Lời cam đoan
Tôi xin cam đoan đây là công
trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số
liệu, kết quả trong luận án là trung
thực, có nguồn gốc, xuất xứ rõ ràng.
TÁC GIẢ LUẬN ÁN
Trần Thu Hương
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA THÍCH
ỨNG VỚI HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC CỦA GIẢNG
VIÊN TRẺ TẠI CÁC HỌC VIỆN, TRƯỜNG ĐẠI
HỌC CÔNG AN NHÂN DÂN
1.1.
Các khái niệm cơ bản
1.2.
Cấu trúc tâm lý thích ứng với hoạt động dạy học của
giảng viên trẻ tại các học viện, trường đại học Công an
nhân dân
1.3.
Đặc điểm của đội ngũ giảng viên trẻ và đặc điểm hoạt
động dạy học tại các học viện, trường đại học Công an
nhân dân
1.4.
Những yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến thích ứng với
hoạt động dạy học của giảng viên trẻ
1.5.
Tiêu chí cơ bản đánh giá mức độ thích ứng với hoạt
động dạy học của giảng viên trẻ tại các học viện,
trường đại học Công an nhân dân
Chương 2 TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1.
Nghiên cứu lý luận
2.2.
Nghiên cứu thực tiễn
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1.
Thực trạng thích ứng với hoạt động dạy học của giảng
viên trẻ tại các học viện, trường đại học Công an nhân
dân
3.2.
Kết quả nghiên cứu các yếu tố cơ bản ảnh hưởng tới
thích ứng với hoạt động dạy học của giảng viên trẻ tại
các học viện, trường đại học Công an nhân dân
3.3.
Biện pháp tâm lý sư phạm nhằm nâng cao mức độ
thích ứng với hoạt động dạy học của giảng viên trẻ tại
các học viện, trường đại học Công an nhân dân
3.4.
Thực nghiệm tác động
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
3
10
24
24
37
55
60
68
75
75
77
87
87
124
132
169
181
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
186
187
196
DANH MỤC CÁC BẢNG
STT
Bảng 1.
Bảng 2.
Bảng 3.
Bảng 4.
Bảng 5.
Bảng 6.
Bảng 7.
Bảng 8.
Bảng 9.
Bảng 10.
Bảng 11.
Bảng 12.
Bảng 13.
Bảng 14.
Bảng 15.
Bảng 16.
Bảng 17.
Bảng 18.
NỘI DUNG
Trang
Số lượng và tỷ lệ % khách thể nghiên cứu
80
Cách tính điểm cho mỗi phương án trả lời
83
Số lượng và tỷ lệ % về mức độ thích ứng với hoạt động
87
dạy học của giảng viên trẻ
Điểm trung bình và độ lệch chuẩn về mức độ thích ứng
88
biểu hiện trên 3 mặt: nhận thức, cảm xúc, hành động
Mức độ thích ứng của giảng viên trẻ với hoạt động dạy học
89
theo giới tính
Mức độ thích ứng với hoạt động dạy học của giảng viên trẻ
89
theo thâm niên dạy học
Mức độ thích ứng biểu hiện ở mặt nhận thức
91
Điểm trung bình và thứ bậc các biểu hiện cụ thể về nhận
91
thức của giảng viên trẻ đối với hoạt động dạy học
Mức độ hài lòng của giảng viên trẻ
96
Điểm trung bình và thứ bậc về sự hài lòng của giảng viên
97
trẻ
Kết quả thực hiện các hành động dạy học của giảng viên
103
trẻ
Điểm trung bình và thứ bậc các biểu hiện cụ thể về hoạt
104
động dạy học của giảng viên trẻ
Điểm trung bình và thứ bậc về thực hiện hành động soạn
108
giáo án của giảng viên trẻ theo các nội dung cụ thể
Điểm trung bình và độ lệch chuẩn về hành động giảng
111
dạy trên lớp
Điểm trung bình và thứ bậc về thực hiện hành động kiểm
113
tra, đánh giá của giảng viên trẻ theo các nội dung cụ thể
Điểm trung bình và thứ bậc về thực hiện hành động biên
116
soạn giáo tài liệu dạy học
Điểm trung bình và thứ bậc về thực hiện hành động
118
nghiên cứu khoa học
Điểm trung bình và thứ bậc về hành động hướng dẫn học 120
Bảng 19.
viên tự học, tự nghiên cứu
Điểm trung bình và thứ bậc về hành động thực hiện mối
Bảng 20.
quan hệ xã hội
Điểm trung bình và thứ bậc về mức độ ảnh hưởng của các
yếu tố chủ quan đến thích ứng với hoạt động dạy học của
giảng viên trẻ do giảng viên trẻ và lãnh đạo khoa, bộ môn
Bảng 21.
122
126
đánh giá
Điểm trung bình và thứ bậc về mức độ ảnh hưởng của
các yếu tố khách quan đến thích ứng với hoạt động dạy
học của giảng viên trẻ do giảng viên trẻ và lãnh đạo
Bảng 22.
Bảng 23.
Bảng 24.
khoa, bộ môn đánh giá
Kế hoạch giúp giảng viên trẻ thích ứng của khoa, bộ môn
Giảng viên trẻ xây dựng và thực hiện kế hoạch thích ứng
Mức độ thực hiện hành động biên soạn tài liệu dạy học
Bảng 25.
của nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng
Điểm trung bình và thứ bậc về thực hiện hành động biên
soạn tài liệu dạy học của thực nghiệm và nhóm đối
chứng
129
162
163
169
170
3
MỞ ĐẦU
1. Giới thiệu khái quát về luận án
Trong môi trường tự nhiên và xã hội luôn biến động, phát triển không
ngừng, con người cần có sự thích ứng để hòa nhập nhanh với sự biến đổi
và phát triển đó. Vấn đề thích ứng được nhiều nhà tâm lý học, tâm lý giáo
dục nghiên cứu ở nhiều góc độ khác nhau nhằm tìm ra bản chất của vấn
đề thích ứng, các yếu tố ảnh hưởng đến thích ứng, đề ra các giải pháp
nâng cao khả năng thích ứng của con người.
“Thich
́ ưng v
́
ơi hoat đông day hoc cua giang viên tre t
́
̣
̣
̣
̣
̉
̉
̉ ại cac hoc
́
̣
viên, tr
̣
ương đai hoc
̀
̣
̣ Công an nhân dân” là công trình nghiên cứu thích ứng
mang tính chất đặc thù về hoạt động dạy học của giảng viên trẻ trong
Công an nhân dân (CAND). Công trình nghiên cứu có tính độc lập, chưa có
tác giả nào ở Việt Nam và trên thế giới nghiên cứu, do đó đảm bảo yêu cầu
nghiên cứu.
Trên cơ sở khái quát và nghiên cứu các công trình có liên quan đến
vấn đề nghiên cứu, đề tài đã xây dựng khái niệm về thích ứng với hoạt
động dạy học của giảng viên trẻ tại các học viện, trường đại học CAND;
xác định cấu trúc và các yếu tố ảnh hưởng đến thích ứng với hoạt động
dạy học của giảng viên trẻ; xây dựng các biện pháp tâm lý sư phạm
nhằm nâng cao mức độ thích ứng đối với hoạt động dạy học của giảng
viên trẻ tại các học viện, trường đại học CAND.
2. Lý do lựa chọn đề tài luận án
Chất lượng dạy học của đội ngũ giảng viên là một trong những yếu
tố quan trọng đảm bảo chất lượng giáo dục và đào tạo. Đảng và Nhà nước
luôn coi trọng phát triển đội ngũ giảng viên trong sự nghiệp giáo dục và đã
4
đề ra những định hướng, chính sách đúng đắn nhằm nâng cao chất lượng
đội ngũ giảng viên, đáp ứng yêu cầu, đòi hỏi của sự phát triển đất nước.
Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng đã khẳng định:
“Phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu. Đổi mới căn bản, toàn diện
nền giáo dục Việt Nam theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa,
dân chủ hóa và hội nhập quốc tế, trong đó đổi mới cơ chế quản lý giáo
dục, phát triển đội ngũ giảng viên và cán bộ quản lý là khâu then chốt”
[61, tr.130131]. Quán triệt các nghị quyết của Đảng, Nhà nước, Bộ
Công an luôn coi trọng phát triển, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo,
cán bộ quản lý giáo dục, từng bước hoàn thiện hệ thống các văn bản
pháp quy về xây dựng, phát triển đội ngũ nhà giáo CAND, tạo cơ sở pháp
lý quan trọng để cơ quan quản lý và các cơ sở đào tạo thống nhất thực
hiện. Bằng những chủ tr ương đúng đắn và sự quan tâm của lãnh đạo Bộ
Công an đối với nhà giáo CAND, trải qua 70 năm phát triển, đến nay, đội
ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục trong CAND đã phát triển cả về
số lượng và chất lượng , đáp ứng tốt nhu cầu giáo dục và đào tạo trong
từng giai đoạn.
Cùng với đội ngũ giảng viên các học viện, trường đại học CAND,
đội ngũ giảng viên trẻ đang là một lực lượng góp phần quan trọng đảm
bảo chất lượng giáo dục, đào tạo trong CAND. Hiện nay, đội ngũ giảng
viên trẻ tại các học viện, trường đại học CAND chiếm đến 60 70% số
lượng đội ngũ giảng viên. Do nhu cầu về việc mở rộng quy mô đào tạo
trong các học viện, trường đại học CAND; và do quy luật tự nhiên về sự
thay thế thế hệ giảng viên nhiều tuổi bằng thế hệ giảng viên trẻ trong các
học viện, trường đại học CAND cho nên số lượng giảng viên trẻ ngày
càng gia tăng trong những năm gần đây. Bên cạnh những thành tích đã đạt
5
được, giảng viên trẻ gặp những khó khăn trong thực hiện hoạt động dạy
học do nhiều nguyên nhân khác nhau. Về nguyên nhân khách quan, như:
khối lượng công việc nhiều; tính chất, mức độ đòi hỏi của hoạt động dạy
học ngày càng cao, có nhiều sự thay đổi trong bối cảnh toàn cầu hóa, sự
phát triển của khoa học, công nghệ và nền kinh tế tri thức. Về nguyên
nhân chủ quan, như: giảng viên trẻ chưa chủ động tích cực trong việc học
tập, rèn luyện để hình thành phẩm chất nhân cách người giảng viên, sĩ
quan CAND; kỹ năng thực hiện hành động dạy học chưa tốt… Bởi vậy,
giảng viên trẻ gặp nhiều khó khăn trong việc thực hiện tốt chức trách,
nhiệm vụ được giao, như: tổ chức, thực hiện giảng dạy; biên soạn tài
liệu dạy học, nghiên cứu khoa học... Bên cạnh đó, giảng viên trẻ còn có
những biểu hiện mệt mỏi, căng thẳng trong việc thực hiện hoạt động dạy
học. Đặc biệt, có một số giảng viên trẻ đã không đáp ứng được yêu cầu dạy
học, bị điều động sang làm công tác khác. Từ thực trạng trên, đặt ra yêu cầu
cần thiết phải nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn của thích ứng với hoạt
động dạy học của giảng viên trẻ tại các học viện, trường đại học CAND
nhằm xây dựng biện pháp nâng cao mức độ thích ứng với hoạt động dạy
học của giảng viên trẻ, góp phần đảm bảo chất lượng giáo dục và đào tạo
tại các học viện, trường đại học CAND.
Những năm qua, các học viện, trường đại học CAND đã có nhiều
biện pháp nhằm đảm bảo chất lượng giáo dục, đào tạo, nhất là những biện
pháp nâng cao chất lượng dạy học cho đội ngũ giảng viên. Tuy nhiên,
những nghiên cứu chuyên sâu về thích ứng với hoạt động dạy học của
giảng viên trẻ chưa được đề cập đến, do đó, nghiên cứu thích ứng với hoạt
động dạy học của giảng viên trẻ tại các học viện, trường đại học CAND là
6
đòi hỏi cấp thiết từ thực tiễn yêu cầu phát triển của các học viện, trường
đại học CAND trong giai đoạn hiện nay.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
3.1. Mục đích nghiên cứu
Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về thích ứng với hoạt động dạy
học của giảng viên trẻ tại các học viện, trường đại học CAND, luận án đề
xuất một số biện pháp tâm lý sư phạm nhằm nâng cao mức độ thích ứng
với hoạt động dạy học của giảng viên trẻ tại các học viện, trường đại học
CAND.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu, đề tài làm rõ những nội dung sau:
Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn thích ứng với hoạt động dạy học
của giảng viên trẻ tại các học viện, trường đại học CAND.
Nghiên cứu thực trạng thích ứng với hoạt động dạy học của giảng
viên trẻ tại các học viện, trường đại học CAND.
Xây dựng biện pháp tâm lý sư phạm nhằm nâng cao thích ứng với
hoạt động dạy học của giảng viên trẻ tại các học viện, trường đại học
CAND.
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu và giả thuyết khoa học
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Thích ứng với hoạt động dạy học của giảng viên trẻ.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Giới hạn đối tượng nghiên cứu
Mức độ thích ứng với hoạt động dạy học của giảng viên trẻ.
Giới hạn khách thể nghiên cứu
7
Số lượng 171 giảng viên trẻ giảng dạy dưới 5 năm và dưới 35 tuổi
tại Học viện An ninh nhân dân, Học viện Cảnh sát nhân dân, Trường Đại
học Kỹ thuật Hậu cần CAND vàTrường Đại học Phòng cháy Chữa cháy.
33 cán bộ quản lý, lãnh đạo khoa, bộ môn tại Học viện An ninh nhân
dân, Học viện Cảnh sát nhân dân, Trường Đại học Kỹ thuật Hậu cần
CAND và Trường Đại học Phòng cháy Chữa cháy.
4.3. Giả thuyết khoa học
Thích ứng với hoạt động dạy học của giảng viên trẻ tại các học
viện, trường đại học CAND là quá trình giảng viên trẻ tích cực thay đổi,
điều chỉnh tâm lý để đáp ứng yêu cầu của hoạt động dạy học tại các học
viện, trường đại học CAND. Nếu làm rõ lý luận và thực tiễn về thích ứng
với hoạt động dạy học của giảng viên trẻ, đánh giá đúng thực trạng thích
ứng với hoạt động dạy học của họ thì sẽ tìm được những biện pháp tâm lý
sư phạm để nâng cao mức độ thích ứng với hoạt động dạy học của giảng
viên trẻ tại các học viện, trường đại học CAND.
5. Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở lý luận, thực tiễn
Luận án dựa trên phương pháp của chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản Việt Nam, Đảng ủy Công an Trung ương về
việc hình thành các phẩm chất tâm lý, nhân cách con người và việc xây
dựng con người xã hội chủ nghĩa, phát triển đội ngũ giảng viên CAND.
Luận án còn dựa trên các nguyên tắc phương pháp luận của tâm lý học Mác
xít.
Cơ sở thực tiễn của luận án là hoạt động dạy học của giảng viên trẻ
tại các học viện, trường đại học CAND hiện nay; báo cáo tổng kết công tác
dạy học của các học viện, trường đại học CAND và quá trình khảo sát thực
8
tiễn hoạt động dạy học của giảng viên trẻ tại các học viện, trường đại học
CAND.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu trong khoa
học xã hội. Cụ thể:
+ Nghiên cứu tài liệu: Nghiên cứu các tài liệu có liên quan đến đề tài,
nhằm thu thập hệ thống các cơ sở lý luận của luận án, nghiên cứu các
phương pháp, số liệu để định hướng, làm cơ sở cho việc nghiên cứu.
+ Quan sát: Nhằm chính xác hóa và bổ sung số liệu nghiên cứu. Tác
giả trực tiếp quan sát hoạt động dạy học của giảng viên thông qua các giờ
lên lớp; hoạt động soạn giáo án, chuẩn bị cho hoạt động giảng dạy; các
hoạt động nghiên cứu khoa học và các hoạt động khác của nhà trường.
+ Điều tra bằng bảng hỏi: Đây là phương pháp chính của luận án
nhằm đánh giá thực trạng của vấn đề nghiên cứu.
+ Chuyên gia: Lấy ý kiến của các chuyên gia về những vấn đề liên
quan đến luận án, cho phép tranh thủ vốn sống, vốn tri thức và kinh nghiệm
về hoạt động dạy học của các chuyên gia nhằm hỗ trợ cho các phương pháp
trên.
+ Tọa đàm, phỏng vấn: Là phương pháp bổ trợ, phỏng vấn trực tiếp
một số học viên, giảng viên, cán bộ quản lý giáo dục nhằm chính xác hoá
những thông tin thu được từ phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi hoặc bổ
sung những thông tin mới cần thiết cho việc nghiên cứu.
+ Phân tích kết quả hoạt động: Nghiên cứu thực tiễn hoạt động
giảng dạy của giảng viên trẻ tại các học viện, trường đại học CAND để
đánh giá thực trạng thích ứng của giảng viên trẻ đối với hoạt động dạy
học.
9
+ Phương pháp mô tả chân dung: Mô tả một số chân dung về giảng
viên trẻ trong thực hiện hoạt động dạy học tại các học viện, trường đại
học CAND nhằm làm rõ hơn vấn đề nghiên cứu của luận án.
+ Phương pháp xử lý số liệu bằng thống kê toán học: xử lý số liệu
bằng phép toán trên chương trình phần mềm SPSS: Tính tần suất trả lời các
phương án, tính tỷ lệ %, điểm trung bình nhằm đánh giá thực trạng vấn đề
nghiên cứu.
6. Những đóng góp mới của luận án
Luận án có những đóng góp cơ bản sau:
Xây dựng khái niệm thích ứng với hoạt động dạy học của giảng
viên trẻ tại các học viện, trường đại học CAND.
Chỉ ra cấu trúc tâm lý thích ứng với hoạt động dạy học của giảng
viên trẻ tại các học viện, trường đại học CAND.
Xác định tiêu chí đánh giá thích ứng; làm rõ những đặc điểm của
đội ngũ giảng viên trẻ và đặc điểm hoạt động dạy học tại các học viện,
trường đại học CAND.
Đánh giá thực trạng thích ứng với hoạt động dạy học của giảng
viên trẻ tại các học viện, trường đại học CAND.
Làm rõ những yếu tố ảnh hưởng tới thích ứng với hoạt động dạy
học của giảng viên trẻ tại các học viện, trường đại học CAND.
Đề xuất một s ố bi ện pháp tâm lý sư phạm nh ằm nâng cao
mức độ thích ứng v ới hoạt độ ng dạ y họ c củ a gi ảng viên trẻ tạ i các
họ c việ n, tr ườ ng đạ i họ c CAND.
7. Ý nghĩa lý luận, thực tiễn của luận án
Về lý luận: Luận án góp phần bổ sung, phát triển lý luận về thích ứng
với hoạt động dạy học của giảng viên trẻ nói chung, giảng viên trẻ tại các
học viện, trường đại học CAND nói riêng.
10
Về thực tiễn: Luận án cung cấp cơ sở lý luận và thực tiễn cho cấp ủy
Đảng, Ban Giám đốc, Ban Giám hiệu các học viện, trường đại học về công
tác lãnh đạo, chỉ đạo nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên nói chung và
đội ngũ giảng viên trẻ nói riêng đáp ứng nhiệm vụ bảo vệ an ninh Tổ quốc.
Đồng thời, kết quả nghiên cứu của luận án còn được sử dụng làm tài liệu
tham khảo, nghiên cứu, học tập trong công tác dạy học, quản lý giáo dục và
lãnh đạo tại các học viện, nhà trường nói chung và trong Công an nói riêng.
8. Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận án
được kết cấu 3 chương, 11 tiết.
11
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
THÍCH ỨNG VỚI HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC CỦA GIẢNG VIÊN TRẺ
TẠI CÁC HỌC VIỆN, TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG AN NHÂN DÂN
1. Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
Thích ứng có vai trò quan trọng, quyết định hiệu quả của hoạt động
của cá nhân. Người đầu tiên nghiên cứu về thích ứng là H.Spencer (1820
1903), nhà tâm lý học người Anh, với tác phẩm nổi tiếng “Những nguyên
lý của tâm lý học” (1895). Trong tác phẩm này, H.Spencer đã phân tích quá
trình thích ứng ở con người dựa trên học thuyết tiến hóa và đưa ra quan
điểm: “Cuộc sống là sự thích ứng liên tục của các mối quan hệ bên trong
với mối quan hệ bên ngoài” [89]. H.Spencer đã mở ra con đường nghiên
cứu quan trọng về thích ứng. Trong khoa học tâm lý hiện nay, vấn đề thích
ứng được nghiên cứu trên nhiều loại khách thể và có nhiều hướng nghiên
cứu khác nhau. Trong luận án tập trung tổng quan ba hướng nghiên cứu về
thích ứng gần với đề tài nghiên cứu luận án, đó là: thích ứng với hoạt động
nghề nghiệp, thích ứng với hoạt động học tập và thích ứng với hoạt động
dạy học.
1.1. Nghiên cứu thích ứng với hoạt động nghề nghiệp
Thích ứng nghề nghiệp là quá trình thay đổi của cá nhân để đáp ứng
yêu cầu về nhận thức, thái độ, kỹ năng nghề nghiệp. Các tác giả nghiên
cứu về thích ứng với hoạt động nghề nghiệp trên thế giới và trong nước
thường tập trung vào đối tượng sinh viên, người học trong quá trình thích
ứng nghề tại trường học hơn là các cơ quan, đơn vị sản xuất, kinh doanh.
Các tác giả Peter Creed, Tracy Fallon, Michell Hood thuộc trường
Đại học Griffth của Australia đã có công trình nghiên cứu về: “Mối quan
hệ giữa thích ứng nghề nghiệp và mối quan tâm về nghề trong giới trẻ”
12
[73]. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng: Thích ứng nghề nghiệp có mối quan
hệ bên trong và có thể bị ảnh hưởng bởi nhân tố đầu tiên (kế hoạch xây
dựng nghề, khám phá nghề, xu hướng nghề, sự ra quyết định nghề…).
Những nhân tố nghề có mối quan hệ nội hàm và bị ảnh hưởng bởi nhiều
nhân tố khác.
Tác giả R.D. Duffy và D.L. Blustein cho rằng khả năng thích ứng
nghề nghiệp được hiểu như là sự tự quyết định về nghề, sự tự lựa chọn
nghề, tự mong muốn đạt được kết quả nhất định về nghề, tìm kiếm
trường học nghề phù hợp với khả năng của mình…[72]. Để hoạt động
nghề nghiệp đạt hiệu quả đòi hỏi mỗi cá nhân phải thích ứng với nghề
nghiệp. Khi con người thích ứng với nghề nghiệp, họ sẽ chủ động, tích
cực trong công việc, an tâm, phấn khởi, say mê, dồn hết khả năng, tâm trí
của mình cho hoạt động nghề. Lúc này, con người sẽ thực hiện hoạt động
dễ dàng, khả năng sáng tạo lớn và hiệu quả lao động cao.
Tác giả N.B.Basinanova, D.V.Kalinhitreva xem xét mối quan hệ giữa
trí tuệ với sự thích ứng nghề nghiệp, thích ứng tâm lý xã hội đã phát hiện:
Chỉ số trí tuệ càng cao thì sự thích ứng nghề nghiệp lại càng thuận lợi.
Nhưng sự thích ứng tâm lý xã hội thì không hoàn toàn như vậy. Nếu chỉ
số trí tuệ của cá nhân cao hơn hẳn chỉ số trí tuệ chung của nhóm thì nó sẽ
cản trở sự thích ứng tâm lý xã hội của cá nhân đó [4].
Tác giả A.E.Golomstooc khi nghiên cứu về “Sự lựa chọn nghề
nghiệp và giáo dục nhân cách cho học sinh” đã không sử dụng thuật ngữ
“thích ứng” (Адаптация) mà sử dụng thuật ngữ “thích hợp” (Пригодностъ)
để nói lên sự thích nghi đặc biệt của con người với nghề nghiệp và nhấn
mạnh đến mặt tình cảm của quá trình thích hợp nghề nghiệp, coi đó như là
một thuộc tính của nhân cách [17].
13
Ở Phần Lan, M.V. Vôlannen quan tâm đến vấn đề thích ứng nghề
nghiệp và tâm thế xã hội đối với việc làm của thanh niên. Kết quả nghiên
cứu của ông cho thấy giữa việc học nghề và lao động nghề của thanh niên
tồn tại một thời kỳ chuyển tiếp có thể kéo dài từ 5 7 năm, được đặc
trưng bởi hàng loạt các sự kiện như: học nghề, thay đổi nghề, thất nghiệp,
làm việc tạm thời. Tác giả xem đây là những giai đoạn thích ứng nghề của
thanh niên và tâm thế của họ đối với việc làm phụ thuộc vào giai đoạn này
có diễn ra sự thích ứng nghề hay không [95].
Tác giả B.Hesketh trong bài viết: “Thích ứng tâm lý nghề để đương
đầu với mọi thay đổi” [80] đã đề cập tới việc đào tạo những công nghệ
mới cho người lao động, tạo điều kiện cho họ nhanh chóng thích nghi với
những công nghệ đó và hình thành các kỹ năng cần thiết. Tác giả cho rằng,
cần cho người lao động thích ứng với tâm lý nghề để họ sẵn sàng đương
đầu với những thay đổi, không chỉ cung cấp cho người lao động tri thức
nghề mà điều đặc biệt quan trọng là phải hình thành kỹ năng nghề cho họ.
Công trình nghiên cứu: “Các yếu tố thích ứng nghề nghiệp của sinh
viên” được đăng trên http:/www.jour.club.ru. đã phản ánh các yếu tố thích ứng
nghề nghiệp của sinh viên thông qua các giai đoạn của quá trình thích ứng nghề
nghiệp của sinh viên bao gồm: giai đoạn tiếp nhận trách nhiệm nghề nghiệp,
giai đoạn hòa nhập vào môi trường làm việc và giai đoạn hình thành các phẩm
chất nhân cách có giá trị nghề nghiệp. Quá trình thích ứng nghề nghiệp của
sinh viên ở các giai đoạn khác nhau có những biểu hiện tương ứng, do đó, để
có thể đánh giá được mức độ thích ứng nghề nghiệp của sinh viên có thể tìm
hiểu sự biểu hiện của sinh viên thông qua quá trình thực hiện hoạt động nghề
nghiệp. Mức độ thích ứng cao nhất đối với nghề là khi cá nhân hình thành
được những phẩm chất nhân cách có giá trị nghề nghiệp [106].
14
Tác giả Pankova Tachiana Anna Tonnepna với đề tài: “Thích ứng tâm
lý nghề nghiệp của các chuyên gia trẻ” [104] đã nghiên cứu trí tuệ xã hội
như là yếu tố thích ứng tâm lý xã hội của một chuyên gia trẻ. Các chuyên
gia trẻ có trình độ trí tuệ cảm xúc cao thì có sự thích ứng tâm lý xã hội đối
với hoạt động nghề nghiệp theo các tiêu chí bên ngoài và bên trong. Hiệu
quả thích ứng tâm lý xã hội của chuyên gia trẻ theo các tiêu chí bên trong có
liên quan chặt chẽ với trình độ trí tuệ xúc cảm bên trong và trình độ trí tuệ
xúc cảm liên nhân cách (ứng xử, quan hệ).
Tác giả Nguyễn Văn Hộ với đề tài "Thích ứng sư phạm" đã đưa ra
các khái niệm về thích ứng, thích ứng sư phạm, phân tích các nội dung về
hình thành khả năng thích ứng về lối sống cho sinh viên sư phạm, hình
thành khả năng thích ứng về tay nghề trong quá trình đào tạo cho sinh viên
sư phạm, như: thích ứng với quy trình lên lớp, thích ứng với hoạt động
giảng dạy trên lớp, thích ứng với hoạt động thiết kế nội dung công tác chủ
nhiệm lớp và thích ứng với hoạt động ứng xử trong công tác giáo dục. Bên
cạnh đó, tác giả đề ra một số giải pháp giúp sinh viên đại học thích ứng với
nghề sư phạm [23].
Tác giả Dương Thị Nga, với đề tài “Phát triển năng lực thích ứng
nghề nghiệp cho sinh viên cao đẳng sư phạm” [36] đã chỉ ra các yếu tố
ảnh hưởng đến sự phát triển năng lực thích ứng nghề cho sinh viên cao
đẳng: ảnh hưởng của giáo viên; nội dung chương trình và phương pháp,
hình thức tổ chức dạy học; rèn luyện nghiệp vụ sư phạm thường xuyên;
việc tham gia vào các hoạt động ở trường phổ thông; các phương tiện
thông tin đại chúng; môi trường và điều kiện học tập; sự giúp đỡ của bạn
bè và người thân; truyền thống gia đình; các yếu tố sinh học thể chất; ý
thức của bản thân về giá trị nghề dạy học; động cơ, lý tưởng, hứng thú
15
nghề nghiệp; tri thức, kỹ năng, kỹ xảo đã có ở sinh viên; tính tích cực tự
giác, sáng tạo trong học tập và ý chí rèn luyện nghề.
Tác giả Dương Thị Thanh Thanh nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng
đến sự thích ứng với hoạt động quản lý dạy học của hiệu trưởng trường
tiểu học tỉnh Nghệ An. Kết quả cho thấy các yếu tố cơ bản ảnh hưởng
đến thích ứng của hiệu trưởng là: tri thức, kinh nghiệm quản lý và ý thức
rèn luyện của hiệu trưởng trường tiểu học; bầu không khí tâm lý tập thể
sư phạm trong trường tiểu học và điều kiện hoạt động quản lý của hiệu
trưởng trường tiểu học [47].
Tóm lại, từ các công trình nghiên cứu thích ứng nghề nghiệp cho
thấy, các tác giả đã đề cập đến khái niệm thích ứng nghề nghiệp, những
yếu tố chủ quan, khách quan và những chỉ số đặc trưng cho thích ứng nghề
nghiệp. Các tác giả đều có xu hướng cho rằng, thích ứng nghề nghiệp là quá
trình thích nghi với những đặc điểm lao động và điều kiện của quá trình lao
động. Thích ứng nghề nghiệp là quá trình thích ứng thể hiện ở cả ba mặt của
đời sống tâm lý con người đó là: nhận thức, cảm xúc và hành động. Các nhân
tố bên trong có vai trò quan trọng đến mức độ thích ứng của cá nhân với hoạt
động nghề nghiệp, như: xu hướng nghề, kế hoạch xây dựng nghề, sự ra
quyết định nghề và chỉ số trí tuệ. Tuy nhiên, các tác giả chưa phân tích rõ nội
dung thích ứng với hoạt động nghề nghiệp cũng như quy trình thích ứng cụ
thể để giúp cho đối tượng thích ứng tốt ở những môi trường nghề nghiệp
khác nhau và chưa đưa ra một số trường hợp điển hình về đối tượng thích
ứng với nghề nghiệp để làm rõ hơn những vấn đề lý luận và thực tiễn của
vấn đề nghiên cứu.
1.2. Nghiên cứu thích ứng với hoạt động học tập
16
Hướng nghiên cứu về thích ứng với hoạt động học tập được nhiều
tác giả trong và ngoài nước nghiên cứu ở nhiều khía cạnh khác nhau, ở các
cấp bậc học khác nhau từ tiểu học đến đại học.
Bren P.Allen đã tiếp cận vấn đề thích ứng học tập của sinh viên
thông qua một hệ thống tác động hình thành các kỹ năng học tập tại trường
đại học. Tác giả cho rằng, sinh viên muốn thích ứng với học tập ở trường
đại học cần phải hình thành các kỹ năng: quản lý chặt chẽ quỹ thời gian cá
nhân; các kỹ năng học tập; chế ngự cảm xúc tiêu cực để vượt qua các khó
khăn trong học tập, thi cử; chọn các hình thức học tập; chủ động và hình
thành các thói quen hành vi mang tính chất nghề nghiệp [70].
Công trình nghiên cứu của H.W. Bernard đã khẳng định vai trò của mối
quan hệ tích cực giữa thầy và trò để thích ứng với hoạt động học tập, không
phải chỉ trò tích cực trong hoạt động học mà cả thầy cũng phải tích cực trong
hoạt động giảng dạy. Qua nghiên cứu của mình, tác giả đã chỉ ra được các
biện pháp cụ thể để giúp học sinh nhanh chóng thích ứng với hoạt động học
tập [71].
Tác giả Xinyin Chen thuộc Đại học Tây Ontario, Canada và BoShu
Li thuộc đại học sư phạm Shanghai, Trung Quốc đã nghiên cứu: “ Tâm
trạng thất vọng của trẻ em Trung Quốc: Tầm quan trọng của sự phát triển
đối với sự thích ứng trường học và xã hội” [92] nghiên cứu trên trẻ em 12
tuổi về ảnh hưởng tâm trạng thất vọng tới sự thích ứng trường học của
trẻ em Trung Quốc như sau: Tâm trạng thất vọng của học sinh được
nghiên cứu thông qua tự thuật, đánh giá của bạn bè, giáo viên và hồ sơ tại
trường. Sự thất vọng tác động âm tính tới các kết quả học tập và tác động
dương tính tới việc tăng các khó khăn trong học tập.
17
Tác giả Ming Kung Yang và WeiChin Hsiao với đề tài “ Nghiên cứu
sự thích ứng học nghề trên những học sinh của trường dạy nghề” [84] kết
quả nghiên cứu cho thấy, học sinh trung học nghề tại Trung Quốc có thái độ
thích ứng tích cực đối với việc học tập kỹ năng; không có sự khác biệt đáng
kể về kỹ năng ở góc độ hiệu quả tự học và yếu tố môi trường dạy học; mối
quan hệ xã hội, tiện nghi xưởng thực hành, sự quan tâm của nhà trường về
việc học kỹ năng có ảnh hưởng lớn đến sự thích ứng về mặt kỹ năng trong
học tập.
Tác giả P. Zettergren thuộc Đại học Stockholm, Thụy Điển nghiên
cứu: “Sự thích ứng nhà trường ở tuổi vị thành niên đối với trẻ em bình
thường và trẻ em bị hắt hủi trước đây” [93] kết quả cho thấy thành tích
học tập và mức độ thông minh của các em bị bạn bè hắt hủi kém hơn so
với các em khác, điểm số của các em được bạn bè yêu quý đạt được ở mức
cao. Nghiên cứu cũng đưa ra dấu hiệu những học sinh nữ bị bạn bè ghét bỏ
có thái độ tiêu cực với trường học và việc thực hiện các nhiệm vụ ở nhà
trường; tỷ lệ bỏ học giữa chừng của học sinh nam bị ghét bỏ cao hơn
nhiều so với các nhóm học sinh nam khác; những trẻ em bị bạn bè hắt hủi
có thể gây rắc rối ở nhà trường và khi lớn lên.
Ba nhà tâm lý học là J. Hopkins, N. Malleson, I. Sarnoff nghiên cứu
mối liên hệ giữa kết quả học tập với quan hệ bạn bè khác giới của sinh
viên nước ngoài học tập ở London và đưa ra kết quả thú vị nhưng gây
nhiều tranh cãi rằng: 62,7% sinh viên có bạn khác giới đạt kết quả học tập
tốt (vượt qua các kỳ thi), trong khi con số này ở sinh viên không có bạn
khác giới là 37,3%; 31,6% số sinh viên có bạn khác giới có kết quả học tập
kém trong khi con số này ở nhóm sinh viên không có bạn khác giới lên đến
68,4% [81].
Tác giả A.Arkoff trong tác phẩm: “Thích ứng và sức khỏe tinh thần”
[69] đã công bố công trình nghiên cứu của mình về thích ứng tâm lý, bao
18
gồm cả sự thích ứng học tập của học sinh và sinh viên. Theo tác giả, sự
thích ứng nói chung của con người bao gồm các chỉ số sau: Hạnh phúc, sự
hài lòng, lòng tự trọng, sự phát triển cá nhân, sự hội nhập cá nhân, khả
năng tiếp xúc với môi trường, sự độc lập với môi trường.
Tác giả O.EPiskun đã nghiên cứu: “Ảnh hưởng của những đặc điểm
trí tuệ đến sự thích ứng với hoạt động học tập của sinh viên trường đại
học kỹ thuật” [105] và chỉ ra rằng: khó khăn trong quá trình thích ứng của sinh
viên với hoạt động học tập ở các trường đại học kỹ thuật không chỉ liên quan
đến xúc cảm, tình cảm hay môi trường giao tiếp mà nó còn liên quan tới những
hạn chế trong sự phát triển trí tuệ, trong đó quan trọng nhất là tư duy logic,
không gian và kỹ thuật.
Các tác giả C.M. Sukina, Wendy S.Grolnick và Marika Silvan đã nghiên
cứu về thích ứng của học sinh tiểu học và chỉ ra mô hình thích ứng; quá trình
thích ứng, các phương pháp làm việc và tác động sư phạm để giúp học sinh
thích ứng tốt [102], [79], [82]. Tuy nhiên, công trình này chưa chỉ rõ cấu trúc
tâm lý của thích ứng với môi trường nhà trường của học sinh; chưa phân tích
cụ thể về những khía cạnh hạn chế của những tác động sư phạm của giáo
viên cũng như những ảnh hưởng của bố mẹ đến mức độ thích ứng của học
sinh.
Ở Việt Nam, có nhiều tác giả đã nghiên cứu về thích ứng với hoạt
động học tập của học sinh ở các độ tuổi, môi trường khác nhau. Tác giả
Vũ Thị Nho cùng một số nhà khoa học đã tiến hành nghiên cứu đề tài “Sự
thích ứng với hoạt động học tập của học sinh tiểu học” [38]. Các tác giả
xem sự thích ứng với hoạt động học tập là một dạng của thích ứng xã hội
và bao gồm hai khía cạnh chính đó là sự thích ứng với các mối quan hệ
trong học tập mà chủ yếu là quan hệ giáo viên học sinh và thích ứng với
các yêu cầu của hoạt động học tập.
19
Tác giả Đỗ Mạnh Tôn với đề tài “Nghiên cứu sự thích ứng đối với
học tập và rèn luyện của học viên các trường sỹ quan quân đội” [44], cho
rằng: “thích ứng với học tập và rèn luyện của học viên các trường sỹ quan
quân đội là một phẩm chất phức hợp và cơ động của nhân cách học viên,
biểu hiện ở quá trình người học tự tổ chức hoạt động học tập, rèn luyện
của mình dưới sự định hướng của người thầy và nhà trường nhằm phát
triển các chức năng sinh lý, các phẩm chất tổng hợp của nhân cách, đạt tới
sự phù hợp tối đa với những điều kiện và học tập và rèn luyện ở trường sỹ
quan. Kết quả nghiên cứu cho thấy: học viên các trường sỹ quan quân đội
có mức độ thích ứng khá cao với hoạt động học tập và rèn luyện, song vẫn
còn những hạn chế nhất định và hạn chế tập trung nhất ở mặt kỹ năng, kỹ
xảo.
Tác giả Phan Quốc Lâm với đề tài: “Sự thích ứng với hoạt động học
tập của học sinh lớp 1” [32], kết quả nghiên cứu cho thấy khoảng 10%
học sinh thích ứng ở mức tốt, 75% ở mức trung bình khá và có đến 15%
học sinh cho đến cuối năm lớp 1 vẫn chưa thể thích ứng với hoạt động học
tập. Kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra những yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến
sự thích ứng của hoạt động học tập của học sinh lớp 1, đó là hoàn cảnh gia
đình, giới tính, trình độ phát triển trí tuệ của học sinh, sự chuẩn bị về mặt
tâm lý cho hoạt động học tập... Trên cơ sở đó, nhằm nâng cao mức độ thích
ứng của học sinh, tác giả đã thử nghiệm tác động đến học sinh thông qua 6
biện pháp: nâng cao hiểu biết của giáo viên về thích ứng, hình thành những
hành vi phù hợp ngay từ đầu khi trẻ mới tới trường, tăng cường tính xác
định của tình huống học tập, có thái độ ứng xử phù hợp với đặc điểm tâm
lý học sinh, cá biệt hóa trong dạy học và phối hợp với gia đình học sinh.
Tác giả Lê Ngọc Lan nghiên cứu đề tài: “Sự thích ứng với hoạt động
thực hành môn học của sinh viên Đại học Sư phạm Hà Nội” [31], tác giả kết
luận: Thích ứng là một cấu trúc bao gồm hai thành tố: Nắm được các phương
20
thức hành vi thích hợp đáp ứng với các yêu cầu của cuộc sống và hoạt động;
Hình thành những cấu tạo tâm lý mới tạo nên tính chủ thể của hành vi và hoạt
động. Hai thành tố này có mối quan hệ gắn bó chặt chẽ với nhau giúp con người
điều chỉnh được hệ thống thái độ, hành vi hiện có, hình thành được hệ thống
thái độ, hành vi phù hợp với môi trường đã thay đổi. Tốc độ và kết quả của quá
trình đó phụ thuộc rất nhiều vào sự nỗ lực, ý thức và khả năng của mỗi sinh
viên.
Có thể thấy rằng, các tác giả Phan Quốc Lâm, Đỗ Mạnh Tôn,
Nguyễn Xuân Thức, Lê Ngọc Lan xuất phát từ quan điểm của tâm lý học
hoạt động để nghiên cứu vấn đề thích ứng. Với họ, hoạt động vừa là đối
tượng, vừa là phương thức của sự thích ứng, nghĩa là thích ứng với hoạt
động và để làm được điều này thì cá nhân phải đi vào hoạt động, thông qua
hoạt động của chính mình. Thông qua quá trình này, cá nhân lĩnh hội được
những kinh nghiệm, hình thành nên những cấu tạo tâm lý mới, giúp cá nhân
khắc phục được những khó khăn và đảm bảo kết quả hành động. Hay nói cách
khác, quá trình thích ứng được đặc trưng bởi những biến đổi của cá nhân trên
hai mặt: mặt tâm lý (hình thành những cấu tạo tâm lý mới) và mặt hành vi (với
việc hình thành những hành vi mới phù hợp với sự biến đổi của môi trường
mới).
Các tác giả Nguyễn Thạc, Đỗ Thị Thanh Mai, Đặng Thị Lan, Dương Thị
Thoan, Nguyễn Thị Út Sáu đã có các công trình nghiên cứu thích ứng với học
tập của sinh viên ở các môi trường nhà trường khác nhau. Các công trình này
đều chỉ ra rằng: sinh viên chưa có phương pháp học tập phù hợp, chính yếu tố
này là nguyên nhân cơ bản dẫn đến mức độ thích ứng của sinh viên chưa cao.
Bên cạnh đó, các tác giả cũng đã xây dựng những biện pháp tâm lý sư phạm
cụ thể nhằm nâng cao mức độ thích ứng với học tập của sinh viên trong các
nhà trường khác nhau [46], [28], [29], [49], [30], [53].
21
Tóm lại, các công trình nghiên cứu về thích ứng với hoạt động học
tập của học sinh, sinh viên trên thế giới và Việt Nam đã nghiên cứu khá
nhiều khía cạnh của thích ứng trong việc học tập của h ọc viên, sinh
viên. Các tác giả cũng đã xác định được tiêu chí khách quan để đo các
biểu hiện của sự thích ứng với hoạt động học tập và chỉ ra nhiều yếu tố
chủ quan, khách quan ảnh hưởng đến quá trình thích ứng của học sinh,
sinh viên. Ngoài ra, các công trình đã xây dựng những biện pháp tâm lý
sư phạm giúp học sinh, sinh viên nhanh chóng thích ứng với môi trường
nhà trường.
1.3. Thích ứng với hoạt động dạy học
Thích ứng với hoạt động dạy học là loại thích ứng tâm lý xã hội, là
quá trình con người điều chỉnh nhận thức, thái độ, hành vi của mình để đáp
ứng yêu cầu, đòi hỏi của môi trường mới nhằm đạt hiệu quả hoạt động và
sự hài lòng của cá nhân. Các công trình nghiên cứu về thích ứng với hoạt
động dạy học ở nhiều khách thể khác nhau từ giáo viên tiểu học đến giảng
viên đại học. Bên cạnh đó, mỗi công trình lại làm sáng tỏ những vấn đề cụ
thể mà các giáo viên thường gặp phải trong quá trình dạy học như phương
pháp sư phạm; kỹ năng dạy học; kỹ năng sử dụng phương tiện dạy học và
mối quan hệ với đồng nghiệp, với học sinh. Hơn nữa, các tác giả cũng
nghiên cứu yếu tố ảnh hưởng đến thích ứng của giáo viên với hoạt động
dạy học.
Tác giả A.I.Serbacov và A.V. Mudric nghiên cứu: “Sự thích ứng
nghề nghiệp của người th ầy giáo” [99] và cho rằng thích ứng nghề
nghiệp của người thầy giáo là quá trình thích nghi với những điều kiện
thực tế của hoạt động sư phạm thể hiện ở các nhà giáo dục trẻ khi mới
vào công tác tại các trường phổ thông.
Năm 1979, G.J.Pine nghiên cứu: “Sự thích ứng của giáo viên trong
hoạt động nghề nghiệp” [87] kết quả cho thấy, để thích ứng với hoạt động
22
nghề nghiệp, người giáo viên phải thích ứng được với những phương pháp
giảng dạy rất thông thường; khi thích ứng được với những phương pháp
giảng dạy thông thường họ mới tự tin thay đổi phương pháp.
Tác giả Chepnickova đã nghiên cứu các yếu tố thích ứng xã hội
nghề nghi ệp c ủa giảng viên trẻ ở thành phố Chelemink của Nga, đề tài
chọn những y ếu tố ảnh h ưởng đế n thích ứng nghề nghiệp gồm hai
nhóm yếu tố: bên trong và bên ngoài. Nhóm yếu tố bên ngoài gồm: hoàn
cảnh vật chất của giáo viên trẻ, trình độ đào tạo sư phạm, môi trườ ng
giáo dục, tổ chức công tác đào tạo nghiệp vụ sư phạm và uy tín của
nghề trong xã hội. Nhóm yếu tố bên trong gồm: thâm niên nghề nghiệp,
hệ thống định hướ ng giá trị, động cơ chọn nghề sư phạm, các phẩ m
chất nghề nghiệp, t ự đánh giá về trình độ đào tạo [108].
Tác giả S.N. Shcheglova nghiên cứu: “Các đặc trưng thích ứng của
giáo viên phổ thông đối với các giá trị của việc sử dụng máy tính” [90] và
cho rằng, thích ứng của giáo viên với những giá trị của xã hội thông tin là
phương pháp độc đáo đòi hỏi tính tích cực trong giảng dạy. Công trình
nghiên cứu của tác giả góp phần khẳng định đòi hỏi tất yếu của thế kỷ
XXI đối với con người nói chung và giáo viên nói riêng. Giáo viên muốn
tồn tại, muốn cống hiến tốt cho hoạt động nghề nghiệp của mình, cần
phải thích ứng với những biến đổi của xã hội, cụ thể là phải biết khai thác,
sử dụng các giá trị của công nghệ thông tin.
Tác giả Mustafa Ozturk đã nghiên cứu “Bước đầu quen với hoạt
động dạy học: những khó khăn thích ứng của giáo viên trẻ” [85] và đã chỉ
ra bốn yếu tố khó thích ứng nhất của giáo viên trẻ là: Áp lực công việc; uy
tín xã hội và bản sắc cá nhân; giám sát, quản lý ở trường học và những khó
khăn trong quản lý lớp học.
Tác giả Nguyễn Chí Tăng nghiên cứu: “Sự thích ứng của giáo viên
Trung học cơ sở với việc ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động