Tải bản đầy đủ (.pdf) (121 trang)

Đảng bộ huyện mê linh (hà nội) lãnh đạo xây dựng nông thôn mới từ năm 2008 đến năm 2015

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (2.06 MB, 121 trang )

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
------------

NGUYỄN VĂN TẠO

ĐẢNG BỘ HUYỆN MÊ LINH ( HÀ NỘI)
LÃNH ĐẠO XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI
TỪ NĂM 2008 ĐẾN NĂM 2015

LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ

Hà Nội - 2019


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
------------

NGUYỄN VĂN TẠO

ĐẢNG BỘ HUYỆN MÊ LINH ( HÀ NỘI)
LÃNH ĐẠO XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI
TỪ NĂM 2008 ĐẾN NĂM 2015
Chuyên ngành: Lịch sử đảng cộng sản Việt Nam
Mã số: 60.22.03.15

LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS Ngô Đăng Tri

Hà Nội - 2019




LỜI CAM ĐOAN
Luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi, được thực hiện dưới sự
hướng dẫn khoa học của PGS.TS. NGƢT. Ngô Đăng Tri – Trường Đại học Khoa học
Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội.
Các số liệu, tài liệu sử dụng trong Luận văn là trung thực, đảm bảo tính khách
quan, khoa học và có nguồn gốc, xuất xứ rõ ràng.
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trước Hội đồng khoa học về nội dung Luận
văn này của mình.
Hà Nội, ngày 24 tháng 9 năm 2019
Học viên

Nguyễn Văn Tạo


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .........................................................................................................................4
1. Lý do chọn đề tài. ........................................................................................................4
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề ...........................................................................................5
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu ..............................................................................7
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ...............................................................................7
5. Cơ sở lý luận, nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu ...........................................8
6. Đóng góp mới của luận văn .........................................................................................9
7. Bố cục của Luận văn ...................................................................................................9
Chƣơng 1: CHỦ TRƢƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ HUYỆN MÊ LINH
(HÀ NỘI) VỀ XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TỪ NĂM 2008 ĐẾN NĂM 2010 ...10
1.1. Những yếu tố tác động đến sự lãnh đạo xây dựng nông thôn mới của Đảng bộ
huyện Mê Linh .............................................................................................................10
1.1.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện Mê Linh......................................10


1.1.2. Thự c trạ ng nông nghiệ p - nông dân - nông thôn ở huyệ n Mê Linh
trư ớ c nă m 2008 ...................................................................................................15
1.1.3. Chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng bộ Thành phố Hà Nội về xây
dựng nông thôn mới (2008-2010) ..................................................................................21
1.2. Chủ trƣơng và sự chỉ đạo xây dựng NTM của đảng bộ Huyện Mê Linh (Hà
Nội) từ năm 2008 đến năm 2010 .................................................................................25
1.2.1. Chủ trương của Đảng bộ huyện ..........................................................................25
1.2.2. Sự chỉ đạo thực hiện ............................................................................................26
Tiểu kết chương 1 .........................................................................................................31
Chƣơng 2: ĐẢNG BỘ HUYỆN MÊ LINH (HÀ NỘI) LÃNH ĐẠO ĐẨY MẠNH
XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TỪ NĂM 2011 ĐẾN NĂM 2015.......................32
2.1. Hoàn cảnh mới và chủ trƣơng của Đảng bộ huyện ...........................................32
2.1.1. Bối cảnh lịch sử và yêu cầu mới đặt ra ..............................................................32
2.1.2. Chủ trương của Đảng bộ huyện ..........................................................................33
2.2. Sự chỉ đạo thực hiện xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2011-2015 ...............39

1


2.2.1. Chỉ đạo quy hoạch, thành lập Ban chỉ đạo xây dựng nông thôn mới và xây dựng
mô hình thí điểm nông thôn mới tại Xã Liên Mạc .........................................................39
2.2.2. Chỉ đạo quy hoạch và xây dựng cơ sở hạ tầng ...................................................45
2.2.3. Chỉ đạo phát triển nhóm kinh tế và tổ chức sản xuất ..........................................49
2.2.4. Chỉ đạo thực hiện nhóm văn hóa - xã hội - môi trường ......................................57
Tiểu kết chương 2 .........................................................................................................68
Chƣơng 3: NHẬN XÉT VÀ KINH NGHIỆM ..........................................................69
3.1. Nhận xét .................................................................................................................69
3.1.1. Về ưu điểm ...........................................................................................................69
3.1.2. Về hạn chế ...........................................................................................................76

3.2. Một số kinh nghiệm ..............................................................................................83
3.2.1. Quán triệt đầy đủ đường lối chủ trương của Đảng, của Đảng bộ Thành phố Hà
Nội về xây dựng NTM và vận dụng sáng tạo vào điều kiện cụ thể của địa phương .....83
3.2.2. Tăng cường vai trò lãnh đạo của các cấp ủy Đảng, quản lý của chính quyền,
chú trọng xây dựng, đào tạo đội ngũ cán bộ có năng lực, trình độ chuyên môn đáp ứng
yêu cầu ...........................................................................................................................84
3.2.3. Phát huy dân chủ, công khai, minh bạch trong xây dựng quy hoạch và quản lý
xây dựng nông thôn mới ................................................................................................ 84
3.2.4. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát trong xây dựng NTM ..........85
3.2.5. Coi trọng, làm tốt công tác tuyên truyền, vận động với nhiều cách thức, phương
pháp tuyên truyền cụ thể, thiết thực ..............................................................................85
Tiểu kết chương 3 .........................................................................................................86
KẾT LUẬN ..................................................................................................................88
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ...................................................................92
PHỤ LỤC .....................................................................................................................99

2


DANH MỤC BẢNG QUY ƢỚC CHỮ VIẾT TẮT
CHỮ VIẾT ĐẦY ĐỦ

CHỮ VIẾT TẮT

Bảo vệ môi trường

BVMT

Công nghiệp hóa, hiện đại hóa


CNH – HĐH

Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân

HĐND – UBND

Hợp tác xã

HTX

Kinh tế xã hội

KTXH

Mặt trận Tổ quốc

MTQG

Nông thôn mới

NTM

Phát triển nông thôn

PTNT

Trung học cơ sở, Trung học phổ thông
Thành phố

THCS, THPT

TP

Uỷ viên thường vụ

UVTV

Xây dựng nông thôn mới

XDNTM

3


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài.
Trong hơn ba mươi năm đổi mới, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân Việt
Nam đã đạt được những thành tựu to lớn, đưa đất nước vượt qua tình trạng trì trệ kém
phát triển trở thành một trong những quốc gia có nền kinh tế phát triển nhanh và liên
tục, an ninh chính trị ổn định trong nhiều năm. Theo đó, nông nghiệp, nông thôn Việt
Nam đang trong quá trình chuyển mình, vận động cùng với sự phát triển của Đất nước
và thế giới, đó là sự chuyển đổi từ mô hình mang nặng tính tự cung, tự cấp truyền
thống sang sản xuất hàng hóa, từ mô hình kinh tế mang nặng tính tự nhiên sang kinh tế
hàng hóa và kinh tế thị trường, thậm chí còn phải đẩy nhanh, đẩy mạnh quá trình này
do áp lực của tiến trình mở cửa, hội nhập kinh tế quốc tế, của khu vực hóa và toàn cầu
hóa kinh tế.
Tuy nhiên những thành tựu ấy so sánh với các nước trong khu vực và trên thế giới
vẫn còn thấp. Mặc dù chủ trương xây dựng và phát triển nông thôn được Đảng và nhà
nước đưa ra khá sớm nhưng kết quả đạt được và những bất cập nảy sinh còn nhiều
điều đáng bàn. Nhận thấy những bất cập và sự phát triển không đồng đều giữa thành
thị và nông thôn, Đảng và nhà nước đưa ra nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 05/08/2008

của ban chấp hành TW khóa X về “Nông nghiệp, nông dân và nông thôn” và quyết
định số 800/QĐ-TTg ngày 4/6/2010 của thủ tướng chính phủ phê duyệt chương trình
mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010-2020 [78].
Mục tiêu của nông thôn mới là không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần
của người dân; Nâng cao dân trí, đào tạo nông dân có trình độ sản xuất cao, có nhận
thức chính trị đúng đắn, đóng vai trò làm chủ nông thôn mới. Xây dựng nền nông
nghiệp phát triển hiện đại nhưng bền vững; Nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu
quả trong sản xuất. Sản phẩm nông nghiệp có sức cạnh tranh cao, không chỉ đáp ứng
tốt nhu cầu trong nước mà còn có giá trị xuất khẩu cao, đem về nguồn ngoại tệ lớn.
Xây dựng nông thôn mới có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội đồng bộ và hiện đại, nhất
là đường giao thông, thủy lợi, trường học, trạm y tế, khu dân cư. Xây dựng xã hội
nông thôn dân chủ, ổn định, văn minh, giàu đẹp, phát triển kinh tế nhanh nhưng phải
bảo vệ môi trường sinh thái, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc; an ninh trật tự được giữ
vững theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Hệ thống chính trị ở nông thôn dưới sự lãnh
đạo của Đảng được tăng cường, xây dựng giai cấp nông dân, củng cố liên minh công
nhân - nông dân - trí thức [79].
4


Huyện Mê Linh được thành lập ngày 5 tháng 7 năm 1977 trên cơ sở hợp nhất 2
huyện Bình Xuyên và Yên Lãng, ngoài ra còn có 4 xã Văn Tiến, Nguyệt Đức, Minh
Tân và Bình Định của huyện Yên Lạc, 2 xã Kim Hoa và Quang Minh của huyện Kim
Anh. Khi mới thành lập, huyện Mê Linh có 38 đơn vị hành chính gồm thị trấn Phúc
Yên, thị trấn nông trường Tam Đảo và 36 xã. Mê Linh có tổng diện tích đất tự nhiên
14.251 ha, trong đó, đất nông nghiệp 7.972 ha, gồm đất lúa 5.300 ha, đất trồng rau
1.200 ha, đất trồng hoa, cây cảnh 5.000 ha, còn lại là diện tích trồng hoa màu [80]. Có
thể thấy, đất nông nghiệp chiếm tỉ trọng lớn trong tổng số diện tích đất của huyện, nơi
đây có điều kiện tự nhiên thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp, kinh tế nông nghiệp
chiếm tỷ trọng rất lớn, dân cư tập chung chủ yếu ở vùng nông thôn. Đời sống của nhân
dân trong huyện còn nhiều khó khăn, cơ sở vật chất – kỹ thuật còn thấp kém. Để giải

quyết vấn đề nông nghiệp, nông dân và nông thôn là vấn đề cấp thiết đối với huyện Mê
Linh trong giai đoạn hiện nay.
Phân tích, đánh giá một cách đầy đủ, khách quan quá trình lãnh đạo xây dựng
nông thôn mới của Đảng bộ huyện Mê Linh là một vấn đề có ý nghĩa quan trọng đối
với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của huyện nói riêng và của thành phố Hà Nội
nói chung. Bởi chỉ có thông qua phân tích, đánh giá khách quan đặc điểm tình hình,
thuận lợi, khó khăn, thành tựu, hạn chế trong quá trình lãnh đạo xây dựng nông thôn
mới của Đảng bộ huyện mới có cơ sở khoa học, căn cứ thực tiễn để tiếp tục xác định
phương hướng, nhiệm vụ, những giải pháp hữu hiệu nhằm thực hiện tốt công cuộc xây
dựng nông thôn mới ở huyện Mê Linh trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa
hiện nay và trong tương lai.
Xuất phát từ tầm quan trọng và ý nghĩa thiết thực của vấn đề đó, tác giả đã lựa
chọn đề tài: “Đảng bộ huyện Mê Linh (Hà Nội) lãnh đạo xây dựng nông thôn mới
từ năm 2008 đến năm 2015” làm đề tài luận văn thạc sĩ, chuyên ngành Lịch sử Đảng
Cộng sản Việt Nam.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Hiện nay, việc thực hiện và triển khai phong trào xây dựng nông thôn mới đã đi vào
sâu rộng khắp trong cả nước, ở mỗi địa bàn, mỗi tỉnh lại đạt được những kết quả nghiên
cứu, công trình nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau. Trong số các đề tài liên quan
đến Đảng lãnh đạo xây dựng nông thôn mới có một số công trình nghiên cứu sau:
Ở Việt Nam có rất nhiều công trình nghiên cứu, giới thiệu kinh nghiệm phát triển
nông nghiệp, nông thôn, phải kể đến công trình nghiên cứu của tác giả Chu Hữu Qúy,

5


Nguyến Kế Tuấn (2001) với tác phẩm “Con đường Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
nông nghiệp, nông thôn”, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội. Vũ Văn Phúc (ch.b.). Công
trình nghiên cứu của tác giả Hồ Xuân Hùng, Phạm Tất Thắng với tác phẩm “Xây dựng
nông thôn mới - những vấn đề lý luận và thực tiễn , Nxb CTQG, H. 2012. Công trình

nghiên cứu của tác giả Nguyễn Sinh Cúc với tác phẩm “Nông nghiệp, nông thôn Việt
Nam thời kỳ đổi mới”, Nxb Thống Kê năm 2003. Công trình nghiên cứu của GS.TS
Nguyễn Đình Phan, PGS. TS Trần Minh Đạo, TS Nguyễn Văn Phúc với tác phẩm
“Những biện pháp chủ yếu thúc đẩy công nghiệp hóa nông nghiệp, nông thôn vùng
đồng bằng sông Hồng” Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội (2008); Công trình nghiên
cứu của tác giả Đặng kim Sơn “ Nông nghiệp, nông thôn của Việt Nam – 20 năm đổi
mới và phát triển”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội năm 2007. Công trình nghiên cứu
của Nguyễn Văn Bích với tác phẩm Nông nghiệp, nông thôn Việt Nam sau hai mươi
năm đổi mới: Quá khứ và hiện tại, Nxb Chính trị quốc gia năm 2007. Tác giả Nguyễn
Hồng Chuyên với tác phẩm“Thực hiện pháp luật về dân chủ ở cấp xã phục vụ xây
dựng nông thôn mới”, Nxb Tư pháp, xuất bản năm 2013. Công trình nghiên cứu của
tác giả Tô Xuân Dân, Lê Văn Viện, Đỗ Trọng Hùng với tác phẩm “Xây dựng nông
thôn mới ở Việt Nam: Tầm nhìn mới, tổ chức quản lí mới, bước đi mới”, Nxb Nông
nghiệp năm 2012. Điểm chung của các công trình này là sau khi phân tích thực tiễn
giải quyết vấn đề quản lý Nhà nước nói chung và việc xây dựng chỉ đạo chính sách
phát triển nông nghiệp, nông thôn ở nước ngoài, các tác giả đều cố gắng gợi mở, nêu
lên những kinh nghiệm để có thể vận dụng cho giải quyết những vấn đề thực tiễn của
Việt Nam.
Bên cạnh các công trình nghiên cứu trên, có một số luận án, luận văn đáng chú ý
khác về vấn đề Đảng lãnh đạo xây dựng nông thôn mới trong cả nước, có thể kể đến
một số công trình nghiên cứu như: Vai trò lãnh đạo của Đảng bộ Tỉnh ủy Tuyên
Quang trong xây dựng nông thôn mới. Vai trò lãnh đạo của Đảng bộ Tỉnh ủy Tuyên
Quang trong xây dựng nông thôn mới trong giai đoạn 2010 – 2018 của tác giả Phạm
Thị Kim Anh; Luận văn Thạc sĩ, Trường ĐH KHXH& NV của tác giả Hoàng Mai
Phương với tác phẩm: Đảng bộ huyện Chương Mỹ

(Hà Nội) lãnh đạo xây dựng nông

thôn mới từ năm 2008 đến năm 2014; Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Thị Nguyệt
Ánh Trường ĐH KHXH& NV với tác phẩm: Đảng bộ tỉnh Hưng Yên lãnh đạo phát

triển kinh tế nông nghiệp từ năm 1997 đến năm 2010, Luận án tiến sĩ chuyên ngành
Lịch sử Đảng cộng sản Việt Nam, Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh. Luận văn
thạc sỹ của tác giả Lê Na với tác phẩm: Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa lãnh đạo nhân dân
6


thực hiện sự nghiệp đổi mới từ năm 1986 đến nay, Luận văn thạc sỹ Học viện chính trị
quốc gia Hồ Chí Minh. Trần Thị Minh Châu (chủ biên): Về chính sách đất nông
nghiệp ở nước ta hiện nay của Nxb Chính trị quốc gia; Tác giả Lê Quang Phi với tác
phẩm: Đổi mới tư duy của Đảng về công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta, Nxb
Chính trị quốc gia; Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương. Tác giả Vũ Thị Mười với tác
phẩm Đảng bộ tỉnh Ninh Bình lãnh đạo xây dựng nông thôn mới từ năm 2001 đến năm
2010, Luận văn Thạc sĩ, Trung Tâm đào tạo bồi dưỡng giảng viên lý luận chính trị.
Như vậy, hầu hết các công trình nghiên cứu trực tiếp về nông nghiệp, nông dân và
nông thôn thuộc về phạm vi của khoa học kinh tế, quản lý kinh tế, xã hội học. Trên giác
độ khoa học lịch sử thì những công trình nghiên cứu chuyên sâu về nông nghiệp, nông
dân và nông thôn nói chung, thực trạng, phương hướng, giải pháp thực hiện chương
trình xây dựng nông thôn mới ở huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội nói riêng từ năm
2008 đến 2015 còn hạn chế.
Xuất phát từ thực tế đó, tác giả chọn đề tài: “Đảng bộ huyện Mê Linh (Hà Nội)
lãnh đạo xây dựng nông thôn mới từ năm 2008 đến năm 2015”, làm luận văn thạc sĩ
Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Làm rõ chủ trương và sự chỉ đạo xây dựng NTM của Đảng bộ huyện Mê Linh
(Hà Nội) từ năm 2008 đến năm 2015; từ đó rút ra một số kinh nghiệm về lãnh đạo xây
dựng NTM góp phần phục vụ hiện tại.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Luận văn có các nhiệm vụ sau:
- Khái quát các yếu tố tác động đến sự lãnh đạo xây dựng NTM của Đảng bộ

huyện Mê Linh (Hà Nội);
- Trình bày chủ trương, và sự chỉ đạo xây dựng NTM của Đảng bộ huyện Mê
Linh (Hà Nội) từ năm 2008 đến năm 2015;
- Nhận xét ưu điểm, hạn chế - lý giải nguyên nhân; rút ra các kinh nghiệm chủ
yếu trong xác định chủ trương và sự chỉ đạo xây dựng nông thôn mới của Đảng bộ
huyện Mê Linh (Hà Nội) và thực hiện những nhiệm vụ cho hiện tại.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Luận văn có đối tượng nghiên cứu là chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ
huyện Mê Linh (Hà Nội) về xây dựng nông thôn mới từ năm 2008 đến năm 2015.
7


4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: Quá trình hình thành chủ trương và sự lãnh đạo của Đảng bộ huyện
Mê Linh (Hà Nội) trong thực hiện Chương trình xây dựng nông thôn mới
về các vấn đề: (1). Chỉ đạo quy hoạch, thành lập Ban chỉ đạo xây dựng nông thôn mới
và xây dựng mô hình thí điểm nông thôn mới; (2). Chỉ đạo xây dựng cơ sở hạ tầng
kinh tế - xã hội; (3). Chỉ đạo phát triển nhóm kinh tế và tổ chức sản xuất; (4). Chỉ đạo
thực hiện nhóm văn hóa - xã hội - môi trường.
- Về thời gian: là từ năm 2008 đến năm 2015. Mốc năm 2008 – là năm thực
hiện Nghị quyết 15/2008/QH12 về sát nhập huyện Mê Linh (Vĩnh Phúc) vào Thành
phố Hà Nội, cũng là năm bắt đầu có chủ trương xây dựng nông thôn mới; mốc năm
2015 là mốc kết thúc Đại hội Đảng bộ huyện lần IX với nhiều kết quả đạt được trong
xây dựng nông thôn mới. Bên cạnh đó, tác giả cũng đề cập đến một số năm trước và
sau mốc thời gian nghiên cứu để thấy rõ hơn bức tranh phát triển của nông thôn mới dưới
sự lãnh đạo của Đảng bộ huyện Mê Linh (Hà Nội).
- Về không gian: Địa bàn huyện Mê Linh (Hà Nội) gồm 2 thị trấn (Chi Đông,
Quang Minh) và 16 xã (Chu Phan, Đại Thịnh, Hoàng Kim, Kim Hoa, Liên Mạc, Tam
Đồng, Tiến Thịnh, Tiến Thắng, Mê Linh, Tiền Phong, Tự Lập, Thạch Đà, Thanh Lâm,

Tráng Việt, Vạn Yên, Văn Khê).
5. Cơ sở lý luận, nguồn tƣ liệu và phƣơng pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở lý luận
Luận văn được thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lê nin, Tư
tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam, Đảng bộ thành phố
Hà Nội về giải quyết các vấn đề xã hội, trực tiếp là vấn đề nông nghiệp, nông dân và
nông thôn và công tác xây dựng NTM.
5.2. Nguồn tư liệu
Luận văn dựa trên các nguồn tư liệu chủ yếu sau:
- Văn kiện, Nghị quyết, Chỉ thị… của Đảng Cộng sản Việt Nam, của Đảng bộ
Thành phố Hà Nội về tam nông (nông nghiệp - nông dân - nông thôn) và về nông thôn mới.
- Văn kiện, Nghị quyết, Báo cáo tổng kết… của Đảng bộ huyện Mê Linh (Hà
Nội) về xây dựng nông thôn mới; các Báo cáo thống kê của các Phòng, Ban, tổ chức…
ở địa phương có liên quan.
- Các công trình nghiên cứu, sách báo, tạp chí, luận văn, luận án và các tư liệu
có liên quan đến đề tài.

8


5.3. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện dựa trên các phương pháp nghiên cứu chủ yếu là
phương pháp lịch sử, phương pháp logic. Ngoài ra, luận văn còn sử dụng các phương
pháp khác như: phân tích, tổng hợp, so sánh, thống kê… nhằm tái hiện quá trình lãnh
đạo xây dựng nông thôn mới của Đảng bộ huyện Mê Linh (Hà Nội) từ năm 2008 đến
năm 2015; làm cơ sở cho quá trình thực hiện các chính sách lãnh đạo xây dựng nông
thôn mới ở thời điểm hiện tại.
6. Đóng góp mới của luận văn
Luận văn có những đóng góp sau:
- Khái quát các yếu tố tác động đến sự lãnh đạo xây dựng nông thôn mới của

Đảng bộ huyện Mê Linh (Hà Nội).
- Trình bày chủ trương và lãnh đạo xây dựng nông thôn mới của Đảng bộ huyện
Mê Linh (Hà Nội) từ năm 2008 đến năm 2015.
- Đánh giá những ưu điểm, hạn chế, lý giải nguyên nhân... trong sự lãnh đạo
xây dựng nông thôn mới của Đảng bộ huyện Mê Linh (Hà Nội) từ năm 2008 đến năm
2015; từ đó rút ra một kinh nghiệm có ý nghĩa thực tiễn về vấn đề này nhằm nâng cao
vai trò lãnh đạo của Đảng bộ huyện, thúc đẩy sự phát triển của nông thôn mới ở huyện
Mê Linh (Hà Nội) trong thời gian tới.
- Ngoài ra, luận văn có thể làm tài liệu tham khảo trong việc tuyên truyền thực
hiện chương trình xây dựng nông thôn mới ở Trung tâm Bồi dưỡng Chính trị huyện
Mê Linh và các lớp tập huấn bồi dưỡng cán bộ cấp huyện các huyện trên địa bàn thành
phố Hà Nội, có giá trị tham khảo cho Đảng bộ trong việc đề ra các chủ trương giải
pháp xây dựng NTM trong thời gian tới.
7. Bố cục của Luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn được
chia thành 3 chương:
Chương 1: Chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ huyện Mê Linh (Hà Nội) về
xây dựng nông thôn mới từ năm 2008 đến năm 2010
Chương 2: Đảng bộ huyện Mê Linh (Hà Nội) lãnh đạo đẩy mạnh xây dựng
nông thôn mới từ năm 2011 đến năm 2015
Chương 3: Nhận xét và kinh nghiệm

9


Chƣơng 1:
CHỦ TRƢƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ HUYỆN MÊ LINH (HÀ
NỘI) VỀ XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TỪ NĂM 2008 ĐẾN NĂM 2010
1.1.


Những yếu tố tác động đến sự lãnh đạo xây dựng nông thôn mới của Đảng
bộ huyện Mê Linh

1.1.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện Mê Linh
* Điều kiện tự nhiên
Vị trí địa lý: Mê Linh là huyện mới được nhập vào thành phố Hà Nội kể từ
ngày 1/8/2008. Huyện Mê Linh nằm trong hệ tọa độ 21010’ độ vĩ Bắc, 10605’ kinh độ
Đông, Phía Bắc giáp thị xã Phúc Yên và huyện Bình Xuyên của tỉnh Vĩnh Phúc. Phía
Nam giáp sông Hồng, ngăn cách với huyện Đan Phượng và huyện Đông Anh. Phía
Tây giáp huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc. Phía Đông giáp huyện Sóc Sơn. Mê Linh
nằm ở phía tây Bắc của thành phố Hà Nội, cách trung tâm Hà Nội khoảng 25 km, tiếp
giáp với sân bay Nội Bài, Mê Linh có nhiều đường giao thông huyết mạch chạy qua
như: Quốc lộ số 2, Quốc lộ số 23, Xa lộ Bắc Thăng Long - Nội Bài, tuyến đường sắt
Hà Nội - Lào Cai, đường thủy có sông Hồng, sông Cà Lồ chảy qua. Có thể thấy,
Huyện Mê Linh có điều kiện vị trí địa lý thuận lợi về giao thông đường bộ, đường sắt,
đường thủy và cả đường hàng không. Chính những điều kiện vị trí đó, tạo cho huyện
Mê Linh có lợi thế trong giao lưu kinh tế với các tỉnh trung du, miền núi phía bắc, các
tỉnh đồng bằng sông Hồng và các địa phương trong cả nước cũng như quốc tế [80]
[81].
Huyện Mê Linh là vùng đất có bề dày lịch sử văn hóa lâu đời, từng là Kinh đô
của nước Việt dưới thời Hai Bà Trưng. Trong quá trình hình thành và phát triển, huyện
Mê Linh có nhiều lần thay đổi địa lý hành chính. Theo Quyết định 178-CP ngày
5/7/1977 về việc hợp nhất và điều chỉnh địa giới một số huyện thuộc tỉnh Vĩnh Phú.
Trên cơ sở hợp nhất huyện Bình Xuyên và huyện Yên Lãng thành một huyện lấy tên là
huyện Mê Linh và sáp nhập 4 xã của huyện Yên Lạc: Văn Tiến, Nguyệt Đức, Minh
Tân và Bình Định, 2 xã của huyện Kim Anh: Quang Minh và Kim Hoa vào huyện Mê
Linh; Thực hiện Nghị quyết số 15/2008/QH12 của Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội
Chủ nghĩa Việt Nam khóa XII, kỳ họp thứ 3, thông qua ngày 29/5/2008, về việc điều
chỉnh địa giới hành chính thành phố Hà Nội, kể từ ngày 01/8/2008, chuyển toàn bộ


10


huyện Mê Linh, tĩnh Vĩnh Phúc về thành phố Hà Nội. Gồm 18 đơn vị hành chính trực
thuộc, trong đó, có 16 xã và 2 thị trấn, giữ ổn định cho đến nay. Hiện nay, các đơn vị
hành chính huyện gồm 2 thị trấn và 16 xã: Thị trấn: Chi Đông, Quang Minh; Các xã:
Chu Phan, Đại Thịnh, Hoàng Kim, Kim Hoa, Liên Mạc, Tam Đồng, Tiến Thịnh, Tiến
Thắng, Mê Linh, Tiền Phong, Tự Lập, Thạch Đà, Thanh Lâm, Tráng Việt, Vạn Yên,
Văn Khê [81].
Đặc điểm đất đai và địa hình: Huyện Mê Linh có diện tích tự nhiên toàn huyện
là 23.648,87 ha.Trong đó diện tích đất nông nghiệp là 11.703,80 ha, đất lâm nghiệp
3.169,18 ha, đất chuyên dùng 2.843,70 ha và 5.567,09 ha đất chưa sử dụng. Đất đai
trên toàn huyện Mê Linh có độ phì ở mức độ trung bình tốt, hầu hết các loại đấ có hàm
lượng lân và kali ở mức trung bình, đất chua. Địa hình dốc, bậc thang, thoải dần về
phía nam hình thành ba vùng đất tự nhiên [80].
Vùng đất lúa do phù sa sông Hồng và sông Cà Lồ bồi đắp gồm các xã : Tiền
Châu, Tiến Thắng, Liên Mạc, Vạn Yên, Chu Phan, Thạch Đà, Hoàng Kim, Văn Khê,
Tráng Việt, Tam Đồng, Tiến Thịnh, Tự Lập, và thị trấn Phúc Yên. Diện tích đất phù sa
giàu hàm lượng dinh dưỡng, được sông Hồng bồi đắp hàng năm do đó rất thích hợp
với phát triển sản xuất nông nghiệp và du lịch sinh thái.
Vùng màu có nguồn gốc đất bạc màu, trên nền phù sa cổ gồm các xã : Tiền
Phong, Mê Linh, Đại Thịnh, Thanh Lâm, Quang Minh, Kim Hoa. Đất ở vùng này có
hàm lượng dinh dưỡng cao, đã được thủy lợi hóa tương đối hoàn chỉnh, phù hợp với
phát triển nông nghiệp kỹ thuật cao (trồng cây lương thực, rau màu thực phẩm).
Đặc điểm khí hậu: Huyện Mê Linh nằm ở vùng cận nhiệt đới gió mùa, nên khí
hậu ở đây cũng có những đặc điểm chung như ở nhiều huyện trung du khác. Một năm
có bốn mùa rõ rệt là mùa Xuân, mùa Hạ, mùa Thu, mùa Đông.
Đặc điểm thủy văn: Mê Linh được bao bọc bởi hai con sông chính chảy qua, gồm:
sông Hồng và sông Cà Lồ. Lượng nước hằng năm của các sông này rất lớn, có thể
cung cấp đủ nước tưới tiêu diện tích đất canh tác nông nghiệp tại địa phương. Ngoài hệ

thống hai con sông lớn chảy qua địa bàn huyện, Mê Linh còn có hệ thống ao, hồ, đầm
phong phú, với trên 200 ha ao hồ, đầm với trữ lượng nước khá lớn, có ý nghĩa quan
trọng với việc phát triển nuôi trồng thủy sản và phục vụ nhu cầu nước tại chỗ. Có thể
thấy điều kiện khí hậu, thủy văn của Mê Linh rất thuận lợi cho phát triển nông nghiệp,

11


đa dạng hóa các loại vật nuôi, cây trồng, thâm canh tăng vụ. Hệ thống sông ngòi, ao,
hồ là nguồn tài nguyên cung cấp nước cho sản xuất và đời sống nhân dân và có tác
dụng điều hòa khí hậu, cải thiện môi trường sinh thái và phát triển nguồn lợi thủy sản.
* Điều kiện kinh tế, văn hoá, xã hội
Về kinh tế: trước đây, về cơ bản Mê Linh vẫn là một huyện thuần nông. Nông
nghiệp và thủy sản vẫn là một trong những ngành mũi nhọn kinh tế của huyện, tốc độ
tăng trưởng còn thấp, cơ sở vật chất, đường sá, trường học, trụ sở các cơ quan của
huyện còn manh mún, chắp vá; đời sống nhân dân còn nhiều khó khăn. Sau khi về Thủ
đô, phát huy truyền thống đơn vị Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, Huyện ủy HĐND - UBND huyện đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt, có trọng tâm, trọng
điểm, động viên được cán bộ và nhân dân trong huyện sôi nổi tích cực tham gia lao
động sản xuất và hưởng ứng các phong trào thi đua. Hàng hóa về nông sản của Mê
Linh hiện đã và đang được khẳng định vị trí trên thị trường. Huyện Mê Linh trở thành
một huyện có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao; an ninh chính trị ổn định; đời sống vật
chất, tinh thần của nhân dân không ngừng được cải thiện. Công cuộc đổi mới đã đưa
huyện Mê Linh từng bước khởi sắc và phát triển mạnh: Cơ cấu kinh tế chuyển dịch
nhanh, đạt hiệu quả cao; giá trị sản xuất nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương
mại - dịch vụ tăng nhanh, vượt chỉ tiêu, kế hoạch đề ra. Huyện Mê Linh còn là điểm
sáng xây dựng nông thôn mới của ngoại thành Hà Nội.
Tính đến năm 2018, ngành công nghiệp có tốc độ phát triển khá cao, chiếm tỷ
trọng chủ yếu nên có vai trò chính trong việc thúc đẩy tốc độ và cơ cấu kinh tế của
huyện. Giá trị sản xuất công nghiệp ước đạt 19.756 tỷ đồng (đạt 100,2% kế hoạch,
tăng 8,1%). Trong đó, khu vực có vốn đầu tư trong nước tăng 5,4% và chiếm 44,2%

tổng giá trị công nghiệp, khu vực có vốn đầu đầu tư nước ngoài (FDI) tăng 10,3% và
chiếm 55,8% tổng giá trị công nghiệp [82].
Các ngành dịch vụ duy trì phát triển khá, ước cả năm đạt 1.062 tỷ đồng, tăng
11,8% so cùng kỳ. UBND huyện tổ chức hội chợ hàng Việt và trưng bày hoa xuân, cây
cảnh, giới thiệu sản phẩm làng nghề của huyện dịp Tết Nguyên đán hàng năm. Hội chợ
đã thu hút hàng chục nghìn người dân và khách đến thăm quan, mua sắm, bảo đảm an
ninh trật tự, an toàn xã hội, vệ sinh môi trường và đạt hiệu quả kinh tế [82].
Bên cạnh đó, giá trị sản xuất nông nghiệp ước đạt 1.565 tỷ đồng, tăng 1,7% so với
cùng kỳ. Hiện nay, huyện Mê Linh đang có sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng

12


tăng các sản phẩm trồng trọt và chăn nuôi. Hình thành các vùng sản xuất chuyên canh
chất lượng cao về lúa, rau xanh và hoa tươi [82].
Giá trị sản xuất các ngành kinh tế cơ bản ổn định và tăng trưởng hằng năm. Tổng
giá trị sản xuất chỉ tính riêng năm 2018 đạt 24.188 tỷ đồng; tổng thu ngân sách trên địa
bàn đạt 4.500 tỷ đồng; thu nội địa đạt 510,9 tỷ đồng, bằng 103,2% kế hoạch. Tỷ lệ hộ
nghèo giảm mạnh còn 1,41%. Công tác xây dựng nông thôn mới tại huyện Mê Linh
cũng có nhiều khởi sắc; hình thành nhiều mô hình sản xuất công nghiệp cho hiệu quả
kinh tế cao như: Trồng lúa hàng hóa chất lượng cao; trồng hoa, cây ăn quả, sản xuất
rau an toàn [82].
Trong báo cáo tổng hợp tình hình phát triển kinh tế - xã hội huyện Mê Linh giai
đoạn 2015 - 2020, tầm nhìn đến năm 2030, đồng chí Phó Bí thư Thành ủy Hà Nội Đào
Đức Toàn phát biểu: “So với yêu cầu chung và tiềm năng, khả năng thì tốc độ phát
triển của Mê Linh còn chậm, mức độ năng động cũng chưa tương xứng với yêu cầu.
Chỉ khi lãnh đạo cấp huyện quyết tâm cao thì mới có thể lan tỏa việc thực hiện nhiệm
vụ phát triển kinh tế - xã hội đến cấp xã, rồi đến người dân, nếu không sẽ chỉ là hô
khẩu hiệu và không thể đi vào thực tiễn”. Có thể các cấp lãnh đạo thành phố Hà Nội
đánh giá cao tiềm năng phát triển kinh tế xã hội ở huyện Mê Linh, quan trọng hơn các

cấp lãnh đạo huyện Mê Linh cần khai thác và tận dụng hiệu quả những thế mạnh vốn
có để thu hút nguồn vốn đầu tư của các doanh nghiệp, phát triển kinh tế - xã hội, cải
thiện đời sống nhân dân.
Về văn hoá: Mê Linh là một huyện cổ - một vùng đất “Địa linh nhân kiệt", là quê
hương của Hai Bà Trưng và gắn liền với cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng năm 40
sau công nguyên. Lịch sử hình thành và phát triển huyện Mê Linh gắn liền với thời đại
các vua Hùng dựng nước, là địa bàn cư trú của các Lạc tướng, Lạc hầu dòng dõi vua
Hùng. Nhân dân trong huyện không chỉ giàu truyền thống đấu tranh cách mạng mà còn
rất giàu truyền thống văn hoá. Cùng với truyền thống văn hoá chung của cả nước, Mê
Linh còn chịu ảnh hưởng của nền văn hoá đặc biệt. Đó là truyền thống yêu nước, ý chí
quật cường, đoàn kết trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước của Hai Bà Trưng: Bên
cạnh đó Mê Linh còn chịu ảnh hưởng của nền văn hoá Kinh Bắc năm xưa, đó là truyền
thống hiếu học, sáng tạo trong chiến đấu, lao động sản xuất và giàu tính nhân văn. Và
cùng với truyền thống của văn hoá làng, Mê Linh còn chịu ảnh hưởng của nền văn hoá
đô thị, văn minh công nghiệp, của hệ thống giáo dục và đào tạo của thủ đô Hà Nội.

13


Qua quá trình phát triển các nền văn hoá trên đã hoà quyện vào nhau tạo thành một
truyền thống và bản sắc văn hoá đặc sắc của người Mê Linh. Truyền thống văn hoá ấy,
ngày nay, đang là nền tảng tinh thần của nhân dân Mê Linh, vừa là động lực vừa là
mục tiêu của sự phát triển kinh tế - xã hội của huyện trong giai đoạn hiện nay. Đó là
phải xây dựng con người Mê Linh, nếp sống Mê Linh vừa có phong cách công nghiệp
và văn minh đô thị, vừa thể hiện bản sắc đặc thù của vùng đất giàu truyền thống văn
hoá. Nhằm tiếp tục thực hiện Nghị quyết TW5 (Khoá VIII) về “Xây dựng và phát triển
nền văn hoá Việt Nam tiến tiên, đậm đà bản sắc dân tộc" [54], Đảng bộ đã đề ra những
mục tiêu và hệ thống giải pháp nhằm xây dựng huyện Mê Linh trở thành một đô thị
hiện đại, văn minh, sự nghiệp văn hoá của huyện phát triển.
Nhìn chung, từ khi huyện Mê Linh được thành lập, qua quá trình hình thành và

phát triển đến nay, dưới sự lãnh đạo của các cán bộ lãnh đạo, Đảng bộ, Chính quyền
huyện luôn luôn quan tâm, đầu tư phát triển văn hóa xã hội, chú trọng đến bản sắc địa
phương. Hiểu được tầm quan trọng của nền giáo dục, Chính quyền huyện có chiến
lược đầu tư cho giáo dục một cách sáng suốt mạnh mẽ, quyết liệt. Nhiều công trình
trường học được đầu tư xây mới, xây dựng trường đạt chuẩn Quốc gia; chất lượng giáo
dục ngày càng được nâng cao, đời sống cán bộ giáo viên cũng được cải thiện. Bên
cạnh đó, ngoài bệnh viện huyện thì các trạm y tế xã cũng được đầu tư về số lượng và
chất lượng. Công tác khám chữa bệnh tại các cơ sở y tế được tăng cường, trình độ
chuyên môn, tinh thần thái độ phục vụ bệnh nhân của đội ngũ thầy thuốc được nâng
lên, chất lượng chăm sóc người bệnh ngày càng tốt hơn. Ông Nguyễn Kiên Dụ, giám
đốc trung tâm y tế huyện Mê Linh từng nói: “Chúng tôi: Chấn chỉnh từ điều nhỏ nhất,
chúng tôi có phòng ốc khang trang, sạch sẽ, phòng chờ có quạt mát, nước uống, nhà vệ
sinh đạt tiêu chuẩn... Đó là những điều tưởng chừng nhỏ bé, nhưng lại có ý nghĩa rất
lớn đối với người bệnh trong hành trình tìm lại sức khỏe”. Trung tâm y tế huyện Mê
Linh với đội ngũ 268 cán bộ viên chức, hợp đồng lao động tại 2 phòng khám đa khoa
và 18 trạm y tế xã, thị trấn; chỉ tính riêng trong năm 2018, trung tâm đã thực hiện khám
chữa bệnh cho 142.304/141.919 lượt người (đạt 100,3% kế hoạch năm). Trong đó, điều
trị y học cổ truyền kết hợp 46.686 lượt khám chữa bệnh kết hợp y học hiện đại; khám dự
phòng 72.539 lượt; khám trẻ em 37.771 lượt [83].
Về xã hội: bên cạnh việc tập trung phát triển cơ cấu hạ tầng kỹ thuật, tạo thuận lợi
cho việc xúc tiến đầu tư phát triển kinh tế, phát huy thế mạnh, tiềm năng của địa
14


phương, Chính quyền huyện luôn quan tâm thực hiện tốt các chính sách an sinh xã hội,
giải quyết việc làm, xóa đói, giảm nghèo. Rất nhiều công ty, nhà máy, khu Công
nghiệp đóng trên địa bàn huyện bình quân hàng năm giải quyết việc làm cho 5.000 lao
động. Theo báo cáo tại hội nghị phản biện và dự thảo Đề án “Nâng cao hiệu quả thoát
nghèo bền vững huyện Mê Linh giai đoạn 2016 – 2020”, năm 2016, số hộ nghèo là
2.956 hộ, chiếm tỷ lệ 5,96%; năm 2017, số hộ nghèo là 2.160 hộ, chiếm tỷ lệ 4,2%;

năm 2018, số hộ nghèo là 1.270 hộ, chiếm tỷ lệ 2,35% [82]. Cũng tại hội nghị này,
đồng chí Nguyễn Văn Chính – UVTV phát biểu: “Chính quyền huyện phải có chính
sách hỗ trợ hộ nghèo nhằm mục tiêu đến cuối năm 2019, toàn huyện Mê Linh không
còn hộ nghèo; duy trì các chính sách hỗ trợ hộ thoát nghèo và không tái nghèo đến hết
giai đoạn 2020”. Chỉ tính riêng năm 2018 toàn huyện đã xây dựng được được 1024
nhà Đại đoàn kết và nhà cho hộ nghèo, sửa chữa và xây mới 275 nhà tình nghĩa (30
triệu đồng/nhà).
Nhờ sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng bộ, Chính quyền địa phương, kết hợp giữa
điều kiện kinh tế, văn hóa xã hội sẵn có với các giải pháp kinh tế trong thời kỳ hiện
nay, đã trở thành những tiền đề quan trọng, tạo động lực cho Đảng bộ và nhân dân
huyện Mê Linh vững bước trên con đường đổi mới nói chung và xây dựng nông thôn
mới nói riêng.
1.1.2. Thực trạng nông nghiệp - nông dân - nông thôn ở huyện Mê Linh trước năm
2008
* Thực trạng nông nghiệp
Mê Linh trước năm 2008 là đơn vị hành chính cấp huyện thuộc tỉnh Vĩnh Phúc.
Thực hiện Nghị định 153 thực hiện Nghị quyết 153/2003/NĐ-CP của Chính phủ về
chia tách địa giới hành chính, thành lập thị xã Phúc Yên. Huyện Mê Linh mới được
tách với 17 xã, 18 vạn dân, sản xuất nông nghiệp vẫn là chủ yếu. Huyện Mê Linh mới
lúc đó không có đô thị, không có cơ sở sản xuất công nghiệp, không có các trung tâm
thương mại dịch vụ lớn đóng vai trò chủ lực thúc đẩy phát triển kinh tế, hệ quả đời
sống của nhân dân trong toàn huyện còn gặp nhiều khó khăn. Với lợi thế vị trí địa lý,
giáp Thủ đô Hà Nội, gần sân bay quốc tế Nội Bài, nằm trong trục tam giác phát triển
kinh tế Hà Nội – Quảng Ninh – Hải Phòng có hệ thống đường giao thông huyết mạch
của cả nước chạy qua, dưới sự lãnh đạo của các cấp uỷ Đảng, chính quyền, sự phối
hợp của các đoàn thể, sự cố gắng của các ngành đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo các cấp

15



ủy Đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân tập trung khai thác
tiềm năng, phát huy lợi thế, tranh thủ sự quan tâm giúp đỡ của Tỉnh ủy, UBND tỉnh
Vĩnh Phúc và Trung ương đã thực hiện thắng lợi các mục tiêu về kinh tế mà Đại hội
Đảng bộ huyện lần thứ VII đề ra.
Về trồng trọt: Huyện ủy tập trung chỉ đạo chuyển đổi cơ cấu sản xuất nông
nghiệp theo chương trình chuyển dịch, chuyển đổi cơ cấu giống cây trồng, vật nuôi.
Áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật, vào sản xuất, nâng cao năng suất, sản lượng
lương thực, đảm bảo cơ bản cân đối được lương thực khu vực nông thôn. Dù diện tích
đất gieo trồng cây lương thực trước năm 2008 có sự giảm do chuyển đổi diện tích
nông nghiệp sang làm khu công nghiệp, cũng như xây dựng cơ sở hạ tầng mới, nhưng
nhìn chung tổng sản lượng lương thực vẫn đảm bảo ổn định. Diện tích gieo trồng hàng
năm ổn định ở mức 25.500 - 25.700 ha. Năng suất lúa tăng liên tục, năm 2003 là 46
tạ/ha, so với năm 2000 tăng 9,8 tạ/ha, năm 2005 là 49,2 tạ/ha, so với năm 2003 tăng
3,2 tạ/ha, năm 2008 là 102,2 tạ/ha [59, tr.3]. Nhìn vào những kết quả này bước đầu
khẳng định được hiệu quả cao hơn so với trồng lúa trước đây.
Về chăn nuôi: về cơ bản ổn định, dịch bệnh được kiểm soát, chú trọng phát triển
chăn nuôi gia súc, gia cầm theo quy mô trang trại, mang tính sản xuất hàng hoá, nâng
cao hiệu quả kinh tế, góp phần chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp nông thôn. Những số
liệu báo cáo giai đoạn này cũng mang tới kết quả rất khả quan, tỷ trọng chăn nuôi
trong nông nghiệp từ 62,5% năm 2005 lên 83,7 % năm 2007. Trong toàn huyện, tổng
số đàn trâu, bò, lợn, gia cầm tăng bình quân hàng năm từ 0,5 - 2%. Năm 2007 đàn trâu
có 2.340 con, đàn bò có 14.300 con, đàn lợn có 85.500 con, gia cầm có 456.400 con
[59, tr.4].
Về nuôi trồng thủy sản: Diện tích nuôi trồng thủy sản ổn định 450 ha, sản lượng
cá đạt 800 tấn/ha, giá trị của ngành chăn nuôi chiếm hơn 52% tổng giá trị ngành nông
nghiệp [59, tr.5].
Về lâm nghiệp: Thực hiện chủ trương, kế hoạch trồng 10 triệu ha rừng của Chính
phủ trong 3 năm từ 2005 - 2007, huyện đã trồng mới 800 ha rừng tập trung, 80 ha rừng
phân tán, chăm sóc và bảo vệ hàng nghìn ha. Huyện cũng ra chủ trương đưa đưa diện
tích đất trống đồi trọc ở vùng đồi gò phủ xanh là 5.500 ha. Toàn huyện có 120 trang

trại (tăng 201 trang trại so với năm 2005) trong đó có 50 trang trại cây ăn quả, 50 trang
trại lâm nghiệp, 20 trang trại chăn nuôi. Giá trị sản xuất nông lâm nghiệp năm 2008

16


đạt 762 tỷ đồng (giá cố định năm 2005) so với năm 2005 tăng 21,16% (bình quân tăng
5,3%)[59, tr.5].
Nhìn chung, trong giai đoạn 2004 – 2008 ngành sản xuất nông lâm ngư nghiệp
của huyện Mê Linh có xu hướng biến đổi tích cực. Đa số, các ngành sản xuất trong
nông nghiệp có sự phát triển theo hướng đa dạng hóa. Người dân đã chú ý đến phát
triển các loại cây trồng, vật nuôi có giá trị kinh tế cao, hình thành các vùng chuyên
canh như trồng rau ở Đại Thịnh, Thanh Lâm, Tiền Phong, Tráng Việt, Văn Khê; trồng
hoa ở các xã Mê Linh, Đại Thịnh. Tuy nhiên, nhìn vào báo cáo thực tế, tốc độ tăng
trưởng ngành nông nghiệp nhìn chung còn thấp, một số ngành sản phẩm có tiềm năng
phát triển nhưng chưa ổn định, sự chuyển đổi cơ cấu cây trồng chưa mạnh, ngành chăn
nuôi chưa phát huy hết tiềm năng vốn có.
* Thực trạng nông dân - nông thôn huyện Mê Linh trước năm 2008
Đối chiếu với Bộ tiêu chí quốc gia NTM được ban hành theo Quyết định số
491/QĐ-TTg, ngày 16/4/2009 và nội dung xây dựng NTM được thể hiện trong chương
trình MTQG xây dựng NTM (Quyết định số 800/QĐ-TTg, ngày 04/6/2010) [57]; nông
thôn Huyện Mê Linh trước năm 2008 đã đạt được một số kết quả sau đây:
Về quy hoạch nông thôn mới: Sau khi Huyện Mê Linh được chia tách địa giới,
trong giai đoạn 2004 - 2008 huyện Mê Linh đã xây dựng qui hoạch tổng thể phát triển
kinh tế - xã hội đến năm 2010 và được UBND tỉnh Vĩnh Phúc phê duyệt [70]. Huyện
Mê Linh cũng được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt định hướng qui hoạch chung xây
dựng đô thị mới Mê Linh tầm nhìn đến năm 2020 [64].
Về Phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội: Trong giai đoạn trước năm 2006, ngoài
một số Quốc lộ 23B, tuyến Bắc Thăng Long – Nội Bài chạy qua huyện là đảm bảo
chất lượng, còn lại hệ thống giao thông của huyện (đặc biệt là đường liên thôn, xã) về

cơ bản vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu sử dụng và phát triển KTXH. Tuy nhiên nhờ
có sự quan tâm đúng mức, trong năm 2008 hạ tầng kinh tế xã hội nông thôn của huyện
Mê Linh đã đáp ứng ứng nhu cầu đi lại của người dân. Về cơ bản các tuyến đường
giao thông chính liên xã đã được kiên cố hoá. Các tuyến đường giao thông đã được trải
cấp phối 100%; thảm nhựa, bê tông hoá hơn 80%. Theo số liệu thống kê, đến tháng 12
năm 2008, tổng chiều dài đường liên thôn của huyện Mê Linh là 66,7 km, trong đó đã
bê tông hóa: 26,3 km (đạt 34,4%). Trong đó 14 km đã xuống cấp, cần đầu tư nâng cấp
chiếm 21%. Đường ngõ xóm có tổng chiều dài là 306,8 km, đã bê tông hóa: 162,1 km
(đạt 52,8%), trong đó có 33,9 km đường đã xuống cấp, cần đầu tư nâng cấp, chiếm
17


11%. Hệ thống giao thông nội đồng trên huyện chưa được chú trọng, tỷ lệ bê tông hóa
chỉ đạt khoảng 3% trên tổng số 215,8 km đường trục chính nội đồng [74]. Có thể thấy
thành tựu lớn nhất ở giai đoạn này là, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội khu vực nông
thôn được tăng cường, góp phần thúc đẩy phát triển sản xuất, từng bước làm thay đổi
bộ mặt nông thôn. Với tiêu chí “Tích cực phát triển sản xuất, tạo việc làm và góp
phần xoá đói, giảm nghèo ở khu vực nông thôn huyện”, việc tập trung đầu tư xây dựng
kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội vùng nông thôn, nhất là hệ thống giao thông, điện,
kênh mương, nước sinh hoạt, trường học, trạm y tế ngày càng được chú trọng và phát
triển.
Hệ thống các trường học, trạm y tế, hạ tầng về điện, thông tin liên lạc: Trong giai
đoạn này, hệ thống trường học, trạm y tế, hệ thống thông tin liên lạc được huyện quan
tâm và đầu tư, về cơ bản đáp ứng nhu cầu học tập, chữa bệnh, sinh hoạt của nhân dân.
Theo báo cáo thống kê năm 2008, có 65% trường học được kiên cố hoá, 25% trường
đạt chuẩn quốc gia, 60% số xã đạt chuẩn quốc gia về y tế [77]. Về hệ thống đê điều,
các công trình thuỷ lợi cũng được huyện thường xuyên kiểm tra, đầu tư và nâng cấp về
cơ bản đáp ứng được yêu cầu phục vụ cho công tác phòng chống lụt bão và tưới tiêu
phục vụ sản xuất nông nghiệp của nhân dân. Bên cạnh đó, công tác quy hoạch phát
triển các khu công nghiệp như Quang Minh, cụm công nghiệp, điểm công nghiệp trọng

điểm cũng được triển khai đồng bộ. Các điểm dân cư, xử lý rác thải, vệ sinh môi
trường được Huyện rà soát, xử lý, có nhiều tiến bộ so với giai đoạn trước đó, góp phần
không nhỏ từng bước tạo dựng lên bộ mặt nông thôn mới theo hướng văn minh, hiện
đại, phù hợp với quy hoạch của Thủ đô mở rộng.
Chuyển dịch cơ cấu, phát triển kinh tế, nâng cao thu nhập: Trong giai đoạn 2004
– 2008, nền kinh tế nông thôn của Huyện phát triển chuyển dịch theo hướng tăng tỷ
trọng công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ. Việc chuyển được một số dự án về
đầu tư và xây dựng công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp ở khu vực nông thôn từng bước
làm thay đổi bộ mặt của Huyện. Tỷ trọng nông nghiệp giai đoạn này giảm dần trong
cơ cấu kinh tế chung của Huyện. Từ việc sản xuất nông nghiệp trồng lúa là chính thì
trong giai đoạn này đã chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp xác định được nhiều
loại cây trồng có lợi thế, với giá trị cao. Các hình thức tổ chức sản xuất ở nông thôn
tiếp ttục được đổi mới, phát triển đa dạng, hình thành nên các hợp tác xã, huy động và
sử dụng có hiệu quả hơn các nguồn lực ở nông thôn, cư dân nông thôn có thêm nhiều
việc làm và tăng thu nhập.

18


Nâng cao chất lượng tổ chức Đảng, Chính quyền, đoàn thể chính trị - xã hội trên
địa bàn: Hệ thống chính trị ở nông thôn do Đảng lãnh đạo được tăng cường. Nhiều cán
bộ nguồn được cử đi học, là lực lượng nòng cốt cung cấp nguồn cán bộ chất lượng cao
cho các tổ chức lãnh đạo của huyện. Tính dân chủ cơ sở của người dân được phát huy
tối đa, vị thế của giai cấp nông dân được nâng cao, an ninh chính trị, trật tự an toàn xã
hội được giữ vững.
Ngoài những kết quả tích cực, nông thôn huyện Mê Linh vẫn còn tồn tại nhiều
hạn chế cần khắc phục:
Kinh tế nông thôn còn chuyển dịch chậm: Quỹ đất Mê Linh vẫn là đất ruộng,
người dân chủ yếu vẫn là thuần nông. Các hoạt động tách rời đồng ruộng phi nông
nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ vẫn còn chiếm chiếm tỷ lệ khá nhỏ. Các doanh

nghiệp địa phương lúc bấy giờ còn nhỏ lẻ, các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh
riêng rẽ, không có sự đồng nhất, nhất quán. Có thể thấy các hoạt động chuyển dịch cơ
cấu lao động nông nghiệp, nông thôn ở huyện Mê Linh lúc đó còn mang tính tự phát
và thiếu sự các phương án đột phá, sự chuẩn bị không kỹ càng. Đa phần người dân là
thuần nông, chưa làm quen với khái niệm “người công nhân”, dẫn đến chất lượng lao
động nông nghiệp, nông thôn còn thấp, giá trị sản xuất không cao.
Nông nghiệp vẫn còn bộc lộ nhiều khiếm khuyết hạn chế: Giá trị hàng hoá nông
nghiệp tăng trưởng thấp, chưa áp dụng các công nghệ tiên tiến vào sản xuất, người dân
sản xuất phải đương đầu với nhiều rủi ro về thiên tai, dịch bệnh gây ra, có thể thấy
nông nghiệp lúc này vẫn là “Ơn trời mưa nắng phải thì, nơi thì bừa cạn, nơi thì cày
sâu” phụ thuộc rất nhiều vào thiên nhiên. Quy mô sản xuất nông nghiệp còn nhỏ,
manh mún, tự phát, người nông dân chưa biết tổ chức các hợp tác xã, các hiệp hội
ngành hàng. Quy mô còn kém phát triển, công nghiệp phát triển chậm, chưa tạo được
niềm tin, chưa có thương hiệu trên thị trường, giá trị gia tăng thấp. Ở huyện đa phần
chưa được trang bị cơ giới và áp dụng tiến bộ khoa học công nghệ vào trong sản xuất
nông nghiệp dẫn đến khả năng cạnh tranh kém.
Phát triển thiếu quy hoạch, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội thiếu đồng bộ: Nhìn
chung đời sống nông dân, nông thôn lúc bấy giờ được cải thiện, nhưng vẫn còn thấp
đặc biệt là thu nhập của người dân khu vực nông thôn, mới chỉ đạt 13,596 triệu
đồng/người/năm; tỷ lệ hộ nghèo bình quân 11,49%; Tỷ lệ hộ dân nông thôn sử dụng
nước sinh hoạt hợp vệ sinh đạt 80%; Kinh tế hộ chủ yếu là kinh tế thuần nông, thiếu
các mô hình chuyển đổi cơ cấu [77].

19


Các khó khăn khác: So với các huyện trên địa bàn thành phố Hà Nội, đời sống
nông thôn còn ở mức thấp, chênh lệch giàu nghèo ngày càng lớn, phát sinh nhiều vấn
đề. Thời điểm những năm trước năm 2008, tệ nạn xã hội gia tăng theo cấp số nhân,
nhiều xã, nhiều thôn còn hiện tượng mê tín dị đoan, cưới hỏi ma chay không theo nếp

sống mới mà cổ hủ, hủ tục. Các hoạt động của hệ thống chính trị ở các xã, các thôn
trên địa bàn huyện buông lỏng, hạn chế trong khâu quản lý. Tình hình an ninh nông
thôn chưa được đảm bảo, một số xã còn có hiện tượng đơn thư khiếu kiện giải quyết
chưa kịp thời, giải quyết chưa thỏa đáng dẫn tới khiếu kiện vượt cấp, gây bức xúc
trong xã hội. Nguyên nhân chính tồn tại của các sự việc đó có thể giải thích do:
Về khách quan: do lúc bấy giờ mới sát nhập huyện Mê Linh vào thành phố Hà
Nội, xuất phát điểm của nền kinh tế thấp chưa tương xứng với một huyện trực thuộc
thủ đô. Bên cạnh đó, khi sát nhập nhu cầu đầu tư cho phát triển nông nghiệp nông thôn
ngày càng tăng, khả năng đáp ứng của các nguồn lực còn hạn chế, chưa kịp thời. Tư
duy về kinh tế thị trường của người dân hầu như không có, đây cũng là nhược điểm
hạn chế nhất lúc bấy giờ. Người dân chủ yếu phụ thuộc vào thiên nhiên, nên nông
nghiệp, nông thôn chịu nhiều tác động rủi ro của thiên tai, mưa bão, dịch bệnh.
Về chủ quan: năng lực lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện của hệ thống chính
trị nói chung nhất là ở cơ sở nhiều mặt chưa đáp ứng được yêu cầu; khả năng tham
mưu, đề xuất, cụ thể hoá chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước và cấp trên còn
yếu. Thiếu đội ngũ cán bộ giỏi về xây dựng nông thôn mới làm nòng cốt chỉ đạo thực
hiện ở cơ sở. Xây dựng nông thôn thiếu định hướng do chưa có quy hoạch tổng thể,
chưa thể hiện các đặc trưng của nông thôn thời kỳ công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất
nước; chưa có hệ thống tiêu chuẩn kỹ thuật làm chuẩn cho xây dựng các công trình hạ
tầng kinh tế - xã hội nông thôn. Hệ thống cơ chế, chính sách về phát triển nông thôn
thiếu đồng bộ và còn nhiều vưỡng mắc. Công tác đào tạo, bồi dưỡng và nâng cao nhận
thức, dạy nghề cho nông dân chưa được coi trọng. Phát triển các lĩnh vực y tế, văn
hoá, giáo dục ở nông thôn, nhất là bậc học mầm non, xây dựng thiết chế văn hoá làng
xã, bảo tồn và phát triển văn hoá truyền thống chưa được quan tâm đúng mức.
Những tồn tại và hạn chế, yếu kém trong các khâu quản lý trên đã được Đảng bộ
huyện Mê Linh nhận định, phân tích chỉ rõ, đề ra những chủ trương giải pháp cụ thể
thiết thực phù hợp với điều kiện thực tiễn lúc bấy giờ; để nhanh chóng đẩy mạnh phát
triển kinh tế nông nghiệp bền vững, thực hiện xây dựng nông thôn mới đáp ứng nhu
cầu nguyện vọng của nhân dân trong huyện.
20



1.1.3. Chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng bộ Thành phố Hà Nội về
xây dựng nông thôn mới (2008-2010)
* Chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam
Yêu cầu đặt ra về xây dựng nông thôn mới: Nghị quyết số 26-NQ/TW của Hội
nghị lần thứ 7 Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa X; Nghị
quyết số 24/2008/NQ-CP của Chính phủ ban hành Chương trình hành động thực hiện
Nghị quyết số 26-NQ/TW, trong đó có ghi lập Chương trình mục tiêu quốc gia về xây
dựng nông thôn mới (NTM) xác định quan điểm chỉ đạo là: “Nông nghiệp, nông dân,
nông thôn có vị trí chiến lược trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây
dựng và bảo vệ tổ quốc, là cơ sở và lực lượng quan trọng trong phát triển kinh tế - xã
hội bền vững, gìn giữ ổn định chính trị, đảm bảo an ninh quốc phòng, gìn giữ và phát
huy bản sắc văn hóa dân tộc và bảo vệ môi trường sinh thái của đất nước. Nông dân
là chủ thể của quá trình phát triển; xây dựng nông thôn mới là căn bản, phát triển
toàn diện, hiện đại hóa nông nghiệp là khâu then chốt” [79]. Tuy nhiên, để tổ chức tốt
việc thực hiện nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới giai đoạn hiện nay cũng còn nhiều
vấn đề đặt ra cần giải quyết, đó là:
Thứ nhất, chưa có quy hoạch và quản lý có hiệu quả về không gian chung nông
thôn - đô thị, công nghiệp - nông nghiệp, về hạ tầng nông thôn, nên đã dẫn đến không
gian nông thôn truyền thống đang bị phá vỡ tại nhiều nơi, mất đi tính đặc thù với các
giá trị bản sắc văn hóa, mất cân bằng sinh thái, ô nhiễm môi trường gia tăng;
Thứ hai, xã hội nông thôn chưa được tổ chức thích hợp với quá trình công nghiệp
hóa, hiện đại hóa, dân chủ cơ sở còn bị vi phạm ở nhiều nơi, mâu thuẫn xã hội gia
tăng, văn hóa truyền thống bị mai một;
Thứ ba, kinh tế nông thôn phát triển nhưng thiếu tính bền vững cả về kinh tế, xã
hội và môi trường. Người dân thiếu việc làm ổn định, nghèo đói giảm chậm và có xu
thế tái nghèo ở một số địa phương, một bộ phận dân cư còn sống dưới mức nghèo khổ;
Thứ tư, cơ chế lồng ghép các nguồn lực từ các chương trình, dự án chưa rõ ràng và
chưa quan tâm tới đặc thù từng địa phương. Thực tế các địa phương mới chỉ tiến hành

ghép vốn đối với các công việc, mục tiêu có cùng nội dung. Tuy nhiên, điều này lại gây
khó trong tổng hợp kết quả đạt được của từng dự án, chương trình từ việc ghép các nguồn
vốn của các chương trình, dự án trên địa bàn.

21


Với mong muốn thay đổi diện mạo nhiều vùng nông thôn, hạ tầng kinh tế - xã hội
thiết yếu được nâng cấp, đời sống đa số nông dân được cải thiện, hộ nghèo giảm, nhiều
nét đẹp văn hóa được phát huy, tình làng nghĩa xóm được vun đắp, đội ngũ cán bộ
trưởng thành một bước. Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chỉ thị, nghị quyết về phát
triển nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới, nâng cao đời sống của người nông dân.
Trực tiếp và toàn diện nhất là Nghị quyết số 26-NQ/TW, Hội nghị Trung ương 7, khóa
X, về nông nghiệp, nông dân, nông thôn, trong đó có nhiệm vụ xây dựng nông thôn
mới. Về mục tiêu cụ thể, Nghị quyết xác định, đến năm 2015: 20% số xã đạt chuẩn
nông thôn mới và đến năm 2020,: 50% số xã đạt chuẩn nông thôn mới trên tổng số
9.121 xã của cả nước theo 19 tiêu chí được Thủ tướng Chính phủ ban hành tại Quyết
định số 491/QĐ-TTg, ngày 16-4-2009 [79].
Chương trình xây dựng nông thôn mới là Nghị quyết toàn diện nhất về phát triển
nông nghiệp, nông dân, nông thôn từ trước tới nay, với 05 nội dung chính như sau:
Thứ nhất, đó là làng, xã văn minh, sạch đẹp, hạ tầng hiện đại; Thứ hai, sản xuất phải
phát triển bền vững theo hướng kinh tế hàng hóa; Thứ ba, đời sống vật chất và tinh
thần của nông dân, nông thôn ngày càng nâng cao; Thứ tư, bản sắc văn hóa dân tộc
được giữ gìn. Thứ năm, xã hội nông thôn an ninh tốt, quản lý dân chủ.
Trên cơ sở bộ tiêu chí quốc gia về xây dựng nông thôn mới gồm 5 nhóm nội
dung (nhóm quy hoạch, nhóm hạ tầng kinh tế - xã hội, nhóm kinh tế và tổ chức sản
xuất, nhóm văn hóa - xã hội - môi trường, nhóm hệ thống chính trị), Chính phủ đã ban
hành Quyết định 800 QĐ-TTg, ngày 04-6-2010 về Chương trình mục tiêu quốc gia
xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 - 2020, nêu rõ 19 tiêu chí và 7 nhóm giải
pháp, trong đó có các tiêu chí sau:

Quy hoạch có 1 tiêu chí (1- Quy hoạch); nhóm Hạ tầng kinh tế - xã hội có 8 tiêu
chí (2- Giao thông; 3- Thủy lợi; 4- Điện; 5- Trường học; 6- Cơ sở vật chất văn hóa; 7Cơ sở hạ tầng thương mại nông thôn; 8- Thông tin và truyền thông; 9- Nhà ở dân cư);
nhóm Kinh tế và tổ chức sản xuất có 4 tiêu chí (10- Thu nhập; 11- Hộ nghèo; 12- Lao
động có việc làm; 13- Tổ chức sản xuất); nhóm Văn hóa - Xã hội - Môi trường có 6
tiêu chí (14- Giáo dục và Đào tạo; 15- Y tế; 16- Văn hóa; 17- Môi trường và an toàn
thực phẩm; 18- Hệ thống chính trị và tiếp cận pháp luật; 19- Quốc phòng và an ninh).
Với mỗi tiêu chí, Quyết định quy định cụ thể chỉ tiêu chung cũng như chỉ tiêu theo
từng vùng: Trung du miền núi phía Bắc; Đồng bằng sông Hồng; Bắc Trung Bộ; Duyên
hải Nam Trung Bộ; Tây Nguyên; Đông Nam Bộ; Đồng bằng sông Cửu Long [79].

22


×