Tải bản đầy đủ (.doc) (56 trang)

Lễ hội lồng tồng trong đời sống văn hóa của dân tộc tày nùng miền núi phía bắc (2017)

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (858.8 KB, 56 trang )

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
*************

LÊ THỊ LAN ANH

LỄ HỘI LỒNG TỒNG TRONG
ĐỜI SỐNG VĂN HÓA CỦA
DÂN TỘC TÀY - NÙNG MIỀN
NÚI PHÍA BẮC
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Việt Nam học

HÀ NỘI - 2017


LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong khoa Ngữ văn đã
truyền đạt những kiến thức chuyên ngành, chỉ dạy tôi trong suốt quá trình
học tập tại trường ĐHSP Hà Nội 2. Đặc biệt là TS. Nguyễn Thị Tính đã
định hướng đề tài và hướng dẫn tận tình để tôi hoàn thành khóa luận tốt
nghiệp này.
Với vốn kiến thức và kinh nghiệm nghiên cứu của bản thân còn
nhiều hạn chế, khóa luận không tránh khỏi thiếu sót. Vì vậy, tôi rất mong
nhận được sự đóng góp ý kiến của các thầy, các cô và các bạn để khóa luận
được hoàn thiện hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 05 năm 2017
Người thực hiện

Lê Thị Lan Anh




LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự
hướng dẫn khoa học của TS. Nguyễn Thị Tính. Các nội dung nghiên cứu
trong đề tài này là trung thực và chưa được công bố dưới bất kì hình thức
nào. Nếu phát hiện có bất kì sự gian lận nào tôi xin hoàn toàn chịu trách
nhiệm.
Hà Nội, tháng 05 năm 2017
Người thực hiện

Lê Thị Lan Anh


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU........................................................................................................... 1
1. Lý do chọn đề tài........................................................................................... 1
2. Lịch sử vấn đề ............................................................................................... 2
3. Nhiệm vụ nghiên cứu .................................................................................... 5
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu................................................................. 5
4.1. Đối tượng nghiên cứu................................................................................. 5
4.2. Phạm vi nghiên cứu.................................................................................... 6
5. Phương pháp nghiên cứu............................................................................... 6
6. Đóng góp của khóa luận................................................................................ 6
7. Bố cục khóa luận ........................................................................................... 6
NỘI DUNG ....................................................................................................... 7
CHƯƠNG 1. KHÁI QUÁT CHUNG ............................................................... 7
1.1. Khái niệm lễ hội ......................................................................................... 7
1.2. Lễ hội truyền thống .................................................................................. 10
1.2.1. Khái niệm lễ hội truyền thống............................................................... 10

1.2.2. Phân loại lễ hội truyền thống ................................................................ 12
1.2.3. Đặc trưng của lễ hội truyền thống......................................................... 15
1.3. Lịch sử hình thành lễ hội Lồng tồng ........................................................ 18
1.4. Vài nét về lễ hội Lồng tồng của dân tộc Tày - Nùng ở Việt Nam ........... 20
Tiểu kết chương 1............................................................................................ 21
CHƯƠNG 2. ĐẶC ĐIỂM LỄ HỘI LỒNG TỒNG ........................................ 23
CỦA DÂN TỘC TÀY, NÙNG MIỀN NÚI PHÍA BẮC................................ 23
2.1. Đối tượng thờ phụng ................................................................................ 23
2.2. Thời gian và không gian tổ chức lễ hội.................................................... 23
2.2.1. Thời gian tổ chức .................................................................................. 23
2.2.2. Không gian tổ chức ............................................................................... 24
2.3. Các hoạt động của lễ hội .......................................................................... 24
2.3.1. Công tác chuẩn bị.................................................................................. 24


2.3.2. Hoạt động nghi thức trong lễ hội .......................................................... 25
2.3.3. Hoạt động vui chơi, trò diễn trong lễ hội .............................................. 28
2.4. Tín ngưỡng đặc trưng của lễ hội .............................................................. 30
2.5. Những nét tương đồng trong lễ hội Lồng tồng của dân tộc Tày - ........... 34
Nùng và lễ hội Xuống đồng của người Kinh ở Duy Tiên - Hà Nam.............. 34
2.5.1. Tương đồng về diễn biến lễ hội ............................................................ 34
2.5.2. Tương đồng về ý nghĩa lễ hội ............................................................... 36
Tiểu kết chương 2............................................................................................ 36
CHƯƠNG 3. VAI TRÒ CỦA LỄ HỘI LỒNG TỒNG .................................. 38
TRONG ĐỜI SỐNG CÁC DÂN TỘC TÀY, NÙNG .................................... 38
3.1. Vai trò của lễ hội Lồng tồng trong đời sống vật chất và tinh thần .......... 38
3.1.1. Trong đời sống vật chất......................................................................... 38
3.1.2. Trong văn hoá tinh thần ........................................................................ 39
3.2. Thực trạng và một số giải pháp giữ gìn nét văn hóa trong lễ hội Lồng
tồng.................................................................................................................. 42

3.2.1. Thực trạng ............................................................................................. 42
3.2.2. Một số giải pháp giữ gìn nét văn hoá trong lễ hội Lồng tồng.............. 42
Tiểu kết chương 3............................................................................................ 44
KẾT LUẬN ..................................................................................................... 46
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài

1


Lễ hội truyền thống luôn mang trong mình những đặc trưng của tự nhiên
và xã hội; thể hiện bản sắc văn hóa dân tộc độc đáo, đa dạng và phong phú; là
một hình thức sinh hoạt văn hóa cộng đồng nhằm đáp ứng nhu cầu tinh thần
của các tộc người. Nó có một vai trò, vị trí khá quan trọng trong đời sống văn
hóa xã hội cộng đồng đặc biệt là cộng đồng làng xã.
Từ xưa đến nay lễ hội là một món ăn tinh thần không thể thiếu đối với
mỗi người dân Việt. Đến với bất kì vùng miền nào trên đất nước Việt Nam
vào bất kì một khoảng thời gian nào trong năm đều thấy sự xuất hiện và tồn
tại của các lễ hội. Lễ hội là nơi lưu giữ các giá trị văn hóa đặc sắc của dân tộc
về nhiều mặt của đời sống (chính trị, văn hóa xã hội, tôn giáo tín ngưỡng…)
của cư dân vùng lúa nước. Đa phần các lễ hội đều diễn ra trong khoảng thời
gian vào mùa xuân. Đó là mùa chuyển giao thời vụ, cũng là thời điểm giao
mùa hết đông sang xuân, khi tiết trời đẹp, ngày tháng nông nhàn, cư dân có
điều kiện về thời gian cũng như về tinh thần để tổ chức lễ hội. Lễ hội ngoài
mục đích tưởng nhớ người có công, tri ân các vị thần để cầu một năm mới
may mắn, mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu, còn là nơi để người dân giải

trí, nghỉ ngơi sau một vụ mùa, một năm lao động vất vả.
Mỗi lễ hội đều mang những nét đặc trưng và những nét riêng biệt. Lễ
hội Lồng tồng “Xuống đồng” là một lễ hội như vậy. Hằng năm, cứ vào dịp
sau tết Nguyên Đán, ở khắp các bản làng của tộc người Tày, Nùng ở các tỉnh
miền núi phía Bắc lại nô nức chờ đón những ngày hội rộn ràng của lễ hội
Lồng tồng (Lồng thồng, Lùng tùng…), hay còn gọi là Oóc tồng, nghĩa là
Xuống đồng (lồng là xuống, tồng là đồng). Do vậy, lễ hội Lồng tồng là lễ hội
Xuống đồng. Đây là lễ hội mang tính chất nghi lễ nông nghiệp cổ xưa, mở
đầu cho một mùa sản xuất mới; trong lễ hội còn có lễ tạ Thành Hoàng, Thần

2


Nông, cầu cho mùa màng bội thu, gia súc phát triển, con người khỏe mạnh,
bản làng yên vui, mọi người, mọi nhà ấm no, hạnh phúc. Lễ hội Lồng tồng là
một sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng dân gian mang bản sắc văn hóa tộc người
Tày, Nùng ở các bản làng địa phương rất độc đáo. Sau một năm lao động vất
vả, lễ hội mở ra mang lại những giờ phút nghỉ ngơi, thanh thản, mọi người có
điều kiện gặp gỡ thăm hỏi, chúc tụng nhau; đồng thời cũng là dịp giao lưu
tình cảm giữa các cô gái, chàng trai bằng những lời hát then sli, lượn. Lễ hội
Lồng tồng là một lễ hội dân gian giàu bản sắc và sinh động, mang nhiều ý
nghĩa trong ngày xuân và trong đời sống tinh thần của đồng bào các dân tộc
miền núi phía Bắc.
Là một sinh viên của ngành Việt Nam học cùng với tình yêu văn hóa lễ
hội, phong tục tập quán của dân tộc Tày, Nùng; tôi đã chọn đề tài: “Lễ hội
Lồng tồng trong đời sống văn hóa của dân tộc Tày - Nùng miền núi phía Bắc”
làm đề tài khóa luận để có thể hiểu thêm về con người, văn hóa và lễ hội của
họ.
2. Lịch sử vấn đề
Nghiên cứu lễ hội không chỉ góp phần lý giải nhiều vấn đề khoa học về

những đặc điểm văn hoá tộc người Việt, về lịch sử và văn hoá làng xã, cũng
như về lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta mà còn góp phần tìm
hiểu những tác động xã hội của lễ hội, những mặt tích cực cũng như những
hạn chế qua các giai đoạn lịch sử khác nhau. Chính vì vậy nghiên cứu lễ hội
đã góp phần đắc lực cho hoạt động thực tiễn. Với những ý nghĩa khoa học và
thực tiễn trên từ lâu đề tài lễ hội được nhiều thế hệ học giả trong và ngoài
nước lưu tâm.
Trước khi thực dân Pháp xâm lược nước ta, lễ hội làng quê được ghi
chép trong các sách địa chí như: Đại Nam nhất thống chí, Sơn Tây tỉnh chí.

3


Sau khi thực dân Pháp đặt ách thống trị lên đất nước ta, các học giả người
Pháp đã có một số chuyên khảo về lễ hội như Une Fête religieuse annamite au
village de Phù Đổng của Đuymuchiê.
Một số nhà nghiên cứu, nhà nho, nhà báo người Việt cũng công bố các
chuyên khảo có đề cập đến một phần hay toàn bộ lễ hội như: Việt nam phong
tục của Phan Kế Bính [2], hay các bài báo giới thiệu các lễ hội trên các báo
Phong hoá, Trung Bắc chủ nhật, Ngày nay…
Tác giả Toan Ánh đã giới thiệu các hội hè làng quê miền Bắc trong
cuốn Nếp cũ - Hội hè đình đám [1]. Ngoài ra còn có các chuyên khảo về làng
xã, phong tục, trong đó có đề cập đến lễ hội như: Đất lề quê thói, Nếp cũ làng
xóm Việt Nam.
Từ giữa thập kỷ 80 trở đi việc nghiên cứu lễ hội được chú trọng hơn;
nhiều bài báo về lễ hội được đăng trên các Tạp chí Dân tộc học, Văn hoá
nghệ thuật, Văn hoá dân gian (ra mắt năm 1984), đáng lưu ý là hai tác giả
Đặng Văn Lung và Thu Linh với Lễ hội truyền thống và hiện đại [12]. Đây là
chuyên luận đầu tiên bàn đến lý luận về mối quan hệ giữa lễ hội truyền thống
và xã hội hiện đại. Ngoài ra còn có các lễ hội ở các địa phương được giới

thiệu trên các sách địa chí như: Địa chí Hà Bắc, Địa chí thành phố Hồ Chí
Minh, Địa chí Minh Hải, Địa chí Vĩnh Phú, Văn hoá dân gian vùng đất Tổ…
Từ năm 1988 đến nay, các chuyên khảo về lễ hội xuất hiện ngày càng
nhiều như : Lễ hội dân gian Huế (1988), Hội hè Việt Nam (1990), Hội xứ
Bắc (1989), Bảo tàng di tích - lễ hội (1992)…
Cho đến nay đề tài liên quan đến lễ hội Lồng tồng nói chung có một số
công trình nghiên cứu như: Phan Đăng Nhật với tác phẩm Lễ hội cổ truyền
[14]. Đáng lưu ý có trang tác giả cho rằng: “Lễ hội là một pho lịch sử khổng
lồ, ở đó tích tụ vô số những lớp phong tục, tín ngưỡng, văn hoá, nghệ thuật
và cả các sự kiện xã hội - lịch sử quan trọng của dân tộc” và “Lễ hội còn là
4


bảo tàng sống về các mặt sinh hoạt văn hoá tinh thần của người Việt. Chúng
đã sống, đang sống và với đặc trưng của mình, chúng tạo nên sức cuốn hút và
thuyết phục mạnh mẽ nhất”.
Cuốn Mùa xuân và phong tục Việt Nam, của Trần Quốc Vượng, Lê
Văn Hảo, Dương Tất Từ [23; tr.167-tr.178] các tác giả đã viết về “Hội Lồng
Tồng: Những ngày hội xuân tiêu biểu của Việt Bắc” trong những trang này
khi viết về hội Lồng tồng các tác giả cũng đã trình bày về nguồn gốc của hội
qua một số truyền thuyết ở Lạng Sơn, ở Cao Bằng… và đề cập đến một số
nghi lễ và trò chơi trong ngày hội.
Các tác giả Phan Hữu Dật, Lê Ngọc Thắng, Lê Sỹ Giáo, Lâm Bá Nam
với cuốn Lễ hội cầu mùa của các dân tộc ở Việt Nam [4; tr.42], các tác giả đã
viết về Hội Xuống Đồng (Hội Lồng Tồng). Đây là lễ hội truyền thống của cư
dân nông nghiệp, một trong những hình thức sinh hoạt văn hoá đặc sắc ở
vùng Việt Bắc.
Tác giả Lê Văn Kỳ trong Lễ hội nông nghiệp Việt Nam [8; tr.161tr.167], đã viết về Lễ hội Lồng tồng của người Tày, Nùng ở miền núi phía Bắc
Việt Nam và đã trình bày về thời gian, địa điểm mở hội, cách thức mở hội,
những nghi lễ và các trò chơi dân gian của lễ hội cũng được tác giả trình bày

khá cụ thể.
Tác giả Hoàng Văn Páo với Lễ hội Lồng Tồng của người Tày bản Chu
xã Hưng Đạo, huyện Bình Gia tỉnh Lạng Sơn [15], tác giả đã trình bày sâu sắc
về lễ hội Lồng tồng của người Tày ở xã Hưng Đạo huyện Bình Gia.
Trong cuốn Lễ hội Việt Nam, tác giả Vũ Ngọc Khánh - Vũ Thuỵ An đã
viết về Lễ hội Lồng Tồng ở huyện Na Rì tỉnh Bắc Cạn [7], với các nghi lễ
cúng Thần nông và một số trò chơi, trò diễn trong lễ hội.
Ngoài ra, còn rất nhiều tư liệu khác cũng nghiên cứu về đề tài này
nhưng nói rất chung về lễ hội. Các bài báo, bài viết chủ yếu trình bày tóm tắt
5


nội dung của lễ hội thông qua một số hình ảnh minh họa cho lễ hội. Một số
bài viết khác chỉ khai thác lễ hội ở khía cạnh hẹp, chỉ mang tính chất liệt kê
các trò chơi, trò diễn trong lễ hội mà chưa đi sâu vào khai thác để làm nổi bật
những nét văn hóa đặc trưng và giá trị văn hóa của lễ hội cũng như nét văn
hóa đặc sắc trong đời sống của dân tộc Tày, Nùng miền núi phía Bắc.
Do đó, dựa trên những thành tựu đã đạt được của người đi trước, cùng
với sự tìm hiểu, nghiên cứu của bản thân về lễ hội. Tôi mong muốn được góp
phần nào đó công sức của mình vào việc giới thiệu và lưu giữ giá trị của lễ
hội Lồng tồng trong đời sống văn hóa của dân tộc Tày, Nùng miền núi phía
Bắc thông qua bài khóa luận tốt nghiệp của mình.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
Khái quát về lễ hội Lồng tồng của dân tộc Tày, Nùng miền núi phía

6


Bắc.
Tìm hiểu những đặc điểm, đặc trưng, tín ngưỡng trong lễ hội Lồng tồng

của dân tộc Tày, Nùng miền núi phía Bắc.
Tìm hiểu và chỉ ra những nét văn hóa đặc sắc tương đồng trong lễ hội
Lồng tồng của dân tộc Tày, Nùng miền núi phía Bắc với lễ hội Xuống đồng
của người Kinh ở Duy Tiên, Hà Nam.
Tìm hiểu về vai trò của lễ hội Lồng tồng trong đời sống các dân tộc
Tày, Nùng; thực trạng và một số giải pháp giữ gìn nét văn hóa của lễ hội.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là lễ hội Lồng tồng trong đời sống văn hóa của
dân tộc Tày, Nùng miền núi phía Bắc.

7


4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Lễ hội Lồng tồng của dân tộc Tày, Nùng miền núi phía Bắc
- Mở rộng so sánh với lễ hội Xuống đồng của người Kinh ở Duy Tiên Hà Nam.
5. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp điền dã và tổng kết thực tiễn: thực hiện quan sát,tìm
hiểu,nghiên cứu trong quá trình điền dã thực tế.
- Phương pháp liên ngành.
- Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp.
6. Đóng góp của khóa luận
Góp phần vào việc giới thiệu, giúp nâng cao hiểu biết về lễ hội Lồng
tồng của đồng bào dân tộc miền núi.
Kết quả nghiên cứu của khóa luận có thể sử dụng làm tài liệu tham
khảo cho việc học tập và nghiên cứu lễ hội Lồng tồng của các dân tộc miền
núi Việt Nam.
7. Bố cục khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo. Khóa luận tốt nghiệp

được chia làm 3 chương. Cụ thể đó là:
Chương 1: Khái quát chung.
Chương 2: Đặc điểm lễ hội Lồng tồng của dân tộc Tày, Nùng miền núi
phía Bắc.
Chương 3: Vai trò của lễ hội Lồng tồng trong đời sống các dân tộc Tày,
Nùng.


NỘI DUNG
CHƯƠNG 1. KHÁI QUÁT CHUNG
1.1. Khái niệm lễ hội
Lễ hội của người Việt cũng như của nhiều dân tộc anh em là một bộ
phận của văn hoá Việt Nam. Lễ hội đã trở thành truyền thống từ lâu đời của
thôn quê Việt Nam, nhất là ở đồng bằng Bắc Bộ, lễ hội đã đáp ứng được
nguyện vọng của đông đảo quần chúng nhân dân trước tiên là nhu cầu về tín
ngưỡng tôn giáo.
Thuật ngữ Lễ hội cho đến nay đã được các nhà nghiên cứu đưa ra nhiều
cách gọi và giải thích khác nhau. Nó có thể là “hội lễ”, hay “hội hè” hoặc “hội
hè đình đám”… Khi nghiên cứu những đặc tính và ý nghĩa của lễ hội ở nước
Nga, M.Bachie cho rằng: Thực chất, lễ hội là cuộc sống được tái hiện dưới
hình thức tế lễ và trò diễn, đó là cuộc sống lao động và chiến đấu của cộng
đồng cư dân. Tuy nhiên, bản thân cuộc sống không thể thành lễ hội được nếu
như chính nó không được thăng hoa, liên kết và quy tụ lại thành thế giới của
tâm linh, tư tưởng của các biểu tượng, vượt lên trên thế giới của những
phương tiện và điều kiện tất yếu. Đó là thế giới, là cuộc sống thứ hai thoát ly
tạm thời thực tại hữu hiệu, đạt tới hiện thực lý tưởng mà ở đó, mọi thứ đều trở
nên đẹp đẽ, lung linh, siêu việt và cao cả [9; tr.23].
Ở Việt Nam, Lễ hội là khái niệm chỉ mới xuất hiện khoảng hơn chục
năm trở lại đây. Trước đó chỉ có khái niệm lễ hoặc hội. Cả hai khái niệm lễ và
hội đều là từ gốc Hán được dùng để gọi một nhóm loại hình phong tục. Lễ hội

là sinh hoạt tập thể, là hoạt động tinh thần của cộng đồng. Dân tộc nào cũng
có lễ hội riêng của dân tộc mình, các dân tộc khác nhau có lễ hội khác nhau.
Lễ hội của các dân tộc thường là sự phản ánh nhận thức liên quan đến tập
quán sản xuất, đến các hoạt động tập thể của cộng đồng. Cư dân trồng trọt
thường tổ chức nhiều lễ hội liên quan đến gieo trồng, đến cầu mùa, đến thu


hoạch. Cư dân sống chủ yếu bằng nghề săn bắn và hái lượm thường tổ chức
các lễ hội hoá trang, các động tác tượng trưng cho pháp thuật săn bắn, các
hình tượng tượng trưng cho việc săn bắn kết quả. Lễ hội còn là dịp để nhớ về
lịch sử, nhớ về cội nguồn của dân tộc, lễ hội được tổ chức có thể gắn với các
danh lam thắng cảnh, các truyền thuyết liên quan đến sự hình thành, phát triển
phồn vinh của vùng quê, người đi lễ hội vừa là để thay đổi không khí cuộc
sống là dịp gặp gỡ vui vẻ, là dịp tìm tòi sự may mắn qua nguyện ước thắp
hương ở nơi dự lễ.
Ngày lễ hội cũng chính là dịp để họ hàng và bè bạn gần xa tới thăm hỏi
chúc tụng nhau, mời nhau ăn uống. Mùa lễ hội là mùa vui của tất cả mọi
người dân trong bản từ cụ già đến em nhỏ đều háo hức lễ hội để họ có dịp
diện những bộ quần áo mới nhất đi chơi hội và được xem những trò vui, trò
diễn trong lễ hội. Trong lễ hội bao gồm hai phần chính là lễ và hội:
“Lễ” trước hết được hiểu là nghi thức, là mở đầu cho hội làng. “Lễ là
những nghi thức nhằm đánh dấu kỷ niệm một sự việc, sự kiện có ý nghĩa nào
đó” [18; tr.450]. Theo quan niệm của Khổng Tử (người sáng lập ra Nho giáo)
khi ông nói về lễ (bàn trong Lễ - Nhạc) thì lễ trước hết là trật tự, nhạc là sự
hài hòa. Lễ mang ý nghĩa là mọi nghi thức ứng xử của con người với tự nhiên
và xã hội. Lễ vốn là phép ứng xử văn hoá, trong ứng xử xã hội, bao gồm ứng
xử giữa cá nhân với nhau, giữa cá nhân với cộng đồng và ngược lại, giữa các
thiết chế nhỏ trong cộng đồng lớn với nhau… Thường được bắt đầu và phải
bắt đầu từ lễ, tức là từ nghi thức trước khi đi vào một nội dung giữa hai quan
hệ hoặc các quan hệ trong xã hội. Từ những nghi thức mang tính xã giao đời

thường là lễ, phép tắc để phân biệt trên, dưới, sang, hèn, thân, sơ… dần dần
được “thiêng hóa” để trở thành những nghi lễ mang tính tôn giáo, về sau
chúng trở thành những nghi thức mở đầu cho lễ hội. Các nghi thức của lễ toát
lên sự cầu mong các vị thần linh đem đến cho họ mùa màng bội thu, cuộc


sống hạnh phúc, thanh bình… có thể nói “Lễ là phần đạo, tâm linh của cộng
đồng” [21; tr.12]. Lễ là linh hồn của lễ hội. Tuy nhiên, lễ không thể trở thành
hội nếu nó chỉ gồm những nghi thức xã hội, nhất là nghi thức tôn giáo, trong
sinh hoạt tôn giáo cũng có rất nhiều thứ lễ chẳng hạn: trong các làng xã người
Việt trước đây một năm có đến hàng chục thứ lễ như: lễ cầu mưa, lễ hạ điền,
thượng điền, lễ cơm mới… Mặc dù là những nghi thức được chuẩn bị chu
đáo và thực hiện nghiêm túc với sự tham gia của nhiều người, nhưng đó chỉ là
lễ, chưa phải là hội.
“Hội” trước hết là những hoạt động, những trò diễn thường có tính lễ
nghi theo một khuôn mẫu mang tính ổn định với sự tham gia của một khối
đông người có tính cộng đồng cao. Tuy nhiên phải là những hoạt động tiếp
theo lễ hoặc đan xen với lễ có những đặc điểm vừa nêu mới trở thành hội của
lễ, sau đó mới trở thành lễ hội. Nói một cách khác, hội là các hoạt động, các
trò diễn có tính lễ nghi, có nhiệm vụ bổ sung cho lễ, hoàn chỉnh ý nghĩa và
nội dung của một sinh hoạt cộng đồng vào thời điểm đó và tại những nơi thờ.
Chẳng hạn ở hội Tam Thanh ở Thành phố Lạng Sơn sau phần tế lễ là đến
phần hội với các trò chơi như ném còn, kéo co,... các trò chơi trong phần hội
này đã góp phần bổ sung cho lễ và trở thành lễ hội Tam Thanh.
Như vậy, “Hội là cuộc vui cho đông đảo người dự theo phong tục hoặc
dịp đặc biệt” [3; tr.43]. Hội bao gồm các yếu tố: Được tổ chức nhân một dịp
quan trọng liên quan đến cộng đồng nhằm đem lại lợi ích tinh thần cho mọi
thành viên của cộng đồng. Như vậy hội là từ dùng để chỉ thành phần ngoài lễ
của những ngày kỷ niệm linh thiêng từ quy mô cộng đồng làng bản trở lên.
Do hội là thành phần ngoài lễ nên khi cuộc lễ nào không có hội kèm theo đều

không phải là hội.
Có thể nói lễ và hội là một thể thống nhất không thể chia tách trong
hoạt động tín ngưỡng và tôn giáo của con người. Lễ là phần “đạo”, phần tín


ngưỡng, phần thế giới tâm linh sâu lắng của con người, là cơ sở để mọi người
vui hội. Còn hội là tập hợp các trò diễn có tính lễ thức, các cuộc vui chơi, giải
trí tại một địa điểm nhất định, thường trong khuôn viên các công trình tôn
giáo hay ở sát chúng, có đông người tham gia, là đời sống văn hoá thường
nhật và một phần đời của một cá nhân và cả cộng đồng nhân kỷ niệm một sự
kiện quan trọng đối với một cộng đồng xã hội. Không khí vui vẻ, tưng bừng
mang đậm màu sắc tôn giáo nguyên thuỷ của hội lại là biểu hiện cho sự thành
công của lễ. Hội làm cho lễ càng thêm trang trọng, uy nghiêm và thần bí hơn,
cấu thành lễ hội, không có lễ hội nào có thể thiếu một trong hai thành phần
đó.
1.2. Lễ hội truyền thống
1.2.1. Khái niệm lễ hội truyền thống
Với nền văn minh lúa nước lâu đời ở xứ sở nhiệt đới, lễ hội cổ truyền
Việt Nam với nhiều hình thức phong phú đa dạng và độc đáo. Lễ hội là một
sản phẩm và biểu hiện của một nền văn hóa. Nền văn hóa Việt Nam là nền
văn hóa nông nghiệp. Vậy lễ hội truyền thống Việt Nam là lễ hội nông
nghiệp. Cội nguồn sâu xa nhất là tín ngưỡng phồn thực trong nông nghiệp của
dân tộc Việt Nam luôn cầu mong mưa thuận gió hòa vạn vật sinh sôi nảy nở.
Theo GS. Trần Quốc Vượng thì lễ hội nông nghiệp không chỉ bao hàm
những lễ hội gắn một cách trực tiếp với nghề nông mà ta có thể gọi là ghi thức
hay nghi lễ nông nghiệp như: lễ hội “Lồng tồng” của người Tày, Nùng; lễ tế
Thần Nông, lễ Hạ Điền (Xuống Đồng của người Mường), lễ hội Thượng Điền
của người Việt - mà bao gồm cả những hội săn chim, đuổi cuốc, săn hổ, bắt
cáo, hội đánh bắt cá ở suối, ao, hồ, hội hái lá, hái măng, hội chùa, hội đình…
Tất cả chúng đều được gọi là lễ hội nông nghiệp vì chúng diễn ra trong không

gian thôn dã với một thời gian thôn dã (mang tính chất chu kì). Chủ nhân của
những lễ hội này chủ yếu là nông dân, là thợ thủ công, địa chủ, quan lại, sống


ở vùng quê và có lối sống thôn dã. Bản sắc văn hóa Việt Nam được thể hiện
đậm nét nhất ở văn hóa làng. Lễ hội truyền thống là sinh hoạt văn hóa dân
gian truyền thống - thành tố làm nên bản sắc văn hóa làng đó.
GS.TS Nguyễn Duy Quý - nguyên Viện trưởng Viện Khoa học Xã hội
Việt Nam từng phát biểu trong Hội thảo Khoa học “Lễ hội truyền thống trong
đời sống xã hội hiện đại” (tổ chức vào tháng 3 năm 1993): “Lễ hội truyền
thống là một sinh hoạt tổng hợp bao gồm các mặt tinh thần và vật chất, tôn
giáo, tín ngưỡng và văn hóa nghệ thuật, linh thiêng và đời thường…” [17].
Lễ hội truyền thống xuất phát từ nhu cầu nội tại của con người. Lễ hội
bao giờ cũng hướng tới một đối tượng Thiên nhiên cần suy tôn: các vị tiên,
Phật, thần thánh, những vị Nhiên thần và Nhân thần mà xét đến cội rễ thì đó
chính là hình ảnh hội tụ những phẩm chất cao đẹp nhất của những anh hùng
có công khai phá và xây dựng, những anh hùng chống giặc ngoại xâm, những
người có công dạy dỗ, truyền nghề, chống thiên tai, trừ ác thú, chữa bệnh cứu
người hoặc những đấng thiên nhiên giúp con người hướng thiện, tạo dựng
một cuộc sống tốt lành, yên vui.
Lễ hội truyền thống chính là dịp để con người giao lưu, cộng cảm và
trao truyền những đạo lí, tình cảm, mĩ tục và những khát vọng cao đẹp, còn là
cầu nối giữa hiện tại và quá khứ, củng cố tinh thần cố kết dân tộc và tình yêu
quê hương đất nước cùng niềm tự hào về nguồn gốc của mình.
“Dù ai đi ngược về xuôi
Nhớ ngày giỗ tổ mùng mười tháng ba”
Chính vì vậy mà lễ hội truyền thống bao giờ cũng thu hút, mời gọi kì lạ
đối với nhiều người, nhiều lứa tuổi. Người đến với lễ hội là đến với chốn linh
thiêng cao cả, với tâm thức chân thành và thanh thản với khát vọng, ước
mong tốt lành.



1.2.2. Phân loại lễ hội truyền thống
1.2.2.1. Lễ hội gắn với tín ngưỡng cầu mùa
Theo Từ điển tiếng Việt thì tín ngưỡng là tin theo một tôn giáo nào đó.
Như vậy, tín ngưỡng chỉ là một niềm tin tôn giáo. Mỗi tín đồ của một tôn giáo
nào đó đều có niềm tin riêng của mình, khác với niềm tin của tôn giáo khác.
Lâu nay, có một số người hiểu không đúng về thuật ngữ này, thường coi tín
ngưỡng cũng là tôn giáo (tín ngưỡng dân gian cũng là một tôn giáo sơ khai).
Tín ngưỡng không có ý chỉ là một tôn giáo, mà chỉ là một niềm tin có tính
chất tôn giáo. Đại đa số nhân dân Việt Nam đều tin theo tôn giáo sơ khai mà
ngành dân tộc học gọi là đa thần giáo xuất phát từ quan niệm vạn vật hữu
linh.
Cầu mùa là một tín ngưỡng có từ lâu đời trong đời sống của nhiều dân
tộc trên đất nước Việt Nam. Nó ra đời gắn liền với nền văn minh nông nghiệp
và được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Cầu mùa ở mỗi dân tộc có một
cách thể hiện khác nhau nhưng cùng giống nhau ở một mục đích cuối cùng đó
là cầu cho một năm mưa thuận gió hòa, người người khỏe mạnh, mùa màng
thắng lợi, vạn vật tốt tươi, sinh sôi nảy nở… Đó là một nét đẹp văn hóa cần
được bảo tồn và phát huy.
Đây là loại lễ hội phổ biến ở tất cả các dân tộc. Tuy ở mỗi địa phương
mỗi dân tộc có những nghi thức, nghi lễ khác nhau, nhưng đều cùng chung
một nội dung là cầu mùa. Những nội dung đó được thể hiện một cách sinh
động ở các lễ thức sau:
Lễ thức liên quan đến chu trình sản xuất nông nghiệp bao gồm lễ hội
tái hiện các sinh hoạt kinh tế tiền nông nghiệp như sắn bắn, hái lượm, lễ mở
cửa rừng, hồ đánh cá…và những lễ thức tái hiện hoạt động sản xuất nông
nghiệp như cây cối, hội tầm tang, trình nghề nông, thờ ông Điền…



Lễ thức cầu đảo: cầu mưa, cầu tạnh, mưa thuận gió hoàn, sóng yên biển
lặng (rước, cúng tứ pháp, lễ cầu mưa ở các dân tộc, thờ cá Ông)…
Lễ thức biểu dương, dâng cúng các thành phẩm nông nghiệp (rước lợn,
xôi, lễ ăn cơm mới…)
Lễ rước thờ cúng hồn lúa (còn phổ biến ở nhiều dân tộc thiểu số).
Các lễ thức trên đều mang tính chất tín ngưỡng cầu mùa, mong sao mùa
màng tốt tươi, người an vật thịnh, ngành nghề phát triển, mang lại cuộc sống
ấm no hạnh phúc cho nhân dân.
Ví dụ như lễ hội Lồng tồng: Là một lễ hội truyền thống đặc trưng của
cộng đồng người Tày, Nùng. Lễ hội này được tổ chức hàng năm vào tháng
Giêng, tháng Hai âm lịch theo từng địa phương, mang ý nghĩa cầu phúc, cầu
mùa màng bội thu, cuộc sống bình yên, no ấm. Trong lễ hội thường diễn ra
các trò chơi dân gian cổ truyền, như: Ném còn, bịt mắt bắt dê, hát lượn….
Lễ hội hoa ban: Đây là lễ hội của đồng bào dân tộc Thái và lễ hội này
còn có tên gọi khác là hội Xên bản, Xên mường. Lễ hội thường được tổ chức
vào tháng Hai âm lịch, khi hoa ban nở trắng núi rừng Tây Bắc. Hội hoa ban là
ngày hội của tình yêu đôi lứa; ngày hội của hạnh phúc gia đình; hội cầu mùa,
no ấm nơi bản mường, đồng thời cũng là dịp thi tài, vui chơi, hát giao duyên
trong những đêm trăng sáng…
1.2.2.2. Lễ hội tưởng nhớ người có công
Lễ hội truyền thống ở nước ta rất đa dạng, phong phú và trải rộng khắp
đất nước. Tại mỗi vùng miền, lễ hội tuy mang một nét tiêu biểu và giá trị
riêng, nhưng bao giờ cũng hướng tới một đối tượng tâm linh cần được suy
tôn, như: Những vị anh hùng chống ngoại xâm, những người có công trong
việc dạy dỗ hay truyền nghề hoặc những người có nhiều công lao đóng góp
cho việc chống thiên tai, diệt trừ ác thú, giàu lòng cứu nhân độ thế… Đây là


những lễ hội liên quan đến việc tưởng niệm công lao các vị danh nhân văn
hóa, anh hùng lịch sử, các vị Thành Hoàng và chư vị Thánh, chư vị Phật…

Loại lễ hội này đều thờ cúng, diễn tích liên quan đến các vị nhiên thần
và nhân dân đã có công khai sơn phá thạch, xây dựng, giữ gìn, bảo vệ làng
xóm, đất nước và chư vị Thánh, Phật có công khai minh, khai mang, xây
dựng đền chùa, giúp dân giệt ác trừ tà, bảo vệ cái thiện… Điều đáng lưu ý ở
đây là sự thờ cúng ở các dân tộc miền núi chủ yếu là các lực lượng nhiên
thần, còn ở đồng bằng thì chủ yếu lại thờ cúng các lực lượng nhân thần. Đó
là:
Các nghi thức thờ cúng các thần thổ địa, thần rừng, thần sông nước (ở
miền núi), thờ thần cây đa, bến nước như Sơn Thần, Giang Thần, Đông Hải
Đại Vương (ở miền xuôi)…
Lễ rước các vị danh nhân văn hóa, anh hùng lịch sử như Tản Viên Sơn
Thánh, chư vị Phật, chư vị Thánh, lễ hội thờ Trương Hống, Trương Hát, Hai
Bà Trưng, Thánh Gióng, Vua Hùng, Bố Cái Đại Vương, Đức Thánh Trần…
Diễn lại các tích liên quan đến các vị anh hùng có công với dân và
nước: Thánh gióng các vị Thành Hoàng, hội Gía, hội đền vua Lê, hội vật Hồi
Quan, hội đấu kiếm Phù Lão…
Các nghi thức trên đã thể hiện rõ đạo lí “uống nước nhớ nguồn” của
nhân dân ta. Từ đạo lý đó đã được khái quát hóa và thần Thánh hóa những
người đã có công với dân với nước. Vì vậy, vị trí của người có công đối với
cộng đồng quốc gia, cộng đồng làng xã đã chiếm phần quan trọng trong tâm
linh của người dân Việt.
Một số lễ hội tưởng nhớ người có công tiêu biểu như: Lễ hội Gò Đống
Đa là một lễ hội chiến thắng, được tổ chức hàng năm để tưởng nhớ những
chiến công lẫy lừng của vua Quang Trung – người anh hùng áo vải trong lịch
sử chống giặc ngoại xâm của dân tộc. Nhiều trò chơi vui khỏe được tổ chức


trong lễ hội để thể hiện tinh thần thượng võ. Đặc biệt, trò rước Rồng lửa
Thăng Long được cho là độc đáo, ấn tượng nhất trong toàn lễ hội.
Hội gò Đống Đa diễn ra vào ngày mùng 5 Tết tại khu vực gò Đống Đa,

phường Quang Trung, quận Đống Đa, Hà Nội.
Lễ hội đền Gióng được khai hội ngày 6/1 âm lịch hàng năm và tổ chức
tại xã Phù Linh, huyện Sóc Sơn (Hà Nội). Theo truyền thuyết, vùng đất này là
nơi dừng chân cuối cùng của Thánh Gióng trước khi cởi bỏ áo giáp bay về
trời. Lễ hội diễn ra trong 3 ngày với các nghi lễ truyền thống như: lễ khai
quang, lễ rước, lễ dâng hương, dâng hoa tre lên đền Thượng, nơi thờ Thánh
Gióng thu hút sự quan tâm của người dân địa phương và du khách quốc tế.
1.2.3. Đặc trưng của lễ hội truyền thống
1.2.3.1. Tính cộng đồng
Lễ hội chỉ được sinh ra, tồn tại và phát triển khi nó trở thành nhu cầu tự
nguyện của một cộng đồng. Cộng đồng lớn thì phạm vi của lễ hội cũng lớn.
Bởi thế mới có lễ hội của một họ, một làng, một huyện, một vùng hoặc cả
nước. Trong lễ hội con người có những quan hệ thân mật và sự giao tiếp
phóng khoáng; con người được tái sinh bằng việc tái hòa nhập cộng đồng.
Những quan hệ tưởng như đã cũ được đổi mới trong những ngày lễ hội. Lễ
hội xóa đi sự xa lạ, lạnh lùng, trơ mòn bởi cái thường ngày lặp đi lặp lại trong
quan hệ giữa con người với nhau. Bởi vậy, nhiều cung bậc tình cảm, như tình
làng xóm, tình đồng bào, tình phường hội, tình thân tộc và tình cảm bạn bè,
nhờ vào không khí hội hè, cũng có thêm sắc thái mới. Nhờ vậy, dường như
mỗi con người đều tự cảm thấy mình đang được trở về với chính mình, mình
đích thực là con người giữa cộng đồng.
Chúng ta vẫn thường nói đi xem hát nhưng lại nói đi dự hội, có nghĩa
khi đi hội, mọi người đều sống trong lễ hội. Trong lễ con người cảm thấy
được sự tái sinh và sự đổi mới của thiên nhiên và thời vụ, của cuộc đời và con


người, các quan hệ làng nước và của chính mình. Ở đây con người được sống
theo quy luật tự do hội hè.
Không gian lễ hội thực chất là sự đổi mới từ không gian thông thường
thành một không gian con đường làng với những lều quán quen thuộc, nhưng

trong những ngày lễ hội, bỗng trở nên mới mẻ, tưng bừng náo nức, trở nên
thiêng liêng và cao cả.
Ví dụ, lễ hội Yên Tử. Mỗi độ xuân sang, du khách thập phương lại về
Yên Tử, thành tâm chiêm bái chốn Tổ Thiền Trúc Lâm, thăm Khu Di tích lịch
sử - thắng cảnh nổi tiếng vùng Đông Bắc của Tổ quốc. Hằng năm, từ những
ngày đầu tháng Giêng, du khách thập phương lại tấp nập về Hội xuân Yên Tử
lễ Phật, du xuân “cầu may vạn phúc”. Ngày 10 tháng Giêng, lễ khai mạc Hội
xuân truyền thống được tổ chức với nhiều hoạt động như: Lễ dâng hương
cúng Phật, bái Tổ Trúc Lâm; văn nghệ diễn xướng tái hiện sự tích lịch sử, văn
hóa tâm linh, những huyền thoại về Tam Tổ Thiền phái Trúc Lâm tôn kính;
Lễ khai ấn “Dấu Thiêng Chùa Đồng” đầu năm rất quan trọng và các hoạt
động văn hóa dân gian, múa Rồng Lân, võ thuật cổ truyền, trò chơi dân gian,..
… tưng bừng, nhộn nhịp.
Yên Tử gắn liền với diễn biến lịch sử huy hoàng của dân tộc Việt Nam
trong công cuộc chiến đấu và chiến thắng lẫy lừng quân xâm lược phương
Bắc, phương Tây và xây dựng đất nước. Yên Tử trở thành một trong những
biểu tượng rực rỡ của tinh thần độc lập tự chủ, tự cường của dân tộc Việt
Nam. Hội Yên Tử là ngày hội quần tụ, ca ngợi sự hưng thịnh của dân tộc, thể
hiện rõ nét tinh thần cộng đồng.
1.2.3.2. Tính cộng cảm
Lễ hội truyền thống chính là dịp để con người giao lưu, cộng cảm, trao
truyền những giá trị tốt đẹp. Khi làng mở hội, người đi dự hội được trải
nghiệm một không gian văn hóa vừa thân quen, vừa mới mẻ. Tình cảm đó sẽ


đem lại cho người đi dự lễ hội những tình cảm mới, một sự cân bằng sinh thái
và tâm lý quan trọng.
Lễ hội không chỉ là dịp giúp con người truyền đạt tình cảm, đạo lý và
khát vọng cho nhau mà còn là dịp để con người giao hòa với quá khứ và hiện
tại, qua đó con người củng cố thêm sức mạnh cộng đồng và thể hiện sự tôn

kính của mình đối với tạo hóa và tổ tiên cội nguồn của mình.
Ví dụ, Giỗ Tổ Hùng Vương là các làng xung quanh lại chuẩn bị thi
kiệu. Cỗ kiệu nào đoạt giải nhất của năm nay thì đến kì hội sang năm sẽ được
đại diện tất cả các cỗ kiệu khác, rước lên đền Thượng để cử hành quốc lễ. Vì
thế mà các cỗ kiệu đẹp lộng lẫy đều được dân làng chuẩn bị công phu và chu
đáo từ nhiều tháng trước. Dân làng không cho đó là vất vả, bởi với họ, cỗ kiệu
là vật thể hiện lòng thành kính với vua cha, kiệu đoạt giải nhất là niềm tự hào
và vinh dự lớn lao không gì so sánh được. Họ cho rằng làm vậy sẽ được các
vua Hùng cùng chư vị thần linh phù hộ cho dân làng được nhiều may mắn,
nhân khang vật thịnh. Đó là đời sống tâm linh, và truyền thống văn hóa lâu
đời được gìn giữ thông qua hình thức sinh hoạt văn hóa, thể hiện tín ngưỡng
dân gian cổ truyền mang tính cộng cảm sâu sắc.
1.2.3.3. Tính thiêng liêng
Muốn hình thành một lễ hội, bao giờ cũng phải tìm ra được một lý do
mang tính “thiêng” nào đó. Đó là người anh hùng đánh giặc bị tử thương, ngã
xuống mảnh đất ấy, lập tức được mối đùn lên thành mộ. Đó là nơi một người
anh hùng bỗng dưng hiển Thánh bay về trời… Cũng có khi lễ hội chỉ hình
thành nhằm ngày sinh, ngày mất của một người có công với làng với nước, ở
lĩnh vực này hay lĩnh vực khác (có người chữa bệnh, có người dạy nghề, có
người đào mương, có người đánh giặc…). Song, những người đó bao giờ
cũng được “thiêng hóa” và đã trở thành “thần Thánh” trong tâm trí của người
dân. Nhân dân tin tưởng những người đó đã trở thành thần Thánh, không chỉ


có thể phù hộ cho họ trong những mặt mà sinh thời người đó đã làm: chữa
bệnh, làm nghề, sản xuất, đánh giặc,… mà còn có thể giúp họ vượt qua những
khó khăn đa dạng hơn, phức tạp hơn của đời sống. Chính tính “thiêng” ấy đã
trở thành chỗ dựa tinh thần cho nhân dân trong những thời điểm khó khăn,
cũng như tạo cho họ những hy vọng vào điều tốt đẹp sẽ đến.
Ví dụ, diễn xướng ba trận đánh giặc Ân trong Hội Gióng, diễn xướng

cờ lau tập trận trong lễ hội Hoa Lư, diễn xướng rước Chúa gái (Mỵ Nương)
trong Hội Tản Viên… Chính các diễn xướng mang tính biểu tượng này tạo
nên không khí linh thiêng, hứng khởi và thăng hoa của lễ hội.
1.3. Lịch sử hình thành lễ hội Lồng tồng
“ Áo em thêu chỉ biếc hồng
Mùa xuân ngày hội Lồng tồng thêm vui”
( Tố Hữu )
Lễ hội Lồng tồng là một lễ hội của đồng bào vùng núi phía Bắc, được
xem là hoạt động tín ngưỡng cầu trời cho mưa thuận gió hòa, cây cối tốt tươi,
mùa màng bội thu, đời sống ấm no. Nơi tổ chức là tại những ruộng tốt nhất, to
nhất. Vẫn chưa có tài liệu nào nghiên cứu, khẳng định lễ hội này có từ bao
giờ. Nhưng chắc chắn rằng, khởi nguồn của lễ hội phải được sinh ra từ xã hội
của đồng bào vùng núi phía Bắc khi đã sống thành làng bản quần cư trong
cộng đồng.
Từ xa xưa, đồng bào miền núi phía Bắc, nhất là đồng bào Tày - Nùng,
đã sinh sống gắn bó với tự nhiên, thân thiết với bản làng, núi đồi, ruộng đồng,
nương rẫy. Cho đến ngày nay, nhiều tập quán và phong tục, nhiều ứng xử với
thế giới chung quanh vẫn còn mang đậm nét truyền thống xưa kia. Lễ hội
Lồng tồng đã có từ rất lâu đời, được truyền từ đời này sang đời khác trong
cộng đồng người dân tộc Tày, Nùng ở các tỉnh miền núi phía Bắc - Thái
Nguyên, Cao Bằng, Lạng Sơn và một số tỉnh Tây Bắc.


×