Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 20 * Số 4 * 2016
Nghiên cứu Y học
ĐẶC ĐIỂM CÁC TRƯỜNG HỢP HỞ THÀNH BỤNG BẨM SINH
TẠI BỆNH VIỆN NHI ĐỒNG 2 TỪ 2009-2013
Bùi Thị Thùy Tâm* Võ Tường Văn* Nguyễn Quỳnh Trâm*
TÓM TẮT
Mục tiêu: Khảo sát đặc điểm các trường hợp hở thành bụng bẩm sinh tại bệnh viện Nhi Đồng 2 từ 20092013.
Phương pháp: mô tả hồi cứu 68 trường hợp hở thành bụng bẩm sinh từ 2009 – 2013.
Kết quả: Có 68 trường hợp hở thành bụng bẩm sinh được điều trị tại bệnh viện Nhi đồng 2 từ tháng 2009
đến tháng 2013; trong đó mổ 01 thì chiếm 47,05%; mổ 02 thì 50%, được đặt túi silo và không được mổ thì 02
chiếm 2,9%; thời gian đặt túi silo cho đến khi đóng bụng 8 (6,25-13) ngày; tuổi thai khoảng 38 (36-39,5) tuần;
CNLS khoảng 2300 (1900-2650) gram; tuổi mẹ khoảng 22 (19-25) tuổi. Trước phẫu thuật nhiễm trùng sơ sinh
chiếm 53,1%; suy hô hấp chiếm 17,2%; sốc chiếm 7,8%. Sau phẫu thuật nhiễm trùng huyết chiếm 76,8%; viêm
phổi 14,5%; nhiễm trùng vết mổ 5,8%; tắc ruột 4,3%; viêm ruột hoại tử 2,9%; thời gian nuôi ăn tĩnh mạch 19,2
± 8,4 ngày; thời gian bắt đầu cho ăn sữa 13,8 ± 5,8 ngày tuổi; thời gian đạt đủ lượng sữa 27,6 ± 13,1 ngày tuổi;
thời gian nằm viện 30,1 ± 9,5 ngày. Tỉ lệ tử vong 15,9%. Nguyên nhân tử vong do nhiễm trùng huyết 63,6%; tắc
ruột 18,2%; viêm phổi nặng 9,1%; cao áp phổi tồn tại 9,1%.
Kết luận: Thời gian nuôi ăn tĩnh mạch, thời gian nằm viện kéo dài. Tỉ lệ tử vong còn cao, nguyên nhân tử
vong chủ yếu do nhiễm trùng huyết nên cần tăng cường công tác chống nhiễm khuẩn để giảm thiểu tỉ lệ nhiễm
khuẩn huyết trước và sau phẫu thuật.
Từ khóa: hở thành bụng.
ABSTRACT
CHARACTERISTICS OF NEWBORN WITH GASTROSCHISIS
IN CHILDREN HOSPITAL II FROM 2009 – 2013
Bui Thi Thuy Tam, Vo Tuong Van, Nguyen Quynh Tram
* Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Supplement of Vol. 20 - No 4 - 2016: 75 - 78
Objective: Describe characteristics of intensive care in newborn with gastroschisis from 2009 – 2013.
Method: A prospective case−series of 68 newborns with gastroschisis from 2009 to 2013.
Results: A total of 68 newborns were enrolled in this study. There were 47.05% primary closure, 50%
secondary closure and 2.9% used a silastic silo but not closured of the abdominal defect; closure of the silo is
usually performed in stage over 8 (6.25-13) days. Birth weight was 2300 (1900-2650) gram; gestation age was 38
(36-39.5) weeks. Before-operation: neonatal infection53.1%; respiratory distress syndrome 17.2%; shock 7.8%.
Post-operation: sepsis 76.8%; pneumonia 14.5%; postoperative wound infection 5.8%; intestinal obstruction
4.3%; necrotizing enterocolitis 2.9%; first feeds by13.8 ± 5.8 days; reached full feeds by 27.6 ± 13.1 days and
discharged by 30.1 ± 9.5 days. There were 15.9% deaths: sepsis 63.6%; intestinal obstruction 18.2%; servere
pneumonia 9.1%; persistent newborn pulmonary hypertension 9.1%.
Conclusions: Our overall mortality rate is higher than developed countries. Need to control nosocomial
infection to reduce the death rate before and after operation.
* Bệnh viện Nhi Đồng 1
Tác giả liên lạc: BS Bùi Thị Thùy Tâm
Chuyên Đề Nhi Khoa
ĐT: 0917116667
Email:
75
Nghiên cứu Y học
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 20 * Số 4 * 2016
Keywords: gastroschisis
ĐẶT VẤN ĐỀ
KẾT QUẢ
Hở thành bụng là một khiếm khuyết bẩm
sinh của thành bụng với tần suất 1/4000 trẻ sinh
sống. Tần suất bệnh gia tăng trong những thập
kỉ gần đây theo một số báo cáo(2). Với những tiến
bộ trong hồi sức sơ sinh và nuôi ăn tĩnh mạch, tỉ
lệ tử vong đã giảm từ 60% trong những năm
1960 xuống còn chỉ còn 3-10% giữa những năm
1990. Hiện nay tỉ lệ tử vong báo cáo 2-4%(4,1,6).
Bảng1 : Đặc điểm tuổi thai, CNLS, tuổi mẹ trước mổ
Tại Việt Nam cũng như bệnh viện Nhi Đồng
2, số trẻ hở thành bụng được điều trị ngày càng
nhiều. Với những kỹ thuật mổ mới như đặt túi
silo, đóng bụng thì 2, chăm sóc trẻ sơ sinh cũng
như nuôi ăn tĩnh mạch, điều trị các trẻ hở thành
bụng ngày càng cải thiện so với thời kì trước.
Mặc dù tỉ lệ sống đã cải thiện, các vấn đề còn gặp
phải nhiều trong điều trị các trẻ hở thành bụng
như rối loạn tiêu hóa kéo dài, nuôi ăn tĩnh mạch
kéo dài, nhiễm trùng cũng như thời gian nằm
viện kéo dài.
Bảng 2: Đặc điểm dịch tễ và lâm sàng trước mổ
Chúng tôi thực hiện nghiên cứu này nhằm
có một tình hình chung về điều trị các trường
hợp hở thành bụng bẩm sinh. Từ đó có những
bước cải thiện trong điều trị các trường hợp hở
thành bụng bẩm sinh tại bệnh viện.
ĐỐITƯỢNG-PHƯƠNGPHÁPNGHIÊNCỨU
Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu hồi cứu mô tả hàng loạt ca.
Cỡ mẫu
Lấy trọn các bệnh nhân có chẩn đoán ra viện
hở thành bụng bẩm sinh bắt đầu từ tháng 012009 đến tháng 12-2013.
Tiêu chí chọn mẫu
Tất cả các hồ sơ bệnh án ra viện của bệnh nhi
được điều trị nội trú tại bệnh viện Nhi Đồng 2 từ
tháng 01-2009 đến tháng 12-2013 có chẩn đoán
xác định hở thành bụng bẩm sinh.
Phương pháp xử lí số liệu
Toàn bộ bệnh án mẫu được lưu trữ vào MS
Excel 2010 và xử lí bằng phần mềm SPSS 20.0
76
Đặc điểm
Tuổi thai (tuần)
CNLS (gram)
Tuổi mẹ
Giới nam
Sanh mổ
Chẩn đoán tiền sản
Sanh tại BV sản trung ương
Kết quả (n=68)
38 (36-39,5)
2300 (1900-2650)
22 (19-25)
42 (63,6%)
44 (65,7%)
47 (71,2%)
47 (71,2%)
Đặc điểm
Các rối loạn kèm
theo trước phẫu
thuật
Bệnh lý đi kèm
Sốc
Nhiễm trùng sơ sinh
Suy hô hấp
Ruột xoay bất toàn
Viêm phổi hít phân su
Cao áp phổi tồn tại
Sanh ngạt
Kết quả (n=68)
5 (7,8%)
34 (53,1%)
11 (17,2%)
1 (1,5%)
4 (5,9%)
2 (2,9%)
2 (2,9%)
Bảng 3: Phương pháp phẫu thuật
Phương pháp phẫu thuật
Mổ 01 thì
Mổ 02 thì
Thời gian đặt túi silo đến lúc mổ (ngày)
Đặt túi silo và không được mổ thì 2
Kết quả (n=68)
32 (47,05%)
34 (50%)
8 (6,25-13)
2 (2,9%)
Bảng 4: Biến chứng sau mổ
Biến chứng sau mổ
Sốc
Tăng thông số máy
Hoại tử ruột
Nhiễm trùng huyết
Nhiễm trùng vết mổ
Viêm phổi
Tắc ruột
Kết quả (n=68)
35 (50,7%)
12 (17,4%)
2 (2,9%)
53 (76,8%)
4 (5,8%)
10 (14,5%)
3 (4,3%)
Bảng 5: Thời gian nuôi ăn và thời gian nằm viện
Đặc điểm
Số ngày (n=68)
Thời gian nuôi ăn tĩnh mạch
19,2±8,4
Thời gian bắt đầu cho ăn sữa (ngày tuổi)
9,2±3,6
Thời gian đạt đủ lượng sữa (ngày tuổi)
27,6±13,1
Thời gian nằm viện
30,1±9,5
Bảng 6:Tử vong và nguyên nhân tử vong
Đặc điểm
Tử vong
Nhiễm khuẩn huyết
Tắc ruột
Nguyên nhân tử
vong
Viêm phổi nặng
Cao áp phổi tồn tại
Kết quả (n=68)
11 (15,9%)
7 (63,6%)
2 (18,2%)
1 (9,1%)
1 (9,1%)
Chuyên Đề Nhi Khoa
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 20 * Số 4 * 2016
BÀN LUẬN
Từ năm 2009 – 2013 Bệnh viện Nhi Đồng 2
tiếp nhận 68 trường hợp hở thành bụng bẩm
sinh từ tuyến tỉnh và bệnh viện thành phố
chuyển đến.
Tuổi thai dao động từ 36 – 39,5 tuần, tuổi thai
trung bình là 37 tuần, tương đương với nghiên
cứu của Jager(5), cao hơn so với nghiên cứu
Payne(7) là 36 tuần. Cân nặng trung bình của các
bệnh nhi là 2300g, thấp hơn các nghiên cứu khác,
dao động từ 2408g – 2586g, nhưng cao hơn cân
nặng của các em bé trong nghiên cứu Nhi Đồng
1 năm 2006 – 2007 là 2181g. Theo như các nghiên
cứu, 30% - 70% trẻ hở thành bụng có chậm tăng
trưởng trong tử cung. Mặc dù cân nặng của trẻ
em Việt Nam có cải thiện theo thời gian (năm
2006 – 2007 nghiên cứu tác giả Thanh Bình(3) và
2009 – 2013 của chúng tôi), nhưng so với các
nước khác cân nặng vẫn còn thấp. Mức độ non
tháng và nhẹ cân lúc sanh theo một số nghiên
cứu có ảnh hưởng tới vấn đề nhiễm trùng và
nuôi ăn kéo dài sau này.
Tỷ lệ trẻ nam của chúng tôi là 63,6%,
Payne(7) 53%. Hiện nay trong y văn cũng như
các nghiên cứu chưa thấy ghi nhận tần suất
mắc phải dị tật hoặc ảnh hưởng dự hậu có liên
quan tới giới tính.
Tuổi mẹ dao động từ độ tuổi từ 19 – 25,
tương đối phù hợp với nghiên cứu của các tác
giả nước ngoài, cũng như nghiên cứu của tác
giả Thanh Bình năm 2006 – 2007. Tuổi mẹ
trung bình là 22 tuổi. Tương tự như các nước
Âu Mỹ khác 20% - 30% tuổi mẹ <20. Các
nghiên cứu cho thấy tuổi mẹ càng nhỏ càng có
nguy cơ dị tật cao, nguyên nhân cụ thể vẫn
chưa rõ. Có thể liên quan tới lối sống, hút
thuốc lá, rượu, BMI lúc mang thai thấp và chế
độ ăn kiêng lúc mang thai.
Trong 68 ca nghiên cứu, 47 trường hợp
được sanh tại Bệnh viện Sản Trung Ương,
chiếm tỷ lệ 71,2%, những trường hợp còn lại
được sanh tại BV huyện, sau đó được chuyển
tới BV tuyến trên. Do đó vấn đề chăm sóc sau
Chuyên Đề Nhi Khoa
Nghiên cứu Y học
sanh, chuyển bệnh cần được quan tâm đúng
mức để đảm bảo an toàn cho bệnh nhi và nâng
cao hiệu quả điều trị.
Những rối loạn đi kèm thường gặp là sốc,
nhiễm trùng, suy hô hấp. Trong đó nhiễm trùng
chiếm tỷ lệ cao nhất 34%. Khối thoát vị là
nguyên nhân gây mất nước lượng lớn ở trẻ sơ
sinh. Chính vì vậy lượng dịch của trẻ hở thành
bụng cần gấp đôi so với nhu cầu bình thường.
Với những lý do như khó thiết lập được đường
truyền tĩnh mạch, bù dịch không đủ, bảo quản
không đúng khối thoát vị, khiến cho trẻ hở thành
bụng dễ vào sốc giảm thể tích. Vấn đề suy hô
hấp có thể do trẻ non tháng, khối thoát vị cản trở
hô hấp, viêm phổi hít. Đặt sonde dạ dày và dùng
thuốc ức chế tiết dịch dạ dày là một trong những
phương pháp hạn chế nguy cơ viêm phổi do hít
dịch dạ dày. Trong nghiên cứu của Payne(7) có
ghi nhận 55% trường hợp nước ối có phân su, tại
bệnh viện chúng tôi ghi nhận có 4 trẻ viêm phổi
hít phân su. Hở thành bụng thông thường không
có rối loạn nhiễm sắc thể và dị tật khác kèm theo,
68 trường hợp của chúng tôi phù hợp với quan
điểm trên. Có 1 trường hợp phát hiện kèm ruột
xoay bất toàn, chiếm tỷ lệ 1,5%. Y văn ghi nhận
dị tật đường ruột kèm theo có thể xuất hiện từ
10% - 20%.
Theo như nghiên cứu tác giả Jager(5) 81% trẻ
được đóng bụng 1 thì, 18,6% trẻ còn lại được đặt
túi silo và đóng bụng thì 2 trong vòng 7 – 8 ngày.
Tại bệnh viện chúng tôi, tỉ lệ trẻ được phẫu thuật
1 thì và 2 thì gần ngang bằng nhau, lần lượt là
47% và 53%, thời gian đóng bụng dài hơn, dao
động từ 6,25 – 13 ngày, trung bình là 8 ngày. Việc
lựa chọn phương pháp phẫu thuật dựa vào
nhiều yếu tố: tình trạng sức khỏe bệnh nhi, khối
lượng ruột thoát vị, kích thước khoang bụng.
Trong số các trẻ được đặt túi silo, có 2 trẻ tử
vong trước khi được phẫu thuật đóng bụng. Tại
các bệnh viện sản nhi trên thế giới, phẫu thuật
đặt túi silo có thể được đặt ngay tại phòng sanh
hoặc giường bệnh mà không cần gây mê. Riêng
tại bệnh viện chúng tôi, tất cả các trường hợp
77
Nghiên cứu Y học
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 20 * Số 4 * 2016
đều được đặt tại phòng mổ và có gây mê để hạn
chế tối đa các nguy cơ nhiễm trùng.
Âu Mỹ, tỷ lệ sống sót >85%, và có những nghiên
cứu báo cáo 90% - 95%.
Những biến chứng sau mổ chúng tôi
thường gặp bao gồm: sốc, tăng thông số máy,
nhiễm trùng huyết. Các biến chứng sốc, tiểu ít,
tăng thông số máy có ghi nhận trong y văn do
tăng áp lực ổ bụng, giảm tưới máu thận, ruột
và các cơ quan khác. Chỉ cần áp lực ổ bụng
tăng từ 10 – 20 mmHg là hiện tượng tưới máu
kém có thể xảy ra. Điều này dẫn tới việc tưới
máu nuôi ruột kém, gây tổn thương ruột, khó
khăn trong việc nuôi ăn đường miệng, kéo dài
thời gian nằm viện và tăng tỷ lệ tử vong. Bên
cạnh đó biến chứng chúng tôi thường gặp
nhất là nhiễm trùng huyết, chiếm 53%, nhiễm
trùng vết mổ chiếm 4%.
Trong nghiên cứu của chúng tôi ghi nhận tử
vong do nhiễm khuẩn huyết chiếm 7/11 (63,6%),
tắc ruột chiếm 2/11 (18,2%), viêm phổi nặng
chiếm 1/11 (9,1%), và cao áp phổi nguyên phát
chiếm 1/11 (9,1%). So sánh với nghiên cứu của
tác giả Thanh Bình(3) tử vong do nhiễm khuẩn
huyết chiếm 2/5 (40%), hoại tử ruột sau mổ
chiếm 2/5 (40%).
Thời gian nằm viện trung bình là 27,6 ngày,
trễ hơn 4 ngày so với tác giả Thanh Bình(3). Có
những nghiên cứu khác dao động từ 22 – 27
ngày, có khi lên đến 40 – 45 ngày, như nghiên
cứu của tác giả Jager(5) là 39 ngày. Thời gian nằm
viện của chúng tôi kéo dài hơn so với nghiên cứu
của tác giả Thanh Bình(3) có thể do 2 lý do. Thứ
nhất nghiên cứu của tác giả Thanh Bình(3) bao
gồm các trẻ được đóng bụng 1 thì, trường hợp
chúng tôi gồm 2 nhóm phẫu thuật mà trong đó
tỷ lệ đóng bụng 2 thì tương đương với đóng
bụng 1 thì. Thứ hai tỷ lệ nhiễm trùng cao là một
trong những yếu tố quan trọng kéo dài thời gian
nằm viện.
Thời gian bắt đầu cho ăn trung bình là lúc 9,2
ngày tuổi, đạt đủ lượng sữa là 30,1 ngày tuổi. So
với nghiên cứu của tác giả Jager(5) thì khá tương
đồng: nuôi ăn lúc 15 ngày tuổi và đạt hoàn toàn
lúc 30 ngày tuổi.
Trong 68 trường hợp, có 11 trường hợp tử
vong, chiếm tỷ lệ 15,9%, tỷ lệ này cao so với các
nước đang phát triển. Theo những nghiên cứu
78
KẾT LUẬN
Thời gian nuôi ăn tĩnh mạch, thời gian nằm
viện kéo dài. Tỉ lệ tử vong còn cao, nguyên nhân
tử vong chủ yếu do nhiễm trùng huyết nên cần
tăng cường công tác chống nhiễm khuẩn để
giảm thiểu tỉ lệ nhiễm khuẩn huyết trước và sau
phẫu thuật.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
Alali JS, Tander B, Malleis J, et al (2011). Factors affecting the
outcome in patients with gastroschisis: how important is
immediate repair?, Eur J Pediatr Surg, 21(2), pp. 99-102.63
Bradnock TJ, Marven S, Owen A, et al (2011). Gastroschisis:
one year outcomes from national cohort study, BMJ, 343, pp.
343-6749.8
Hồ Tấn Thanh Bình, Huỳnh Thị Duy Hương (2011). Đặc điểm
bệnh lý hở thành bụng bẩm sinh tại Bệnh viện Nhi Đồng 1.
Tạp chí Y học TP. Hồ Chí Minh, 15(1), tr.229-234
Huỳnh Thị Duy Hương (2006). Nhiễm trùng sơ sinh, Nhi Khoa
chương trình đại học tập II: Nhà xuất bản y học, tr.270-290.3
Jager LC, Heij HA (2007). Factors determining outcome in
gastroschisis: clinical experience over 18 years, Pediatr Surg Int,
23(8), pp. 731-6.280
Olesevich M, Alexander F, Khan M, et al (2005). Gastroschisis
revisited: role of intraoperative measurement of abdominal
pressure, J Pediatr Surg, 40(5), pp. 789-92.119
Payne NR (2009). Predicting the outcome of newborns with
gastrochisis, J Pediar Surg, 44(5), pp. 918-923.367
Ngày nhận bài báo:
31/3/2016
Ngày phản biện nhận xét bài báo:
02/6/2016
Ngày bài báo được đăng:
25/7/2016
Chuyên Đề Nhi Khoa