Nghiên cứu Y học
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 20 * Số 4 * 2016
ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ BAN ĐẦU GHÉP GAN NGƯỜI LỚN
TỪ NGƯỜI SỐNG CHO GAN TẠI BỆNH VIỆN CHỢ RẪY
Phạm Hữu Thiện Chí*, Đoàn Tiến Mỹ*, Lê Trường Chiến*, Trần Đình Quốc*, Lê Quang Chỉnh*,
Nguyễn Trí Dũng*, Phạm Thị Ngọc Thảo*, Nguyễn Tấn Cường*, Nguyễn Trường Sơn*
TÓM TẮT
Đặt vấn đề: Ghép gan người lớn từ người cho sống đòi hỏi vừa phải giữ an toàn người cho vừa lấy được
mảnh ghép hiệu quả cho người nhận. Thể tích mảnh gan dự định lấy ghép, thể tích gan còn lại, mảnh ghép đủ cho
người nhận, phục hồi lưu thông tĩnh mạch gan được xem là những yếu tố kỹ thuật quan trọng.
Phương pháp nghiên cứu: Tiến cứu.
Đối tượng nghiên cứu: Người nhận: Bệnh nhân có chỉ định ghép gan. Người cho gan được tuyển chọn,
đánh giá thể tích gan phần sẽ lấy ghép và phần gan còn lại.
Kết quả: Có 2 trường hợp ghép gan do xơ gan giai đoạn cuối (1 nữ 52 tuổi và 1 nam 50 tuổi) trong 2 năm
2012-2013 tại bệnh viện Chợ Rẫy-TPHCM.Cả hai đều được ghép từ gan phải của người cho. Thể tích gan còn lại
ở người cho là 36,53%, 33,5%. Tỷ số cân nặng mảnh ghép / cân nặng bệnh nhân (GWRW) là 1,34 và 1,36. Một
trường hợp phải mổ lại cầm máu vì chảy máu sau mổ vùng đuôi tụy sau cắt lách kèm theo; sau đó diễn tiến giả
phình động mạch gan rò vào đường tiêu hóa khiến tử vong sau ghép hai tháng. Ở trường hợp còn lại, diễn tiến
sau ghép ổn định. Hai người cho đều an toàn, sinh hoạt bình thường, gan tái sinh sau mổ tốt.
Kết luận:
Với hai trường hợp ghép gan người lớn từ người cho sống đầu tiên tại bệnh viện Chợ Rẫy, vấn đề an toàn ở
người cho được chú trọng hàng đầu từ khâu tuyển chọn trước ghép, đánh giá trong mổ. Kỹ thuật tạo hình các
tĩnh mạch gan giúp tránh sung huyết mảnh ghép. Nhờ vậy, người cho gan được an toàn và các mảnh ghép hoạt
động tốt. Cần đánh giá nguy cơ, theo dõi chặt chẽ để phát hiện sớm các biến chứng, đặc biệt là biến chứng giả
phình mạch máu.
Từ khóa: Ghép gan, Ghép gan người lớn từ người cho sống.
ABSTRACT
INITIAL RESULTS OF ADULT – TO - ADULT LIVING DONOR LIVER TRANSPLANTATION AT CHO
RAY HOSPITAL
Pham Huu Thien Chi, Doan Tien My, Le Truong Chien, Tran Dinh Quoc, Le Quang Chinh,
Nguyen Tri Dung, Pham Thi Ngoc Thao, Nguyen Tan Cuong, Nguyeễn Truong Son
* Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 20 - No 4 - 2016: 108 - 113
Background: Adult-to-adult living donor liver transplantation (A-A LDLT) requires donor safety and good
functioning graft. Graft volume, remnant liver volume, recipient matching, hepatic vein reconstructions are
considered as important technical factors.
Patients and Method: Prospective study. Patients have indication of liver transplantation. Potential donors
were evaluated carefully. Graft volume, remnant volume were estimated by liver dynamic CT.
Results: There were 2 cases of liver transplantation for end- stage liver disease composed of one 53-year-old
woman and one 50-year-old man in 2 years (2012- 2013). 1Both cases were transplanted from right liver of
* BV. Chợ Rẫy
Tác giả liên lạc: TS.BS Phạm Hữu Thiện Chí
108
ĐT: 0918357820
Email:
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 20 * Số 4 * 2016
Nghiên cứu Y học
donors. The remnant liver volume of donors was 36.53% and 33.5%. GWRW ratios were 1.34 and 1.36. In the
first case, the patient was reported to stop bleeding at tail of pancreas from splenectomy in the previous operation.
Two months later, a pseudoaneurysm of hepatic artery communicating to biliojejunal anastomosis made her died
after embolization. The evolution of the other case has been stable. Both donors have been well with normal lives
and good liver regenerations.
Conclusions: In A-A LDLT, donor’s safety is the most important factor requiring careful preoperative
selection and intraoperative evaluation. Reconstruction of hepatic veins help to avoid graft congestion. Thereby,
donors are safer and grafts function well.
Key words: Liver transplantation, living donor liver transplantation.
MỞ ĐẦU
KẾT QUẢ
Kể từ ca ghép gan toàn phần đầu tiên năm
1963 do nhóm của T.E Starzl (Colorado-Mỹ) với
người cho chết não, cho đến nay mô hình này
vẫn là chủ yếu tại các nước Âu, Mỹ. Mãi đến
những năm 1984 -1990, kỹ thuật ghép gan giảm
thể tích (reduced liver transplantation), ghép gan
chẻ (split liver transplantation) từ người cho chết
não mới mở đường cho việc lấy gan từ người
cho sống để ghép cho trẻ em và từ đó, mô hình
này trở nên phổ biến ở các nước châu Á, nơi có
nhiều khác biệt về văn hóa, tín ngưỡng về việc
cho tạng với các nước phương Tây. Với hai
trường hợp ghép gan người lớn từ người sống
cho tạng tại bệnh viện Chợ Rẫy trong hai năm
2012-2013, thể tích mảnh gan dự định lấy ghép,
thể tích gan còn lại, mảnh ghép đủ cho người
nhận, phục hồi lưu thông tĩnh mạch gan được
xem là những yếu tố kỹ thuật quan trọng.
Trong hai năm (2012-2013), đã có 2 trường
hợp ghép gan người lớn từ người cho sống.
ĐỐITƯỢNG-PHƯƠNGPHÁPNGHIÊNCỨU
Phương pháp nghiên cứu
Tiến cứu.
Đối tượng nghiên cứu
Người nhận: Bệnh nhân có chỉ định ghép
gan. Người cho gan: - người thân thuộc của bệnh
nhân cho một phần gan (Áp dụng theo Quyết
định của Bộ Y tế số 43/2006/QĐ- BYT ngày 29
tháng 12 năm 2006 về việc ban hành quy trình kỹ
thuật ghép thận từ người cho sống và quy trình
kỹ thuật ghép gan từ người cho sống). Người
cho gan được tuyển chọn kỹ, đánh giá thể tích
gan phần sẽ lấy ghép và phần gan còn lại.
Trường hợp 1
Bệnh nhân nữ 52 tuổi., được chẩn đoán trước
ghép là Xơ gan giai đoạn cuối / viêm xơ đường
mật thứ phát sau biến chứng đường mật của
phẫu thuật cắt túi mật – Cường lách giảm 3
dòng. Thalassemia thể nhẹ.
Người cho gan là con trai của bệnh nhân, 22
tuổi, cùng nhóm máu A, Rh (+), Thalassemia thể
nhẹ. Thể tích gan phải dự kiến lấy ghép: 662,5 cc.
Thể tích gan trái còn lại: 36,53%.
Bệnh nhân được mổ ghép gan phải từ người
cho sống.
Người cho: Sinh thiết gan tức thì: mức độ
nhiễm mỡ của gan < 5%. Cắt lấy gan phải (hạ
phân thùy (hpt) V, VI, VII, VIII) với cuống
mạch nuôi tĩnh mạch (tm) cửa, động mạch
(đm) gan phải, ống mật gan phải, tm gan phải
và các nhánh tm gan hạ phân thùy V,VIII của
tm gan giữa.
Chuẩn bị mảnh ghép (Backtable): Mảnh
ghép nặng 630g. GRWR: 1,34. Rửa gan với
dung dịch Custodiol lạnh 40C, giữ lạnh mảnh
ghép với đá xốp. Nối các nhánh tm gan hạ
phân thùy V, VII với đoạn đm chủ lấy từ
người chết não hiến tạng. Tạo hình mép tm
gan phải với một đoạn tm hiển lớn lấy từ đùi
trái của bệnh nhân.
Người nhận: Gỡ dính. Cắt bỏ lách kèm lách
phụ. Cắt toàn bộ gan. Ghép mảnh gan từ người
cho với các miệng nối: tm gan phải mảnh ghép
109
Nghiên cứu Y học
với lỗ tm gan phải của người nhận; nhánh tm
gan phải dưới của mảnh ghép với tm chủ người
nhận. Lấy huyết khối tm cửa, nối tm cửa phải
của mảnh ghép với tm cửa người nhận; Tái tưới
máu mảnh ghép. Nối đoạn đm chủ ghép đã nối
nhánh tm gan hpt V, VIII với lỗ tm gan giữa và
phải của người nhận. Kiểm tra siêu âm trong mổ
phát hiện huyết khối tm cửa chỗ nối lan từ tm
lách, xuất hiện sau khi cắt lách. Mở lại miệng nối
tm cửa lấy huyết khối và nối lại tận –tận. Nối đm
gan tận - tận với kính vi phẫu. Nối ống mật
mảnh ghép với quai ruột Roux-en-Y.
Điều trị ức chế miễn dịch với Cyclosporin
A và Corticoid. Kháng đông điều trị huyết
khối TM lách. Các xét nghiệm theo dõi theo
quy trình.
Hậu phẫu ngày thứ 4-6: Chân ống dẫn lưu
trái thấm dịch máu, ống dẫn lưu ra 170ml máu.
CT scan: Huyết khối tm lách vùng đuôi tụy. Có
khối máu tụ vùng hố lách và dấu thoát mạch
vùng đuôi tụy. Phẫu thuật lần 2 để cầm máu chỗ
rỉ máu từ bờ dưới đuôi tụy và vùng cuống gan
trên tá tràng. Sinh thiết gan nhận không có dấu
hiệu thải ghép.
Mỗi 2 tuần, chụp CT có cản quang kiểm tra
mảnh ghép và làm các xét nghiệm chức năng
gan, điều chỉnh nồng độ thuốc ức chế miễn dịch,
thuốc kháng đông.
Hậu phẫu ngày 61: bệnh nhân chóng mặt,
đi cầu ra máu đỏ tươi lượng nhiều. Chụp CT
bụng thấy có chỗ thoát mạch vào quai ruột.
Chụp DSA phát hiện chỗ thoát mạch từ động
mạch gan rò vào quai ruột nối mật – ruột. Phải
làm tắc mạch cầm máu. Hồi sức tích cực,
ngưng thuốc miễn dịch. Sau đó, men gan tăng
cao, diễn tiến suy thận rồi suy đa tạng kèm
nhiễm trùng huyết. Bệnh nhân tử vong sau
làm tắc mạch 1 tuần.
Người cho gan: Các xét nghiệm chức năng
gan, đông máu được thực hiện thường quy theo
quy trình, không có diễn tiến bất thường. Chụp
CT kiểm tra vào ngày thứ 7 sau mổ không có
dấu bất thường. Người cho được xuất viện vào
110
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 20 * Số 4 * 2016
ngày thứ 12 sau mổ. Thể tích gan là 700 ml sau
46 ngày (so 648 ml sau mổ). Các xét nghiệm chức
năng gan trong giới hạn bình thường.
Trường hợp 2
Bệnh nhân nam, 50 tuổi, nhóm máu: AB,
Rh(+). Chẩn đoán: Xơ gan giai đoạn cuối, nhiễm
HBV, đái tháo đường type II 10 năm, đặt stent
mạch vành cách 1 năm, tăng huyết áp. Bệnh
nhân đã có hai lần hôn mê gan từ tháng 4/2013
do xơ gan giai đoạn cuối liên quan rượu và
nhiễm HBV. Tháng 8/ 2013, bệnh nhân vàng da
vàng mắt tăng dần, tiền hôn mê gan (grade 3/4),
điểm MELD 29 – 30. Bệnh nhân có chỉ định ghép
gan, phải lọc huyết tương trước ghép ba lần để
kéo giảm nồng độ Bilirubin huyết tương. Được
ghép gan khẩn cấp ngày 15/8/2013 từ gan người
cho là con trai 18 tuổi có cùng nhóm máu. Dự
kiến lấy gan phải để ghép với thể tích 615 ml.
Ước lượng tỷ lệ phần gan còn lại: 33,5%.
Phẫu thuật ngày 15.8.2013, ghép gan từ gan
phải của người cho tương tự như ca số 1. Mức độ
nhiễm mỡ của gan < 5%. Mảnh ghép nặng 750 g,
GRWR = 1,36.
Ngoài 1 nhánh TM gan hpt V, 2 nhánh hpt
VIII được nối với đoạn đm chủ lấy từ người chết
não hiến tạng, có thêm một nhánh tm gan phải
dưới của mảnh ghép, được nối vào tm chủ dưới
người nhận. Ống mật được nối tận – tận với dẫn
lưu ra da.
Điều trị ức chế miễn dịch với Corticoid,
Tacrolimus và MMF. Giảm liều và ngưng
Corticoid sau 2 tháng. Điều trị viêm gan siêu vi B
với kháng thể kháng HBV liều cao ngay sau khi
cắt bỏ toàn bộ gan và duy trì những ngày sau đó,
dùng phối hợp Entecavir.
Sau khi xuất viện, vào tuần thứ 10 sau mổ,
bệnh nhân đau bụng thượng vị. Tầm soát
nguyên nhân cho thấy di lệch ống dẫn lưu mật.
Rút dẫn lưu, diễn tiến ổn, không có rò mật.
Kiểm tra sau một năm, bệnh nhân ổn, cân
nặng ổn định 50-51 kg, sinh hoạt bình thường,
chức năng gan ổn định, không có dấu hiệu bất
thường ở CT bụng. Bệnh nhân có một số tác
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 20 * Số 4 * 2016
dụng phụ của thuốc ức chế miễn dịch như run
tay, đau các khớp bàn tay vào buổi sáng mức
độ nhẹ.
Người cho gan: được theo dõi và đánh giá
chức năng gan sau mổ theo quy trình. Chụp CT
bụng không có dấu bất thường. Diễn tiến hậu
phẫu ổn, xuất viện sau 12 ngày. Tái khám sau 1,
3, 6, 12 tháng đều ổn định về chức năng gan.
Chụp CT gan cho thấy gan tái sinh ở thời điểm 6
tháng (946 ml), 12 tháng (880 ml). Cho đến nay,
người cho ổn định, không có dấu hiệu thoát vị
vết mổ, sinh hoạt bình thường kể cả tập luyện
thể thao.
BÀN LUẬN
Khác với trường hợp (t.h) người bệnh là trẻ
em, để có mảnh gan với khối lượng đủ cho
người bệnh là người lớn, phải lấy gan phải vốn
có khối lượng lớn hơn gan trái. Điều này đặt ra
vấn đề an toàn cho người cho bởi vì người cho
gan là người khỏe mạnh hoàn toàn, mong muốn
hiến tặng một phần gan để cứu mạng bệnh
nhân, thường là người thân của mình. Báo cáo về
ghép tạng năm 2006 tại hội thảo Vancouver
(Canada)(1) ước chừng trên toàn thế giới có 6000 7000 ca lấy gan từ người sống, trong đó, gặp biến
chứng nguy hiểm 0,4 – 0,6%; 2 ca phải ghép gan
sau khi hiến gan phải, 1 ca sống thực vật. Tử
vong sau hiến gan phải: 0,5%, sau hiến gan trái:
0,1%. Vì vậy chúng tôi luôn đánh giá trước ghép
người cho gan hết sức cẩn thận.
Người cho gan ở 2 ca ghép gan này đều còn
trẻ (18, 22 tuổi), không uống rượu, không nhiễm
HBV, HCV vốn thường hay gặp khi tầm soát
người cho gan vì tỷ lệ nhiễm viêm gan siêu vi ở
Việt Nam còn cao. Cả hai trường hợp người cho
đều có chỉ số gan nhiễm mỡ < 5% lúc sinh thiết
gan, phần gan để lại ước tính là 36,53% (ca 1),
33,5% (ca 2). Theo dõi về sau cho thấy phần gan
còn lại đều tái sinh tăng thể tích ngày vào ngày
thứ 7 sau mổ, tăng thêm vào lần tái khám 42 - 46
ngày sau mổ, sau 6 tháng.
Theo dõi 51 t.h lấy gan phải, Pomfret EA và
c.s cho thấy không có tử vong nhưng biến
(12)
Nghiên cứu Y học
chứng còn cao (39%). Khả năng tái sinh gan sau
1 năm đạt 83,3% +/- 9.0% tổng thể tích gan ban
đầu, không bị ảnh hưởng bởi tuổi, chỉ số BMI,
thời gian mổ, mức độ mất máu, biến chứng sau
mổ, các test về chức năng tái sinh gan.
Uemoto(14) phân tích 27 t.h lấy gan phải
không kèm tm gan giữa. Thể tích gan còn lại là
40.8 +/- 6.6% so thể tích gan toàn bộ, tăng lên 79.8
+/- 12.0% sau mổ 6 tháng, 97.2 +/- 10.8% sau 12
tháng. Từ tháng thứ 3 sau mổ, những người cho
trên 50 tuổi tái sinh gan chậm lại đáng kể so
nhóm trẻ tuổi hơn.
Mức độ gan nhiễm mỡ cũng là yếu tố quan
trọng để quyết định mức cho gan.
Shi Z-R (2012) kết luận thể tích gan còn lại
sau lấy gan phải nên phải tối thiểu là 35% để bảo
đảm an toàn cho người cho(13,13). Tại Trung tâm
Asan(2,3), chỉ định lấy gan phải khi tuổi người cho
trong khoảng 20 -30, gan không nhiễm mỡ, thể
tích gan trái còn lại ít nhất 30% thể tích gan ban
đầu. Nếu tuổi người cho là 30 -50 hoặc gan
nhiễm mỡ vừa < 30%, thể tích gan còn lại phải ít
nhất là 35%.
Kwon KH(8) khảo sát 41 người cho thùy gan
phải. Thể tích gan còn lại trung bình sau mổ là
687,8 cm3. Sau mổ tăng lên 954,4 cm3 ( 144,6%)
ngày thứ 7; 1169.5 cm3 (181,4%), tương đương
88,5% toàn bộ thể tích gan trước mổ vào ngày
thứ 30.
Một vấn đề kỹ thuật quan trọng để có được
mảnh ghép tốt là tránh sung huyết mảnh ghép
do đóng bít các nhánh tm gan hpt V, VIII vốn đổ
về tm gan giữa. Tình trạng này có thể dẫn đến
hoại tử mảnh ghép, hội chứng mảnh ghép nhỏ
(Small-for- size syndrome) có thể gây tử vong
cho người nhận(7,9). Với các nhánh tm nhỏ hơn
5mm, có thể đóng bít. Với các nhánh lớn hơn
5mm, chúng được nối với đoạn đm chủ lấy từ
người chết não rồi nối đoạn đm chủ này với lỗ
tạo hình của tm gan giữa và gan phải, giúp dẫn
máu về lại tm chủ dưới dễ dàng. Tuy nhiên, cần
tạo hình các lỗ tm này với một đoạn viền tm hiển
lớn lấy từ người nhận trước khi nối với đoạn đm
111
Nghiên cứu Y học
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 20 * Số 4 * 2016
chủ nhằm làm rộng miệng nối và tránh tắc hẹp
về sau. Kỹ thuật này dễ dàng ở các trung tâm lớn
có người chết não hiến tạng và có cơ sở lưu trữ
tạng; nếu không, phải sử dụng các đoạn mạch
máu nhân tạo PTFE hoặc đoạn tm hiển lớn lấy từ
người nhận(4,5). Cả hai ca của chúng tôi được sự
giúp đỡ của Trung tâm ghép gan Asan nên có 2
đoạn đm chủ lấy từ người chết não hiến tạng ở
Hàn quốc đem sang. Theo dõi sau mổ bằng chụp
cắt lớp cho thấy không có sung huyết gan, đoạn
đm ghép hoạt động tốt.
Nguyên nhân nhiễm trùng được tìm thấy ở 2 ca
của mỗi nhóm. Theo Marshall, tỷ lệ xuất hiện giả
phình đm gan sau ghép gan vào khoảng 1-2%.
Tỷ lệ tử vong còn cao đến 69%. Phẫu thuật lại ở
mạch máu hay ghép lại gan thường cho kết quả
xấu. Một số báo cáo thành công với can thiệp
mạch để bít chỗ rò ở thành mạch nhưng thường
là nhóm ghép gan đúng vị trí với kích thước
mạch máu (đm gan chung) lớn hơn nhiều so
miệng nối đm gan ở ghép mảnh ghép gan
phải(10,11).
Về biến chứng chảy máu sau mổ vùng đuôi
tụy ở t.h 1 xảy ra vào ngày thứ 5 - 6 sau mổ,
chúng tôi nghĩ lý do chảy máu có liên quan đến
việc sử dụng kháng đông Enoxaparin để điều trị
huyết khối tm lách vùng đuôi tụy. Huyết khối
tm lách hình thành từ sau khi cắt lách điều trị
cường lách giảm ba dòng và huyết khối này lan
đến miệng nối TM cửa khiến phải mở miệng nối
lấy huyết khối. Sau lần mổ này, kháng đông
được chuyển sang dùng Aspirin và Clopidogrel,
về sau là Clopidogrel và Warfarin. Chính nhờ
theo dõi sát các biều hiện lâm sàng mà có thể chỉ
định chụp lại CT bụng, tìm được chỗ chảy máu
và cầm máu kịp thời.
Kim HJ(6) báo cáo 11 ca giả phình đm gan
trong loạt 530 ca ghép gan từ người cho sống tại
Trung tâm ghép gan Asan (Hàn quốc), trong đó,
tổn thương ở miệng nối đm gan (7 ca), trước
miệng nối (4), ở đm gan chung (2), ở đm vị phải
(1), ở nhánh tận đm gan (1). Có dấu hiệu hạ
huyết áp ở các bệnh nhân chảy máu ổ bụng (5
ca); Số còn lại phát hiện tình cờ khi chụp CT (3
ca) và siêu âm Doppler (1 ca), không thấy dòng
chảy đm gan ở siêu âm Doppler (1), chức năng
gan bất thường (1 ca). Thời gian phát hiện giả
phình từ sau ghép gan trung bình là 10 ngày (6 40 ngày).
Biến chứng giả phình đm gan xảy ra vào
cuối tháng thứ hai, trong lúc chuẩn bị chụp lại
CT bụng đánh giá huyết khối tm lách và chuẩn
bị xuất viện thì bệnh nhân đột ngột đi cầu ra
máu ồ ạt, hạ huyết áp. Hồi sức tích cực, chụp CT
bụng thấy hình ảnh thoát thuốc từ động mạch
gan vào quai ruột cạnh sát bên mà không thấy
hình ảnh tụ thuốc cản quang khác. So với hình
ảnh chụp CT và dựng hình mạch máu trước đó
vào cuối tuần thứ 6 sau mổ không có dấu hiệu
giả phình chúng tôi nghĩ diễn tiến nhanh chóng
của rò giữa miệng nối động mạch gan và miệng
nối mật ruột vốn ở sát ngay bên nhau.
Biến chứng giả phình động mạch gan là biến
chứng hiếm gặp, khó xác định suất độ, liên quan
đền yếu tố nhiễm trùng hoặc chấn thương phẫu
thuật. Tobben báo cáo 11 ca giả phình động
mạch gan sau ghép gan đúng vị trí trong đó 6 ca
xảy ra ở miệng nối, 5 ca ở vị trí ngoài miệng nối.
112
Nhiều tác giả cho rằng các giả phình đm gan
ngoài gan có bệnh sinh khác với nhóm giả phình
trong gan vốn liên quan đến các thủ thuật như
sinh thiết gan. Nhóm ngoài gan thường do
nguyên nhân nhiễm trùng tại chỗ, thường hay
gặp trong trường hợp có miệng nối mật ruột
Roux-en-Y vốn dễ làm nhiễm trùng vùng dưới
gan với các vi trùng đường ruột. Dính nhiều khi
mổ, viêm tụy cấp, nhiễm nấm là những yếu tố
nguy cơ(11,10,6).
KẾT LUẬN
Với hai trường hợp ghép gan người lớn từ
người cho sống đầu tiên tại bệnh viện Chợ Rẫy,
vấn đề an toàn ở người cho được chú trọng hàng
đầu từ khâu tuyển chọn trước ghép, đánh giá
trong mổ. Kỹ thuật tạo hình các tĩnh mạch gan
giúp tránh sung huyết mảnh ghép. Nhờ vậy,
người cho gan được an toàn và các mảnh ghép
hoạt động tốt. Cần đánh giá nguy cơ, theo dõi
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 20 * Số 4 * 2016
Nghiên cứu Y học
chặt chẽ để phát hiện sớm các biến chứng, đặc
biệt là biến chứng giả phình mạch máu.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
Barr ML, Belghiti J, Villamil FG, Pomfret EA,(2006). “A Report
of the Vancouver Forum on the Care of the Live Organ Donor:
Lung, Liver, Pancreas, and Intestine Data and Medical
Guidelines”. Transplantation; 81(10):1373-1385.
Hwang S, Lee SG (2004). “The Effect of Donor Weight
Reduction on Hepatic Steatosis for Living Donor Liver
Transplantation”. Liver Transpl; 10:721–725.
Hwang S, Lee SG (2006). “Lessons Learnt From 1,000 Living
Donor Liver Transplantations in a Single Center: How to
make Living Donation Safe”. Liver Transpl; 12:920-927.
Hwang S, Lee SG, Ahn CS (2006). “Outflow Vein
Reconstruction of Extended Right Lobe Graft using Quilt
Venoplasty Technique”. Liver Transpl; 12:156–158.
Hwang S, Lee SG, Park KM (2005). “Quilt Venoplasty Using
Recipient Saphenous Vein Graft for Reconstruction of
Multiple Short Hepatic Veins in Right Liver Grafts”. Liver
Transpl; 11:104–107.
Kim HJ, KimKW, Kim AY (2005). “Hepatic Artery
Pseudoaneurysms
in
Adult
Living-Donor
Liver
Transplantation: Efficacy of CT and Doppler Sonography”.
AJR;184:1549-1555.
Kiuchi T, Oike F, Yamamoto H, (2003). “Small-for-size graft in
liver transplantation”. Nagoya J. Med. Sci; 66. 95-102.
Kwon KH, Kim YW, Kim SI (2003). “Postoperative Liver
9.
10.
11.
12.
13.
14.
Regeneration and Complication in Live Liver Donor after
Partial Hepatectomy for Living Donor Liver Transplantation”.
Yonsei Med J; 44(6):1069-1077.
Lee SG, Park KM, Hwang S (2001). “Congestion of Right Liver
Graft in Living Donor Liver Transplantation”. Tranplantation;
71 (6): 812–817.
Leelaudomlipi S, Bramhall SR, Gunson BK (2003). “.Hepaticartery aneurysm in adult liver transplantation”. Transpl Int;
16:257–261.
Marshall MM, Muiesan P, Srinivasan P (2001). “Hepatic artery
pseudoaneurysms following liver transplantation: incidence,
presenting features and management”. Clin Radiol; 56:579–
587.
Pomfret EA, Pomposelli JJ, Gordon FD (2003). “Liver
regeneration and surgical outcome in donors of right-lobe
liver grafts”. Transplantation; 15;76(1):5-10.
Shi Z-R, Yan L-N, Du C-Y (2012). “Donor safety and remnant
liver volume in living donor liver transplantation”. World J
Gastroenterol; 18(48): 7327-7332.
Yokoi H, Isaji S, Uemoto S. (2005). “Donor outcome and liver
regeneration after right-lobe graft donation”. Transpl Int;
18(8):915-22.
Ngày nhận bài báo:
09/11/2015
Ngày phản biện nhận xét bài báo:
26/11/2015
Ngày bài báo được đăng:
25/07/2016
113