Tải bản đầy đủ (.pdf) (104 trang)

Thực hành quyền công tố của viện kiểm sát nhân dân trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự và thực tiễn áp dụng tại thành phố hà nội

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (2.01 MB, 104 trang )

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

NGUYỄN THU DUNG

THùC HµNH QUYÒN C¤NG Tè CñA VIÖN KIÓM S¸T NH¢N D¢N
TRONG GIAI §O¹N XÐT Xö S¥ THÈM Vô ¸N H×NH Sù Vµ
THùC TIÔN ¸P DôNG T¹I THµNH PHè Hµ NéI

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI – 2016


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

NGUYỄN THU DUNG

THùC HµNH QUYÒN C¤NG Tè CñA VIÖN KIÓM S¸T NH¢N D¢N
TRONG GIAI §O¹N XÐT Xö S¥ THÈM Vô ¸N H×NH Sù Vµ
THùC TIÔN ¸P DôNG T¹I THµNH PHè Hµ NéI
Chuyên ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự
Mã số: 60 38 01 04

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Cán bộ hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS ĐỖ THỊ PHƢỢNG

HÀ NỘI – 2016



LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn luật học “Thực hành quyền công tố của
Viện kiểm sát nhân dân trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự và
thực tiễn áp dụng tại thành phố Hà Nội” là công trình nghiên cứu của riêng
tôi. Các số liệu, kết quả nêu trong Luận văn là trung thực và chưa từng được
ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện Luận văn này
đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong Luận văn đã được chỉ rõ
nguồn gốc. Các giải pháp nêu trong luận văn được rút ra từ những cơ sở lí
luận và quá trình nghiên cứu thực tiễn.
Tác giả

Nguyễn Thu Dung


MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt
Danh mục các bảng
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
Chƣơng 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HÀNH QUYỀN
CÔNG TỐ CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TRONG
GIAI ĐOẠN XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ .................... 8
1.1.

KHÁI NIỆM VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA THỰC HÀNH QUYỀN

CÔNG TỐ CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TRONG GIAI
ĐOẠN XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ .................................. 8

1.1.1. Khái niệm thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát nhân dân
trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự ...................................... 8
1.1.2. Đặc điểm của thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát nhân
dân trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự ............................. 15
1.2.

MỐI QUAN HỆ GIỮA THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ VÀ
KIỂM SÁT TUÂN THEO PHÁP LUẬT CỦA VIỆN KIỂM SÁT
NHÂN DÂN TRONG GIAI ĐOẠN XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ
ÁN HÌNH SỰ ..................................................................................... 18

1.3.

CÁC ĐIỀU KIỆN ĐẢM BẢO THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG
TỐ CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TRONG GIAI ĐOẠN
XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ ........................................... 21

1.3.1. Điều kiện về mặt pháp lý.................................................................... 21
1.3.2. Sự lãnh đạo của Đảng và chỉ đạo nghiệp vụ của Viện kiểm sát
nhân dân tối cao.................................................................................. 22


1.3.3. Các điều kiện đảm bảo khác............................................................... 23
1.4.

QUY ĐỊNH CỦA MỘT SỐ NƢỚC TRÊN THẾ GIỚI VỀ THỰC
HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ TRONG GIAI ĐOẠN XÉT XỬ VỤ

ÁN HÌNH SỰ ..................................................................................... 24

1.4.1. Thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử vụ án hình sự
theo truyền thống pháp luật lục địa .................................................... 24
1.4.2. Thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử vụ án hình sự
theo truyền thống pháp luật án lệ ....................................................... 26
1.4.3. Thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử vụ án hình sự
theo truyền thống pháp luật xã hội chủ nghĩa .................................... 28
KẾT LUẬN CHƢƠNG 1................................................................................ 30
Chƣơng 2: QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ
HIỆN HÀNH VỀ THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ CỦA
VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TRONG GIAI ĐOẠN XÉT
XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG
TẠI THÀNH PHỐ HÀ NỘI ............................................................. 31
2.1.

QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ HIỆN
HÀNH VỀ THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ CỦA VIỆN
KIỂM SÁT NHÂN DÂN TRONG GIAI ĐOẠN XÉT XỬ SƠ
THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ ................................................................. 31

2.1.1. Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án hình sự .................... 31
2.1.2. Tại phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự ....................................... 33
2.2.

THỰC TIỄN THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ CỦA VIỆN
KIỂM SÁT NHÂN DÂN TRONG GIAI ĐOẠN XÉT XỬ SƠ
THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ TẠI THÀNH PHỐ HÀ NỘI..................... 40

2.2.1. Những kết quả đạt đƣợc và nguyên nhân ........................................... 40

2.2.2. Những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân ............................................. 56
KẾT LUẬN CHƢƠNG 2................................................................................ 66


Chƣơng 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN PHÁP
LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ
THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ CỦA VIỆN KIỂM SÁT
NHÂN DÂN TRONG GIAI ĐOẠN XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ
ÁN HÌNH SỰ TẠI THÀNH PHỐ HÀ NỘI ................................... 67
3.1.

HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VỀ THỰC
HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN
TRONG GIAI ĐOẠN XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ ......... 67

3.1.1. Hoàn thiện Bộ luật tố tụng hình sự .................................................... 67
3.1.2. Hoàn thiện các văn bản pháp luật khác có liên quan ......................... 71
3.2.

MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG
THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN
DÂN TRONG GIAI ĐOẠN XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ
TẠI THÀNH PHỐ HÀ NỘI................................................................. 75

3.2.1. Đổi mới hệ thống, tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân .... 76
3.2.2. Nâng cao năng lực cho đội ngũ Kiểm sát viên .................................. 83
3.2.3. Đảm bảo cơ chế phối hợp giữa Viện kiểm sát nhân dân và các cơ
quan tiến hành tố tụng hình sự khác................................................... 86
3.2.4. Tăng cƣờng đầu tƣ cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ cho công
tác thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án

hình sự ................................................................................................ 89
KẾT LUẬN .................................................................................................... 90
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................... 92


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BLHS:

Bộ luật hình sự

BLTTHS:

Bộ luật tố tụng hình sự

CQĐT:

Cơ quan điều tra

ĐTBS:

Điều tra bổ sung

KSND:

Kiểm sát nhân dân

KSV:

Kiểm sát viên


TAND:

Tòa án nhân dân

TTHS :

Tố tụng hình sự

THQCT:

Thực hành quyền công tố

VAHS:

Vụ án hình sự

VKS:

Viện kiểm sát

VKSND:

Viện kiểm sát nhân dân


DANH MỤC CÁC BẢNG

Số hiệu
bảng


Tên bảng

Bảng 2.1: Số vụ án/ bị can VKSND thành phố Hà Nội truy tố

Trang
41

Bảng 2.2: Số vụ án/ bị can VKSND thành phố Hà Nội THQCT tại
phiên tòa
Bảng 2.3: Số vụ án Tòa án trả hồ sơ yêu cầu VKS ĐTBS

41
50

Bảng 2.4: Số vụ án Tòa án trả hồ sơ yêu cầu VKS ĐTBS đƣợc VKS
chấp nhận (số vụ trả ĐTBS có căn cứ)
Bảng 2.5:

59

Số vụ án Tòa án trả hồ sơ yêu cầu VKS ĐTBS có trách
nhiệm của VKS

59

Bảng 2.6: Cơ cấu các vụ án hình sự Tòa án trả hồ sơ yêu cầu VKS
ĐTBS theo lý do

60



MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Năm 1960, VKSND ra đời và trở thành một cơ quan trong hệ thống bộ
máy nhà nƣớc xã hội chủ nghĩa ở nƣớc ta. Trải qua 55 năm xây dựng, trƣởng
thành và phát triển, VKSND không ngừng phấn đấu và trƣởng thành trong
việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ, góp phần giữ vững an ninh chính trị và
trật tự an toàn xã hội, đảm bảo các quyền dân chủ nhân dân, góp phần tích cực
vào sự nghiệp bảo vệ và xây dựng chủ nghĩa xã hội, vào thắng lợi của sự
nghiệp đổi mới của Đảng, Nhà nƣớc và nhân dân ta.
Giống với mô hình VKS, Viện công tố của các quốc gia khác trên thế
giới, một trong những chức năng quan trọng của VKSND ở nƣớc ta là chức
năng THQCT đối với các VAHS. Đây là chức năng đƣợc quy định trong Hiến
pháp nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm từ năm 1959, 1981, 1992
và một lần nữa đƣợc khẳng định trong lần sửa đổi Hiến pháp năm 2013 vừa
qua; đồng thời, đƣợc cụ thể hóa tại Luật tổ chức VKSND năm 2014, Pháp lệnh
KSV năm 2002, BLTTHS năm 2003, Pháp lệnh điều tra hình sự năm 2004…
VKSND – một chế định trong hệ thống quyền lực nhà nƣớc cũng đƣợc
nhắc đến trong các văn kiện của Đảng khi nói về cải cách tƣ pháp. Nghị quyết
49- NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về “Chiến lƣợc cải cách tƣ pháp
đến năm 2020” tiếp tục nhấn mạnh đổi mới việc tổ chức phiên tòa xét xử cần
“Nâng cao chất lượng tranh tụng tại các phiên tòa xét xử, coi đây là khâu đột
phá của hoạt động tư pháp” [5], trong đó, VKS với vai trò là bên buộc tội –
một bên trong hoạt động tranh tụng tại phiên tòa xét xử. Hiến pháp sửa đổi
năm 2013 cũng quy định về nguyên tắc “tranh tụng trong xét xử được bảo
đảm” [21, Điều 103].
Tuy nhiên, trong thực tiễn hoạt động THQCT của VKSND trong giai
đoạn xét xử sơ thẩm VAHS, nhiều KSV chƣa thực hiện tốt vai trò bên buộc
1



tội – truy tố ngƣời phạm tội ra trƣớc pháp luật, chất lƣợng THQCT tại phiên
tòa sơ thẩm còn thấp dẫn đến án trả ĐTBS, án hủy còn nhiều hay hoạt động
THQCT tại phiên tòa sơ thẩm chỉ mang tính hình thức do ở nhiều địa phƣơng
còn nặng về mô hình tố tụng thẩm vấn.
Tại Hà Nội, trong những năm gần đây, chất lƣợng THQCT của VKSND
trong giai đoạn xét xử sơ thẩm đã từng bƣớc đƣợc nâng cao do trình độ KSV
tham gia phiên tòa đƣợc cải thiện, đồng thời có sự chỉ đạo, phối hợp đồng bộ
giữa các cấp, các ngành. Tuy nhiên, với những tồn tại, hạn chế nêu trên hoạt
động THQCT của VKSND trong giai đoạn xét xử sơ thẩm trên địa bàn Thủ đô
cũng không tránh khỏi những vƣớng mắc cơ bản cần phải làm rõ. Từ việc nghiên
cứu các quy định của pháp luật TTHS Việt Nam về THQCT của VKSND trong
giai đoạn xét xử sơ thẩm VAHS và thực tiễn áp dụng tại thành phố Hà Nội, luận
văn làm sáng tỏ về mặt khoa học, đề ra phƣơng hƣớng hoàn thiện, nâng cao chất
lƣợng THQCT của VKSND trong giai đoạn xét xử sơ thẩm VAHS. Đây cũng là
lý do để tôi lựa chọn đề tài “Thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát nhân
dân trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự và thực tiễn áp dụng tại
thành phố Hà Nội” làm luận văn thạc sĩ luật học.
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài
Những vấn đề lý luận và thực tiễn về tổ chức và hoạt động VKSND
luôn là đề tài có tính thời sự và đã có nhiều công trình nghiên cứu khoa học ở
nhiều góc độ khác nhau, trong đó có quyền công tố của VKSND trong giai
đoạn xét xử sơ thẩm VAHS.
Đề tài khoa học cấp nhà nƣớc có công trình "Cải cách hệ thống tư pháp
Việt Nam"; đề tài khoa học cấp bộ: "Thực trạng và giải pháp nâng cao chất
lượng và hiệu quả thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử các vụ án hình
sự"; đề tài khoa học cấp bộ: "Những vấn đề lý luận về quyền công tố và việc
tổ chức thực hiện quyền công tố ở Việt Nam hiện nay"; đề tài khoa học cấp
bộ: "Viện kiểm sát nhân dân trong tiến trình cải cách tư pháp".
2



Ở cấp độ luận văn thạc sĩ và luận án tiến sĩ có đề tài của các tác giả Lê
Thị Tuyết Hoa (2002), Quyền công tố ở Việt Nam, luận án tiến sĩ; Lƣu Bình
Dƣơng (2004), Tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm hình sự, luận văn thạc sĩ;
Phan Vũ Trang (2005), Thực hành quyền công tố theo BLTTHS năm 2003,
luận văn thạc sĩ; Nguyễn Hữu Khoa (2010), Chức năng của Viện kiểm sát
trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự, luận văn thạc sĩ; v.v…
Một số giáo trình, sách chuyên khảo, bình luận có các công trình sau:
Giáo trình luật TTHS Việt Nam, Nguyễn Ngọc Chí chủ biên, NXB. Đại học
quốc gia, Hà Nội; Tổng kết một số vấn đề lý luận và thực tiễn về công tác của
Viện kiểm sát nhân dân qua 55 năm tổ chức và hoạt động, Viện kiểm sát nhân
dân tối cao chủ biên, NXB. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2015; Những vấn đề
lý luận và thực tiễn cấp bách của việc đổi mới thủ tục TTHS đáp ứng yêu cầu
cải cách tư pháp, TS. Lê Hữu Thể, TS. Đỗ Văn Đƣơng, ThS. Nguyễn Thị
Thủy (đồng chủ biên), NXB. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2013; Viện kiểm sát
nhân dân trong tiến trình cải cách tư pháp, VKSND tối cao chủ biên, lƣu
hành nội bộ, 2012; v.v…
Bên cạnh đó, có những bài viết liên quan đến THQCT trong giai đoạn
xét xử sơ thẩm VAHS đƣợc đăng trên các tạp chí chuyên ngành nhƣ:“Về thực
hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử” của tác giả Lý Văn Chính, tạp chí
Tòa án nhân dân, số 12/2006; “Cơ quan thực hành quyền công tố trong cải
cách tư pháp ở nước ta hiện nay”của tác giả Đỗ Văn Đƣơng, Tạp chí nghiên
cứu lập pháp, số 7/2006; “Bàn về tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm hình sự”
của tác giả Nguyễn Đức Mai, tạp chí Tòa án nhân dân, số 17/2007; “Hoàn
thiện một số quy định của BLTTHS hiện hành nhằm nâng cao chất lượng
tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm” của tác giả Nguyễn Đức Mai, tạp chí Luật
học, số 07/2008; “Hoàn thiện nguyên tắc tranh tụng trong pháp luật TTHS
Việt Nam theo tinh thần cải cách tư pháp” của tác giả Lê Cảm, Tạp chí Kiểm
sát, số 11/2011; “Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng luận tội, tranh

3


luận của Kiểm sát viên tại phiên tòa theo tinh thần cải cách tư pháp” của tác
giả Nguyễn Xuân Khánh, Tạp chí Kiểm sát, số 5/2012; “Một số vấn đề về
hoàn thiện quy định của BLTTHS về thủ tục xét xử sơ thẩm” của tác giả Trần
Văn Độ, Tạp chí Kiểm sát, số 8/2012; “Đổi mới thủ tục phiên tòa hình sự sơ
thẩm theo hướng bảo đảm nguyên tắc tranh tụng” của tác giả Vũ Gia Lâm,
Tạp chí Kiểm sát, số 21/2013; “Nâng cao chất lượng xét hỏi của Kiểm sát
viên tại phiên tòa xét xử sơ thẩm hình sự”, Tạp chí Kiểm sát, số 5/2014; v.v…
Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, khảo sát trên cho thấy, việc nghiên cứu
về THQCT của VKSND trong giai đoạn xét xử sơ thẩm hình sự còn chƣa
mang tính hệ thống, chƣa đƣợc nghiên cứu một cách toàn diện. Những nghiên
cứu mới chỉ dừng lại ở các công trình nghiên cứu chung về quyền công tố hay
tổ chức, hoạt động của VKS mà chƣa nghiên cứu cụ thể chức năng THQCT
trong giai đoạn xét xử sơ thẩm VAHS; bên cạnh đó, một số công trình khoa
học là các bài viết tạp chí mới chỉ nghiên cứu một khía cạnh cụ thể nhƣ hƣớng
hoàn thiện quy định của BLTTHS, bàn về tranh tụng nói chung trong phiên
tòa xét xử sơ thẩm, nâng cao chất lƣợng tranh tụng của KSV... mà chƣa
nghiên cứu một cách toàn diện về THQCT của VKSND trong giai đoạn xét
xử sơ thẩm hình sự.
Qua tình hình nghiên cứu nhƣ trên, một lần nữa khẳng định việc nghiên
cứu đề tài “Thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát nhân dân trong giai
đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự và thực tiễn áp dụng tại thành phố Hà
Nội” là đòi hỏi khách quan, cấp thiết, vừa có tính lý luận, vừa có tính thực tiễn,
nhất là trong tình hình mới với yêu cầu cải cách tƣ pháp nhƣ hiện nay.
3. Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu của luận văn
3.1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích của luận văn là nghiên cứu các quy định của pháp TTHS về
THQCT của VKSND trong giai đoạn xét xử sơ thẩm VAHS dƣới khía cạnh lập

pháp nhằm làm sáng tỏ về quyền công tố, THQCT, những quy định bảo đảm
4


việc THQCT…; đồng thời đánh giá về thực tiễn áp dụng pháp luật về THQCT
của VKSND trong giai đoạn xét xử sơ thẩm trên địa bàn thành phố Hà Nội, từ
đó luận văn đƣa ra những giải pháp nhằm hoàn thiện quy định về THQCT
trong luật TTHS, cũng nhƣ đề xuất những giải pháp nâng cao chất lƣợng
THQCT của VKSND trong giai đoạn xét xử sơ thẩm trong thực tiễn áp dụng.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Từ mục đích nghiên cứu trên, luận văn có những nhiệm vụ chủ yếu sau:
- Từ cơ sở kết quả tổng hợp các quan điểm của các tác giả trong và
ngoài nƣớc về hoạt động THQCT trong giai đoạn xét xử sơ thẩm, luận văn
nghiên cứu làm sáng tỏ một số vấn đề nhƣ khái niệm quyền công tố, THQCT
và những điều kiện đảm bảo THQCT trong giai đoạn xét xử sơ thẩm VAHS.
- Khái quát những quy định của chế định THQCT trong giai đoạn xét
xử sơ thẩm VAHS của một số nƣớc trên thế giới.
- Nêu ra những quy định của pháp luật TTHS Việt Nam về THQCT
của VKSND trong giai đoạn xét xử sơ thẩm, những bảo đảm THQCT trong
giai đoạn xét xử sơ thẩm để rút ra nhận xét, đánh giá đồng thời chỉ ra rõ tồn
tại, hạn chế trong luật thực định cần phải khắc phục.
- Nghiên cứu, đánh giá kết quả đạt đƣợc trong thực tiễn áp dụng các
quy định về THQCT của VKSND trong giai đoạn xét xử sơ thẩm hình sự trên
địa bàn thành phố Hà Nội, đồng thời phân tích, làm rõ những tồn tại, hạn chế
xung quanh việc áp dụng và những nguyên nhân của nó.
- Đề xuất những định hƣớng và giải pháp hoàn thiện các quy định về
THQCT của VKSND trong giai đoạn xét xử sơ thẩm trong pháp luật TTHS
hiện hành và nâng cao chất lƣợng THQCT của VKSND trong giai đoạn xét
xử sơ thẩm VAHS.
3.3. Phạm vi nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu và giải quyết những vấn đề xung quanh việc
THQCT của VKSND trong giai đoạn xét xử sơ thẩm trong pháp luật TTHS
5


Việt Nam, kết hợp với việc nghiên cứu đánh giá tình hình áp dụng quy định
của BLTTHS trong thực tiễn xét xử trên địa bàn thành phố Hà Nội để đƣa ra
nguyên nhân của những vƣớng mắc, tồn tại, đồng thời kiến nghị những giải
pháp hoàn thiện pháp luật thực định và nâng cao chất lƣợng THQCT của
VKSND trong giai đoạn xét xử sơ thẩm trong thực tiễn.
Luận văn cũng tham khảo và so sánh những bài học kinh nghiệm lập
pháp một số nƣớc trên thế giới trong khi nghiên cứu về THQCT của VKSND
trong giai đoạn xét xử sơ thẩm VAHS.
Về thời gian, luận văn nghiên cứu thực tiễn THQCT của VKSND
trong giai đoạn xét xử sơ thẩm trên địa bàn thành phố Hà Nội trong 5 năm
(2011 - 2015).
4. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu
Luận văn dựa trên cơ sở phƣơng pháp luận chủ nghĩa duy vật lịch sử và
chủ nghĩa duy vật biện chứng mác-xít, tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về Nhà nƣớc và
pháp luật, quan điểm của Đảng và Nhà nƣớc ta về xây dựng Nhà nƣớc pháp
quyền xã hội chủ nghĩa, về chính sách TTHS, về vấn đề cải cách tƣ pháp thể
hiện trong các Nghị quyết Đại hội Đảng và các Nghị quyết số 08 – NQ/TW
ngày 02/6/2002 về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tƣ pháp trong thời
gian tới, Nghị quyết số 49 – NQ/TW ngày 26/5/2005 về chiến lƣợc cải cách
tƣ pháp đến năm 2020 của Bộ Chính trị.
Luận văn sử dụng các phƣơng pháp cụ thể và đặc thù của khoa học luật
hình sự nhƣ phƣơng pháp phân tích và tổng hợp, phƣơng pháp so sánh, đối
chiếu, phƣơng pháp quy nạp, phƣơng pháp diễn dịch để tổng hợp các tri thức
khoa học và làm sáng tỏ các vấn đề đƣợc nghiên cứu trong luận văn.
5. Những điểm mới và đóng góp của luận văn

Kết quả nghiên cứu của luận văn có ý nghĩa quan trọng về phƣơng diện
lý luận và thực tiễn. Những điểm mới cơ bản của luận văn là:
- Luận văn đóng góp về mặt lý luận những vấn đề về quyền công tố
6


của VKSND, THQCT, đặc điểm của THQCT trong giai đoạn xét xử sơ thẩm
VAHS trong tình hình mới.
- Nghiên cứu, đánh giá làm sáng tỏ tình hình THQCT của VKSND
trong giai đoạn xét xử sơ thẩm VAHS trên địa bàn thành phố Hà Nội.
- Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn, luận văn đề xuất các định
hƣớng, giải pháp hoàn thiện pháp luật thực định và nâng cao chất lƣợng
THQCT của VKSND trong giai đoạn xét xử sơ thẩm VAHS trong giai đoạn
xây dựng Nhà nƣớc pháp quyền và cải cách tƣ pháp ở Việt Nam hiện nay.
Đồng thời, luận văn là một tài liệu tham khảo hữu ích cho các nhà lập
pháp, các nhà nghiên cứu, các cán bộ giảng dạy pháp luật, nghiên cứu sinh,
học viên cao học và sinh viên thuộc chuyên ngành Tƣ pháp hình sự tại các cơ
sở đào tạo luật. Bên cạnh đó, luận văn cũng bổ sung kiến thức lý luận và thực
tiễn không chỉ đối với các cán bộ làm công tác thực tiễn tại các VKS mà còn
là tài liệu tham khảo đối với các cán bộ làm tại các CQĐT, Tòa án… trong
quá trình giải quyết VAHS khách quan, có căn cứ, đúng pháp luật.
6. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung của luận văn gồm 3 chƣơng:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về thực hành quyền công tố của Viện
kiểm sát nhân dân trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
Chương 2: Quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành về thực
hành quyền công tố của Viện kiểm sát nhân dân trong giai đoạn xét xử sơ
thẩm vụ án hình sự và thực tiễn áp dụng tại thành phố Hà Nội.
Chương 3: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự

và nâng cao hiệu quả thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát nhân dân
trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự tại thành phố Hà Nội.

7


Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ
CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TRONG GIAI ĐOẠN XÉT XỬ
SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ
1.1. KHÁI NIỆM VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG
TỐ CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TRONG GIAI ĐOẠN XÉT XỬ SƠ
THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ
1.1.1. Khái niệm thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát nhân
dân trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
* Khái niệm quyền công tố
Khái niệm quyền công tố đã xuất hiện, tồn tại từ lâu trong lịch sử nhà
nƣớc và pháp luật và đến nay đã đƣợc hầu hết các quốc gia trên thế giới thừa
nhận là một chế định pháp lý độc lập. Trong hệ thống pháp luật Việt Nam,
VKSND THQCT và kiểm sát các hoạt động tƣ pháp, đây là chức năng hiến
định, đã đƣợc sử dụng từ lâu trong các văn bản pháp lý của nƣớc ta và cũng
đƣợc định hƣớng cho giai đoạn cải cách tƣ pháp hiện nay. Tuy nhiên, về mặt
khoa học pháp lý và ngay cả trong thực tiễn hoạt động của VKSND chƣa có
sự thống nhất về khái niệm, chủ thể, nội dung, đối tƣợng và phạm vi của
quyền công tố, do vậy trên thực tế vẫn tồn tại nhiều quan điểm khác nhau liên
quan đến vấn đề này.
Theo từ điển tiếng Việt, "công tố" có nghĩa là "điều tra, truy tố, buộc
tội kẻ phạm pháp và phát biểu ý kiến trƣớc Tòa án" [30, tr.204], từ điển Luật
học định nghĩa về quyền công tố là "quyền buộc tội nhân danh Nhà nƣớc đối
với ngƣời phạm tội" [33, tr.188].

Trong khoa học nghiên cứu pháp lý, có thể kể đến một số quan điểm
nổi bật nhƣ sau:

8


Quan điểm thứ nhất: “Quyền công tố là quyền của Nhà nước giao cho
các cơ quan tiến hành tố tụng trong việc truy cứu trách nhiệm hình sự và áp
dụng các chế tài hình sự đối với người phạm tội” [35, tr.10].
Quan điểm thứ hai: Cho rằng:
Quyền công tố là quyền của Nhà nƣớc truy cứu trách nhiệm
hình sự đối với ngƣời phạm tội; quyền này giao cho một cơ quan
thực hiện (ở nƣớc ta là cơ quan VKS). Để làm đƣợc điều này, cơ
quan công tố có trách nhiệm bảo đảm việc thu thập tài liệu, chứng
cứ để xác định tội phạm và ngƣời đã thực hiện hành vi phạm tội.
Trên cơ sở đó truy tố bị can ra Tòa án và bảo vệ sự buộc tội đó
trƣớc phiên tòa [27, tr.19-21].
Quan điểm thứ ba: Quyền công tố là “quyền đại diện cho Nhà nước để
đưa các vụ việc vi phạm trật tự pháp luật ra cơ quan để xét xử để bảo vệ lợi
ích của Nhà nước, bảo vệ trật tự pháp luật” [31, tr.85 – 86].
Có thể thấy, qua những quan điểm nêu trên chƣa có sự thống nhất về
khái niệm quyền công tố: Có những quan điểm chƣa xác định đúng chủ thể
của quyền công tố, mở rộng hoặc thu hẹp phạm vi của quyền công tố… Mỗi
quan điểm đều có những hạt nhân hợp lý, nhƣng vẫn tồn tại những hạn chế
nhất định. Từ những quan điểm nêu trên có thể rút ra một số vấn đề sau:
Bản chất của quyền công tố: Quyền công tố là quyền lực công (của Nhà
nƣớc) giao cho một cơ quan nhất định (ở nƣớc ta là VKS) để thực hiện việc
buộc tội đối với ngƣời phạm tội. Quyền lực công xuất phát từ nhu cầu phải duy
trì một trật tự xã hội liên quan đến lợi ích chung mà bất kỳ xã hội nào cũng
phải có, do vậy khái niệm quyền công tố đã đƣợc thừa nhận và sử dụng từ lâu ở

các nhà nƣớc chủ nô, phong kiến, tƣ sản... để đảm bảo lợi ích chung của toàn
xã hội cũng nhƣ bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị xã hội ấy. Quyền công tố
là một chức năng độc lập, cần phải đƣợc phân biệt với quyền tài phán (quyền
xét xử) của Tòa án và các chức năng khác của cơ quan THQCT (VKS).
9


Chủ thể thực hành quyền công tố: Quyền công tố là quyền của Nhà
nƣớc, xuất hiện cùng với sự ra đời của Nhà nƣớc và thay đổi theo bản chất
Nhà nƣớc. Tuy nhiên, Nhà nƣớc sẽ không trực tiếp thực hiện quyền công tố
mà giao cho một cơ quan thực hiện nó, ở nƣớc ta là VKS và chỉ có duy nhất
VKS thay mặt Nhà nƣớc THQCT. Căn cứ vào các quy định của Hiến pháp
1959, 1981, 1992, 2013 và các Luật tổ chức VKSND 1960, 1981, 1992, 2002
và hiện nay là năm 2014 đều quy định VKS là cơ quan duy nhất THQCT.
Đối tượng tác động của quyền công tố: Dựa vào bản chất của quyền
công tố là buộc tội đối với ngƣời phạm tội, đối tƣợng tác động là cái mà
quyền công tố tác động vào nhằm mục đích buộc tội đối với ngƣời thực hiện
hành vi nguy hiểm cho xã hội đƣợc coi là tội phạm, có thể kết luận đối tƣợng
của quyền công tố chính là tội phạm và ngƣời phạm tội.
Nội dung của quyền công tố: Xuất phát từ bản chất của quyền công tố
đã phân tích ở trên, xác định nội dung của quyền công tố là buộc tội (truy cứu
trách nhiệm hình sự) đối với ngƣời phạm tội. Trong lịch sử xã hội, Nhà nƣớc
là đại diện cho giai cấp nắm quyền lực trong xã hội và Nhà nƣớc trở thành
công cụ để giai cấp thống trị quản lý xã hội. Nếu có ngƣời nào chống đối lại
giai cấp thống trị thì Nhà nƣớc sẽ thực hiện các biện pháp để đàn áp, trừng trị
đối với những kẻ chống đối đó. "Để thực hiện quyền trừng phạt, Nhà nước
phải đưa những người chống đối, những người vi phạm trật tự xã hội ra Tòa
và buộc tội họ trước Tòa án" [38, tr. 13]. Có thể thấy, việc Nhà nƣớc buộc tội
đối với những ngƣời chống đối, những ngƣời vi phạm trật tự xã hội trƣớc Tòa
án thể hiện mối quan hệ giữa Nhà nƣớc và những ngƣời vi phạm pháp luật, đó

cũng chính là nội dung của quyền công tố.
Phạm vi của quyền công tố: Do hiện nay chƣa có sự thống nhất về khái
niệm quyền công tố, do vậy phạm vi của quyền công tố cũng chƣa đƣợc xác
định một cách cụ thể cả về phạm vi không gian và thời gian.

10


Phạm vi không gian: Phần lớn các quan điểm hiện nay cho rằng
quyền công tố chỉ có trong lĩnh vực TTHS, bên cạnh đó cũng có quan điểm
ủng hộ rằng quyền công tố tồn tại trong cả lĩnh vực khác nhƣ tố tụng dân
sự, tố tụng hành chính…
Rõ ràng việc thực hiện một số quyền năng tố tụng nhƣ khởi tố vụ án,
yêu cầu điều tra, yêu cầu áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời trong các
lĩnh vực tố tụng dân sự, lao động, hành chính là những quyền năng thuộc nội
dung THQCT để bảo vệ lợi ích chung chứ không phải là thẩm quyền khác
của VKS [7, tr. 28].
Theo quan điểm của chúng tôi, bản chất của quyền công tố là buộc tội
đối với ngƣời phạm tội nên quyền công tố chỉ tồn tại trong lĩnh vực duy nhất
là TTHS, các lĩnh vực tố tụng dân sự, hành chính, lao động chỉ là điểm phát
hiện hành vi phạm tội, sau này khi THQCT, VKS phải căn cứ vào các trình tự
của TTHS để thực hiện.
Phạm vi thời gian: Chúng tôi thấy rằng, VKS ngoài thực hiện quyền
công tố tại phiên tòa với các hoạt động đọc cáo trạng truy tố bị can ra trƣớc
Tòa án để xét xử, tranh luận tại phiên tòa để bảo vệ quan điểm truy tố của
mình thì ngay từ đầu khi tội phạm đƣợc thực hiện, VKS đã phải thực hiện
quyền công tố thông qua các hoạt động yêu cầu khởi tố vụ án hoặc trực tiếp
khởi tố vụ án, áp dụng, thay đổi hay hủy bỏ các biện pháp ngăn chặn, ra quyết
định đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án, bị can, quyết định truy tố… Sau khi
phiên tòa kết thúc, VKS có thẩm quyền kháng nghị bản án chƣa có hiệu lực

của Tòa án. Trong trƣờng hợp bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án bị xét
xử theo thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm thì quyền công tố tiếp tục
đƣợc thực thi. Tuy nhiên, trƣờng hợp theo quy định của pháp luật dẫn đến
việc chấm dứt giải quyết VAHS thì không còn quyền công tố nữa. Từ phân
tích nêu trên, chúng tôi xác định rằng phạm vi thời gian của quyền công tố bắt

11


đầu từ khi tội phạm đƣợc thực hiện và kết thúc khi có bản án của Tòa án đã có
hiệu lực pháp luật hoặc đình chỉ vụ án theo quy định của pháp luật.
Từ sự nhận thức nhƣ trên, tác giả đƣa ra khái niệm quyền công tố ở Việt
Nam: Quyền công tố là quyền lực của Nhà nước giao cho VKS theo quy định
của pháp luật để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người bị nghi thực hiện
tội phạm, thực hiện việc buộc tội và bảo vệ quan điểm buộc tội trước Tòa án.
* Khái niệm thực hành quyền công tố
Quyền công tố và THQCT là những khái niệm cơ bản trong việc thực
hiện chức năng THQCT của VKS, xác định rõ khái niệm quyền công tố và
THQCT sẽ giải quyết đƣợc những vẫn đề còn gây tranh cãi, nhầm lẫn giữa
chính vai trò, chức năng của VKS (giữa chức năng THQCT và chức năng
kiểm sát tuân theo pháp luật), đồng thời xác định đƣợc vai trò, trách nhiệm
của VKS đối với các cơ quan tƣ pháp khác. Từ đó vừa có ý nghĩa lý luận vừa
có ý nghĩa thực tiễn trong quá trình cải cách tƣ pháp hiện nay.
Chủ thể THQCT: Từ khi thành lập nƣớc ta đến nay, trong tất cả các văn
bản pháp lý mà trực tiếp quy định đến chủ thể THQCT nhƣ Hiến pháp,
BLTTHS, Luật tổ chức VKSND đều khẳng định rằng VKS là cơ quan tố tụng
duy nhất có chức năng THQCT. Trên thực tế, một số hoạt động của CQĐT
hoặc Tòa án nhƣ khởi tố VAHS, khởi tố bị can, áp dụng các biện pháp ngăn
chặn… đƣợc cho rằng là hoạt động THQCT, nhƣng về bản chất đó chỉ là
những hoạt động khởi đầu, có ý nghĩa phát động quyền công tố. Mặt khác,

các hoạt động nêu trên của CQĐT hay Tòa án không nhằm truy cứu trách
nhiệm hình sự đối với ngƣời phạm tội nên không thể là hoạt động THQCT.
Bên cạnh đó, các quyết định của CQĐT hoặc Tòa án khi ban hành đều phải
chuyển cho VKS để xem xét, phê chuẩn, nếu không có căn cứ, đúng pháp luật
thì VKS có quyền hủy bỏ hoặc CQĐT chỉ có quyền đề nghị áp dụng, thay đổi
hoặc hủy bỏ các biện pháp ngăn chặn còn quyết định có thực hiện hay không

12


thuộc về VKS. CQĐT tiến hành các hoạt động điều tra dựa trên yêu cầu điều
tra của VKS, nếu VKS thấy chƣa đủ căn cứ để truy tố thì yêu cầu CQĐT tiếp
tục điều tra hoặc nếu hồ sơ đã chuyển sang VKS đề nghị truy tố thì VKS trả
hồ sơ cho CQĐT yêu cầu ĐTBS. Nhƣ vậy, VKS là cơ quan duy nhất THQCT
theo pháp luật của nƣớc ta.
Đối tượng THQCT: Đối tƣợng THQCT chính là tội phạm và ngƣời
phạm tội, VKS sử dụng các quyền năng của mình truy cứu trách nhiệm hình
sự đối với tội phạm và ngƣời phạm tội.
Nội dung THQCT: Nếu nhƣ nội dung của quyền công tố là truy cứu
trách nhiệm hình sự đối với ngƣời phạm tội thì THQCT việc VKS sử dụng
quyền năng (biện pháp) thuộc quyền công tố đƣợc pháp luật quy định để truy
cứu trách nhiệm hình sự đối với ngƣời phạm tội và bảo vệ quan điểm truy tố
đó. Hiện nay, chƣa có văn bản pháp luật nào quy định cụ thể về các quyền
năng nào của VKS thuộc nội dung THQCT, những quyền năng nào thuộc nội
dung kiểm sát tuân theo pháp luật, do đôi khi trên thực tế hai chức năng này
của VKS có sự đan xen với nhau.
Phạm vi THQCT: Hiện nay vẫn chƣa có quan điểm thống nhất trong
việc xác định phạm vi THQCT. Luật tổ chức VKSND năm 2014 quy định:
“quyền công tố được thực hiện ngay từ khi giải quyết tố giác, tin báo về tội
phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét

xử VAHS” [22, Điều 3]. Về thời điểm kết thúc của các hoạt động THQCT,
chúng tôi không đồng ý với quan điểm cho rằng THQCT kết thúc khi ngƣời
phạm tội thực hiện xong bản án, vì theo BLTTHS 2003, Luật tổ chức
VKSND 2014 và Quy chế công tác kiểm sát thi hành án thì "VKS nhân dân
kiểm sát việc tuân theo pháp luật... trong việc thi hành bản án, quyết định đã
có hiệu lực pháp luật và những bản án, quyết định được thi hành ngay theo
quy định của pháp luật..." [36, Điều 2], theo đó các hoạt động của VKSND

13


trong giai đoạn thi hành án đều là hoạt động kiểm sát tuân theo pháp luật.
Từ đó có thể kết luận phạm vi THQCT bắt đầu khi giải quyết tố giác, tin
báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và kết thúc khi bản án của Tòa án có
hiệu lực pháp luật hoặc khi VAHS chấm dứt việc giải quyết theo quy định
của pháp luật. Nhƣ vậy, phạm vi THQCT hẹp hơn phạm vi của quyền công
tố đã phân tích ở trên.
Chúng tôi đƣa ra khái niệm THQCT nhƣ sau: THQCT là việc VKS sử
dụng các quyền năng (biện pháp) được pháp luật quy định để truy cứu trách
nhiệm hình sự đối với người bị nghi thực hiện tội phạm từ khi giải quyết tố
giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và kết thúc khi bản án của Tòa án
có hiệu lực pháp luật hoặc khi VAHS chấm dứt việc giải quyết theo quy định
của pháp luật.
* Khái niệm thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm
vụ án hình sự
Với mục đích nghiên cứu và làm rõ hoạt động THQCT của VKSND
trong giai đoạn xét xử sơ thẩm VAHS thì việc đƣa ra khái niệm THQCT trong
giai đoạn xét xử sơ thẩm VAHS có ý nghĩa rất quan trọng. Từ những phân tích
về khái niệm quyền công tố và thực hành quyền công tố có thể khẳng định:
- Chủ thể THQCT trong giai đoạn xét xử sơ thẩm VAHS là VKS, điều

này đã đƣợc thừa nhận trong Hiến pháp nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam, Luật tổ chức VKSND, BLTTHS và rất nhiều các văn bản luật khác
cũng nhƣ trong thực tiễn.
- Đối tƣợng THQCT trong giai đoạn xét xử sơ thẩm VAHS là tội phạm
và ngƣời phạm tội.
- Nội dung THQCT trong giai đoạn xét xử sơ thẩm VAHS: VKS sử
dụng các quyền năng (biện pháp) thuộc quyền công tố đƣợc pháp luật quy
định để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với ngƣời phạm tội và bảo vệ quan

14


điểm truy tố đó trong giai đoạn xét xử sơ thẩm VAHS, bao gồm: Rút một
phần hoặc toàn bộ quyết định truy tố trƣớc phiên tòa hoặc tại phiên tòa xét xử
sơ thẩm; đọc cáo trạng, thực hiện xét hỏi, luận tội, tranh luận với luật sƣ và
những ngƣời tham gia tố tụng khác...
- Phạm vi THQCT trong giai đoạn xét xử sơ thẩm VAHS: Giai đoạn
xét xử sơ thẩm VAHS bắt đầu khi hồ sơ vụ án cùng quyết định truy tố đƣợc
chuyển sang Tòa án để thực hiện việc xét xử và kết thúc khi Tòa án ra bản án
sơ thẩm hình sự hoặc chấm dứt việc giải quyết bằng một quyết định tố tụng.
Do vậy, phạm vi THQCT trong giai đoạn xét xử sơ thẩm VAHS cũng bắt đầu
khi Tòa án thụ lý vụ án để xét xử và chấm dứt khi Hội đồng xét xử ra bản án
sơ thẩm hoặc chấm dứt việc giải quyết bằng một quyết định tố tụng.
Từ những khẳng định nêu trên, có thể đƣa ra khái niệm: THQCT của
VKSND trong giai đoạn xét xử sơ thẩm VAHS là việc VKSND sử dụng các
quyền năng (biện pháp) được pháp luật quy định để truy cứu trách nhiệm
hình sự đối với người bị nghi thực hiện tội phạm từ khi hồ sơ VAHS được
chuyển sang Tòa án để xét xử và kết thúc khi Tòa án ra bản án sơ thẩm hoặc
khi VAHS chấm dứt việc giải quyết theo quy định của pháp luật.
1.1.2. Đặc điểm của thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát

nhân dân trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
Đặc điểm thứ nhất, THQCT trong giai đoạn xét xử sơ thẩm là quyền
năng pháp lý đặc biệt, chỉ đƣợc thực hiện bởi VKS. Đồng chí Trƣờng Chinh Chủ tịch Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội đã kết luận tại hội nghị Báo cáo của
VKSND tối cao tháng 7 năm 1976:
Không có cơ quan nhà nƣớc nào có thể thay thế ngành kiểm
sát để sử dụng quyền công tố. Bắt giam, điều tra, tha, truy tố, xét xử
có đúng ngƣời, đúng tội hay không, có đúng đƣờng lối chính sách
của Đảng và Nhà nƣớc hay không, điều đó chính là VKS phải trông
nom đảm bảo làm tốt.
15


Trải qua 55 năm hoạt động, có những giai đoạn chức năng, nhiệm vụ
của VKSND có sự thay đổi nhƣng công tác THQCT nói chung và THQCT
trong giai đoạn xét xử sơ thẩm nói riêng vẫn giữ nguyên vị trí và ngày càng
đƣợc chú trọng nâng cao, nhất là trong giai đoạn cải cách tƣ pháp hiện nay.
Có thể khẳng định chức năng THQCT của VKSND là một quyền năng
pháp lý đặc biệt, bởi vì: Thứ nhất, trong các giai đoạn lịch sử của thế giới,
cũng nhƣ quy định hiện hành của các quốc gia trên thế giới đều thừa nhận
VKS (ở một số quốc gia là Viện công tố) là cơ quan duy nhất THQCT, thực
hiện quyền của Nhà nƣớc buộc tội đối với tội phạm và ngƣời phạm tội, bảo vệ
lợi ích của cá nhân, tổ chức và của toàn xã hội; thứ hai, ở Việt Nam, kể từ khi
thành lập nƣớc đến nay và từ khi VKSND ra đời (năm 1960), tất cả các văn
bản pháp luật của nƣớc ta đều quy định VKSND có chức năng THQCT trong
các giai đoạn giải quyết VAHS; thứ ba, trong thực tiễn hoạt động 55 năm qua,
VKSND đã khẳng định đƣợc vai trò, vị trí của mình có thể thực hiện tốt
quyền công tố, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của Đảng, Nhà nƣớc giao phó là
thay mặt Nhà nƣớc bảo vệ lợi ích của cá nhân, tổ chức và toàn xã hội.
Đặc điểm thứ hai, THQCT trong giai đoạn xét xử sơ thẩm là kết quả
của quá trình thực hành quyền công tố ở giai đoạn điều tra, truy tố. Nhƣ đã

phân tích ở phần trên, hoạt động THQCT của VKSND bắt đầu khi khởi tố vụ
án, khởi tố bị can. THQCT trong việc giải quyết VAHS là cả một quá trình
không thể tách rời, VKSND không thể chỉ THQCT trong giai đoạn điều tra
hoặc truy tố hoặc xét xử mà phải thực hiện lần lƣợt, trình tự ở tất cả các giai
đoạn trên. Qua quá trình điều tra, truy tố, VKSND sử dụng một loạt quyền
năng của mình đƣợc pháp luật quy định nhằm truy tố kẻ phạm tội ra trƣớc
Tòa án để xét xử. Từ việc khởi tố vụ án, khởi tố bị can, phê chuẩn các quyết
định của CQĐT, quyết định áp dụng, thay đổi các biện pháp ngăn chặn, tiến
hành một số hoạt động điều tra, yêu cầu CQĐT tiến hành điều tra... đều

16


hƣớng tới một mục đích là làm sáng tỏ sự thật khách quan của vụ án, làm
sáng tỏ ngƣời thực hiện tội phạm, truy tố ra trƣớc Tòa án để xét xử đảm bảo
đúng ngƣời, đúng tội, đúng pháp luật, không để oan, sai, bỏ lọt tội phạm. Nếu
nhƣ hoạt động THQCT của VKSND trong giai đoạn điều tra, truy tố không
hiệu quả sẽ dẫn đến việc quyết định truy tố của VKSND không đảm bảo đúng
ngƣời, đúng tội, đúng pháp luật và việc THQCT trong giai đoạn xét xử sơ
thẩm sẽ bị ảnh hƣởng. Mô hình TTHS Việt Nam hiện nay là sự đan xen giữa
mô hình TTHS thẩm vấn và mô hình TTHS tranh tụng, có nghĩa là phán quyết
của Hội đồng xét xử phụ thuộc vào cả những tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ
điều tra của vụ án và kết quả của quá trình thẩm vấn, tranh luận tại phiên tòa
sơ thẩm. Do vậy, những tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án ở giai đoạn điều
tra thu thập đƣợc, và bên cạnh đó là kết quả của quá trình THQCT trong giai
đoạn điều tra, truy tố đƣợc thể hiện bằng việc KSV buộc tội và bảo vệ quan
điểm buộc tội đó tại phiên tòa xét xử sơ thẩm. Nhƣ vậy, THQCT trong giai
đoạn xét xử sơ thẩm chính là kết quả của quá trình THQCT trong giai đoạn
điều tra, truy tố trƣớc đó.
Đặc điểm thứ ba, THQCT trong giai đoạn xét xử sơ thẩm là cơ sở để

thực hiện chức năng của Viện kiểm sát nhân dân ở giai đoạn tiếp theo.
VKSND thực hiện việc buộc tội, bảo vệ quan điểm buộc tội của mình tại
phiên tòa xét xử sơ thẩm, đồng thời thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân
theo pháp luật trong giai đoạn xét xử sơ thẩm để làm cơ sở cho việc thực hiện
chức năng của VKSND ở các giai đoạn tiếp theo: xét xử phúc thẩm, giám đốc
thẩm, tái thẩm, thi hành án. Chức năng THQCT của VKSND kết thúc khi bản
án của Tòa án có hiệu lực pháp luật hoặc khi VAHS chấm dứt việc giải quyết
theo quy định của pháp luật. Phân tích dƣới đây không đề cập đến trƣờng hợp
VAHS chấm dứt việc giải quyết theo quy định của pháp luật vì đƣơng nhiên
sẽ không có những giai đoạn giải quyết sau đó. Trƣờng hợp bản án, quyết

17


×