, trường đại học CAND.
­ Nghiên cứu thực trạng thích ứng với hoạt động dạy học của giảng 
viên trẻ tại các học viện, trường đại học CAND.
­ Xây dựng biện pháp tâm lý ­ sư phạm nhằm nâng cao thích ứng với 
hoạt động dạy học của giảng viên trẻ  tại các học viện, trường đại học  
CAND.

4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu và giả thuyết khoa học
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Thích ứng với hoạt động dạy học của giảng viên trẻ.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
­ Giới hạn đối tượng nghiên cứu
Mức độ thích ứng với hoạt động dạy học của giảng viên trẻ. 
­ Giới hạn khách thể nghiên cứu


7
Số  lượng 171 giảng viên trẻ  giảng dạy dưới 5 năm và dưới 35 tuổi  
tại Học viện An ninh nhân dân, Học viện Cảnh sát nhân dân, Trường Đại 
học Kỹ thuật ­ Hậu cần CAND vàTrường Đại học Phòng cháy Chữa cháy.
33 cán bộ quản lý, lãnh đạo khoa, bộ môn tại Học viện An ninh nhân 
dân, Học viện Cảnh sát nhân dân, Trường Đại học Kỹ  thuật ­ Hậu cần  
CAND và Trường Đại học Phòng cháy Chữa cháy.
4.3. Giả thuyết khoa học
Thích  ứng với hoạt động dạy học của giảng viên trẻ  tại các học 
viện, trường đại học CAND là quá trình giảng viên trẻ  tích cực thay đổi, 
điều chỉnh tâm lý để đáp ứng yêu cầu của hoạt động dạy học tại các học 
viện, trường đại học CAND. Nếu làm rõ lý luận và thực tiễn về thích ứng 
với hoạt động dạy học của giảng viên trẻ, đánh giá đúng thực trạng thích 
ứng với hoạt động dạy học của họ thì sẽ tìm được những biện pháp tâm lý  
­ sư phạm để nâng cao mức độ thích ứng với hoạt động dạy học của giảng 
viên trẻ tại các học viện, trường đại học CAND.
5. Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu
 5.1. Cơ sở lý luận, thực tiễn
Luận án dựa trên phương pháp của chủ  nghĩa Mác ­ Lênin, tư  tưởng 
Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản Việt Nam, Đảng ủy Công an Trung ương về 
việc hình thành các phẩm chất tâm lý, nhân cách con người và việc xây 

dựng con người xã hội chủ  nghĩa, phát triển đội ngũ giảng viên CAND. 
Luận án còn dựa trên các nguyên tắc phương pháp luận của tâm lý học Mác 
xít. 
Cơ  sở thực tiễn của luận án là hoạt động dạy học của giảng viên trẻ 
tại các học viện, trường đại học CAND hiện nay; báo cáo tổng kết công tác 
dạy học của các học viện, trường đại học CAND và quá trình khảo sát thực  


8
tiễn hoạt động dạy học của giảng viên trẻ  tại các học viện, trường đại học 
CAND.
5.2. Phương pháp nghiên cứu 
Luận án sử  dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu trong khoa 
học xã hội. Cụ thể:
+ Nghiên cứu tài liệu: Nghiên cứu các tài liệu có liên quan đến đề tài, 
nhằm thu thập hệ  thống các cơ  sở  lý luận của luận án, nghiên cứu các 
phương pháp, số liệu để định hướng, làm cơ sở cho việc nghiên cứu. 
+ Quan sát: Nhằm chính xác hóa và bổ  sung số  liệu nghiên cứu. Tác 
giả trực tiếp quan sát hoạt động dạy học của giảng viên thông qua các giờ 
lên lớp; hoạt động soạn giáo án, chuẩn bị  cho hoạt động giảng dạy; các 
hoạt động nghiên cứu khoa học và các hoạt động khác của nhà trường.
  + Điều tra bằng bảng hỏi: Đây là phương pháp chính của luận án 
nhằm đánh giá thực trạng của vấn đề nghiên cứu. 
 + Chuyên gia: Lấy ý kiến của các chuyên gia về  những vấn đề  liên 
quan đến luận án, cho phép tranh thủ vốn sống, vốn tri thức và kinh nghiệm  
về hoạt động dạy học của các chuyên gia nhằm hỗ trợ cho các phương pháp  
trên.
+ Tọa đàm, phỏng vấn: Là phương pháp bổ trợ, phỏng vấn trực tiếp  
một số học viên, giảng viên, cán bộ  quản lý giáo dục nhằm chính xác hoá 
những thông tin thu được từ phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi hoặc bổ 

sung những thông tin mới cần thiết cho việc nghiên cứu.
+ Phân tích kết  quả  hoạt  động: Nghiên cứu  thực  tiễn hoạt  động 
giảng dạy của giảng viên trẻ  tại các học viện, trường đại học CAND để 
đánh giá thực trạng thích  ứng của giảng viên trẻ  đối với hoạt động dạy 
học.


9
+ Phương pháp mô tả chân dung: Mô tả  một số chân dung về  giảng  
viên trẻ  trong thực hiện hoạt động dạy học tại các học viện, trường đại 
học CAND nhằm làm rõ hơn vấn đề nghiên cứu của luận án.
+ Phương pháp xử  lý số  liệu bằng thống kê toán học: xử  lý số  liệu  
bằng phép toán trên chương trình phần mềm SPSS: Tính tần suất trả lời các 
phương án, tính tỷ lệ %, điểm trung bình nhằm đánh giá thực trạng vấn đề 
nghiên cứu. 
6. Những đóng góp mới của luận án
Luận án có những đóng góp cơ bản sau:
­ Xây dựng khái niệm thích  ứng với hoạt động dạy học của giảng  
viên trẻ tại các học viện, trường đại học CAND.
­ Chỉ  ra cấu trúc tâm lý thích  ứng với hoạt động dạy học của giảng  
viên trẻ tại các học viện, trường đại học CAND.
 ­ Xác định tiêu chí đánh giá thích  ứng; làm rõ những đặc điểm của  
đội ngũ giảng viên trẻ  và đặc điểm hoạt động dạy học tại các học viện, 
trường đại học CAND.
­ Đánh giá thực trạng thích  ứng với hoạt động dạy học của giảng  
viên trẻ tại các học viện, trường đại học CAND.
­ Làm rõ những yếu tố   ảnh hưởng tới thích  ứng với hoạt động dạy 
học của giảng viên trẻ tại các học viện, trường đại học CAND.
­  Đề  xuất một s ố  bi ện pháp tâm lý ­ sư  phạm nh ằm nâng cao  
mức độ  thích  ứng v ới hoạt độ ng dạ y họ c củ a gi ảng viên trẻ  tạ i các 

họ c việ n, tr ườ ng đạ i họ c CAND.
7. Ý nghĩa lý luận, thực tiễn của luận án
Về lý luận: Luận án góp phần bổ sung, phát triển lý luận về thích ứng  
với hoạt động dạy học của giảng viên trẻ nói chung, giảng viên trẻ  tại các 
học viện, trường đại học CAND nói riêng.


10
Về thực tiễn: Luận án cung cấp cơ sở lý luận và thực tiễn cho cấp ủy  
Đảng, Ban Giám đốc, Ban Giám hiệu các học viện, trường đại học về công 
tác lãnh đạo, chỉ đạo nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên nói chung và 
đội ngũ giảng viên trẻ nói riêng đáp ứng nhiệm vụ bảo vệ an ninh Tổ quốc.  
Đồng thời, kết quả  nghiên cứu của luận án còn được sử  dụng làm tài liệu 
tham khảo, nghiên cứu, học tập trong công tác dạy học, quản lý giáo dục và  
lãnh đạo tại các học viện, nhà trường nói chung và trong Công an nói riêng.
8. Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận án  
được kết cấu 3 chương, 11 tiết.


11
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
THÍCH ỨNG VỚI HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC CỦA GIẢNG VIÊN TRẺ
TẠI CÁC HỌC VIỆN, TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG AN NHÂN DÂN
1. Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
Thích ứng có vai trò quan trọng, quyết định hiệu quả  của hoạt động 
của cá nhân. Người đầu tiên nghiên cứu về  thích  ứng là H.Spencer (1820­
1903), nhà tâm lý học người Anh, với tác phẩm nổi tiếng “Những nguyên  
lý của tâm lý học” (1895). Trong tác phẩm này, H.Spencer đã phân tích quá 
trình thích  ứng  ở  con người dựa trên học thuyết tiến hóa và đưa ra quan  

điểm: “Cuộc sống là sự  thích  ứng liên tục của các mối quan hệ  bên trong 
với mối quan hệ  bên ngoài” [89]. H.Spencer đã mở  ra con đường nghiên 
cứu quan trọng về thích ứng. Trong khoa học tâm lý hiện nay, vấn đề thích  
ứng được nghiên cứu trên nhiều loại khách thể và có nhiều hướng nghiên 
cứu khác nhau. Trong luận án tập trung tổng quan ba hướng nghiên cứu về 
thích ứng gần với đề tài nghiên cứu luận án, đó là: thích ứng với hoạt động  
nghề nghiệp, thích ứng với hoạt động học tập và thích ứng với hoạt động 
dạy học. 
1.1. Nghiên cứu thích ứng với hoạt động nghề nghiệp
Thích ứng nghề nghiệp là quá trình thay đổi của cá nhân để  đáp ứng  
yêu cầu về  nhận thức, thái độ, kỹ  năng nghề  nghiệp. Các tác giả  nghiên 
cứu về  thích  ứng với hoạt động nghề  nghiệp trên thế  giới và trong nước  
thường tập trung vào đối tượng sinh viên, người học trong quá trình thích 
ứng nghề tại trường học hơn là các cơ quan, đơn vị sản xuất, kinh doanh.
Các tác giả  Peter Creed, Tracy Fallon, Michell Hood thuộc trường  
Đại học Griffth của Australia đã có công trình nghiên cứu về: “Mối quan  
hệ  giữa thích  ứng nghề  nghiệp và mối quan tâm về  nghề  trong giới trẻ” 


12
[73]. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng: Thích ứng nghề nghiệp có mối quan  
hệ  bên trong và có thể  bị   ảnh hưởng bởi nhân tố  đầu tiên (kế  hoạch xây 
dựng nghề, khám phá nghề, xu hướng nghề, sự  ra quyết  định nghề…). 
Những nhân tố  nghề  có mối quan hệ  nội hàm và bị   ảnh hưởng bởi nhiều 
nhân tố khác.
Tác giả  R.D. Duffy và D.L. Blustein cho rằng khả  năng thích  ứng  
nghề  nghiệp được hiểu như  là sự  tự  quyết định về  nghề, sự  tự  lựa chọn  
nghề,   tự   mong   muốn   đạt   được   kết   quả   nhất   định   về   nghề,   tìm   kiếm 
trường học nghề  phù hợp với khả  năng của mình…[72]. Để  hoạt động 
nghề  nghiệp đạt hiệu quả  đòi hỏi mỗi cá nhân phải thích  ứng với nghề 

nghiệp. Khi con người thích  ứng với nghề  nghiệp, họ  sẽ  chủ  động, tích 
cực trong công việc, an tâm, phấn khởi, say mê, dồn hết khả năng, tâm trí 
của mình cho hoạt động nghề. Lúc này, con người sẽ thực hiện hoạt động 
dễ dàng, khả năng sáng tạo lớn và hiệu quả lao động cao. 
Tác giả N.B.Basinanova, D.V.Kalinhitreva xem xét mối quan hệ giữa 
trí tuệ với sự thích ứng nghề nghiệp, thích ứng tâm lý ­ xã hội đã phát hiện: 
Chỉ  số  trí tuệ  càng cao thì sự  thích  ứng nghề  nghiệp lại càng thuận lợi. 
Nhưng sự  thích  ứng tâm lý ­ xã hội thì không hoàn toàn như  vậy. Nếu chỉ 
số trí tuệ của cá nhân cao hơn hẳn chỉ số trí tuệ  chung của nhóm thì nó sẽ 
cản trở sự thích ứng tâm lý ­ xã hội của cá nhân đó [4].
Tác   giả   A.E.Golomstooc   khi   nghiên   cứu   về   “Sự   lựa   chọn   nghề  
nghiệp và giáo dục nhân cách cho học sinh” đã không sử  dụng thuật ngữ 
“thích ứng” (Адаптация) mà sử dụng thuật ngữ “thích hợp” (Пригодностъ)  
để nói lên sự  thích nghi đặc biệt của con người với nghề nghiệp và nhấn 
mạnh đến mặt tình cảm của quá trình thích hợp nghề nghiệp, coi đó như là  
một thuộc tính của nhân cách [17].


13
Ở  Phần Lan, M.V. Vôlannen quan tâm đến vấn đề  thích  ứng nghề 
nghiệp và tâm thế  xã hội đối với việc làm của thanh niên. Kết quả nghiên  
cứu của ông cho thấy giữa việc học nghề và lao động nghề của thanh niên  
tồn tại một thời kỳ  chuyển tiếp có thể  kéo dài từ  5 ­ 7 năm, được đặc 
trưng bởi hàng loạt các sự kiện như: học nghề, thay đổi nghề, thất nghiệp, 
làm việc tạm thời. Tác giả xem đây là những giai đoạn thích ứng nghề của  
thanh niên và tâm thế của họ đối với việc làm phụ thuộc vào giai đoạn này  
có diễn ra sự thích ứng nghề hay không [95].
Tác giả  B.Hesketh trong bài viết: “Thích  ứng tâm lý nghề để đương  
đầu với mọi thay đổi” [80] đã đề  cập tới việc đào tạo những công nghệ 
mới cho người lao động, tạo điều kiện cho họ  nhanh chóng thích nghi với  

những công nghệ đó và hình thành các kỹ năng cần thiết. Tác giả cho rằng, 
cần cho người lao động thích  ứng với tâm lý nghề  để  họ  sẵn sàng đương  
đầu với những thay đổi, không chỉ  cung cấp cho người lao động tri thức 
nghề mà điều đặc biệt quan trọng là phải hình thành kỹ năng nghề cho họ.
Công trình nghiên cứu:  “Các yếu tố  thích  ứng nghề  nghiệp của sinh  
viên” được đăng trên http:/www.jour.club.ru. đã phản ánh các yếu tố thích ứng 
nghề nghiệp của sinh viên thông qua các giai đoạn của quá trình thích ứng nghề 
nghiệp của sinh viên bao gồm: giai đoạn tiếp nhận trách nhiệm nghề nghiệp, 
giai đoạn hòa nhập vào môi trường làm việc và giai đoạn hình thành các phẩm  
chất nhân cách có giá trị  nghề  nghiệp. Quá trình thích  ứng nghề  nghiệp của 
sinh viên ở các giai đoạn khác nhau có những biểu hiện tương ứng, do đó, để 
có thể đánh giá được mức độ thích ứng nghề nghiệp của sinh viên có thể tìm 
hiểu sự biểu hiện của sinh viên thông qua quá trình thực hiện hoạt động nghề 
nghiệp. Mức độ  thích  ứng cao nhất đối với nghề  là khi cá nhân hình thành  
được những phẩm chất nhân cách có giá trị nghề nghiệp [106].


14
Tác giả Pankova Tachiana Anna Tonnepna với đề tài: “Thích ứng tâm  
lý nghề  nghiệp của các chuyên gia trẻ” [104] đã nghiên cứu trí tuệ  xã hội 
như  là yếu tố  thích ứng tâm lý xã hội của một chuyên gia trẻ. Các chuyên  
gia trẻ có trình độ trí tuệ cảm xúc cao thì có sự thích ứng tâm lý xã hội đối 
với hoạt động nghề  nghiệp theo các tiêu chí bên ngoài và bên trong. Hiệu 
quả thích ứng tâm lý xã hội của chuyên gia trẻ theo các tiêu chí bên trong có 
liên quan chặt chẽ với trình độ trí tuệ xúc cảm bên trong và trình độ trí tuệ 
xúc cảm liên nhân cách (ứng xử, quan hệ).
Tác giả  Nguyễn Văn Hộ  với đề  tài "Thích  ứng sư  phạm" đã đưa ra 
các khái niệm về  thích ứng, thích ứng sư  phạm, phân tích các nội dung về 
hình thành khả  năng thích  ứng về  lối sống cho sinh viên sư  phạm, hình 
thành khả  năng thích ứng về tay nghề  trong quá trình đào tạo cho sinh viên 

sư  phạm, như: thích  ứng với quy trình lên lớp, thích  ứng với hoạt động 
giảng dạy trên lớp, thích ứng với hoạt động thiết kế nội dung công tác chủ 
nhiệm lớp và thích ứng với hoạt động ứng xử trong công tác giáo dục. Bên  
cạnh đó, tác giả đề ra một số giải pháp giúp sinh viên đại học thích ứng với 
nghề sư phạm [23].
Tác giả  Dương Thị  Nga, với đề  tài “Phát triển năng lực thích  ứng  
nghề  nghiệp cho sinh viên cao đẳng sư  phạm”  [36]  đã chỉ  ra các yếu tố 
ảnh hưởng đến sự  phát triển năng lực thích  ứng nghề  cho sinh viên cao  
đẳng:  ảnh hưởng của giáo viên; nội dung chương trình và phương pháp,  
hình thức tổ  chức dạy học; rèn luyện nghiệp vụ  sư  phạm thường xuyên; 
việc tham gia vào các hoạt động  ở  trường phổ  thông; các phương tiện  
thông tin đại chúng; môi trường và điều kiện học tập; sự giúp đỡ  của bạn 
bè và người thân; truyền thống gia đình; các yếu tố  sinh học thể  chất; ý  
thức của bản thân về  giá trị  nghề  dạy học; động cơ, lý tưởng, hứng thú  


15
nghề  nghiệp; tri thức, kỹ  năng, kỹ  xảo đã có  ở  sinh viên; tính tích cực tự 
giác, sáng tạo trong học tập và ý chí rèn luyện nghề.
Tác giả  Dương Thị  Thanh Thanh nghiên cứu các yếu tố   ảnh hưởng 
đến sự  thích  ứng với hoạt động quản lý dạy học của hiệu trưởng trường  
tiểu học tỉnh Nghệ  An. Kết quả  cho thấy các yếu tố  cơ  bản  ảnh hưởng  
đến thích  ứng của hiệu trưởng là: tri thức, kinh nghiệm quản lý và ý thức 
rèn luyện của hiệu trưởng trường tiểu học; bầu không khí tâm lý tập thể 
sư  phạm trong trường tiểu học và điều kiện hoạt động quản lý của hiệu  
trưởng trường tiểu học [47].
Tóm lại, từ  các công trình nghiên cứu thích  ứng nghề  nghiệp cho 
thấy, các tác giả  đã đề  cập đến khái niệm thích  ứng nghề  nghiệp, những 
yếu tố chủ quan, khách quan và những chỉ số đặc trưng cho thích ứng nghề 
nghiệp. Các tác giả đều có xu hướng cho rằng, thích ứng nghề nghiệp là quá 

trình thích nghi với những đặc điểm lao động và điều kiện của quá trình lao 
động. Thích ứng nghề nghiệp là quá trình thích ứng thể hiện ở cả ba mặt của  
đời sống tâm lý con người đó là: nhận thức, cảm xúc và hành động. Các nhân  
tố bên trong có vai trò quan trọng đến mức độ thích ứng của cá nhân với hoạt  
động nghề  nghiệp, như: xu hướng nghề, kế  hoạch xây dựng nghề, sự  ra  
quyết định nghề và chỉ số trí tuệ. Tuy nhiên, các tác giả chưa phân tích rõ nội  
dung thích ứng với hoạt động nghề  nghiệp cũng như  quy trình thích ứng cụ 
thể  để  giúp cho đối tượng thích  ứng tốt  ở  những môi trường nghề  nghiệp 
khác nhau và chưa đưa ra một số  trường hợp điển hình về  đối tượng thích  
ứng với nghề nghiệp để  làm rõ hơn những vấn đề  lý luận và thực tiễn của 
vấn đề nghiên cứu.
1.2. Nghiên cứu thích ứng với hoạt động học tập


16
Hướng nghiên cứu về  thích  ứng với hoạt động học tập được nhiều 
tác giả trong và ngoài nước nghiên cứu ở nhiều khía cạnh khác nhau, ở các 
cấp bậc học khác nhau từ tiểu học đến đại học.
Bren P.Allen đã tiếp cận vấn đề  thích  ứng học tập của sinh viên 
thông qua một hệ thống tác động hình thành các kỹ năng học tập tại trường  
đại học. Tác giả cho rằng, sinh viên muốn thích ứng với học tập ở trường  
đại học cần phải hình thành các kỹ năng: quản lý chặt chẽ quỹ thời gian cá 
nhân; các kỹ năng học tập; chế ngự cảm xúc tiêu cực để vượt qua các khó 
khăn trong học tập, thi cử; chọn các hình thức học tập; chủ  động và hình 
thành các thói quen hành vi mang tính chất nghề nghiệp [70].
Công trình nghiên cứu của H.W. Bernard đã khẳng định vai trò của mối 
quan hệ tích cực giữa thầy và trò để thích ứng với hoạt động học tập, không 
phải chỉ trò tích cực trong hoạt động học mà cả thầy cũng phải tích cực trong 
hoạt động giảng dạy. Qua nghiên cứu của mình, tác giả  đã chỉ  ra được các 
biện pháp cụ thể để giúp học sinh nhanh chóng thích ứng với hoạt động học 

tập [71].
Tác giả  Xinyin Chen thuộc Đại học Tây Ontario, Canada và Bo­Shu 
Li thuộc đại học sư  phạm Shanghai, Trung Quốc  đã nghiên cứu: “ Tâm 
trạng thất vọng của trẻ em Trung Quốc: Tầm quan trọng của sự phát triển  
đối với sự thích ứng trường học và xã hội” [92] nghiên cứu trên trẻ em 12 
tuổi về   ảnh hưởng tâm trạng thất vọng tới sự  thích  ứng trường học của  
trẻ   em   Trung   Quốc   như   sau:   Tâm   trạng   thất   vọng   của   học   sinh   được 
nghiên cứu thông qua tự thuật, đánh giá của bạn bè, giáo viên và hồ sơ  tại 
trường. Sự thất vọng tác động âm tính tới các kết quả học tập và tác động 
dương tính tới việc tăng các khó khăn trong học tập.


17
Tác giả Ming ­ Kung Yang và Wei­Chin Hsiao với đề tài “ Nghiên cứu  
sự thích ứng học nghề trên những học sinh của trường dạy nghề” [84] kết 
quả nghiên cứu cho thấy, học sinh trung học nghề tại Trung Quốc có thái độ 
thích ứng tích cực đối với việc học tập kỹ năng; không có sự khác biệt đáng 
kể về kỹ năng ở góc độ hiệu quả tự học và yếu tố môi trường dạy học; mối 
quan hệ xã hội, tiện nghi xưởng thực hành, sự quan tâm của nhà trường về 
việc học kỹ năng có ảnh hưởng lớn đến sự thích ứng về mặt kỹ năng trong  
học tập.
Tác giả  P. Zettergren thuộc Đại học Stockholm, Thụy Điển nghiên 
cứu: “Sự  thích  ứng nhà trường  ở  tuổi vị  thành niên đối với trẻ  em bình  
thường và trẻ  em bị  hắt hủi trước đây” [93] kết quả  cho thấy thành tích 
học tập và mức độ  thông minh của các em bị  bạn bè hắt hủi kém hơn so  
với các em khác, điểm số của các em được bạn bè yêu quý đạt được ở mức 
cao. Nghiên cứu cũng đưa ra dấu hiệu những học sinh nữ bị bạn bè ghét bỏ 
có thái độ  tiêu cực với trường học và việc thực hiện các nhiệm vụ   ở  nhà 
trường; tỷ  lệ  bỏ  học giữa chừng của học sinh nam bị  ghét bỏ  cao hơn  
nhiều so với các nhóm học sinh nam khác; những trẻ em bị bạn bè hắt hủi  

có thể gây rắc rối ở nhà trường và khi lớn lên.
Ba nhà tâm lý học là J. Hopkins, N. Malleson, I. Sarnoff nghiên cứu 
mối liên hệ  giữa kết quả  học tập với quan hệ  bạn bè khác giới của sinh  
viên nước ngoài học tập  ở  London và đưa ra kết quả  thú vị  nhưng gây 
nhiều tranh cãi rằng: 62,7% sinh viên có bạn khác giới đạt kết quả học tập  
tốt (vượt qua các kỳ  thi), trong khi con số  này  ở  sinh viên không có bạn 
khác giới là 37,3%; 31,6% số sinh viên có bạn khác giới có kết quả học tập  
kém trong khi con số này ở nhóm sinh viên không có bạn khác giới lên đến 
68,4% [81].
Tác giả A.Arkoff trong tác phẩm: “Thích ứng và sức khỏe tinh thần” 
[69] đã công bố  công trình nghiên cứu của mình về  thích  ứng tâm lý, bao  


18
gồm cả  sự  thích  ứng học tập của học sinh và sinh viên. Theo tác giả, sự 
thích ứng nói chung của con người bao gồm các chỉ số sau: Hạnh phúc, sự 
hài lòng, lòng tự  trọng, sự  phát triển cá nhân, sự  hội nhập cá nhân, khả 
năng tiếp xúc với môi trường, sự độc lập với môi trường.
Tác giả O.EPiskun đã nghiên cứu: “Ảnh hưởng của những đặc điểm  
trí  tuệ đến sự  thích  ứng với hoạt động học tập của sinh viên trường đại  
học kỹ thuật” [105] và chỉ ra rằng: khó khăn trong quá trình thích ứng của sinh 
viên với hoạt động học tập ở các trường đại học kỹ thuật không chỉ liên quan 
đến xúc cảm, tình cảm hay môi trường giao tiếp mà nó còn liên quan tới những 
hạn chế  trong sự  phát triển trí tuệ, trong đó quan trọng nhất là tư  duy logic,  
không gian và kỹ thuật.
Các tác giả C.M. Sukina, Wendy S.Grolnick và Marika Silvan đã nghiên 
cứu về thích ứng của học sinh tiểu học và chỉ ra mô hình thích ứng; quá trình 
thích ứng, các phương pháp làm việc và tác động sư phạm để giúp học sinh  
thích ứng tốt [102], [79], [82]. Tuy nhiên, công trình này chưa chỉ rõ cấu trúc 
tâm lý của thích ứng với môi trường nhà trường của học sinh; chưa phân tích 

cụ  thể về  những khía cạnh hạn chế của những tác động sư  phạm của giáo 
viên cũng như những ảnh hưởng của bố mẹ đến mức độ  thích ứng của học 
sinh. 
Ở  Việt Nam, có nhiều tác giả  đã nghiên cứu về  thích ứng với hoạt  
động học tập của học sinh  ở  các độ  tuổi, môi trường khác nhau. Tác giả 
Vũ Thị Nho cùng một số nhà khoa học đã tiến hành nghiên cứu đề  tài  “Sự 
thích  ứng với hoạt động học tập của học sinh tiểu học”  [38]. Các tác giả 
xem sự thích ứng với hoạt động học tập là một dạng của thích ứng xã hội  
và bao gồm hai khía cạnh chính đó là sự  thích  ứng với các mối quan hệ 
trong học tập mà chủ yếu là quan hệ giáo viên ­ học sinh và thích ứng với 
các yêu cầu của hoạt động học tập.


19
Tác giả Đỗ  Mạnh Tôn với đề  tài “Nghiên cứu sự thích  ứng đối với  
học tập và rèn luyện của học viên các trường sỹ quan quân đội”  [44], cho 
rằng: “thích ứng với học tập và rèn luyện của học viên các trường sỹ quan  
quân đội là một phẩm chất phức hợp và cơ  động của nhân cách học viên,  
biểu hiện  ở  quá trình người học tự  tổ  chức hoạt động học tập, rèn luyện 
của mình dưới sự  định hướng của người thầy và nhà trường nhằm phát 
triển các chức năng sinh lý, các phẩm chất tổng hợp của nhân cách, đạt tới  
sự phù hợp tối đa với những điều kiện và học tập và rèn luyện ở trường sỹ 
quan. Kết quả nghiên cứu cho thấy: học viên các trường sỹ  quan quân đội 
có mức độ thích ứng khá cao với hoạt động học tập và rèn luyện, song vẫn 
còn những hạn chế nhất định và hạn chế tập trung nhất ở mặt kỹ năng, kỹ 
xảo.
Tác giả Phan Quốc Lâm với đề tài: “Sự thích ứng với hoạt động học  
tập của học sinh lớp 1”   [32], kết quả  nghiên cứu cho thấy khoảng 10%  
học sinh thích  ứng  ở  mức tốt, 75%  ở  mức trung bình khá và có đến 15% 
học sinh cho đến cuối năm lớp 1 vẫn chưa thể thích ứng với hoạt động học  

tập. Kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra những yếu tố cơ bản  ảnh hưởng đến  
sự thích ứng của hoạt động học tập của học sinh lớp 1, đó là hoàn cảnh gia  
đình, giới tính, trình độ phát triển trí tuệ của học sinh, sự chuẩn bị về mặt  
tâm lý cho hoạt động học tập... Trên cơ sở đó, nhằm nâng cao mức độ thích 
ứng của học sinh, tác giả đã thử nghiệm tác động đến học sinh thông qua 6  
biện pháp: nâng cao hiểu biết của giáo viên về thích ứng, hình thành những  
hành vi phù hợp ngay từ  đầu khi trẻ  mới tới trường, tăng cường tính xác 
định của tình huống học tập, có thái độ ứng xử phù hợp với đặc điểm tâm  
lý học sinh, cá biệt hóa trong dạy học và phối hợp với gia đình học sinh.
Tác giả  Lê Ngọc Lan nghiên cứu đề  tài:  “Sự  thích  ứng với hoạt động  
thực hành môn học của sinh viên Đại học Sư phạm Hà Nội”  [31], tác giả kết 
luận: Thích ứng là một cấu trúc bao gồm hai thành tố: Nắm được các phương  


20
thức hành vi thích hợp đáp ứng với các yêu cầu của cuộc sống và hoạt động; 
Hình thành những cấu tạo tâm lý mới tạo nên tính chủ thể của hành vi và hoạt  
động. Hai thành tố này có mối quan hệ gắn bó chặt chẽ với nhau giúp con người 
điều chỉnh được hệ thống thái độ, hành vi hiện có, hình thành được hệ  thống 
thái độ, hành vi phù hợp với môi trường đã thay đổi. Tốc độ và kết quả của quá 
trình đó phụ thuộc rất nhiều vào sự  nỗ  lực, ý thức và khả năng của mỗi sinh  
viên. 
Có   thể   thấy   rằng,   các   tác   giả   Phan   Quốc   Lâm,   Đỗ   Mạnh   Tôn, 
Nguyễn Xuân Thức, Lê Ngọc Lan xuất phát từ  quan điểm của tâm lý học 
hoạt động để  nghiên cứu vấn đề  thích ứng. Với họ, hoạt động vừa là đối 
tượng, vừa là phương thức của sự  thích  ứng, nghĩa là thích  ứng với hoạt 
động và để làm được điều này thì cá nhân phải đi vào hoạt động, thông qua  
hoạt động của chính mình. Thông qua quá trình này, cá nhân lĩnh hội được  
những kinh nghiệm, hình thành nên những cấu tạo tâm lý mới, giúp cá nhân 
khắc phục được những khó khăn và đảm bảo kết quả hành động. Hay nói cách 

khác, quá trình thích ứng được đặc trưng bởi những biến đổi của cá nhân trên 
hai mặt: mặt tâm lý (hình thành những cấu tạo tâm lý mới) và mặt hành vi (với 
việc hình thành những hành vi mới phù hợp với sự biến đổi của môi trường 
mới).
Các tác giả Nguyễn Thạc, Đỗ Thị Thanh Mai, Đặng Thị Lan, Dương Thị 
Thoan, Nguyễn Thị Út Sáu đã có các công trình nghiên cứu thích ứng với học 
tập của sinh viên ở các môi trường nhà trường khác nhau. Các công trình này 
đều chỉ ra rằng: sinh viên chưa có phương pháp học tập phù hợp, chính yếu tố 
này là nguyên nhân cơ bản dẫn đến mức độ thích ứng của sinh viên chưa cao. 
Bên cạnh đó, các tác giả cũng đã xây dựng những biện pháp tâm lý ­ sư phạm 
cụ thể nhằm nâng cao mức độ thích ứng với học tập của sinh viên trong các 
nhà trường khác nhau [46], [28], [29], [49], [30], [53].


21
Tóm lại, các công trình nghiên cứu về thích ứng với hoạt động học  
tập của học sinh, sinh viên trên thế  giới và Việt Nam đã nghiên cứu khá 
nhiều khía cạnh của thích  ứng  trong việc học tập của h ọc viên, sinh 
viên. Các tác giả  cũng đã xác định được tiêu chí khách quan để  đo các 
biểu hiện của sự thích ứng với hoạt động học tập và chỉ ra nhiều yếu tố 
chủ  quan, khách quan  ảnh hưởng đến quá trình thích  ứng của học sinh,  
sinh viên. Ngoài ra, các công trình đã xây dựng những biện pháp tâm lý ­  
sư  phạm giúp học sinh, sinh viên nhanh chóng thích  ứng với môi trường  
nhà trường. 
1.3. Thích ứng với hoạt động dạy học
Thích  ứng với hoạt động dạy học là loại thích ứng tâm lý xã hội, là 
quá trình con người điều chỉnh nhận thức, thái độ, hành vi của mình để đáp 
ứng yêu cầu, đòi hỏi của môi trường mới nhằm đạt hiệu quả hoạt động và 
sự  hài lòng của cá nhân. Các công trình nghiên cứu về  thích  ứng với hoạt 
động dạy học ở nhiều khách thể khác nhau từ giáo viên tiểu học đến giảng  

viên đại học. Bên cạnh đó, mỗi công trình lại làm sáng tỏ những vấn đề cụ 
thể mà các giáo viên thường gặp phải trong quá trình dạy học như phương  
pháp sư phạm; kỹ năng dạy học; kỹ năng sử dụng phương tiện dạy học và 
mối quan hệ  với đồng nghiệp, với học sinh. Hơn nữa, các tác giả  cũng 
nghiên cứu yếu tố   ảnh hưởng đến thích  ứng của giáo viên với hoạt động 
dạy học.
Tác giả  A.I.Serbacov và A.V. Mudric nghiên cứu:   “Sự  thích  ứng  
nghề   nghiệp   của   người   th ầy   giáo”  [99]   và   cho   rằng   thích   ứng   nghề 
nghiệp của người thầy giáo là quá trình thích nghi với những điều kiện 
thực tế  của hoạt động sư  phạm thể hiện  ở  các nhà giáo dục trẻ  khi mới 
vào công tác tại các trường phổ thông.
Năm 1979, G.J.Pine nghiên cứu: “Sự  thích  ứng của giáo viên trong  
hoạt động nghề nghiệp” [87] kết quả cho thấy, để thích ứng với hoạt động 


22
nghề nghiệp, người giáo viên phải thích ứng được với những phương pháp 
giảng dạy rất thông thường; khi thích  ứng được với những phương pháp 
giảng dạy thông thường họ mới tự tin thay đổi phương pháp.
Tác giả  Chepnickova đã nghiên cứu các yếu tố  thích  ứng xã hội 
nghề  nghi ệp c ủa giảng viên trẻ   ở  thành phố  Chelemink của Nga, đề  tài 
chọn   những   y ếu   tố   ảnh   h ưởng   đế n   thích   ứng   nghề   nghiệp   gồm   hai  
nhóm yếu tố: bên trong và bên ngoài. Nhóm yếu tố bên ngoài gồm: hoàn  
cảnh vật chất của giáo viên trẻ, trình độ  đào tạo sư  phạm, môi trườ ng  
giáo dục, tổ  chức công tác đào tạo nghiệp vụ  sư  phạm và uy tín của  
nghề trong xã hội. Nhóm yếu tố bên trong gồm: thâm niên nghề nghiệp,  
hệ  thống định hướ ng giá trị, động cơ  chọn nghề  sư  phạm, các phẩ m 
chất nghề nghiệp, t ự đánh giá về  trình độ  đào tạo [108].
Tác giả  S.N. Shcheglova nghiên cứu: “Các đặc trưng thích  ứng của  
giáo viên phổ thông đối với các giá trị  của việc sử dụng máy tính” [90] và 

cho rằng, thích  ứng của giáo viên với những giá trị  của xã hội thông tin là 
phương pháp độc đáo đòi hỏi tính tích cực trong giảng dạy. Công trình 
nghiên cứu của tác giả  góp phần khẳng định đòi hỏi tất yếu của thế  kỷ 
XXI đối với con người nói chung và giáo viên nói riêng. Giáo viên muốn 
tồn tại, muốn cống hiến tốt cho hoạt  động nghề  nghiệp của mình, cần 
phải thích ứng với những biến đổi của xã hội, cụ thể là phải biết khai thác,  
sử dụng các giá trị của công nghệ thông tin.
Tác giả  Mustafa  Ozturk  đã nghiên cứu  “Bước  đầu quen với hoạt  
động dạy học: những khó khăn thích ứng của giáo viên trẻ”  [85] và đã chỉ 
ra bốn yếu tố khó thích ứng nhất của giáo viên trẻ là: Áp lực công việc; uy 
tín xã hội và bản sắc cá nhân; giám sát, quản lý ở trường học và những khó 
khăn trong quản lý lớp học.
Tác giả  Nguyễn Chí Tăng nghiên cứu: “Sự  thích  ứng của giáo viên  
Trung học cơ  sở  với việc  ứng dụng công nghệ  thông tin vào hoạt động  


×