Tải bản đầy đủ (.pdf) (172 trang)

Bài tiểu luận nhóm 2: Thành phần các loại sơn

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (4.55 MB, 172 trang )

GVHD: Đào Thị Sương
Xuất Sơn

Môn: Công Nghệ Sản 

LỜI NÓI ĐẦU
Trên thế giới, công nghiệp sơn đang phát triển mạnh mẽ; nưởc ta đang 
trong quá trình công nghiệp hoả và hiện đại hoá nên cỏ nhu câu lớn về  sô 
lượng, chất lượng cũng như chùng loại sơn. Trong điêu kiện khi hậụ nhiệt  
đới âm của nước ta, các yếu tố như: độ ầm,lượng bức xạ, nòng độ muối, 
nồng độ các tạp chất CO2, SO2 ... trong không khí, sự thăng giáng nhiệt 
độ, sẽ gây ăn mòn và phả huỳ vật liệu nhanh, dân đền những thiệt hại lớn  
vê kinh tê. Chỉ với riêng kim loại, theo thống kê hàng năm, sự hao tổn kim  
loại do ăn mòn thường chiếm 1, 7  đến 4,5% GDP ở mỗi nước.
Nhiều ý tưởng và công nghệ  đang được áp dụng để  sản xuất các loại 
SCNT màng móng nhà cửa, công sở, mặt tiền cửa hàng,ô tô và nhiều sản 
phẩm khác. Người tiêu dùng, các ngành công nghiệp, các cơ  quan bảo vệ 
môi   trường   trông   chờ   nhiều   vào   loại   sơn   màng   mỏng   có   độ   dày   vào 
khoảng vài phần trăm milimets.
Bề  mặt kim loại khi được phủ  lớp sơn sẽ  cách ly với môi trường bên  
ngoài,bảo vệ ăn mòn,tăng tuổi thọ sản phẩm, làm đẹp bề mặt.
Muốn nâng cao chất lượng màng sơn thì cần có nguyền liệu, máy móc thiêt 
bị  tôt, thực hiện đủ  quy trình sản xuất và phương pháp gia công sơn cũng 
rât quan trọng, có như  vậy thì màng sơn mới tốt, đẹp, bên. Và quan trọng  
nhất đó chính là thành phần cấu tạo nên sơn.
Tiếp theo ta sẽ cùng tiềm hiểu về các thành phần của sơn.

Nhóm 2

 1



GVHD: Đào Thị Sương
Xuất Sơn

Nhóm 2

Môn: Công Nghệ Sản 

 2


GVHD: Đào Thị Sương
Xuất Sơn
Chương 2

Môn: Công Nghệ Sản 

CÁC THÀNH PHẨN CỦA SƠN

2.1. CÁC LOẠI CHẤT TẠO MÀNG
2.1.1. Dầu thảo mộc
Dầu là nguyên liệu tạo màng sử dụng sớm nhất trong công nghiệp, 
đây là nguyên liệu chính để  tạo thành sơn dầu; khi pha chế  một số  loại  
nhựa cũng dùng dầu. Dầu sử dụng trong sơn chủ yếu là dầu thực vật hay 
dầu thảo mộc.
Dầu thực vật tạo thành lớp màng mỏng trên bề  mặt sản phẩm, có  
loại tạo thành màng khô nhanh, có loại tạo thành màng khô chậm, có loại 
không tạo thành màng. Do sự  hình thành màng, có thể  phân làm ba loại: 
loại dầu tạo thành màng nhanh là dầu khô, dầu tạo màng chậm gọi là dầu 
bán khô, dầu không thể tạo màng gọi là dầu không khô.

Dầu thảo mộc là este của glyxerin với axit béo, loại triglyxerit và có 
chứa thêm một lượng rất ít các chất không béo. Thành phần của dầu biến  
đổi tuỳ  theo phương pháp sản xuất, điều kiện và thời gian bảo quản dầu  
trước khi sử dụng.
Khi nghiên cứu dầu thảo mộc cần biết rõ các hằng số lý và hoá học. 
Các hằng số lý học quan trọng là trọng lượng riêng, độ nhớt, nhiệt độ nóng  
chảy, nhiệt độ  đóng băng, hệ  số chiết quang và các hằng số hoá học chủ 
yếu là chỉ số axit, chỉ số iot, chỉ số xà phòng hoá, chỉ số axetyl...
Nước ta ở vùng nhiệt đới có nhiều loại dầu thảo mộc nên việc nghiên cứu 
về  dầu là vấn đề  quan trọng và cấp bách, giúp chúng ta bảo quản và sử 
dụng dầu được tốt.
2.1.1.1.
Các thành phần chủ yếu của dầu thảo mộc
a. Axit béo
Cấu tạo và tính chất hoá lý
Axit béo là một loại axit mạch cacbon, đơn chức, có cấu tạo thẳng.  
Axit béo trong dầu thảo mộc gồm có nhiểu loại với công thức tổng quát 
như sau:
Axit no (không có nối đôi) 
Axit không no có 1 nối dôi 
Axit không no có 2 nối dõi 
Axit không no có 3 nối dôi 
Axit không no có 4 nối đôi 
Axit khụng no có 5 nối đôi 

Nhóm 2

CnH2nO2 
CnH2n­2O2 
CnH2n­4O2 

CnH2n­6O2 
CnH2n­8O2 
CnH2n­10O2 
 3


GVHD: Đào Thị Sương
Xuất Sơn

Môn: Công Nghệ Sản 

Trong mỗi một loại dầu thảo mộc đều có chứa vài ba loại axit béo  
kể trên và bao giờ cũng có cả axit no và axit không no. Thông thường trong 
một loại dầu có một loại axit béo chủ yếu, chiếm tỷ lệ rất cao so với các 
axit béo khác trong loại dầu đó.
Bảng 2.1 và 2.2 dưới dây cho biết cấu tạo và tính chất của một số axit béo  
chủ yếu có trong các loại dầu thảo mộc.

Nhóm 2

 4


GVHD: Đào Thị Sương
Xuất Sơn

Môn: Công Nghệ Sản 

Bảng 2.1. cấu tạo và tính chất một số axit béo loại no chủ yếu
Tên gọi


Axit 
palmitic
Axit 
stearic
Axit
Arasinoic

Công   thức   cấu 
tạo

Phâ
n
tử
Kh
ối

CH3(CH2)14COO
H

256
,4

CH3(CH2),6COO
H

284
,5

CH3(CH2)

„COOH

321
,3

Tr
ọn
g

ợn
g
riê
ng,
g/c
m3
0,8
49
(70
°)
0,8
45
(70
°)
0,8
24
(10
0°)

Hệ 
số 

chiết 
quan
g, 
n200

Nhiệ
t
độ
nóng
chảy,
°c

Nhiệt
độ
sôi,
°c

Chỉ 
số 
axit

62,0

215
(15mm
)

218
,9


1,430
03
(80°)

70,5

238
(15mm
)

197
,3

1,425
0
(100°
)

75,4

328
(60mm
)

179
,6
 

1,426
99

(80°)

Tính chất vật lý của axit béo như đã kê ở bảng 2.2 phụ thuộc vào cấu tạo  
và phân tử khối.
Ở nhiệt độ thường phần lớn các axit không no ở trạng thái lỏng và các axit  
no ở trạng thái rắn. Cụ thể là các axit không no nóng chảy ở nhiệt độ thấp 
hơn nhiều so với axit no cùng có một số  nguyên tử  cacbon. Mặt khác ta 
thấy rằng độ nhớt của axit béo không no bé hơn độ nhớt của axit no và loại  
axit béo nào có phân tử  khối lớn hơn hay có chứa nhóm hydroxyl cũng có  
độ nhớt lớn hơn.
Khả năng hòa tan vào trong nước của axit béo giảm dần khi phân tử 
khối tăng lên, đó là do mạch cacbon không có cực càng dài ra mà vẫn chỉ có 
một nhóm cacboxyl ­COOH có cực thôi. Phân tử các loại axit có chứa từ 14 
nguyên tử cacbon trở lên đều không tan trong nước.
Trọng lượng riêng của axit béo đều nhỏ hơn 1, thường phân tử khối 
tăng lên thì trọng lượng riêng giảm xuống và axit béo không no có trọng  
lượng riêng lớn hơn axit no tương  ứng (cùng sổ  nguyên tử  cacbon). Khi  
đun nóng axit béo thì thể  tích giãn nở  nên trọng lượng riêng giảm xuống,  
cứ tăng nhiệt độ lên 1 độ thì trọng lượng riêng giảm xuống khoảng 0,0007  
g/cm5.

Nhóm 2

 5


GVHD: Đào Thị Sương
Xuất Sơn

Môn: Công Nghệ Sản 


Khi chưng cất  ở  áp suất thường các axit có phân tử  cao từ  Cio trở 
lên bị  phân hủy nên phải chưng cất trong chân không hay bằng hơi nước,  
nhưng dù sao các axit đó cũng bị biến đổi ít nhiều (khử nước, trùng hợp).
Tính chất hóa học của axit béo phụ thuộc vào sự có mặt của nhóm ­COOH, 
phân tử khối và mức độ không no của axit béo đó.
♦  Axit béo loại no  tương đối bền vững, khó bị  oxy hóa và không 
tham gia vào các phản ứng kết hợp trực tiếp.
Chúng có khả năng kết hợp với kim loại và dễ dàng hơn là với các oxyt và  
hydroxyt của các kim loại đó tạo thành muối. Muối với kim loại kiềm của  
axit béo hòa tan vào nước và rượu chính là xà phòng chúng ta thường dùng. 
Còn muối của axit béo với kim loại đa hóa trị  như  chì, mangan, coban thì 
hòa tan vào benzen, hydrocacbon dầu mỏ, ete và este; loại này có khả năng 
làm khô dầu nên thường dùng làm chất làm khô. Muối kiềm nóng chảy  ở 
nhiệt độ  cao hơn muối kim loại đa hóa trị, ví dụ  natri oleat nóng chảy  ở 
222° c, đồng oleat ở Ỉ00°c và chi oleat ở 80° c.
Các axit béo no còn có thể  tham gia vào phản  ứng  este  hóa, nguyên tử  H 
của nhóm cacboxyl sẽ bị thay thể bằng gốc rượu:

Đây là một phản ứng thuận nghịch. Khi có dư nước, kiềm, axit và các chất 
nhũ hóa thì phản ứng sẽ theo chiều nghịch ­  este tạo thành sẽ bị phân giải. 
Các loại este này có thể dùng làm chất hóa dẻo cho PVC.
♦ Axit béo loại không no có khả năng phản ứng mạnh hơn nhiều. Khả năng  
phản ứng phụ thuộc vào số nối đôi và phân tử khối. Các axit loại nảy đều 
có   thể   tham   gia   vảo   phản   ứng   kểt   hợp   trực   tiếp   ở   vị   trí   nối   đôi   với  
halogen, oxy, hydro.
Bảng 2. Cấu tạo về tính chất một sổ axit béo loại không no chủ yểu
Tên

Công thức cấu tạo


Axitt 
oloic

CH3(CH2)7CH=CH(CH2)7COOH

Axit 
rixinoleỉc 
(oxy axit)

CH3(CH2)5CH(OH)CH2CH
=CH(CH)7 COOH

Phân 
từ 
khối

Trọng 
lượng 
riêng 

15°c,
g/cma

Hệ   số 
chiết
Nhiệ Nhiệt 
quang t   độ  độ sôi,
n200
nóng  °c

chảy,
°c

282.4

0,898

1.4638

14,0

298.4

0,9496

1,4145
(15°)

4­5

232,5
(15mm)

Chỉ 
số 
axit Chỉ
số iot

198


89.96
85.14

188
228
(10mm)

Nhóm 2

 6


GVHD: Đào Thị Sương
Xuất Sơn
Axit
Linoleic

CH3(CH2)4CH=CHCH2CH
=CH(CH2)7COOH

Axit
linolenoic

Môn: Công Nghệ Sản 

280,4

0,9069

1,4711


­9,5

278.4

0,9046

1,4652

­11

ch3ch2ch = CHCH2CH =
CHCH2CH =
= CH(CH2)7COOH

Axit
eleostean
c

CH3(CH2)3CH = CHCH = CHCH  278,4
=
= CH(CH2)7COOH

229
(15mm)

200

181,2


202

273,8

202

181.2

230­232
(17mm)
0.9028
(50°)

1,4470

Đồng 
phân  235
α  48°  (12mm)
đồng 
phân 
β 71°

Tác dụng của halogen:  halogen kết hợp rất dễ  vào vị  trí nối đôi. 
Phản  ứng kết hợp của iot vào nối đôi là phản  ứng đặc trưng để  xác định  
chi số iot của các hợp chất không no, ví dụ:
­

CH3(CH2)7CH = CH(CH2)7COOH + I2→ CH3(CH2)7CH ­ CH(CH2)7COOH
                                                                                       │        │                      
                                                                                       I        I                  

Clo tác dụng mạnh hon nhiều và bên cạnh sản phẩm kết hợp vảo H có cả 
sản phẩm thế H.
Tác dụng của rodan (SCN)2: rodan tự do cỏ thể tồn tại trong dung dịch và 
kết hợp vào vị tri nối đôi của axit béo. Ví dụ với axit oleic 1 phân tử rodan  
kết hợp vào 1 vị tri nối đôi:  
CH3(CH2)7CH=CH(CH2)7CO OH+(SCN)2 →CH3(CH2)7CH­CH­(CH2)7COO
                                                                      ∕         \
                                                                      SCN      SCN
Rodan cỏ  tác dụng yếu hơn halogen nhưng lại có tính chất chọn lọc. Cụ 
thể  là với axit linoleic có 2 nối đôi, nhưng dù có dư  cũng chỉ  có 1 phân từ 
rodan kết hợp vào một vị trí nối đôi; axit linolenoic có 3 nối đôi nhưng chỉ 
kết hợp với 2 phân từ  rodan và đặc biệt axit eleostearic có 3 nối dôi cũng 
chì kết hợp với 1 phân từ rodan.
Như  vậy xác định chi số  iot và chỉ  số  rodan có thể  xác định được thành  
phần của hốn hợp axit béo.
Tác dụng của hydro: hydro có khả  năng kết hợp vào vị  trí nối đôi nhưng 
cần phải có điều kiện nhiệt độ cao và xúc tác là bột mịn Ni, Pt, Pd:

Nhóm 2

 7


GVHD: Đào Thị Sương
Xuất Sơn

Môn: Công Nghệ Sản 

CH3(CH2)7CH = CH(CH2)7COOH + H2 → CH3(CH2)l6COOH 
Axit oleic đã biến thành axit stearic ờ dạng rắn, vi thế dầu hydro hóa có tên  

gọi là dầu cứng. Người ta đã hydro hóa một số loại dầu thành đầu cứng để 
sản xuất xà phòng.
Đối với các axit béo không no có nhiều nối đôi thường khó hydro hóa được 
toàn bộ nên bên cạnh phản ứng hydro hóa có cả sự chuyển dịch nối đôi tạo  
thành các dồng phân.
Tác dụng cua oxy:  axit béo không no dễ  dàng bị  oxy hóa trong không khí 
tạo thảnh oxy axit.
Permanganat trong dung dịch kiềm oxy hóa axit không no thành oxy axit và  
sau đó nếu đun nóng oxy axit sẽ  biến thành xetonaxit và phân hủy thành 
axit phân tử thấp, ví dụ:
CH3(CH2)7CH=CH(CH,)7COOH→CH3(CH2)7CH(OH)CH(OH)(CH2)7COOH
→  CH3(CH2)7COOH + HOOC(CH2)7COOH (axit adelaic)
Có thể dùng phương pháp oxy hóa axit béo không no để xác định vị  trí nối 
đôi của chúng.

Nhóm 2

 8


GVHD: Đào Thị Sương
Xuất Sơn

Môn: Công Nghệ Sản 

Tác dụng của axit  sunfuric:  axit  sunfuric  tác dụng với axit béo tạo thành 
sunfoaxit.
CH3(CH2)7CH=CH(CH2)7COOH+H2S04→CH3(CH,)7CH­CH­(CH2)7COOH
                                                                                          │    │                         
                                                                                         H   OSO 3H

Khi đun sôi  sunfoaxit  với nước thì axit sunHiric thoát ra và ta có oxy axit  
tương ứng.
Các oxy axit khi đun nóng lên 280°c sẽ bị khử nước, ví dụ khi đun nóng axit 
rixinoleic:
CH3(CH2)5CH­CH2­CH = CH(CH2)7COOH →
                   │
                  OH
        →
CH3(CH2)5CH = CH­CH=CH(CH2)7COOH
Tác dụng của kiềm:  Khi đun nóng kiềm sẽ  đồng phân hóa axit béo làm 
chuyển dịch nối đôi đến gần nhóm ­COOH:
CH3(CH2)7CH = CH(CH2)7COOH + NaOH →CH3(CH2)l4CH = CH­COONa + 
H2O
Nếu tiếp tục đun nóng thì sẽ  có sự  phân hủy tạo thành hợp chất phân tử 
thấp
hơn:
CH3(CH2)14CH = CHCOONa   →    CH3(CH2)14COOH + CH3COONa
Nhưng quan trọng hơn cà là axit béo không no và este của chúng có khả 
năng trùng hợp tạo thành phân tử  lớn hơn dùng để  chế  tạo sơn, ví dụ  khi 
trùng hợp axit eleostearic ta có:
2CH3(CH2)14CH = CH­CH = CH­CH = CH­(CH2)7COOH
                 →     CH3(CHi)3CH=CH­CH­CH­CH ­ CH(CH2)7COOH
                                                           │        │                                                  
                                CH3(CH2)3 ­­­­­­CH­CH­CH = CH(CH2)7COOH 
                                                           │        │ 
                                                           CH=CH

b. Giryxerin

Nhóm 2


 9


GVHD: Đào Thị Sương
Xuất Sơn

Môn: Công Nghệ Sản 

Khi oxy hóa và đun nóng dầu thì glyxerit dễ  dàng bị  xà phòng hóa  
thành axit béo và glyxerin. Vì thế  trong công nghiệp sản xuất xà phòng 
người ta sàn xuất luôn cả glyxerin để tiết kiệm. Ở các nước có dầu mỏ và 
công nghiệp hóa chất phát triển người ta sản xuất glyxerin bằng phương  
pháp tồng hợp từ khí propylen.
Glyxerin được sử dụng nhiều trong quốc phòng, y dược. Trong ngành 
sơn glyxerin dùng để sàn xuất sơn polyeste.

Nhóm 2

 10


GVHD: Đào Thị Sương
Xuất Sơn

Môn: Công Nghệ Sản 

c. Thành phần không béo trong dầu
Các   hợp   chất   không   béo   trong   dầu   tương   đối   ít,   thường   chi   vào  
khoảng 0,1 ­ 1% trọng lượng dầu và chiếm khoảng 1 đến 5% thể tích của 

dầu. Phần lớn các hợp chất đó ưa nước nên dễ dàng tách ra khỏi dầu mỡ 
là những chất ghét nước.
Dưới đây là các hợp chất không béo thường gặp trong dầu thảo mộc.
Sáp:  sáp là este của axit béo với rượu cao phân tử, ví dụ  như  rượu  
xerilic
C26HS53OH.
Axit và rượu trong thành phần của sáp đều thuộc loại no nên chi số iot  
của sáp rất thấp, thường dưới 10.
Phosphatit: là este của glyxerin trong đó ngoài gốc axit béo có cả  gốc 
axit ortophosphoric.  Trong gốc này một nguyên tử  hydro  được thay thế 
bằng một bazơ có nitơ.
Sterin: là rượu cao phân từ  cấu tạo có nhiêu vòng và có nhánh phụ  mạch 
thẳng. Sterin từ thực vật gọi là phitosterin và Sterin từ mỡ động vật gọi là 
holesterin.
Phitosterin có trong dầu lin, dầu bông, dầu đậu nành, dầu ngô, dầu 
hướng dương và nhiều loại dầu khác.
Hàm lượng Sterin có đến một nửa trong số các chất không bị xà phòng hóa.
Chất màu:  ví dụ  như  carotin trong dầu lin, dầu  đậu nành, dầu bông và 
nhiều dầu khác, clorophin trong dầu gai...
Trong các loại chất màu cần chú ý đến chất gostipol trong hạt bông 
có độc tính và có tác dụng giảm tốc quá trình oxy hóa.
Men  là những chất tăng nhanh các quá trinh hóa học xảy ra trong cơ  thể 
động vật và trong thực vật. Loại men phổ biến là lipaza. Khi đun nóng dầu 
men mất tác dụng.
Ngoài   ra   còn   một   số   họp   chất   không   béo   khác   nữa   như   muối 
phosphat, hydrat cacbon (saccarit và tinh bột), axit hữu cơ phân từ thấp, các 
glucoz.it là hợp chất dạng este của hydrat cacbon với hợp chất hữu c ơ, các 
chất có vị và có mùi, các chất chống oxy hóa...
Như  vậy, về  tính chất hóa học, axit béo không no có nối đôi hoạt 
động mạnh hơn nhiều so với axit béo no (không có nối đôi), dễ  tham gia  

trong các phản ứng hóa học. Phản  ứng hóa học phổ  biến nhất là hấp phụ 

Nhóm 2

 11


GVHD: Đào Thị Sương
Xuất Sơn

Môn: Công Nghệ Sản 

khí oxy, có tác dụng oxy hóa, ngoài ra còn có tác dụng trùng hợp nhiều phân 
tử  của các chất không no thành một phân tử  lớn. Khi axit béo không no 
(đặc biệt axit béo có nhiều nối đôi) tạo thành màng sơn, sẽ  tiếp xúc với  
oxy không khí, đồng thời sẽ  sinh ra phản  ứng trùng hợp, màng sơn  ở  thề 
lỏng biến thành màng sơn ờ thể rán. Neu như axit béo no nhiều, phản  ứng 
oxy hóa và phản ứngtrùng hợp ít, không tạo màng.
Màng sơn khô nhanh, chậm có quan hệ với số nối dôi, hình thức cấu  
tạo nổi đôi. Số nối đôi càng nhiều, tạo màng nhanh, số nối đôi ít, tạo màng 
chậm. Hình thức cấu tạo nối dôi (­CH=CH­CH=CH­) tạo màng nhanh hơn  
cấu tạo (­CH=CH­ CHỊ­CH­CH­). Dầu trẩu và dầu đay cũng có ba nối đôi, 
nhưng hình thức cấu tạo nối đôi khác nhau nên phản ứngoxy hóa và trùng 
hợp của dầu trẩu nhanh hơn, tạo màng nhanh hơn.
Vi vậy dầu là nguyên liệu tạo thành màng sơn.
2.1.1.2. Phân loại dầu thào mộc và tính chất của dầu
Chúng ta nghiên cứu dầu thảo mộc dùng trong công nghiệp sơn nên  
cần phải chủ ý đến khả năng khô của các loại dầu đó. Việc phân loại cũng 
phải dựa vào khả năng khô đó.
Khả năng khô là do tính chất không no của axit béo trong dầu quyết  

định, vì thế thường căn cứ vào chi số iot để phân loại dầu.
Thông thường phân ra làm 3 loại dầu:
Dầu khô có chi số iot từ 130 đến 200, là loại dầu có chứa nhiều axit  
béo không no có 2, 3 nối đôi. Màng sơn khô nhanh mà lại bền, ví dụ  như 
dầu trẩu, dầu lin
Dầu bán khô có chỉ số iot từ 95 đến 130 như dầu bông, dầu ngô, dầu 
đậu nành. Loại này khô chậm, màng sơn tạo thành dễ  nóng chảy, dễ  hòa  
tan nên khi chế tạo sơn phải dùng phối hợp với dầu khô.
Dầu không khô có chỉ  số iot dưới 95 như  dầu ve, dầu dừa... không 
dùng để sản xuất sơn được.
Còn có cách phân loại dầu ti mỉ hơn dựa vào khả năng khô và tính chất kỹ 
thuật của màng sơn. Có 8 loại như sau:
a.Nhóm dầu trẩu gồm các loại dầu khô rất nhanh tạo thành màng sơn 
khá bền. Thành phần gồm chù yếu là axit béo không no có nối đôi cách một 
như  axỉt eleostearic. Dầu này có phản  ứng oxy hóa, trùng hợp vì vậy dầu  
trẩu tạo màng nhanh. Sơn chế tạo bằng dầu trẩu dẻo, chịu nước, chịu ánh 
sáng, chịu kiềm...vì vậy dầu trẩu được sử dụng rộng rãi trong sơn. Nhưng 
nếu sứ  dụng đơn độc hoặc lượng dùng nhiều thi màng sơn mất bóng, dễ 

Nhóm 2

 12


GVHD: Đào Thị Sương
Xuất Sơn

Môn: Công Nghệ Sản 

lão  hóa,   mất   tính  đàn   hồi...   Để   khắc   phục   khuyết   điểm   này,   dầu   trẩu  

thường dùng phối hợp với các loại dầu khô khác. Ở nước ta cây trẩu trồng  
được khắp nơi, quà sai, ép được nhiều dầu.
Trong nhóm này ngoài dầu trẩu còn cỏ dầu oitisic ờ Brazil.
Dầu  ữẩu chưng luyện dùng làm sơn cỏ  thể  sơn chống nước, chống  ẩm,  
sơn đồ gỗ, tàu thuyền...
b.Nhóm dầu lin gồm các loại dầu khô cũng nhanh và tạo thành màng  
sơn bền, bóng, đẹp nên cũng được dùng chù yếu để  chế  tạo sơn. Thành  
phần gồm chù yếu là axit béo không no có 2 và 3 nối đôi như  axit linoleic  
và axit linolenoic. Trong nhóm này có dầu lin, dầu perila, dầu hồ đào.
c. Nhóm dầu cẩm trướng gồm các loại dầu khô chậm nên chỉ  cỏ  thể 
phổi hợp với hai nhóm dầu kể trên mới dùng để sàn xuất sơn được. Thành 
phần  ở  đây gồm chủ  yếu là axit béo không no có l và 2 nối đôi như  axit 
oleic và axit linoleic.
Trong nhóm này có dầu cẩm trướng, dầu đậu nành, dâu hướng dương,  
dầu ngô.
Số nối đôi trong dầu đậu nành nhò, do đó tính khô kém, là loại dầu bán 
khô. Màng sơn có dầu đậu nành khó biến vàng, dùng để chế tạo sơn trăng, 
thường phối hợp với dầu trẩu.
d. Nhóm dầu oliu gồm các loại dầu khô rất chậm nên chi dùng một 
lượng rất ít phối hợp với các loại dầu khô. Thành phần gồm các loại axit  
béo không no chù yếu là có 1 nối đôi như  axit oliũ, một vài loại dầu cũng 
chứa khá nhiều axit béo không no có 2 nối đôi như axit linoleic.
Trong nhóm này có dầu ooliu, dầu bông.
đ. Nhóm dầu dừa là loại dầu không khô, trong thành phẩn hầu hết là  
axit béo loại no và có chứa lượng rất ít axit không no.
Dầu dừa chi dùng một lượng rất ít để  biến tính nhựa tổng hợp dùng  
để chế tạo sơn có màu sáng.
e. Nhóm dầu ve cũng là loại dầu không khô, trong thành phần gồm chủ 
yếu là oxy axit không no ­ axit ricinoleic và một lượng ít axit béo loại no và 
không no.

Dầu ve qua quá trình biến tính củng có thể làm thành sơn
g.Dầu đay. Sơn có dầu đay làm màng sơn có độ  khô kém hơn dầu 
trẩu, nhưng tính dẻo, tính đàn hồi, độ bền tốt hơn dầu trẩu, chịu ánh sáng 
kém, màng sơn dễ biển vàng, không thể  làm sơn trắng. Khi dùng dầu đay  
cần phài chưng luyện.

Nhóm 2

 13


GVHD: Đào Thị Sương
Xuất Sơn

Môn: Công Nghệ Sản 

h. Dầu thầu dầu là loại dầu không khô. Axit béo tạo thành dầu thầu 
dầu có nhóm (­OH), khi làm mất nước  ờ  nhiệt độ  cao, biến nó thành axit 
béo, không no. Vì vậy dầu thầu dầu sau khi xử lí biến thành dầu khô, gọi 
là dầu thầu dầu mất nước. Độ  khô của nó nhanh hơn dầu đay, màng sơn  
khò biến vàng.
Cách phân loại thứ  hai này có ti mi hơn nhưng phức tạp không cần 
thiết lắm vì chúng ta có thể gộp hai nhóm dầu trẩu và dầu lin vào loại dầu 
khô theo cách phân loại thứ nhất, gộp hai nhóm dầu cầm trướng, dầu oliu  
và dầu đay vào loại dầu bán khô và gộp hai nhóm dầu dừa, dầu ve và dầu 
thầu dầu vào nhóm dầu không khô.
Như vậy, chi cần chú ý đến cách phàn loại thứ nhất. Các loại dầu khô  
có thể dùng trực tiếp để chế tạo sơn, loại dầu bán khô dùng phối hợp với  
dầu khô để  chế  tạo sơn hay dùng trong các quá trình biến tính nhựa tồng 
hợp   chế   tạo   sơn.   Còn   loại   dầu   không   khô   không   nên   dùng   trong   công 

nghiệp sơn mà dùng vào ngành sản xuất khác, trừ dầu ve sau khi biến tính 
dùng chế tạo sơn được. 

Nhóm 2

 14


GVHD: Đào Thị Sương
Xuất Sơn

Môn: Công Nghệ Sản 

Bảng 2.3 các số liệu cần thiết về một số loại dầu thảo mộc 

Nước ta ờ  vùng nhiệt đới có rất nhiều loại dâu thảo mộc vì thê cân 
nghiên cứu phát hiện và sử dụng. Bảng 2.3 chỉ có mục đích giới thiệu một  
sô dáu đặc trưng, nhiệm vụ của chúng ta ià phải nghiên cứu, phân tích xác 
­

Nhóm 2

 15


GVHD: Đào Thị Sương
Xuất Sơn

Môn: Công Nghệ Sản 


định tính chất các loại dầu của ta rồi lập ra một bảng kê các loại dầu thào 
mộc thực tế có trong nước ta. Sau đó phân loại chúng và đặt kế  hoạch sử 
dụng chúng vào các ngành sản xuất thích hợp.

Theo GS Đặng Văn Luyến thấy có khả  năng sử  dụng được nhiều 
loại dầu thảo mộc có sẵn trong nước như sau:
­ về  loại dầu khô có khà năng sử  dụng dầu lai  Aleurites  moluccana, 
dầu gai mèo Cannabis sativa, dầu rái Dipterocarpus alatus;
­

về  các loại dầu bán khô và không khô có thể sử dụng rất nhiều loại 
dầu như dầu so Camellia sasanqua, dầu dọc Garcinia tonkinensis, dầu máu 
chó Knema corticosa, dầu mù u Calophyllum inophyllum...
­

Trong phần trên đã nói kỹ về tính chất lí hóa của các loại axit béo là thành 
phần chủ yếu  ở trong dầu,  ở đây cũng cần biết các tính chất chủ yếu của  
dầu thảo mộc để nắm vững hơn cách bảo quản và sử dụng.
Tất  cà   các   dầu  thảo  mộc   đều  nhẹ   hơn   nước   và   không  tan  trong 
nưởc. Chúng có thể  hòa tan vào ete, benzen, cloroform, dầu xăng (trừ  dầu 
ve) và  ữong một vài đung môi khác. Riêng dầu ve có khả  năng tan trong 
cồn.
­ Khi có tác dụng của kiềm dầu bị xà phòng hóa tạo thành glyxerin và  
muối của axit béo (xà phòng).
­ Khi có tác dụng của axit và men hay là khi đun nóng dầu với nước  ớ 
áp suất cao và nhiệt độ cao thì dầu bị thủy phân tạo thành glyxerin và axit  
béo tự do.
­ Khi đun nóng dầu bị  giãn nỡ  nên trọng lượng riêng giảm xuống, cứ 
tăng lên lu c thì giảm xuống 0,0007 g/cm3 và ti nhiệt của dầu lại tăng lên 
­


Nhóm 2

 16


GVHD: Đào Thị Sương
Xuất Sơn

Môn: Công Nghệ Sản 

khoảng từ  0,4 ­ 0,5 ờ 20u c lên 0,65 ­0,75 cal/g­mol ờ 280­290° c. Nhiệt ðộ 
cháy bùng của dầu trong khoảng 190 ­ 235° c.
­ Dâu dễ  bị  oxy hóa bời oxy của không khí tạo thành aldehyt và sản  
phẩm oxy hóa khác. Quá trình oxy hóa lại là một quá trình tỏa nhiệt nên  
dầu có khả năng tự bốc cháy. Vì thế cần chú ý rằng các mành giẻ rách có 
tẩm dầu loại khò nếu không giữ gìn cần thận có thể gây nên hỏa hoạn.
­ Bình thường lượng axit béo tự do trong dầu rất ít, nhưng trong nhiều  
trường hợp độ  axit của dầu có thể  tăng lên làm chậm quá trình khô và khi 
pha sơn màu axit béo tự do có thể tác dụng với bột màu bazic tạo thành xà 
phòng làm cho sơn màu dễ bị keo hóa khi bảo quản.
2.1.1.3 Làm sạch dầu
Chế tạo dầu thảo mộc cho son, chủ yếu ép từ quả. Dầu thảo mộc thô 
ngoài   thành   phần   dầu,   còn   một   số   tạp   chất   như   axit   béo   tự   do,   sáp,  
albumin, chất màu... Hàm lượng tạp chất dầu thực vật khác nhau cũng  
khác nhau. Hàm lượng tạp chất trong dầu trầu rất ít, nhưng trong dầu đay,  
dầu đậu có nhiều. Những tạp chất này có hại đối với chất lượng sơn, 
chúng làm cản trở tốc độ khô của dầu, màu sắc sơn không đẹp, tăng cường 
tính thấm nước màng sơn.
Ngoài ra, chúng còn gây khó khăn trong sản xuất: một bộ phận bị cháy 

dính vào thành tháp phản ứng, một bộ phận lẫn trong dầu, không lọc được, 
ảnh hường đến chất lượng sơn. Vì vậy để bảo đảm chất lượng son, trước  
khi sử dụng dầu thảo mộc cần phải tinh luyện dầu để khử tạp chất. Trong 
công nghiệp sơn, ngoài dầu  ừầu hàm lượng tạp chất ít, có thể  sử  dụng 
trực tiếp, còn các dầu khác phải tinh luyện mới sử dụng dược.
Các tạp chất cần tách ra đó gây nhiều tác hại đến màng sơn như:
­ các hợp chất không béo ở dạng huyền phù sẽ làm cho màng sơn kém  
đồng nhất, kém óng ánh, dể hút nước và gây khó khăn trong quá trình sản 
xuất như làm bẩn thiết bị nấu dầu;
­ các hợp chất không béo  ờ  dạng hòa tan có tính keo như  phosphatit,  
chất nhờn làm cho màng sơn dễ hút nước vi chúng là những chất ưa nước.  
Chúng dễ bị trương trong điều kiện thường nên cũng dễ làm cho màng sơn 
bị  rạn nứt. Nếu lượng phosphatit càng nhiều màng sơn càng sớm bị  hư 
hông;
­ các axit béo tự do và sàn phẩm phân hủy của chúng là axit và alđehyt 
phân từ  thấp làm giảm tổc độ  khô của màng sơn, gây hiện tượng keo hóa  

Nhóm 2

 17


GVHD: Đào Thị Sương
Xuất Sơn

Môn: Công Nghệ Sản 

với bột màu bazic (do tạo thành xà phòng) và sẽ làm giảm phẩm chất của 
màng sơn;
­ các chất màu như  clorophin, xangtophin làm cho dầu có màu thầm  

không dùng để sản xuất loại sơn trắng và loại sơn có màu sáng được.
Đối với mỗi loại hợp chất có cách xử  lí riêng, ví dụ  với axit béo thì 
trung hòa, với chất màu thì tẩy trắng, với các hợp chất keo tan trong dầu  
thi   dùng   phương   pháp   hydrat   hóa.   Nhưng   thông   thường   dùng   một   vài 
phương pháp làm sạch dầu ừong đó kết hợp xừ lí chung các loại hợp chất  
cân tách ra.
Hiện nay có các phương pháp làm sạch dầu như sau:
a.  Lắng: để  láng dầu trong thời gian lâu từ  5 ngày  ừờ  lên thì các hợp 
chất cơ  học sẽ  lắng xuống, nếu để  lâu hơn nữa khoảng I năm các chất  
albumin cũng có thể tách riêng ra.
Đây là phương pháp đơn giản nhất nhưng chậm quá nên rât ít dùng.  
Muôn cho quá trinh lắng tiến hành được nhanh hơn cần nâng cao nhiệt độ 
lên khoảng 35 ­ 45°c hay cho thêm vào vài chất rắn hoạt động bề mặt như 
đất hoạt tính.
Nếu muốn lắng nhanh mà dùng phương pháp ly tâm thì không tốt lắm  
vì các hạt bé chưa kịp đọng lại mà phải dùng phương pháp siêu ly tâm.  
Nhưng tốt hơn là nên lọc dầu qua màng lọc.
b. Xử  lí nhiệt: đun nóng dầu thật nhanh lên nhiệt độ  270 ­300°c, các 
lóp chất keo hòa tan và các chất nhờn sẽ keo tụ lại. Sau đó lắng, lọc hay ly 
tâm sẽ tách được chúng ra, thông thường đun nóng nhanh rồi lọc ly tâm.
Muốn lắng nhanh các tạp chất kể  trên thêm vào một ít đất hoạt tính  
(dưới 3%), ví dụ  khi thêm 0,25% đất hoạt tính thời gian lắng khoảng 40  
giờ, khi thêm 0,5% đất hoạt tính thời gian lắng là 38 giờ, nhưng nếu không 
thêm đất hoạt tính thì thời gian lắng phải trên 96 giờ.
Trong quá trinh xử fí nhiệt tính chất của dầu có bị  thay đổi.như  chi số 
iot giảm xuống, chì sổ axit tăng lén... Muốn cho tính chất của dầu ít bị thay 
dổi cần làm nguội dầu tương đối nhanh.
c. Hydrat hóa: là làm cho các chất keo tan trong dầu và phosphatit hấp  
phụ  nước rồi trương lên không còn khả  năng tan trong dầu là chất ghét  
nước nữa sẽ tách ra ờ dạng như bông kéo theo cả các hợp chất cơ học và  

một phần các chất màu.

Nhóm 2

 18


GVHD: Đào Thị Sương
Xuất Sơn

Môn: Công Nghệ Sản 

Thường dùng nước để hydrat hóa, ví dụ với dầu lin, dầu hướng dương 
dùng 5% nước cho vào dầu đun nóng lên 70 ­ 80°c và khuấy đều hỗn hợp  
trong 45 phút. Với dầu bông có thể dùng đến 10% nước.
Có thể  hydrat hóa liên tục bằng một luồng hơi nước (10 ­18% trọng 
lượng dầu) ở nhiệt độ 70 ­ 80°c.
Cũng có thể hydrat hóa bằng dung dịch chất điện giải, ví dụ  như  dùng 
dung dịch một số  loại muối ( 1 ­ 3 kg muối/tấn dầu) hay dùng khoảng  
0,5% axit HC1 đậm đặc, 2% axit H2S04 nồng độ 0,25%.
Cần chú ý là trong cặn dầu do lắng tự nhiên hay do xử lí dầu bằng các 
phương pháp vật lý không dùng đến hóa chất còn khá nhiều dầu cần phải  
thu hồi. Trong cặn dầu dó có khoảng 30 ­50% dầu và 40 ­48% hợp chất  
không béo. Chúng ta có thể thu hồi lại dầu trong cặn dầu đó bằng hai cách:
­ trích ly dầu ra bằng dầu xăng (không có tác dụng đến chất nhờn);
­ xà phòng hóa dầu trong cặn dầu đó thành xà phòng nổi lên trên dung 
dịch nước chứa các tạp chất.
d. Tẩy trắng bằng cách hấp phụ: là dùng đất hoạt tính để hấp phụ các  
tạp chất lẫn trong dầu. Đất hoạt tính thường dùng  ỡ  đây là loại nhôm 
silicat có ngậm nước: nAl(OH)3. mSi0 2. PH20. Thường sử  dụng loại đất 

hoạt tính nhân tạo là loại đất hoạt tính thiên nhiên xử lí bằng axit clohydric  
hay axit suníuric rồi sấy khô để tăng khả năng hấp phụ.
Mức độ  tẩy trắng phụ  thuộc vào thời gian tẩy trắng nhưng chi đến 
một giới hạn nhất định, nếu để  lâu quá mức tầy trắng sẽ  giảm xuống. 
Hàm lượng nước còn lại trong đất hoạt tính cũng có  ảnh hường đến khà 
năng tẩy trắng, nói chung cần sấy khô đất hoạt tính trước khi sử dụng.
Khi tẩy trắng như  thế  này cần chú ý đến khả  năng hấp phụ  dầu của  
đất hoạt tính làm tiêu hao dầu. Lượng dầu tiêu hao do bị hấp phụ vào đất  
hoạt tính khoảng 50 đến 100% trọng lượng đất mà khi tẩy tráng thường 
dùng lượng đất hoạt tính bằng 1,5 ­ 3,5% trọng lượng dầu cho nên lượng 
dầu tiêu hao cũng có thể  đến 1,5 ­ 3,5% là tương đối nhiều, cần phải thu  
hồi lại, có thể dùng các biện pháp sau:
­ trích ly dầu và axit béo bằng dung môi không hòâ tan các hợp chất  
không béo cũng bị đất hấp phụ, thường dùng dung môi lá dầu xăng;
­ xừ  lí đất hoạt tính đã hấp phụ  dầu bằng kiềm làm cho dầu đă bị 
hấp phụ vào đất sẽ chuyển thành xà phòng để dùng;

Nhóm 2

 19


GVHD: Đào Thị Sương
Xuất Sơn

Môn: Công Nghệ Sản 

­ dùng cả  đất hoạt tính lẫn dầu bị  hấp phụ  để  lảm matit, làm chất  
gắn...
Quá trinh tẩy trắng thực hiện như sau: đun nóng dầu lên 100 ­ 120°c và 

khuấy đều rồi cho đất hoạt tính vào, sau một thời gian nhất định dùng máy 
lọc ép tách các tạp chất và đất ra thì thu được dầu đã tẩy trắng. Nên dùng 
cách tẩy trắng trong chân không (0,8 ata) để ngăn chặn không cho dầu tiếp  
xúc với không khí dễ  bị  oxy hóa và tẩy trắng được nhanh, như  vậy cần  
phải trộn dầu với đất hoạt tính trước khi đun nóng.
Cần đặc biệt chú ý là dầu tẩy trắng bằng phương pháp này về  sau  
không nên gia nhiệt cao nữa như  trùng hợp, oxy hóa hay nấu chảy với  
nhựa. Vì quá trinh tẩy trắng chỉ thực hiện  ờ khoảng nhiệt độ 100°c không  
bảo đảm tách hết các hợp chất không béo cho nên các hợp chất này đun 
nóng  ờ  nhiệt độ  cao 250 ­ 300°c sẽ  lắng xuống, bị  phân hủy và lảm cho  
sản phẩm có màu. Do đó dầu tẩy trắng bằng phương pháp hấp phụ  chỉ 
dùng để  sản xuất sơn dầu thuần túy, không dùng để  trùng bợp sâu được; 
dầu dùng để  trùng hợp phải tẩy sạch bằng phương pháp xừ  lí nhiệt hay  
bằng kiềm.
đ. Tầy sạch bằng kiềm là dựa vào phản  ứng trung hòa axit bằng dung 
dịch kiềm trong nước. Xà phòng tạo ra không hòa tan vào dầu sẽ được tách  
ra. Các hợp chất không béo như phosphatit, chất nhờn, chất màu cũng được 
tách ra.
Thoạt tiên dung dịch xà phòng tạo thành với dầu một loại nhũ tương và  
sau khi để  lắng nhũ tương bị  phá hủy, dầu sạch nổi lên trên, còn lớp bên  
dưới là dung dịch xà phòng chứa các hợp chất không béo và kéo theo cả 
hợp chất cơ học. Muốn các tạp chất kia chóng kết tủa pha thêm vào một ít 
nước nóng hay dung dịch muối ăn.
Lượng kiềm cần dùng phải tính thật khớp với lượng axit tự do căn cứ 
vào chỉ số axit, tránh dùng dư kiềm. Nên dùng dung dịch NaOH nồng độ 10  
­ 20° Beaumé vả tiến hành ở nhiệt độ 30 ­ 80°c.
Còn có thể  tẩy sạch bằng axit hoặc dùng các chất khử, chất oxy hóa  
nhưng tốt nhất là dùng phýõng pháp phối hợp bao gồm các quá trinh hydrat  
hóa, tẩy sạch bằng kiềm và tẩy trắng bằng cách hấp phụ. Dùng phương  
pháp phối hợp để tẩy sạch dầu sẽ có được loại dầu dùng chế tạo sơn rất  

tốt Phương pháp phối hợp bao gồm các quá trinh cụ thể như sau:
­ hydrat hóa dầu bằng axit HCI nồng độ  0,25% với số  lượng 2% so 

Nhóm 2

 20


GVHD: Đào Thị Sương
Xuất Sơn

Môn: Công Nghệ Sản 

với dầu ờ nhiệt độ 30 ­50°c trong 30 ­ 40 phút;
­ trung hòa bằng dung dịch kiềm NaOH nồng độ  15° Bé  ờ  50 ­ 70°c 
trong 35 ­ 40 phút với số lượng 100 ­150% so với lí thuyết (lượng kiềm lí 
thuyết tính dựa vào chl số axit). Trung hòa xong rùa tách xà phòng tạo thành 
và sấy chân không;
­ tẩy trắng trong chân không với 2% đất hoạt tính đã sấy kỹ   ờ  95 ­  
110°c trong khoảng 1 giờ, sau đó lọc lấy dầu sạch.
Phương pháp phối hợp này có ưu điểm là tách được hoàn toàn axit béo 
tự do cũng như thành phần không béo trong dầu mà lượng dầu hao tổn lại  
ít. Nhưng có nhiều khó khán là quá trình và thiết bị phức tạp, chỉ nên dùng  
với lượng dầu cần tẩy sạch khá lớn và cần phải kiểm tra kỹ   ờ  nhiều gai  
đoạn, đặc biệt là lúc trung hòa và rửa sạch.

2.1.1.4. Lý thuyết về quá trình làm khô của dầu
Mức độ bão hòa đặc trưng bằng chỉ số iot có ảnh hưởng rất lớn  
đến khả  năng khô của dầu nhưng chỉ  hoàn toàn căn cứ  vào mức độ 
không bão hòa thì chưa đủ. Cụ  thể là axit béo từ  dầu khô có chỉ  số  iot 

lớn hơn dầu khô ban đầu nhưng không có khả  năng tạo màng trong 
điều kiện mà loại dầu khô đó có thể  tạo thành màng được. Còn phải  
chú ý đến cả loại rượu làm nhiệm vụ  este hóa axit béo không no thành 
dầu khô. ví dụ  dầu tổng hợp từ  axit không no với rượu đa chức như 
pentaerytrit dễ  khô hơn nhiều so với dầu thiên nhiên. Nhưng chỉ  rượu  
đa chức cùng không quyết định được khả  năng khô cụ  thể  là dầu oliu 
không khô thì este của axit béo trong dầu đó với pentaerytrit cũng không 
khô.
 Màng sơn bị biến màu còn do các chất bẩn nằm lẫn trong sơn bị 
oxy hóa thành những chất có màu. Người ta giải thích hiện tượng biến 
màu  ờ  chỗ  tối nhiều hơn  ờ  chỗ  có ánh sáng như  sau. Nói chung biến  
màu là do có nhóm xeton nhưng khi có tác dụng của tia từ  ngoại thì 
axeton bị phân hủy: nghĩa là trong chỗ tối axeton không bị phân hủy nên  
khả năng xuất hiện màu dễ hơn nhiều. Quá trình lão hóa nói chung kể 
cả  hiện tượng hóa giòn và hiện tượng biến màu tiến hành tương đổi 
chậm là do các phản ứng, các hiện tượng kể trên xảy ra chậm, nguyên 
nhân vì trong quá trình khô các phân tử  dầu đã kém linh động và oxy 
phân bổ  vào trong màng sơn cũng khó khăn. Cũng có thể  dùng một số 
Nhóm 2

 21


GVHD: Đào Thị Sương
Xuất Sơn

Môn: Công Nghệ Sản 

chất chống oxy hóa làm cho màng sơn ít bị  biến đổi nhưng quá trình 
khô sẽ kéo dài vì thế trong thực tế không dùng. 

2.1.1.5 các quá trình chế biến dầu 
Phương pháp chế  biến dầu phổ  biến nhất là làm đặc dầu để  chế 
tạo sơn. Đặc điểm của dầu sau khi đã làm đặc là có độ nhớt khá lớn và 
chỉ số  iot giảm xuống nhiều. Ngoài ra trọng lượng riêng và chỉ  số  axit  
của dầu đã làm đặc cũng thay đổi, có tăng lên một ít. Các loại dầu khô 
rất dễ  làm đặc lại, đặc biệt là loại dầu khô có chứa nối đôi cách một  
như  dầu trấu;  còn dầu không khô không thể  làm  đặc  được.  Có  ba 
phượng pháp làm đặc dầu là dùng nhiệt (nhiệt trùng hợp), dùng oxy  
của không khí (trùng hợp oxy hóa), dùng lưu huỳnh (trùng hợp nhờ lưu 
huỳnh). Trước khi chế biến cần phải làm sạch. 
a)

Nhiệt trùng hợp dầu 

Quá trình nhiệt trùng hợp tiến hành ở khoảng nhiệt độ 280 ­ 300°C 
cho đến khi đạt được độ  đặc mong muốn (căn cứ  vào độ  nhớt). Nếu 
dầu chưa làm sạch cần thêm ít CaO để   ổn định. Nên tiến hành nhiệt 
trùng hợp trong môi trường khí C02 hay N2 để  tránh các phản  ứng oxy 
hóa và các phản ứng phụ khác. Thời gian trùng hợp thường khá dài, có 
thể cho thêm xúc tác để rút ngắn thời gian trùng hợp như naphtenat của  
nhôm, chì, canxi oxyt, kẽm oxyt... Thử độ  đặc của dầu bằng cách lấy 
mẫu dầu để nguội rồi dùng dung môi white spirit hòa tan. Lượng dung  
môi tùy theo độ đặc của dầu ta yêu cầu. 
b)

Trùng hợp oxy hóa 

Trùng hợp oxy hóa là quá trình thổi dòng không khí hay oxy vào dầu 
đun nóng ở khoảng nhiệt độ 130 ­150° C. Phản ứng oxy hóa tỏa nhiều 
nhiệt nên dầu có khả  năng tự  bốc cháy, vì thế  cần chú ý không nâng  

nhiệt độ  lên quá 210°  C.  Dầu khô chỉ  trùng hợp đến độ  dặc 30 hay 
35%, còn dầu bán khô thì trùng hợp oxy hóa đến độ  đặc 35%.  Trong 
quá trình trùng hợp oxy hóa thì hầu hết các chỉ tiêu dầu đều bị thay đổi  
khá nhiều, đặc biệt là trọng lượng riêng, độ  nhớt và hàm lượng oxy  
axit tăng lên nhiều. Còn làm lượng peroxyt cũng như  trong quá trình  
khô, thoạt tiên tăng lên và đến một thời gian nào đó lại giảm xuống. 
Nhóm 2

 22


GVHD: Đào Thị Sương
Xuất Sơn
c)

Môn: Công Nghệ Sản 

Kết hợp lưu huỳnh vào dầu 

Phương pháp này ít dùng hơn so với phương pháp nhiệt trùng hợp  
và trùng hợp oxy hóa vì màng sơn từ dầu có kết hợp lưu huỳnh không  
sử dụng được lâu. Có thể đính lưu huỳnh vào dầu bằng s2 hay s2 Cl2. 
d). Xà phòng hóa dầu và phân riêng các axit béo 
Tiến hành xà phòng hóa đầu bằng kiềm rồi cho tác dụng xà 
phòng tạo thành với axit vô cơ để có hỗn hợp axit béo. Sau đó làm lạnh  
từ  từ  để  kết tinh axit béo loại no tách riêng ra để  dùng cho ngành xà 
phòng, còn lại là phần axit béo không no  ở  pha lỏng dùng để  sán xuất  
sơn gliphtal rất thuận tiện.Còn có phương pháp xà phòng hóa chọn lọc, 
axit béo loại no sẽ  được tách ra  ừước khỏi dầu làm cho dầu giàu hơn 
về tạo thành phần axit không no.

 đ. Chuyến hóa esíe dầu bằng rượu đa chức 
Quá trình chuyển hóa este các triglyxerit của dầu là quá trình thay 
thế  một phần hay toàn bộ  glyxerin bằng rượu khác, axit béo bằng axit 
khác hay là đồng thời thay thế  một phần glyxerin, một phần axit béo 
bằng rượu và axit khác.Thực hiện chuyển hóa este bằng phương pháp 
rượu hóa hay axit hóa.
e). Quá trình khứ nước dầu ve 
Dầu ve chứa đến 80 ­90% triglyxerit của axit rixinoleic:
CH3(CH2)s ÇH ­ CH2 ­ CH = CH ­ (CH2)7 ­ COOH OH 
Khi đun nóng ờ nhiệt độ  trên 200°C và cỏ  xúc tác dầu ve bị khử 
nước, một phân tử nước thoát ra và xuất hiện thêm một nối đôi.

Nhóm 2

 23


GVHD: Đào Thị Sương
Xuất Sơn

Môn: Công Nghệ Sản 

 
2.1.1.6. Các quá trình biến tính dầu 
a. Biến tính dầu bằng cmhydrit maleic 
Người ta chế biến dầu với 2 ­ 10% anhydrit maleic với mục đích  
tăng nhanh tốc độ trùng hợp các loại dầu có chứa axit béo không no đó: 
quá trình này có thể gọi là quá trình maleic hóa. 

b. Biến tính dầu bằng styrol 

Có thể  biến tính dầu bằng styrol trong nhiều  điều kiện khác 
nhau: trộn hợp dầu với styrol­monome không cần dung môi hoặc là 
thêm dung môi xylen; có thề thêm chất giảm tốc độ trùng hợp (phenol, 
lưu huỳnh, metylstyrol...) hay không cũng được. Lượng styrol dùng để 
biến tính tùy theo yêu cầu về  tính chất của sản phẩm nhưng thường  
không được quá 45% hỗn hợp dầu và styrol. Nhiều loại dầu có khả 
năng biến tính bằng styrol ở dạng chưa trùng hợp hoặc ở dạng đã trùng  
hợp hay oxy hóa một phần.
2.1.2. Nhựa thiên nhiên 
Nhựa là hợp chất hữu cơ  có phân tử  khối lớn. Nhựa có thể  hòa  
tan trong dung môi hữu cơ, không hòa tan trong nước. Khi hòa tan nhựa 
trong dung môi hữu cơ, quét lên bề mặt sản phẩm, dung môi bay hơi sẽ 
hình thành màng cứng, trong suốt. 
Nhóm 2

 24


GVHD: Đào Thị Sương
Xuất Sơn

Môn: Công Nghệ Sản 

Nhựa chia làm ba loại: nhựa thiên nhiên, nhựa nhân tạo được chế 
biến từ hợp chẩt cao phân từ thiên nhiên và nhựa tổng hợp chế biến từ 
nguyên liệu công nghiệp hóa học. 
2.1.2.1. Nhựa thông 
Ở nước ta nhựa thông lấy từ mù cây thông Pinus merkusii Jungh 
(thông hai lá) hay Pinus mossoniana (thông tàu). Mủ thông khi mới phây 
ra khỏi vỏ  cây thông là một chất lỏng nhớt màu sáng, nhưng qua một  

thời gian thì đặc dần lại và xuất hiện các tinh thể axit nhựa.

Nhóm 2

 25


×