TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC
LÙ ÁNH PHƯỢNG
BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC SỬ DỤNG TỪ
CHO HỌC SINH LỚP 4 THÔNG QUA HỆ THỐNG
BÀI TẬP TRONG SÁCH GIÁO KHOA TIẾNG VIỆT
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phương pháp dạy học Tiếng Việt
HÀ NỘI, 2017
1
TRỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC
LÙ ÁNH PHƯỢNG
BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC SỬ DỤNG TỪ
CHO HỌC SINH LỚP 4 THÔNG QUA HỆ THỐNG
BÀI TẬP TRONG SÁCH GIÁO KHOA TIẾNG VIỆT
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phương pháp dạy học Tiếng Việt
Người hướng dẫn:
ThS. GVC PHAN THỊ THẠCH
HÀ NỘI, 2017
2
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này, chúng tôi đã nhận được sự
quan tâm giúp đỡ nhiệt tình của các thầy, cô giáo đặc biệt là Ths. GVC Phan
Thị Thạch. Chúng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới cô
người đã trực tiếp hướng dẫn chúng tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và
làm
khóa luận.
Qua đây, chúng tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới phòng Đào tạo Trường
ĐHSP Hà Nội 2, tới các thầy, cô giáo trong khoa GDTH đã tạo điều kiện
giúp đỡ để khóa luận của chúng tôi được hoàn thành.
Lần đầu tiên nghiên cứu khoa học, hơn nữa thời gian nghiên cứu còn
hạn chế nên không tránh khỏi những thiếu sót, chúng tôi rất mong nhận được
sự đóng góp ý kiến, sửa chữa của các thầy cô và các bạn sinh viên để đề tài
này được hoàn thiện hơn nữa.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 4 năm 2017
Sinh viên thực hiện
Lù Ánh Phượng
LỜI CAM ĐOAN
Đề tài “ Bồi dưỡng năng lực sử dụng từ cho học sinh lớp 4 thông qua hệ
thống bài tập trong sách giáo khoa Tiếng Việt” được chúng tôi nghiên cứu
và hoàn thành trên cơ sở kế thừa và phát huy những công trình nghiên cứu có
liên quan của các tác giả khác, cộng với sự giúp đỡ của giáo viên hướng dẫn,
Ths. GVC Phan Thị Thạch và sự cố gắng, nỗ lực của bản thân.
Chúng tôi xin cam đoan kết quả của đề tài này không trùng với bất cứ một
công trình nghiên cứu nào.
Sinh viên thực hiện
Lù Ánh Phượng
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BT:
bài tập
ĐHSP:
Đại học Sư phạm
GV:
giáo viên
HS:
học sinh
Nxb GD:
nhà xuất bản Giáo dục
SGK:
sách giáo khoa
SGK TV4:
sách giáo khoa Tiếng Việt 4
TH:
tiểu học
Tr:
trang
VB:
văn bản
VD:
ví dụ
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU........................................................................................................... 1
1, Lí do chọn đề tài......................................................................................... 1
2, Lịch sử nghiên cứu vấn đề ........................................................................ 2
3, Đối tượng nghiên cứu ................................................................................ 3
4, Nhiệm vụ nghiên cứu................................................................................. 3
5, Mục đích nghiên cứu.................................................................................. 4
6, Giới hạn, phạm vi nghiên cứu.................................................................... 4
7, Phương pháp nghiên cứu ........................................................................... 4
8, Cấu trúc khóa luận ..................................................................................... 5
NỘI DUNG ....................................................................................................... 6
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN........................................................................ 6
1.1. Những hiểu biết chung về năng lực ........................................................ 6
1.1.1. Khái niệm “năng lực” ....................................................................... 6
1.1.2. Cấu trúc của năng lực ....................................................................... 6
1.1.3. Năng lực cốt lõi của HS nói chung và của HS tiểu học.................... 7
1.1.4. Năng lực ngôn ngữ và năng lực giao tiếp....................................... 10
1.1.5. Năng lực thẩm mĩ............................................................................ 10
1.2. Những hiểu biết chung về từ trong Tiếng Việt...................................... 11
1.2.1. Khái niệm........................................................................................ 11
1.2.2. Đặc điểm của từ trong Tiếng Việt .................................................. 11
1.2.3. Những kiểu từ được phân chia theo phương thức cấu tạo.............. 12
1.2.4. Những kiểu từ được phân chia theo đặc điểm ngữ nghĩa............... 15
1.3. Những hiểu biết về đặc điểm tâm, sinh lý của HSTH .......................... 16
1.3.1. Năng lực tư duy của học sinh tiểu học ........................................... 16
1.3.2. Tình cảm, cảm xúc của học sinh tiểu học....................................... 18
Chương 2. MỘT SỐ BIỆN PHÁP BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC SỬ DỤNG TỪ
CHO HS LỚP 4............................................................................................... 20
2.1. Kết quả thống kê phân loại bài tập về từ trong SGK Tiếng Việt lớp 4 20
2.1.1. Tiêu chí phân loại các bài tập về từ trong SGK Tiếng Việt lớp 4 .. 20
2.1.2. Kết quả thống kê phân loại các bài tập về từ trong SGK Tiếng Việt
lớp 4 .......................................................................................................... 21
2.1.3. Nhận xét khái quát về kết quả thống kê phân loại các loại bài tập về
từ trong SGK Tiếng Việt lớp 4 ................................................................. 28
2.2. Một số biện pháp bồi dưỡng năng lực sử dụng từ cho HS lớp 4 thông
qua hệ thống bài tập trong SGK Tiếng Việt ................................................ 28
2.2.1: Kết hợp một số biện pháp dạy học ................................................. 29
2.2.2. Một số biện pháp giúp học sinh lớp 4 mở rộng vốn từ................... 32
2.2.3. Biện pháp giúp HS lớp 4 rèn kĩ năng sử dụng từ để tạo câu, tạo
đoạn văn bản ............................................................................................. 35
2.2.4. Biện pháp giúp HS lớp 4 có ý thức sử dụng từ đúng và hay.......... 36
2.3. Giáo án thể nghiệm ............................................................................... 38
KẾT LUẬN ..................................................................................................... 48
TÀI LIỆU THAM KHẢO............................................................................... 50
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Trong xu hướng chung của thế giới, khi cuộc cách mạng khoa học diễn
ra mạnh mẽ kéo theo đó là những thay đổi lớn về đời sống kinh tế xã hội, thế
giới đang bước vào thời đại hội nhập, toàn cầu hóa và phát triển bền vững,
ngành Giáo dục của nước ta đứng trước những cơ hội và thách thức mới.
Công cuộc đổi mới này đòi hỏi nền Giáo dục Việt Nam phải đào tạo ra những
người lao động có hiểu biết, tự chủ, năng động, sáng tạo, có năng lực thích
ứng với việc giải quyết những vấn đề thực tiễn trong nền kinh tế thị trường
cạnh tranh và hợp tác.
Để đạt được mục tiêu này cần phải đổi mới Giáo dục mà trước hết là đổi
mới nội dung, phương pháp, hình thức dạy học ở tất cả các môn học, các cấp
học. Giáo dục Tiểu học là cấp học nền tảng trong hệ thống giáo dục quốc dân
vậy nên việc đổi mới giáo dục phải bắt đầu từ cấp học đầu tiên này.
Ở bậc TH, môn Tiếng Việt có vị trí và vai trò hết sức quan trọng, được
coi là môn học chính cùng với môn Toán. Nội dung dạy học Tiếng Việt ở TH
được thực hiện ở các phân môn: Tập đọc; Chính tả; Kể chuyện; Luyện từ và
câu; Tập làm văn. Việc thực hiện nội dung dạy học các phân môn này không
thuần túy chỉ cung cấp cho HS những hiểu biết về các đơn vị ngữ âm, ngữ
pháp, từ vựng mà còn giúp các em hình thành và phát triển những năng lực cơ
bản trong đó có năng lực sử dụng từ vào giao tiếp và tư duy.
Ở TH, dạy học về từ là một hoạt động không thể thiếu trong chương
trình Tiếng Việt. Giúp HS nắm vững các kiến thức về từ loại, đặc điểm, cấu
tạo từ, có vốn từ phong phú từ đó nâng cao năng lực biểu đạt, năng lực tư duy
cho HS, đó cũng chính là một trong những mục đích cần hướng tới trong dạy
học Tiếng Việt. Qua việc điều tra, tìm hiểu thực tế, chúng tôi nhận thấy việc
dạy học về từ cho HS ở TH còn tồn tại nhiều hạn chế, chưa đạt hiệu quả như
1
mong muốn. Mặt khác, vốn từ của HS còn nghèo nàn nên việc sử dụng từ của
các em còn lúng túng, khả năng vận dụng từ chưa cao. Là một GVTH trong
tương lai, trực tiếp giảng dạy môn Tiếng Việt ở trường TH, thực tế đó khiến
tôi có nhiều trăn trở. Đồng thời xuất phát từ nhận thức về tầm quan trọng của
việc dạy học về từ và sự cần thiết của việc bồi dưỡng năng lực cho HSTH
trong giai đoạn mới của đất nước, chúng tôi đã quyết định chọn đề tài: “Bồi
dưỡng năng lực sử dụng từ cho HS lớp 4 thông qua hệ thống bài tập trong
SGK Tiếng Việt”.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Từ trong Tiếng Việt đã được 1 một số nhà ngôn ngữ học nghiên cứu. Có
thể kể ra đây một số tác giả và các công trình nghiên cứu của họ như:
- Lê Hữu Tỉnh, Hệ thống mở của từ vựng với việc dạy từ ở Tiểu học, Tạp
chí NCGD số 1/ 1994
- Lê Phương Nga, Tìm hiểu vốn từ của học sinh Tiểu học, Tạp chí
NCGD, số 8/ 1994
- Nguyễn Thiện Giáp, (1998), Từ vựng học Tiếng Việt, Nxb Giáo dục.
- Hoàng Văn Hành (CB) – Hà Quang Năng- Nguyễn Văn Khang (1998),
Từ Tiếng Việt, Nxb Khoa học- Xã hội.
- Đỗ Hữu Châu, (1999 ), Từ vựng- ngữ nghĩa Tiếng Việt hiện đại, Nxb
Đại học Quốc gia Hà Nội.
- Phan Thiều, Lê Hữu Tỉnh (1999), Dạy học từ ngữ ở Tiểu học, Nxb
Giáo dục.
Đỗ Hữu Châu và Nguyễn Thiện Giáp trong hai cuốn giáo trình nêu ở
trên đã khám phá: những đặc điểm của từ tiếng Việt, các kiểu từ tiếng Việt xét
từ phương diện cấu tạo và đặc điểm ngữ nghĩa, các lớp từ vựng tiếng Việt.
Các tác giả trong cuốn Từ Tiếng Việt (1998) lại đi sâu tìm hiểu đơn vị
này ở hình thái và cấu trúc. Trong các kiểu từ của tiếng Việt, họ dành sự quan
2
tâm nhiều hơn đối với từ láy, từ ghép và sự chuyển loại của từ xét từ phương
diện cấu tạo từ.
Trong những năm gần đây, từ và cách dạy về từ để phát triển vốn từ cho
HS cũng đã được một số sinh viên khoa Giáo dục Tiểu học trường Đại học sư
phạm Hà Nội 2 quan tâm, xem xét. Ví dụ:
- Lê Thị Việt Hằng, (2011), Một số biện pháp giúp học sinh Tiểu học
phân định từ loại Tiếng Việt.
- Trần Thị Thu Thủy, (2012), Dạy học luyện từ và câu khối lớp 4, 5
(kiểu bài hình thành khái niệm về từ ngữ)
- Nguyễn Thị Nhung, (2015), Khảo sát khả năng nhận diện hiểu biết ý
nghĩa và giải nghĩa từ ngữ cho học sinh Tiểu học.
- Phùng Thị Hạnh, (2015), Khả năng hiểu nghĩa và tìm từ đồng nghĩa
trái nghĩa của học sinh Tiểu học.
- Đào Thị Nga, (2016), Tìm hiểu hiệu quả của những cách dùng từ ngữ
trong các văn bản thơ thuộc sách giáo khoa Tiếng Việt 3 Tiểu học.
Đối tượng nghiên cứu và mục đích nghiên cứu về sử dụng từ của các
sinh viên đó được phản ánh rõ trong tên đề tài khóa luận của họ.
Như vậy, việc sử dụng từ trong dạy học Tiếng Việt không phải là vấn đề
mới vì nó đã được các nhà khoa học và sinh viên tìm hiểu. Tuy nhiên, đề tài
“Bồi dưỡng năng lực sử dụng từ cho HS lớp 4 thông qua hệ thống bài tập
trong SGK Tiếng Việt” là một vấn đề mới chưa ai khai thác, tìm hiểu.
3. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là: những biện pháp bồi dưỡng năng lực
sử dụng từ cho HS thông qua hệ thống bài tập trong SGK Tiếng Việt lớp 4
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
4.1. Lựa chọn những lí thuyết cơ bản làm cơ sở lí luận cho khóa luận
4.2. Thống kê, phân loại các bài tập về từ trong SGK Tiếng Việt lớp 4, Nxb
Giáo dục, năm 2013
3
4.3. Xác định nội dung, biện pháp bồi dưỡng năng lực sử dụng từ cho HS lớp
4
5. Mục đích nghiên cứu
Khóa luận thực hiện nhằm những mục đích sau:
5.1. Nâng cao hiểu biết cho bản thân về từ, cách sử dụng từ ngữ tiếng Việt
5.2. Tìm hiểu khả năng sử dụng từ của HSTH trong giao tiếp và tư duy.
5.3. Tìm ra những biện pháp dạy học thích hợp nhằm nâng cao năng lực sử
dụng từ cho học sinh lớp 4.
6. Giới hạn, phạm vi nghiên cứu
6.1. Giới hạn phạm vi khảo sát ngữ liệu
Khảo sát hệ thống bài tập về từ trong SGK Tiếng Việt lớp 4 (tập 1,2) do
Nxb Giáo dục (2013)
6.2. Giới hạn phạm vi nội dung nghiên cứu
Tập trung tìm hiểu về biện pháp bồi dưỡng năng lực sử dụng từ của HS
lớp 4 thông qua hệ thống bài tập trong SGK Tiếng Việt.
7. Phương pháp nghiên cứu
7.1. Phương pháp thống kê
Chúng tôi dùng phương pháp này để thống kê các bài tập trong phạm vi
nghiên cứu, phân loại các bài tập đó dựa vào chức năng giáo dục của chúng
7.2. Phương pháp phân tích
Đây là phương pháp đước chúng tôi dùng để phân tích, cụ thể hóa nhằm
làm sâu sắc những nội dung trình bày có liên quan đến việc bồi dưỡng năng
lực sử dụng từ cho HS lớp 4
7.3. Phương pháp tổng hợp
Phương pháp này được chúng tôi vận dụng để khái quát những kết quả
nghiên cứu nhằm rút ra những nhận xét, kết luận cần thiết.
Ngoài các phương pháp trên, chúng tôi còn sử dụng các phương pháp
miêu tả, so sánh khi cần thiết.
4
8. Cấu trúc khóa luận
Ngoài phần mở đầu và phần kết thúc, nội dung của khóa luận gồm có hai
chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận
Chương 2: Một số biện pháp bồi dưỡng năng lực sử dụng từ cho HS lớp 4
5
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN
1.1. Những hiểu biết chung về năng lực
1.1.1. Khái niệm “năng lực”
a, Theo Từ điển Tiếng Việt; năng lực có nghĩa là khả năng đủ để làm
một việc nào đó hay là những điều kiện được tạo ra hoặc vốn có để thực hiện
một hoạt động nào đó.
b, Theo các tác giả cuốn “Dạy học tích hợp phát triển năng lực học
sinh” (quyển 2) thì năng lực có nghĩa là : khả năng thực hiện hiệu quả một
nhiệm vụ/ một hành động cụ thể, liên quan đến một lĩnh vực nhất định dựa
trên cơ sở hiểu biết, kĩ năng, kĩ xảo và sự sẵn sàng hành động.
1.1.2. Cấu trúc của năng lực
Cấu trúc của năng lực được trình bày trong sơ đồ sau:
BỐI CẢNH
Kiến thức
6
Các khả năng
nhận thức
Động cơ
Năng
lực
Giá trị
và đạo đức
Xúc cảm
Các khả năng
thực hành/
năng khiếu
Thái độ
7
- Vòng tròn nhỏ ở tâm là năng lực (định hướng theo chức năng).
-
Vòng tròn giữa bao quanh vòng tròn nhỏ là các thành tố của năng lực.
Chúng bao gồm: kiến thức, các khả năng nhận thức, các khả năng thực
hành/ năng khiếu, thái độ, cảm xúc, giá trị và đạo đức, động cơ.
- Vòng tròn ngoài là bối cảnh (điều kiện/ hoàn cảnh có ý nghĩa).
VD: năng lực sử dụng ngôn ngữ gồm các năng lực thành phần như đọc
hiểu, nghe hiểu, nói, viết,… định hướng thực hiện chức năng giao tiếp, tư
duy, kết nối trong nó cả thái độ và các thành tố khác như cảm xúc, giá trị,
niềm tin,…trong một bối cảnh có ý nghĩa.
Như vậy, năng lực là một cấu trúc động, có tính mở, đa thành tố, đa tầng
bậc, hàm chứa trong nó không chỉ là kiến thức, kĩ năng,… mà cả niềm tin, giá
trị, trách nhiệm xã hội… thể hiện ở tính sẵn sàng hành động trong những điều
kiện thực tế, hoàn cảnh của con người.
1.1.3. Năng lực cốt lõi của HS nói chung và của HS tiểu học
1.1.3.1. Năng lực cốt lõi của HS nói chung
a, Khái niệm
Năng lực cốt lõi là năng lực cơ bản, thiết yếu mà bất kì một người nào
cũng cần có để sống, học tập và làm việc.
Tất cả các hoạt động giáo dục (bao gồm các môn học và hoạt động trải
nghiệm sáng tạo) với khả năng khác nhau nhưng đều hướng tới mục tiêu hình
thành và phát triển các năng lực cốt lõi của HS.
Có nhiều hệ thống năng lực cốt lõi khác nhau, tuy nhiên trong các hệ
thống này thường gồm có:
- Kĩ năng sống và kĩ năng nghề nghiệp
- Kĩ năng học tập và kĩ năng đổi mới
- Kĩ năng về thông tin, đa phương tiện và công nghệ.
b, Các năng lực cốt lõi của HS
Theo các nhà khoa học, các năng lực cốt lõi của HS trong thế kỉ XXI,
gồm:
- Năng lực làm chủ kiến thức các môn học cốt lõi bậc phổ thông.
- Năng lực nhận thức về thế giới; kiến thức về tài chính, kinh tế kinh
doanh, doanh nghiệp; kiến thức về chăm sóc sức khỏe và kiến thức dân sự.
- Các năng lực tư duy và năng lực học tập: năng lực giải quyết vấn đề và
năng lực tư duy phê phán, năng lực giao tiếp, năng lực đổi mới và sáng tạo,
năng lực hợp tác, năng lực tự học từ bối cảnh thực tế,…
- Năng lực về công nghệ thông tin và truyền thông.
- Năng lực nghề nghiệp và kĩ năng sống: năng lực thích ứng, năng lực
thúc đẩy và năng lực tự định hướng, năng lực lãnh đạo và trách nhiệm xã hội.
Những năng lực cốt lõi của HS trong thế kỉ XXI cần được nhận diện như
là chuẩn đầu ra của quá trình dạy và học.Vì vậy, nganhg GD-ĐT nhất thiết
phải phát triển được các chương trình giáo duc và vận dụng các chiến lược
dạy học, các kiểu tổ chức dạy học thích hợp để nuôi dưỡng, hình thành các
năng lực này.
1.1.3.2. Năng lực cốt lõi của HSTH
Phát triển năng lực là một trong những yêu cầu quan trọng được thể
hiện rõ trong mục tiêu dạy học TH. Vì vậy, chương trình giáo dục ở TH sẽ
được cấu trúc theo định hướng phát triển năng lực, các năng lực của HS khi
kết thúc chương trình giáo dục phổ thông được xác định là:
- Năng lực tự học: là năng lực biểu hiện thông qua việc xác định đúng
đắn mục tiêu học tập; lập kế hoạch và thực hiện cách học; và đánh giá, điều
chỉnh cách học nhằm tự học và tự nghiên cứu một cách hiệu quả và có chất
lượng.
- Năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo: là năng lực biểu hiện thông
qua việc phát hiện và làm rõ được vấn đề; đề xuất, lựa chọn, thực hiện và
đánh giá được các giải pháp giải quyết vấn đề; nhận ra, hình thành và triển
khai được các ý tưởng mới; và có tư duy độc lập.
- Năng lực thẩm mĩ: là năng lực biểu hiện thông qua các hành vi nhận ra
cái đẹp; diễn tả, giao lưu thẩm mĩ và tạo ra cái đẹp.
- Năng lực thể chất: là năng lực biểu hiện thông qua cuộc sống thích ứng
và hài hòa với môi trường; rèn luyện sức khỏe thể lực và nâng cao sức khỏe
tinh thần.
- Năng lực ngôn ngữ và giao tiếp: là năng lực biểu hiện thông qua việc
xác định mục đích giao tiếp; kỹ năng thể hiện thái độ giao tiếp; lựa chọn và sử
dụng phương thức giao tiếp dựa trên nền tảng kỹ năng sử dụng tiếng Việt và
ngoại ngữ.
- Năng lực hợp tác: là năng lực biểu hiện thông qua việc xác định mục
đích và phương thức hợp tác, trách nhiệm và hoạt động của bản thân trong
quá trình hợp tác, nhu cầu và khả năng của người hợp tác; tổ chức và thuyết
phục người khác; đánh giá hoạt động hợp tác.
- Năng lực sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông: là năng lực biểu
hiện thông qua khả năng sử dụng và quản lí các phương tiện, công cụ của
công nghệ kĩ thuật số; nhận biết, ứng xử phù hợp chuẩn mực đạo đức trong xã
hội số hóa; phát hiện và giải quyết vấn đề trong môi trường công nghệ tri
thức; học tập, tự học với sự hỗ trợ của ICT; và giao tiếp, hòa nhập và hợp tác
trong môi trường ICT.
- Năng lực tính toán: là năng lực biểu hiện thông qua khả năng sử dụng
các phép tính và đo lường cơ bản; sử dụng ngôn ngữ toán; và sử dụng các
công cụ tính toán.
Các năng lực cốt lõi này không chỉ giúp HS nắm vững những kiến thức,
kĩ năng cơ bản mà còn biết vận dụng kiến thức, kĩ năng vào thực hành, giải
quyết các tình huống trong học tập và cuộc sống.
1.1.4. Năng lực ngôn ngữ và năng lực giao tiếp
1.1.4.1. Năng lực ngôn ngữ
- Các nhà ngữ pháp tạo sinh cho rằng: “Con người sinh ra đã có hiểu
biết và tiếng mẹ đẻ”. Mức độ hiểu biết đó ở mỗi cá nhân có sự khác nhau do:
đặc điểm lứa tuổi, giới tính, môi trường sống, khả năng nhận thức, đặc điểm
cá tính của mỗi người. Khả năng đó phản ánh năng lực ngôn ngữ của cá nhân.
- Giải thích về hiện tượng trẻ em trước khi được tiếp thu giáo dục chính
quy đã có thể nói được những câu hoàn chỉnh, các nhà ngữ pháp tạo sinh đã
cho rằng: Vì đứa trẻ sinh ra trong môi trường tiếng mẹ đẻ thì trong “tâm linh”
của chúng đã dần hình thành một số quy tắc cơ bản. Vì thế DellHymes đề
nghị nên gọi năng lực ngôn ngữ là năng lực ngữ pháp.
(Dẫn theo Nguyễn Văn Khang, 1999, Ngôn ngữ học xã hội, Nxb Khoa học xã
hội, Tr.180).
1.1.4.2. Năng lực giao tiếp
Có thể hiểu năng lực giao tiếp là khả năng lựa chọn, vận dụng ngôn
ngữ vào giao tiếp xã hội của mỗi cá nhân. Để có năng lực giao tiếp, mỗi
người trước hết phải có năng lực ngôn ngữ. Tuy vậy, năng lực giao tiếp của
mỗi cá nhân còn tùy thuộc vào nhiều nhân tố như: khả năng nhận thức, hoàn
cảnh sống, đặc điểm tính cách, trình độ văn hóa… của mỗi người.
(Dẫn theo Nguyễn Văn Khang, 1999, Ngôn ngữ học xã hội, Nxb Khoa học xã
hội, Tr.183).
1.1.5. Năng lực thẩm mĩ
a, Khái niệm “ thẩm mĩ”
Theo Từ điển Tiếng Việt: thẩm mĩ có ý nghĩa chỉ hoạt động cảm thụ và
hiểu biết về cái đẹp.
b, Năng lực thẩm mĩ
Theo chúng tôi, đây là một năng lực hoạt động tổng hợp bao gồm nhiều
tiêu chí sau:
- Có hiểu biết về cái đẹp
- Có kĩ năng nhận diện được cái đẹp
- Có đời sống tâm hồn phong phú, biết rung động trước cái đẹp, biết trân
trọng, để cái đẹp được giữ gìn và phát huy.
1.2. Những hiểu biết chung về từ trong Tiếng Việt
1.2.1. Khái niệm
Đây là một khái niệm được nhiều người nêu định nghĩa, chúng tôi lựa
chọn định nghĩa của Đỗ Hữu Châu:
“ Từ của tiếng Việt là một hoặc một số âm tiết cố định, bất biến, mang
những đặc điểm ngữ pháp nhất định, nằm trong những kiểu cấu tạo nhất
định, tất cả ứng với một kiểu ý nghĩa nhất định, lớn nhất trong tiếng Việt và
nhỏ nhất để tạo câu”.
(Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Tr.16)
1.2.2. Đặc điểm của từ trong Tiếng Việt
a, Đặc điểm ngữ âm
Từ có thể do một hoặc một số âm tiết (tiếng) tạo thành. Hình thức ngữ
âm của từ về cơ bản là ổn định, bất biến. Đặc điểm này của từ giúp ta nhận
diện từ dễ dàng hơn và nó góp phần tạo cho từ Tiếng Việt có tính độc lập
tương đối trong câu và trong VB.
b, Đặc điểm ngữ pháp
Đặc điểm ngữ pháp của từ thể hiện trước hết ở khả năng kết hợp các từ
trong cụm từ hoặc trong câu. Đặc điểm ngữ pháp của từ gắn với ý nghĩa phạm
trù ngữ pháp của nó. Đây là căn cứ để các nhà ngữ pháp phân chia từ thành
những từ loại (danh từ, động từ, đại từ, tính từ, quan hệ từ, phụ từ, tình thái
từ).
Nhờ có đặc điểm ngữ pháp cụ thể mà từ có thể đảm đương những chức
năng cụ thể trong cụm từ hoặc trong câu (làm thành tố chính hoặc thành tố
phụ trong cụm từ, làm thành phần chính hoặc thành phần phụ trong câu).
c, Đặc điểm về tính chất và chức năng
Về tính chất, từ là đơn vị có tính hiển nhiên, sẵn có, nó được coi là đơn
vị trung tâm của ngôn ngữ.
Về chức năng, từ là đơn vị nhỏ nhất để cấu tạo câu.
d, Đặc điểm về ý nghĩa
Đỗ Hữu Châu cho rằng: nghĩa của từ Tiếng Việt là một hợp thể, nhiều
thành phần nhưng có thể phân lập ra được.
Theo tác giả, có thể phân chia nghĩa của từ Tiếng Việt ra làm hai loại:
nghĩa ngôn ngữ và nghĩa lời nói.
Nghĩa ngôn ngữ của từ là thành phần nghĩa do cộng đồng quy ước mà
thành. Trong nghĩa ngôn ngữ của từ, chúng ta có thể phân biệt nghĩa từ vựng
và nghĩa ngữ pháp.
Theo Đỗ Hữu Châu, nghĩa của từ vựng là ý nghĩa riêng của từng đơn vị
từ vựng (từ hoặc ngữ cố định). Trong hệ thống từ vựng Tiếng Việt, các thực
từ có cả nghĩa từ vựng và nghĩa ngữ pháp. Xem xét về nghĩa từ vựng của từ,
tác giả phân lập thành nghĩa biểu vật, nghĩa biểu niệm và nghĩa biểu thái.
Khác với nghĩa từ vựng, nghĩa ngữ pháp là nghĩa chung của những từ
giống nhau về ý nghĩa phạm trù.
Ngoài ý nghĩa ngôn ngữ, trong hoạt động giao tiếp, tùy vào từng hoàn
cảnh và mục đích giao tiếp, cá nhân có thể sáng tạo ra ý nghĩa mới cho từ, dựa
vào ý nghĩa cơ sở của nó. Loại ý nghĩa này được gọi là nghĩa lời nói.
1.2.3. Những kiểu từ được phân chia theo phương thức cấu tạo
Dựa vào đặc điểm cấu tạo từ, người ta phân chia từ tiếng Việt thành từ
đơn và từ phức.
1.2.3.1. Từ đơn
Từ đơn được các nhà khoa học phân chia thành từ đơn đơn âm tiết và từ
đơn đa âm tiết.
Từ đơn đơn âm tiết là những từ được cấu tạo bằng một âm tiết (tương
ứng một hình vị). Loại từ đơn này chiếm đa số trong từ đơn của Tiếng Việt.
VD1: nhà, tốt, xấu,…
Từ đơn đa âm tiết là những từ được cấu tao từ hai âm tiết trở lên. Mỗi
quan hệ của các âm tiết thường mang tính ngẫu nhiên.
VD2: thuồng luồng, kì nhông, axit,…
1.2.3.2. Từ phức
Từ phức là những từ được cấu tạo từ hai âm tiết trở lên (tương ứng với
hai hình vị trở lên). Các âm tiết được tổ chức theo môt phương thúc cấu tạo để
tạo ra một kiểu từ có tính hệ thống.
Căn cứ vào phương thức cấu tạo, người ta chia từ phức thành hai loại là
từ ghép và từ láy.
a. Từ ghép
Từ ghép là từ được sản sinh do sự kết hợp hai hoặc một số hình vị (hay
đơn vị cấu tạo) tách biệt, riêng rẽ, độc lập với nhau. (Đỗ Hữu Châu, 1999, Từ
vựng ngữ nghĩa tiếng Việt, Nxb Giáo dục, Tr.54).
VD: nhà cửa, phố xá,…
Dựa vào quan hệ ngữ pháp của các hình vị trong câú tạo từ, người ta
phân chia từ ghép thành: từ ghép đẳng lâp và từ ghép chính phụ.
a1. Từ ghép đẳng lập (từ ghép tổng hợp)
Từ ghép đẳng lập là loại từ ghép được tạo ra từ hai hình vị trở lên. Hai
hình vị gắn bó với nhau theo quan hệ song song, bình đẳng, không có hình vị
chính, không có hình vị phụ.
Từ ghép đẳng lập có những đặc trưng chung là:
- Quan hệ ngữ pháp giữa các thành tố trong nó là quan hệ bình đẳng
- Ý nghĩa ngữ pháp do cơ chế ghép đẳng lập tạo ra là ý nghĩa tổng hợp, ý
nghĩa chỉ loại sự vật, đặc trưng (hành động, trạng thái, tính chất, quan hệ)
chung.
VD: chạy nhảy, nhà cửa, xe cộ, …
a2. Từ ghép chính phụ (từ ghép phân loại)
Từ ghép chính phụ là loại từ ghép được tạo ra từ hai hình vị trở lên. Hai
hình vị có quan hệ chính- phụ với nhau (một yếu tố chính và một yếu tố phụ).
Từ ghép chính phụ có những đặc trưng chung là:
- Quan hệ ngữ pháp giữa các thành tố trong nó là quan hệ bất bình đẳng,
quan hệ chính phụ. Trong đó yếu tố chính thường giữ vai trò chỉ loại sự vật
lớn, loại đặc trưng lớn và yếu tố phụ thường được dùng để cụ thể hóa loại sự
vật, loại đặc trưng đó.
- Ý nghĩa của từ ghép chính phụ là ý nghĩa không tổng hợp và khi cần cụ
thể hóa nó thì có thể phân biệt trong đó ý nghĩa dị biệt, ý nghĩa sắc thái hóa.
VD: vui miệng, vui tính, xe máy, xe đạp,…
b. Từ láy
Từ láy là những từ được cấu tạo theo phương thức láy, đó là phương
thức lặp lại toàn bộ hay bộ phận hình thức âm tiết (với thanh điệu hay biến
đổi theo quy tắc biến thanh, tức là quy tắc thanh điệu biến đổi theo hai nhóm
gồm nhóm cao: thanh hỏi, thanh sắc, thanh ngang và nhóm thấp: thanh huyền,
thanh ngã, thanh nặng) của một hình vị hay đơn vị có nghĩa. (Đỗ Hữu Châu,
Từ vựng ngữ nghĩa Tiếng Việt, Nxb GD, 1999, tr.41).
b1. Dựa vào số lượng tiếng được láy lại trong cấu tao từ, người ta chia
từ láy thành: từ láy đôi, láy ba, láy tư.
VD: lung linh, sạch sành sanh, ngớ nga ngớ ngẩn,…
b2. Dựa vào phạm vi của tiếng gốc có nghĩa trong cấu tạo từ, người ta
phân chia từ láy thành: từ láy toàn phần và từ láy bộ phận.
* Từ láy toàn phần
Từ láy toàn phần là từ láy trong đó tiếng gốc được lặp lại toàn bộ ở tếng
láy với sự khác biệt về thanh điệu hoặc trọng âm.
VD: + hao hao, đùng đùng,...
+ đo đỏ, hơ hớ, sừng sững,...
* Từ láy bộ phận
+ Từ láy âm đầu: là từ có phụ âm đầu trùng lặp và có phần vần khác
biệt ở tếng gốc và tiếng láy.
VD: đủng đỉnh, rung rinh, mộc mạc, lúc lắc, hể hả, ngo ngoe, hổn hển,
nhúc nhích, mỉa mai,...
+ Từ láy vần: là từ có phần vần trùng lặp và có phụ âm đầu khác biệt ở
tếng gốc và tiếng láy.
VD: luẩn quẩn, bâng khuâng, chạng vạng, khéo léo, hấp tấp, tần ngần,
bỡ ngỡ, khúm núm,…
1.2.4. Những kiểu từ được phân chia theo đặc điểm ngữ nghĩa
1.2.4.1. Dựa vào số lương nghĩa được biểu thị trong từ, người ta phân
chia từ tiếng Việt thành từ một nghĩa và từ nhiều nghĩa
a. Từ một nghĩa là những từ ứng với một hình thức biểu đạt là một
nội
dung ý nghĩa được biểu đạt
VD: xe đạp: chỉ loại xe người đi, có hai bánh, dùng sức người đạp cho
quay bánh.
b. Từ nhiều nghĩa là những từ mà có thể gọi tên nhiều sự vật, hiện
tượng, hoặc có thể biểu thị nhiều khái niệm về sự vật, hiện tượng trong
một hình thức biểu đạt.
Trong mỗi từ nhiều nghĩa, bao giờ cũng có một nghĩa gốc và các nghĩa
phái sinh. Xét về mặt lịch sử, các nghĩa phái sinh của từ bao giờ cũng xuất
hiện sau nghĩa gốc, chúng được hình thành trên cơ sở của nghĩa gốc.
VD: mũi