Tải bản đầy đủ (.pdf) (7 trang)

Căng thẳng tâm lí của học sinh trung học phổ thông trước khi có thiên tai

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (99.38 KB, 7 trang )

JOURNAL OF SCIENCE OF HNUE
Educational Sci., 2015, Vol. 60, No. 8, pp. 118-124
This paper is available online at

DOI: 10.18173/2354-1075.2015-0152

CĂNG THẲNG TÂM LÍ CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
TRƯỚC KHI CÓ THIÊN TAI
Trần Thị Lệ Thu, Nguyễn Hữu Hạnh
Khoa Tâm lí - Giáo dục học, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
Tóm tắt. Bài báo tóm tắt thực trạng biểu hiện và mức độ căng thẳng tâm lí của học sinh
trung học phổ thông Huyện Văn Chấn- Yên Bái trước khi có thiên tai; phân tích những nhân
tố tác động tới thực trạng này; đồng thời khái quát một số đề xuất nhằm góp phần phòng
ngừa và giảm bớt căng thẳng tâm lí của học sinh trung học phổ thông trước khi có thiên tai.
Từ khóa: Học sinh trung học phổ thông, thiên tai, căng thẳng tâm lí, trước thiên tai, ứng
phó với thiên tai.

1.

Mở đầu

Cho đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu về tâm lí của cư dân nói chung và tâm lí
của học sinh trung học phổ thông (THPT) nói riêng ở các vùng có nguy cơ thiên tai cao nhằm tìm
ra những đặc điểm tâm lí đặc thù của nhóm cư dân này; trên cơ sở đó xây dựng chương trình hỗ trợ
tâm lí nhằm chuẩn bị tốt cho cư dân trong việc chuẩn bị ứng phó với thiên tai và giải quyết những
khó khăn, căng thẳng, khủng hoảng tâm lí trước, trong và sau thiên tai.
Hiệp hội Chữ thập đỏ và Trăng lưỡi liềm đỏ quốc tế (IFRC) và hội chữ thập đỏ Việt Nam
trong nhiều thập kỉ qua đã nhận thấy nhu cầu cần hỗ trợ tâm lí của người dân, đặc biệt là của các
em học sinh THPT ở những vùng trọng điểm thiên tai là rất cấp thiết. Đặc biệt trong công tác
phòng ngừa và cứu trợ những vùng thường có thiên tai, thảm họa xảy ra thì nhu cầu hỗ trợ tâm lí
luôn hiển hiện; trong khi đó hội mới chỉ tập trung chính vào việc đáp ứng về lương thực, vệ sinh,


cơ sở vật chất.
Để có một sức khỏe cân bằng và lành mạnh, cư dân nói chung và học sinh THPT nói riêng
cần khỏe cả về thể chất và tinh thần, chính vì vậy nếu chỉ quan tâm về lương thực, chỗ ở và vệ sinh
thì chưa đủ; thực tế trước, trong và sau thiên tai nhiều người sống với những căng thẳng và thậm
chí là những khủng hoảng tinh thần nặng nề, một số người do không được trợ giúp kịp thời có thể
tự tử hoặc mắc chứng trầm cảm nặng, v.v. Nhiều trẻ em trước, trong và sau thiên tai vẫn mang
trong mình nỗi hoảng sợ, ảnh hưởng tới việc hội nhập của em vào trường học và cộng đồng.
Chính vì vậy nghiên cứu thực trạng căng thẳng tâm lí của học sinh THPT trước khi có thiên
tai, trên cơ sở đó tìm ra những biện pháp phòng ngừa và can thiệp căng thẳng tâm lí trước thiên tai
cho học sinh THPT là việc làm mang tính nhân văn và rất cần thiết.
Nghiên cứu của chúng tôi tập trung tìm hiểu lí luận và thực trạng căng thẳng tâm lí của học
sinh THPT huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái. Trên cơ sở đó đề xuất một số một số biện pháp giúp
các em nhận biết và phòng tránh những căng thẳng tâm lí có hại do ảnh hưởng bởi thiên tai.
Ngày nhận bài: 15/10/2014. Ngày nhận đăng: 15/7/2015.
Liên hệ: Trần Thị Lệ Thu, e-mail:

118


Căng thẳng tâm lí của học sinh trung học phổ thông trước khi có thiên tai

2.
2.1.

Nội dung nghiên cứu
Thiên tai và mức độ thiệt hại về vật chất do thiên tai gây ra

Qua khảo sát chúng tôi nhận thấy ba loại hình thiên tai này thường xảy ra nhiều hơn so với
loại hình thiên tai khác tại huyện Văn Chấn, Tỉnh Yên Bái là: sạt lở đất, bão và rét hại. Các khách
thể tham gia khảo sát cho biết những loại hình thiên tai này xảy ra thường rất nghiêm trọng, cư dân

và học sinh luôn phải cố gắng ứng phó và thường gặp nhiều khó khăn.
Bảng 1. Mức độ thiệt hại về vật chất do thiên tai gây ra (giáo viên đánh giá)
Sạt

Sương Lốc
Ngập Hạn Rét
Bão
lở
quét
muối xoáy
lụt
hán
hại
đất
Số lượng
20
20
20
20
20
20
20
20
Không nghiêm trọng (%)
0
0
0
5,0
0
5,0

0
5,0
Ít nghiêm trọng (%)
5,0
5,0
15,0 20,0
10,0
20,0 15,0
0
Nghiêm trọng (%)
50,0 65,0 85,0 45,0
60,0
60,0 65,0 75,0
Rất nghiêm trọng (%)
45,0 30,0
0
30,0
30,0
15,0 20,0 20,0
Điểm trung bình
3,40 3,25 2,85 3,00
3,20
2,85 3,05 3,10
Độ lệch chuẩn
0,598 ,550 0,366 ,8580 0,615 ,745 0,604 ,640

Mưa
đá
20
0

25,0
55,0
20,0
2,95
0,683

Thiệt hại về vật chất do thiên tai gây ra được đánh giá nhiều nhất ở mức độ “nghiêm trọng”,
trong đó cao nhất là “sương muối” chiếm 85%, điểm trung bình = 2,85; tiếp theo là “rét hại” chiếm
75% với điểm trung bình = 3,10; “hạn hán” chiếm 65% với điểm trung bình = 3,05; sau cùng là
bão, ngập lụt, mưa đá, lũ quét và lốc xoáy.
Ở mức độ thiệt hại “rất nghiêm trọng” do các loại hình thiên tai gây ra tương đối nguy hiểm
cho huyện Văn Chấn là: lũ quét (45%), sạt lở đất, lốc xoáy và bão là 30%. Đây là những loại hình
thiên tai khi xảy ra thường gây thiệt hại nhiều đến của cải vật chất của người dân huyện Văn Chấn.
Kết quả nghiên cứu trên học sinh THPT và giáo viên cho thấy, mức độ nhận thức về thiệt
hại của cải vất chất do thiên tai theo nhận định của học sinh cao hơn giáo viên; mức độ cao nhất
theo ý kiến của học sinh là “rất nghiêm trọng” và giáo viên là “nghiêm trọng”.
Nhìn chung ý kiến của cả giáo viên và học sinh đều cho rằng mức độ thiệt hại do thiên tai
gây ra ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống cư dân ở đây.

2.2.

Thực trạng biểu hiện và mức độ căng thẳng tâm lí của học sinh THPT Văn
Chấn tỉnh Yên Bái

2.2.1. Biểu hiện về thể chất
Về mặt thể chất, các biểu hiện như “đổ mồ hôi”- chiếm 24%, “tức ngực khó thở”- 10,5%,
“tay chân run rẩy- 22,5%, “tim đập nhanh”- 71,5%, “bụng cồn cào”- 15,5%, “có dấu hiệu tăng
huyết áp”- 28,5%. Những biểu hiện này chiếm tỉ lệ không nhỏ nhưng thực sự cần qian tâm kịp
thời.
Có 9 học sinh trong tổng số 200 em biểu hiện căng thẳng ở thể chất “kéo dài vài tháng”. Số

học sinh này cần được hỗ trợ tư vấn kịp thời, giúp các em nhận ra vấn đề về căng thẳng. Tình trạng
căng thẳng này kéo dài thường dẫn đến nguy cơ bệnh lí là khá cao.
Phỏng vấn sâu 4 trường hợp chọn ngẫu nhiên, các em cũng chia sẻ về những biểu hiện căng
119


Trần Thị Lệ Thu, Nguyễn Hữu Hạnh

thẳng của mình trước thiên tai. Em Nguyễn Thị N. K: “khi biết thông tin có thiên tai sắp đến em
thấy thực sự hoang mang, có dấu hiệu đau cổ, đau lưng, đau bụng. Trong đó đau lung và đau cổ
kéo dài đến vài tuần, em thực sự mệt mỏi, không muốn làm gì”. Em Đinh Thị G L: “Em thấy chút
thay đổi về cơ thể như tim đập nhanh, bụng cồn cào, cảm giác cũng khó diễn tả lắm”. Em Nguyễn
T C: “Tim em cứ đập thình thịch, chóng mặt”. Em Mai L H: “Em thấy tim em đập nhanh hơn mọi
khi, tay chân run rẩy như bị lạnh”.
Từ thực trạng biểu hiện về thể chất cho thấy mỗi học sinh cần phải chú ý phát hiện và kiểm
soát căng thẳng có thể xảy nhằm duy trì cuộc sống cân bằng trước, trong và cả sau thiên tai.

2.2.2. Biểu hiện về tâm lí
Về mặt nhận thức, chúng tôi khảo sát 10 biểu hiện, bao gồm: Cảm thấy mất phương hướng,
mất lòng tin và thường nghi ngờ, có những suy nghĩ tiêu cực, hay suy nghĩ lung tung, học bài mà
chẳng hiểu gì, tâm trí không được sáng suốt (khó tập trung) khi làm việc, suy nghĩ chậm, phán
đoán không chính xác, trí nhớ giảm sút, khả năng đánh giá vấn đề kém và chậm chạp hơn mọi khi.
Trong số này những biểu hiện nhiều em trải nghiệm nhất là “học bài mà chẳng hiểu gì”
(72%), “tâm trí không được sáng suốt (khó tập trung) khi làm việc” (73%), “hay suy nghĩ lung
tung” (55,5), “suy nghĩ chậm” (54%), “đánh giá vấn đề kém, chậm chạp hơn mọi khi” (53%), “có
những suy nghĩ tiêu cực” (51%).
Bảng 2. Biểu hiện căng thẳng ở mặt nhận thức
Biểu hiện
Cảm thấy mất phương hướng
Mất lòng tin và thường nghi ngờ

Có những suy nghĩ tiêu cực
Hay suy nghĩ lung tung
Học bài mà chẳng hiểu gì
Tâm trí không được sáng suốt (khó tập trung) khi làm việc
Suy nghĩ chậm
Phán đoán không chính xác
Trí nhớ giảm sút
Khả năng đánh giá vấn đề kém, chậm chạp hơn mọi khi

Số lượng (%)

Không
28
14
51

72
86
49

55,5
72

44,5
28

73
54
47


27
46
53

43
53

57
47

Nhìn chung, cả 10 biểu hiện căng thẳng về nhận thức đều xuất hiện, trong đó có 8/10 biểu
hiện với tỉ lệ cao từ 43% đến 72%; 2/10 biểu hiện còn lại cũng chiếm một tỉ lệ nhất định (14% và
28%).
Về mặt cảm xúc, những biểu hiện mà học sinh hay gặp phải khi bị căng thẳng là “bồn chồn,
lo lắng và sợ hãi” (76%), “hồi hộp” (58,5%), “sợ phải nghỉ học để lo lắng cho gia đình” (62,5%),
và “lo cho gia đình, người thân” (88%).
Những biểu hiện không đặc trưng về mặt cảm xúc khi học sinh bị căng thẳng là “dễ nổi
nóng” (72%), “không hài lòng bản thân “ (81,5%) và “muốn khóc” (72%).
Như vậy, cả 11 biểu hiện căng thẳng về cảm xúc cũng đều chiếm một tỉ lệ đáng kể, đặc biệt
có 8/11 biểu hiện xuất hiện với tỉ lệ cao từ 42,5%- 88%.

120


Căng thẳng tâm lí của học sinh trung học phổ thông trước khi có thiên tai

Bảng 3. Biểu hiện căng thẳng ở mặt cảm xúc
Số lượng (%)
Biểu hiện


Không
Bồn chồn, lo lắng và sợ hãi
76
24
28
72
Dễ nổi nóng
Buồn bã
42,5
57,5
Chán nản
43,5
56,5
Hồi hộp
58,5
41,5
Không hài lòng bản thân
18,5
81,5
Muốn khóc
28
72
Sợ phải nghỉ học để lo lắng cho gia đình
62,5
37,5
Sợ nghĩ về tương lai
51
49
Lo cho gia đình, người thân
88

12
Chán học tập cũng như lao động
48,5
49,5
Những biểu hiện căng thẳng về mặt hành vi nhiều nhất là “Hạn chế tham gia hoạt động
cùng bạn bè” (68,5%). Những biểu hiện không xuất hiện khi bị căng thẳng như: Thích ngồi một
mình (65%), ngại tiếp xúc mọi người (80,5), nói năng lung tung (84%), ăn quá nhiều (89,5%), và
Sử dụng chất kích thích (94%).
Bảng 4. Biểu hiện căng thẳng ở mặt hành vi
Số lượng (%)
Biểu hiện

Không
Hạn chế tham gia hoạt động cùng bạn bè
68,5
31,5
Thích ngồi một mình
35
65
Ngại tiếp xúc mọi người
19,5
80,5
Nói năng lung tung
16
84
Ăn quá nhiều
10,5
89,5
Sử dụng chất kích thích (rượu, bia, thuốc lá...)
6

94
Tổng hợp kết quả biểu hiện căng thẳng về tâm lí của học sinh THPT trước thiên tai cho thấy
tất cả các biểu hiện về nhận thức, cảm xúc và hành vi đều xuất hiện; trong đó xuất hiện rõ nét nhất,
với tỉ lệ khá cao là biểu hiện về nhận thức và cảm xúc; biểu hiện chủ yếu về hành vi là “Hạn chế
tham gia hoạt động cùng bạn bè” và “Thích ngồi một mình”.

2.2.3. Mức độ căng thẳng tâm lí của học sinh
Trong tổng số 200 khách thể nghiên cứu có 134 học sinh (67%) cho rằng mình bị “căng
thẳng”. Mức độ này chiếm tỉ lệ cao nhất trong tổng số 200 khách thể. Tiếp đến là mức “rất căng
thẳng” (22,5%). Những học sinh ở mức độ này nếu không có hỗ trợ về căng thẳng thì sẽ gây ảnh
hưởng xấu tới đời sống của các em, nhất là sức khỏe. Mức thứ ba là “ít căng thẳng” (10,5%).
Nhìn chung ở học sinh THPT có mức độ căng thẳng khác nhau. Trong đó mức độ “căng
thẳng” chiếm tỉ lệ cao nhất và thấp nhất là mức độ “ít căng thẳng”. Điểm trung bình (1,88) cho
thấy mức độ căng thẳng của học sinh nằm trong nhóm mức độ 2 (căng thẳng) và so sánh độ lệch
chuẩn là .563.
121


Trần Thị Lệ Thu, Nguyễn Hữu Hạnh

Như vậy mức độ “căng thẳng” của các em trước thiên tai chiếm tỉ lệ lớn nhất là 134 ý kiến
chiếm 67% trong tổng số 200 ý kiến của học sinh; mức độ “rất căng thẳng” là 45 ý kiến chiếm
22,5% và mức độ “ít căng thẳng” chiếm 10,5%.
Bảng 5. Mức độ căng thẳng tâm lí trước thiên tai của học sinh THPT
Điểm
Độ lệch
Mức độ
Số lượng
Tổng (%)
Thứ bậc

trung bình
chuẩn
Rất căng thẳng
45
22,5
2
Căng thẳng
134
67,0
1
1,88
0,563
21
10,5
3
Ít căng thẳng
Tổng
200
100,0
Kết quả so sánh mức độ căng thẳng giữa nam và nữ cho thấy mức độ “ít căng thẳng”, “căng
thẳng”, “rất căng thẳng” giữa nam và nữ có khác biệt nhất định. Mức độ “rất căng thẳng” của nam
là 20% và nữ là 25,3%, ở nữ giới chiếm tỉ lệ cao hơn nam giới là 5,3%. Ở mức độ “căng thẳng”
của nam (64,8%) cũng chiếm tỉ lệ thấp hơn nữ (69,5%) và ở mức độ “bình thường” ở nam giới là
15,2% còn nữ giới là 5,3%. Đây là mức độ chênh lệch cao nhất giữa nam và nữ (9,9%).

2.3.

Nhân tố tác động gây căng thẳng tâm lí của học sinh THPT Văn Chấn tỉnh
Yên Bái


Bảng 6. Các tác nhân gây ra căng thẳng cho học sinh THPT Văn Chấn
Mức độ ảnh hưởng
Không
Rất
Độ
Ít ảnh
Ảnh
Tổng
ảnh
ảnh
Tác nhân
lệch
hưởng hưởng
hưởng
hưởng (mean) chuẩn
(%)
(%)
(%)
(%)
Chưa hiểu hết mức độ ảnh hưởng của
7.5
27.5
56.5
8.5
2.66
.740
thiên tai
Chưa biết cách ứng phó với thiên tai
8.5
15

58
18.5
2.87
.812
Không quan tâm tin tức, dự báo thời tiết
8.5
19.5
52
20
2.84
.843
Chưa phối hợp với các cơ quan chức
11.5
23.5
40.5
24.5
2.78
.947
năng xã
Xem nhẹ thiên tai
10.5
17
35.5
37
2.99
.982
Quá lo lắng và sợ hãi về thiên tai
11.5
20
49.5

19
2.76
.892
Thiếu kinh nghiệm đã từng trải qua
7.5
21
50
21.5
2.86
.841
thiên tai trước đây
Cán bộ xã, những người có thẩm quyền
6.5
18
53.5
22
2.92
.926
chưa quan tâm đến các em về về thiên
tai
Truyền thông liên lạc còn hạn chế
9
17
53
21
2.86
.851
Cán bộ chưa có chuyên môn cao về
6.5
18

53.5
22
2.92
.926
thiên tai
122


Căng thẳng tâm lí của học sinh trung học phổ thông trước khi có thiên tai

Lo lắng về cuộc sống sau cơn bão xảy
ra
Sợ phải di chuyển đến nơi khác tránh
bão
Sợ không có gì ăn sau cơn bão đi qua
Sợ cái chết
Sợ nghèo đói sau thiên tai
Sợ bệnh tật
Lo lắng bị chia cắt người thân (mất
người thân)
Nghĩ quá nhiều đến những hậu quả xấu
mà thiên tai có thể đem lại
Không có khả năng đưa ra quyết định
Nhà trường không quan tâm về thiên tai
Chứng kiến bạn bè lo lắng
Chứng kiến những người thân quá lo
lắng

6.5


22.5

51.5

19.5

2.84

.811

8

23.5

53

15.5

2.76

.810

9.5
10
10
8.5

25
21
23

22.5

44
39
40.5
40.5

21.5
30
26.5
28.5

2.78
2.89
2.84
2.89

.894
.950
.934
.918

5.5

10

34

50.5


3.30

.861

14

36

40

10

2.46

.856

20.5
11.5
15.5

28.5
29
30.5

38
35
42.5

13
24.5

11.5

2.44
2.73
2.50

.959
.961
.891

10.5

19.5

46

24

2.84

.912

Nhân tố tác động gây ra căng thẳng nhiều nhất theo học sinh bao gồm: “Xem nhẹ thiên tai”
(37%) với điểm trung bình = 2,99, “Lo lắng người thân bị chia cắt” (50,5%) với điểm trung bình
= 3,30. Tiếp đến là các tác nhân gây căng thẳng như “Chưa biết cách ứng phó với thiên tai” với
ĐTB= 2,87, “Chưa hiểu hết mức độ ảnh hưởng của thiên tai” với ĐTB = 2,66, “Thiếu kinh nghiệm
đã từng trải qua thiên tai trước đây” với ĐTB= 2,86, “Sợ cái chết” với ĐTB = 2,89, “Cán bộ chưa
có chuyên môn cao về thiên tai” với ĐTB = 2,92, “Cán bộ xã, những người có thẩm quyền chưa
quan tâm đến các em về về thiên tai” với ĐTB = 2,92 và các nguyên nhân khác.


3.

Kết luận

Huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái thường có các loại hình thiên tai: lũ quét, sạt lở đất, sương
muối, lốc xoáy, bão, ngập lụt, hạn hán, và rét hại. Học sinh cho rằng thiệt hại về vật chất do thiên
tai là nhiều và cao hơn giáo viên. Các biểu hiện căng thẳng tâm lí chủ yếu của học sinh về thể chất
là: (1) cơ thể mệt mỏi chán ăn, (2) chóng mặt,(3) đau đầu, đau ngực, (4) khó thở, (5) tay chân run
rẩy, (6) có dấu hiệu tăng huyết áp. Về tâm lí, các biểu hiện chủ yếu là: (1) nhận thức- cảm thấy
mất phương hướng, mất lòng tin, hay suy nghĩ lung tung, suy nghĩ chậm, khả năng đánh giá vấn
đề kém; (2) Cảm xúc- bồn chồn, lo lắng và sợ hãi, buồn bã, chán nản, sợ phải nghỉ học để lo cho
gia đình, sợ nghĩ về tương lai; (3) Hành vi- hạn chế tham gia hoạt động cùng bạn bè, sử dụng chất
kích thích, thích ngồi một mình.
Đa số học sinh tự đánh giá mình thuộc mức “căng thẳng” tâm lí trước thiên tai đa số. Mức
độ “rất căng thẳng” và “căng thẳng” ở học sinh nữ chiếm tỉ lệ lớn hơn học sinh nam.
Những cách các em ứng phó với thiên tai chủ yếu là những Trao đổi với mọi người trong
gia đình và chuẩn bị sẵn sàng cách ứng phó thiên tai, giải thích với các thành viên trong gia đình
những nguy cơ có thể gặp phải, tham gia vào công việc chuẩn bị tình huống khẩn cấp, Theo dõi và
thực hiện các chỉ dẫn của chính quyền địa phương, thu thập thông tin về thiên tai.
Đa số học sinh có nhu cầu được cung cấp thông tin đầy đủ về thiên tai, được dạy các kiến
thức về thiên tai và các kĩ năng về phòng chống thiên tai.
123


Trần Thị Lệ Thu, Nguyễn Hữu Hạnh

Một số khuyến nghị:
Dựa trên kết quả nghiên cứu lí luận và thực tiễn chúng tôi có một số khuyến nghị với học
sinh THPT, Trường THPT huyện Văn Chấn tỉnh Yên Bái, giáo viên và phụ huynh học sinh Trường
THPT huyện Văn Chấn, Tỉnh Yên Bái như sau:

Học sinh THPT huyện Văn Chấn nên tích cực tìm hiểu thông tin, tham gia các hoạt động
và cần được trang bị kiến thức, kĩ năng ứng phó trước thiên tai, trong thiên tai và sau thiên tai để
có thể có những cách ứng phó và hỗ trợ kịp thời. Các em và gia đình cần có sự thống nhất về cách
phòng chống thiên tai. Các gia đình có thể cùng trao đổi để cũng chia sẻ kinh nghiệm, kiến thức
và cách phòng chống căng thẳng trước thiên tai.
Nhà trường cũng nên tổ chức các khóa học nhằm rèn luyện kĩ năng ứng phó với căng thẳng
trước, trong và sau thiên tai cho mỗi học sinh. Tổ chức tham vấn cá nhân, tham vấn nhóm nhằm
phát hiện sớm, phòng ngừa và can thiệp căng thẳng tâm lí trước, trong và sau thiên tai cho học
sinh.
Các cấp chính quyền địa phương, các cơ quan đoàn thể nên tuyên truyền, phổ biến thông
tin, kiến thức liên quan tới phát hiện, phòng ngừa và can thiệp tâm lí cho học sinh THPT trước,
trong và sau thiên tai. Tuyên truyền bằng mọi phương tiện như internet, sách, báo, loa, đài, tập
huấn,...
Lời cảm ơn. Nghiên cứu này được tài trợ bởi Quỹ phát triển khoa học và công nghệ quốc
gia (NAFOSTED) trong đề tài mã số VI.1.1-2012.14.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1]
[2]
[3]
[4]
[5]
[6]
[7]
[8]

Đỗ Lệ Hằng, 2013. Căng thẳng tâm lí của học sinh THPT. Luận án tiến sĩ, Học viện Khoa
học xã hội.
Phan Thị Mai Hương, 2007. Cách ứng phó của trẻ vị thành niên với hoàn cảnh khó khăn.
Nxb Khoa học Xã hội, Việt Nam.
Nguyễn Thành Khải, 2001. Nghiên cứu stress ở cán bộ quản lí. Luận án Tiến sĩ Khoa Tâm lí

Giáo dục, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội.
/>˜
/> />www.redcross.org.vn/
www.biendoikhihau.gov.vn/
ABSTRACT
Psychological stress in high school students before natural disasters occur

This article summarize and analyzes the psychological stress levels of high school students
in Van Chan-Yen Bai before natural disasters occur. The information is the result of a survey
conducted to learn what causes psychological stress before natural disasters occur. A summary is
presented which proposes ways to prevent and reduce psychological stress in high school students
of Van Chan-Yen Bai before natural disasters occur.
Keywords: High school students, natural disaster, psychological stress, before the natural
disasters occur, coping with a natural disaster.

124



×