Tải bản đầy đủ (.pdf) (19 trang)

Sáng kiến kinh nghiệm: Một số biện pháp rèn luyện kĩ năng đọc diễn cảm cho học sinh lớp 4

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (560.67 KB, 19 trang )

UỶ BAN NHÂN DÂN HUYỆN NHƯ THANH
PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM:
“MỘT SỐ BIỆN PHÁP RÈN LUYỆN KĨ NĂNG ĐỌC DIỄN 
CẢM CHO HỌC SINH LỚP 4”

      
                   
                   
                   
                     HỌ VÀ TÊN:       VŨ THỊ MAI 
                     CHỨC VỤ   :        GIÁO VIÊN
                     ĐƠN VỊ CÔNG TÁC :  TRƯỜNG TIỂU HỌC THANH  TÂN 
I
                      SKKN THUỘC MÔN:       TIẾNG VIỆT

                                                          

1


S¸ng kiÕn kinh nghiÖm thuéc n¨m häc: 2010 - 2011

A. ĐẶT VẤN ĐỀ
I. LỜI MỞ ĐẦU:
Tập đọc là một phân môn của chương trình tiếng Việt bậc Tiểu học. 
Đây là một phân môn có vị trí đặc biệt quan trọng trong chương trình Tiếng  
Việt vì nó đảm nhiệm việc hình thành và phát triển cho học sinh kĩ năng 
đọc, một kĩ năng quan trọng hàng đầu của học sinh bậc Tiểu học.
Biết đọc ( đọc đúng, đọc nhanh, đọc hiểu, đọc diễn cảm) giúp các 


em học sinh có khả  năng tiếp nhận kiến thức lên nhiều lần, giúp học sinh  
phát triển tư duy, hình thành các phẩm chất tốt đẹp như : yêu cái thiện, cái 
đẹp, phê phán cái xấu, cái ác...Từ đây, các em biết tìm hiểu, đánh giá cuộc  
sống, nhận thức các mối quan hệ  tự  nhiên, xã hội, tư  duy; có những rung 
động tình cảm và nảy nở nhiều ước mơ tốt đẹp trong cuộc sống,...
Đọc tốt, giúp các em học tốt các môn học khác và sử  dụng được 
nhiều nguồn thông tin quan trọng, bổ  ích, lí thú. Do đó, đọc trở  thành một 
đòi hỏi cơ bản đầu tiên  đối với  mỗi học sinh. Việc dạy đọc có hiệu quả 
là một trong các yêu cầu cần thiết. Tuy vậy, qua thực tế  giảng dạy  ở 
trường Tiểu học Thanh Tân 1, tôi nhận thấy rằng: việc dạy đọc (đặc biệt 
là phần luyện đọc diễn cảm) bên cạnh những thành công, còn gặp không ít 
những khó khăn và hạn chế. Kết quả  đọc của các em còn thấp, chưa đáp  
ứng được yêu cầu của việc hình thành kĩ năng đọc. Ngay cả với đối tượng 
học sinh lớp 4 ­ là lớp mở  đầu cho giai đoạn thứ  hai của bậc Tiểu học,  
nhưng còn nhiều em đọc bài chậm và sai lỗi, số  lượng học sinh biết đọc  
diễn cảm rất ít…Bên cạnh đó, một số  giáo viên còn lúng túng khi hướng 
dẫn học sinh rèn đọc phần luyện đọc diễn cảm, nên còn đặt ra nhiều câu 
hỏi như: cần đọc bài tập đọc với giọng như  thế  nào? Làm thế  nào để  các 
em đọc hay, diễn cảm hơn? Khi đọc diễn cảm một bài văn, bài thơ, một  
câu chuyện, đọc lời tác giả, lời nhân vật phải đọc như thế nào? Làm sao để 
những gì đọc được tác động vào chính cuộc sống của các em.v.v...Đó cũng 
là những câu hỏi còn trăn trở  của nhiều giáo viên khi giảng dạy phân môn 
Tập đọc ở Tiểu học. Chính vì vậy, nhằm bổ trợ thêm kiến thức về chuyên  
môn   nghiệp   vụ   cho   mình   trong   quá   trình   dạy   nói   chung,   dạy   học   môn 
Tiếng Việt  ở  Tiểu học nói riêng, tôi đã lấy việc tìm hiểu: “ Một số  biện 
pháp rèn luyện kĩ năng đọc diễn cảm cho học sinh lớp 4” làm đề tài nghiên 
cứu của mình.

                                                          


2


II. THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU:
1. Thực trạng dạy­ học phần luyện đọc diễn cảm trong phân môn 
Tập đọc ở Trường Tiểu học Thanh Tân 1
Trường Tiểu học Thanh Tân 1 là một trường thuộc xã vùng sâu, vùng 
xa của huyện Như Thanh. Do địa bàn xã rộng, nên trường chia thành nhiều  
khu, cách xa nhau. Hơn 90% học sinh có bố mẹ sống bằng nghề trồng trọt,  
không có nghề phụ nên đời sống kinh tế còn rất nhiều khó khăn. Phần lớn  
nhận thức của phụ  huynh học sinh chưa cao, chưa ý thức được việc dạy 
dỗ, tạo điều kiện quan tâm, giúp đỡ con cái mình  học tập. Nhiều gia đình  
còn có tư tưởng phó mặc con cái cho nhà trường .
Một số  ít gia đình có quan tâm đến con cái thì lại không  biết cách  
dạy hoặc do học sinh không chịu học. Mặt khác, phần lớn học sinh của  
trường Tiểu học Thanh Tân 1 là người dân tộc thiểu số, vốn từ  ngữ  của  
các em rất nghèo nàn do ở gia đình các em thường giao tiếp bằng tiếng mẹ 
đẻ. Bên cạnh đó, có một số  học sinh chuyển đến từ  các huyện: Thường  
Xuân, Nông Cống, Tĩnh Gia, Quảng Xương...bị   ảnh hưởng rất nhiều của  
tiếng địa phương nơi các em đã sinh ra. Điều này đã ảnh hưởng không nhỏ 
đến chất lượng giáo dục của xã nhà.
Ở trường chúng tôi, mặc dù phân môn Tập đọc là môn học được chú 
trọng nhiều trong quá trình dạy học của tất cả giáo viên nhưng phần luyện  
đọc diễn cảm vẫn chưa được chú trọng đúng mức. Điều này do nhiều 
nguyên nhân: Từ  việc xác định mục tiêu, nội dung chương trình SGK, vai 
trò của giáo viên khi giảng dạy đến việc lĩnh hội kiến thức của học sinh.
Qua trò chuyện, trao đổi với giáo viên và học sinh, qua quan sát một 
số giờ dạy phân môn Tập đọc của giáo viên, tôi nhận thấy rằng: Khả năng 
đọc của học sinh còn rất thấp, phần lớn các em mới chỉ  đạt được ở  mức 
độ đọc trơn nhưng chưa đảm bảo được yêu cầu về tốc độ, âm lượng đọc,  

chưa ngắt nghỉ hơi hợp lí và còn đọc sai lỗi chính tả  tương đối nhiều. Số 
lượng học sinh biết đọc diễn cảm rất ít, thậm chí có nhiều lớp không có 
học sinh nào, ngay cả ở các  lớp 4­ 5.
Kết quả  kiểm tra đọc thành tiếng của học sinh khối lớp 4 năm học 
2009­ 2010( theo số liệu bài KTĐK giữa học kì II):
Mức độ đọc
Tổng số 
Tốt
Khá
Trung bình
Yếu
học sinh
SL
TL
SL
TL
SL
TL
SL
TL
85
4
4,7%
14
16,5%
51
60%
16
18,8%
2. Kết quả rèn đọc diễn cảm của học sinh lớp 4A Trường Tiểu học 

Thanh Tân 1:

                                                          

3


Năm học 2010­ 2011, tôi được phân công chủ nhiệm lớp 4A, gồm có 
29 học sinh, trong đó: Dân tộc (Thái, Mường): 14 em; Dân tộc Kinh : 15 em.  
Đây là lớp thuộc khu chính­ nằm ngay trung tâm của xã. Các em sống trên 
địa bàn của các thôn: Tiền Tiến, Vườn Dâu, Tân Tiến, Tân Thành, Dồng 
Dẻ, Đồng Lấm và một số  học sinh của xã Yên Mỹ( huyện Nông Cống).  
Dẫu khoảng cách về địa lý nằm bên cạnh nhau nhưng cách phát âm của các  
em cũng có những điểm khác nhau (do đặc điểm về phương ngữ, quá trình 
di dân). Bên cạnh đó, các em còn đọc sai  ở  nhiều âm, tiếng, từ; độ  sai so  
với chuẩn phát âm (chuẩn chính âm) là tương đối nhiều, nhất là đọc lẫn  
lộn  ở  những từ  ngữ  có dấu hỏi, dấu ngã..... Kĩ năng đọc đúng, đọc nhanh 
chưa tốt và tất nhiên đọc diễn cảm cũng không tốt.
Mặt khác, ý thức tự học, đọc sách báo của các em cũng rất ít nên hạn 
chế  tầm hiểu biết, hạn chế khả năng đọc các loại văn bản khác nhau nên 
cũng ảnh hưởng đến việc đọc các bài học trong nội dung chương trình quy  
định.
Sau một thời gian giảng dạy ( từ giữa tháng 8 đến đầu tháng 10 năm 
2010), tôi đã khảo sát khả năng đọc diễn cảm của học sinh lớp tôi, kết quả 
thu được như sau:
Mức độ đọc
Tổng số 
Tốt
Khá
Trung bình

Yếu
học sinh
SL
TL
SL
TL
SL
TL
SL
TL
29
1
3,4%
3
10,4% 12 41,4%
13
44.8%
Ở thời điểm khảo sát, mỗi mức độ đọc cần đạt được những yêu cầu 
cơ bản sau đây:
* Tốt: Học sinh đọc trôi chảy toàn bài với tốc độ  khoảng trên 75 tiếng/  
phút, phát âm đúng, rõ lời; ngắt nghỉ  hơi đúng  ở  các dấu câu và giữa các  
cụm từ, có ngữ điệu phù hợp với nội dung bài đọc.
* Khá: Học sinh đọc trôi chảy toàn bài với tốc độ  khoảng 75 tiếng/ phút, 
phát âm đúng, rõ lời; ngắt nghỉ hơi đúng ở các dấu câu và giữa các cụm từ, 
bước đầu biết thể hiện giọng đọc phù hợp với nội dung bài đọc.
* Trung bình:  Học sinh đọc trôi chảy toàn bài với tốc độ  khoảng 70 ­ 75 
tiếng/ phút, phát âm đúng, rõ lời; ngắt nghỉ hơi đúng ở các dấu câu.
* Yếu: Không đạt được một trong các yêu cầu trên.
Cùng với yêu cầu đó, tôi đã khảo sát khả năng đọc diễn cảm của học 
sinh lớp 4B ( một lớp cùng khu trường), kết quả thể hiện như sau:

Mức độ đọc
Tổng số 
Tốt
Khá
Trung bình
Yếu
học sinh
SL
TL
SL
TL
SL
TL
SL
TL
28
1
3,6%
2
7,1%
13
46,4%
12
42,9%

                                                          

4



3. Nguyên nhân:
Sau khi khảo sát thực trạng, tôi tiến hành phân tích, thâm nhập thực 
tế cuộc sống của các em và tìm ra những nguyên nhân dẫn đến tồn tại nêu 
trên là: Phần lớn học sinh lớp tôi có hoàn cảnh kinh tế còn nhiều khó khăn,  
trong đó có 3 em bố  mất sớm, 4 em  ở  với ông bà( bố  mẹ  đi làm ăn xa).  
Nhiều gia đình chưa thực sự  quan tâm tới việc học tập của con cái, phó 
mặc mọi việc cho nhà trường. Thời gian học của các em chủ  yếu chỉ  có  
một buổi ở trường, còn ở nhà gần như là không có, nên phần nào đó đã ảnh 
hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến việc học tập văn hoá của các em (trong 
đó có phân môn tập đọc ­ phần luyện đọc diễn cảm).
Bên cạnh đó, lớp tôi có 48,3% học sinh là con  em dân tộc thiểu số, 
rất rụt rè trong giao tiếp với mọi người xung quanh nên vốn từ  ngữ  rất 
nghèo nàn. ë gia đình, các em thường giao tiếp bằng tiếng mẹ đẻ, khả năng 
phát triển ngôn ngữ  tiếng Việt của các em rất hạn chế. Có 6 học sinh 
chuyển đến từ huyện Nông Cống thì bị ảnh hưởng nhiều của cách phát âm  
địa phương nơi các em đã sinh ra nên thường mắc lỗi khi đọc bài. Trong khi  
đó, việc chữa lỗi cho học sinh của giáo viên chưa được tiến hành một cách 
thường xuyên và triệt để  trong tất cả  các giờ  học. Giáo viên thường sửa 
các lỗi mà sách giáo viên gợi ý theo một lối mòn xáo rỗng, chứ  chưa sửa  
được các lỗi mà thực tế học sinh lớp mình mắc phải. 
Một thực tế  cho thấy, khả  năng đọc diễn cảm của nhiều giáo viên  
còn hạn chế  do  ảnh hưởng của phương ngữ. Trong khi đó, phần hướng 
dẫn đọc diễn cảm (đọc hay) trong sách giáo khoa và sách giáo viên chưa  
thật cụ  thể, rõ ràng cho từng thể  loại văn học; Chưa nêu yêu cầu cụ  thể 
cần đạt được và các biện pháp tiến hành rèn đọc diễn cảm... Nên việc rèn  
luyện kĩ năng đọc diễn cảm cho học sinh là một vấn đề  khó. Các em có 
đọc đúng­ đọc nhanh, hiểu được nội dung­ ý nghĩa bài học thì các em mới 
từng bước tiến hành đọc diễn cảm tốt. Trong khi đó thời gian dành cho 
phần luyện đọc diễn cảm trong một tiết tập đọc lại ít( 5­ 7 phút), không đủ 
để giáo viên hướng dẫn cụ thể cho học sinh cách luyện đọc, học sinh chưa  

thẩm thấu hết được yêu cầu, ý nghĩa của việc đọc diễn cảm (từ, ngữ, câu,  
đoạn, bài) trong một bài văn cụ thể thì đã hết giờ. Vì vậy, số lượng các em 
được đọc ít và chỉ chú trọng vào các em đọc khá giỏi với hình thức đọc lại  
bài, còn học sinh trung bình, yếu thì dường như không có.
Bên cạnh đó, công việc chuẩn bị cho việc luyện đọc diễn cảm trong  
một giờ  tập đọc cũng khá công phu như: phải có bảng phụ  viết sẵn đoạn 
văn, đoạn thơ  cần luyện  đọc, bút dạ, phấn màu, bút chì...nên giáo viên  
thường có tư  tưởng “ngại” vì mất nhiều thời gian,  đa số  giáo viên chỉ 
chuẩn bị đầy đủ đồ dùng dạy học ở các tiết học có người dự  giờ, còn lại  
thì thực hiện dạy “chay” nội dung này. 

                                                          

5


Vì vậy, luyện đọc diễn cảm trong giờ tập đọc ở bậc Tiểu học đã và 
đang là vấn đề  cần được quan tâm đúng mức, cần làm sáng tỏ, để  tìm ra 
được những biện pháp, hình thức dạy học có hiệu quả  nhất cho từng thể 
loại văn bản, từng bài học cụ  thể, phù hợp với từng đối tượng học sinh, 
nhằm đạt được hiệu quả giáo dục cao nhất trong mỗi giờ tập đọc ở  Tiểu  
học. 

B . GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I. CÁC GIẢI PHÁP THỰC HIỆN:
Đứng trước thực trạng đó, tôi luôn luôn trăn trở, không ngừng tìm tòi, 
học hỏi, tham khảo các tài liệu, kinh nghiệm của các bạn đồng nghiệp và 
mạnh dạn đưa ra các giải pháp thực hiện nhằm nâng cao hiệu quả  đọc  
diễn cảm cho học sinh lớp 4  như sau:
1. Nắm bắt khả năng đọc cũng như  hoàn cảnh gia đình của từng học 

sinh để có biện pháp phối hợp trong quá trình dạy học:
Việc biết được khả  năng đọc của từng học sinh, thường xuyên liên 
lạc, trao đổi với phụ  huynh học sinh về kết quả học tập của các em giúp  
giáo viên có được thông tin ngược để điều chỉnh quá trình dạy học cho phù 
hợp và có hiệu quả  hơn. Đồng thời, biết thông cảm và chia sẻ  với những 
học sinh có hoàn cảnh khó khăn, giúp các em xoá bỏ được mặc cảm và biết  
vươn lên trong học tập.
2. Giáo viên phải nghiên cứu kĩ nội dung bài dạy, mạnh dạn đổi mới 
phương pháp và hình thức tổ chức dạy học cho phù hợp với từng đối 
tượng học sinh.
Trước khi lên lớp, giáo viên phải đọc bài nhiều lần để  đọc mẫu 
chuẩn cho học sinh và hiểu thấu đáo nội dung bài đọc. Căn cứ  vào đối  
                                                          

6


tượng học sinh của lớp mình, giáo viên phải lường trước những chỗ  ngắt 
nhịp  ở  các câu dài, những từ  ngữ  cần nhấn giọng ... Đồng thời phối hợp 
các phương pháp dạy học thích hợp nhằm phát huy tính tích cực của học 
sinh trong hoạt động luyện đọc.
3. Chuẩn bị đầy đủ đồ dùng dạy học cần thiết cho tiết học.
Đây là bước quan trọng phục vụ  cho giờ  dạy mà lâu nay giáo viên 
thường bỏ qua, chỉ chú trọng thực hiện khi có người đến dự giờ, thăm lớp. 
4. Kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh một cách sáng tạo
Việc kiểm tra, đánh giá kết quả  học tập của học sinh là một việc  
làm nhằm điều chỉnh các phương pháp, biện pháp dạy học cho phù hợp và 
có hiệu quả hơn, nhất là với phân môn Tập đọc.  
II . MỘT SỐ  BIỆN PHÁP TỔ CHỨC THỰC HIỆN:
Để  nâng cao chất lượng dạy học phần luyện đọc diễn cảm – phân 

môn Tập đọc cho học sinh lớp 4, tôi đã áp dụng những biện pháp rèn luyện 
kĩ năng đọc diễn cảm cho học sinh như sau:
* Biện pháp 1: Giúp học sinh nắm chắc nội dung bài đọc:
Học sinh chỉ có thể đọc diễn cảm một đoạn hay một bài tập đọc khi 
đã hiểu thấu đáo nội dung bài đọc đó. Vì vậy, việc giúp học sinh hiểu được 
nội dung bài đọc là một việc làm rất quan trọng và cần thiết. Tôi đã hướng  
dẫn học sinh tìm hiểu nội dung bài đọc bằng một hệ  thống câu hỏi phù 
hợp với trình độ  nhận thức của học sinh (dựa vào các câu hỏi trong SGK). 
Sau khi học sinh đã nắm vững nội dung bài học tôi hướng dẫn các em cách  
đọc thể hiện nội dung đó. 
Ví dụ:       Bài “Người ăn xin” – tập 1, trang 30
Tôi giúp học sinh hiểu:
­ Đây là câu chuyện của một người ăn xin và một cậu bé qua đường.
­ Hình  ảnh người ăn xin: già lọm khọm, đôi mắt đỏ  đọc, giàn giụa nước 
mắt, đôi môi tái nhợt, áo quần tả  tơi, xấu xí, bàn tay sưng húp, bẩn thỉu,  
giọng rên rỉ cầu xin.
­ Hành động của cậu bé: Lục tìm hết túi nọ  đến túi kia nhưng không có gì  
để cho ông, đành nắm chặt lấy bàn tay ông xin lỗi.
­ Cậu bé không có gì cho ông lão, cậu chỉ có tấm lòng. Ông lão không nhận  
được vật gì, nhưng quý tấm lòng của cậu. Hai con người, hai thân phận,  
hoàn cảnh khác xa nhau nhưng vẫn cho được nhau, nhận được từ nhau.
­ Học sinh hiểu nội dung bài đọc: Ca ngợi cậu bé có tấm lòng nhân hậu, 
biết đồng cảm, thương xót trước nỗi bất hạnh của ông lão ăn xin nghèo 
khổ.

                                                          

7



Sau khi hiểu được nội dung bài đọc, tôi hướng dẫn các em đọc bài  
văn   với   giọng   nhẹ   nhàng,   thương   cảm;   lời   cậu   bé   đọc   với   giọng   xót 
thương ông lão; lời ông lão xúc động trước tình cảm chân thành của cậu bé.
*Biện pháp 2: Đọc mẫu
Để giúp học sinh có thể đọc diễn cảm được một câu, một đoạn hay  
cả bài tập đọc trước hết giáo viên ( hoặc một học sinh giỏi) phải đọc mẫu.  
Việc đọc mẫu như vậy nhằm giới thiệu, gây cảm xúc, tạo hứng thú và tâm 
thế học tập cho học sinh. Bài đọc mẫu chính là cái đích mà giáo viên đưa ra 
cho học sinh luyện để  đạt được. Vì vậy, việc đọc mẫu là rất quan trọng,  
yêu cầu người đọc mẫu phải đọc thật diễn cảm để diễn đạt được đúng ý  
nghĩa và tình cảm mà tác giả muốn gửi gắm trong bài tập đọc.
Ví dụ:  Khi đọc mẫu bài  “Con sẻ” ( tập 2, trang 90), giáo viên cần chuyển  
giọng đọc một cách linh hoạt cho phù hợp với diễn biến câu chuyện:
­ Đoạn 1: 2 câu đầu đọc với giọng kể  khoan thai, 3 câu sau chuyển 
giọng hồi hộp, tò mò.
­ Đoạn 2 và 3: Tả sự đối đầu của sẻ  mẹ  và chó săn – cần thể  hiện  
giọng đọc hồi hộp, căng thẳng, nhấn mạnh các từ ngữ  gợi tả  hình ảnh sẻ 
già gan góc, lao xuống cứu con bất chấp hiểm nguy.
­ Đoạn 4 và 5: Nói lên sự ngưỡng mộ của tác giả trước tình mẹ con  
thiêng liêng, hành động dũng cảm bảo vệ  con của sẻ mẹ – cần đọc giọng  
chậm rãi, thán phục, nhấn giọng những từ ngữ thể hiện sự bối rối của chó 
săn, sự thán phục của tác giả. 
*Biện pháp 3:  Phân tích, giúp học sinh hiểu và thực hiện được các yêu  
cầu về đọc diễn cảm trong một đoạn hay một bài văn cụ thể:
Đọc diễn cảm là hình thức đọc thành tiếng một cách rõ ràng, chính 
xác, có ngữ điệu đọc phù hợp với nội dung văn bản, nhằm truyền cảm 
được nội dung bài học đến người nghe. Do đó, sau khi giúp học sinh nắm 
vững nội dung bài đọc, tôi hướng dẫn các em hiểu và thực hiện tốt các yêu 
cầu đọc diễn cảm trong một đoạn hay một bài văn cụ thể được viết trên 
bảng phụ như sau:

a) Ngắt nghỉ giọng đọc đúng lúc, đúng chỗ, nhằm bộc lộ được ý tứ, 
nội dung bài đọc:
 Sau khi học sinh đọc đúng, rõ ràng, trôi chảy toàn bài tôi hướng dẫn học 
sinh biết ngắt nghỉ  hơi đúng  ở  các dấu câu và giữa các cụm từ. Cụ  thể:  
nghỉ ít hơn  ở dấu phẩy, nghỉ lâu hơn ở dấu chấm; phải ngắt nghỉ hơi một  
cách tự nhiên, tránh kiểu đọc nhát gừng .
Đối với các bài văn xuôi: chỗ  ngắt giọng phải trùng hợp với ranh giới 
ngữ đoạn, nên khi đọc phải dựa vào nghĩa của các tiếng, các từ để ngắt hơi 

                                                          

8


cho đúng, không được tách từ  ra thành hai phần. Khi đọc một bài thơ, chỗ 
ngắt nhịp phải tương ứng với chỗ kết thúc một tiết đoạn. Sự phân chia lời  
ở  dạng nói được hình thức hoá bằng chỗ  ngắt giọng, sự  phân chia lời  ở 
dạng viết được hình thức hoá bằng dấu câu. Chỗ  ngắt giọng cũng là một  
căn cứ  để  người nghe xác định được ý nghĩa từ  vựng, ngữ  pháp, nội dung 
bài đọc. Vì thế, trước khi dạy một bài tập đọc cụ thể, ngoài việc giáo viên 
cần luyện đọc diễn cảm cho thật chuẩn còn phải dự tính được những chỗ 
học sinh hay ngắt giọng sai để xác định điểm cần luyện ngắt giọng.
Việc làm này tôi đã tiến hành theo mức độ  từ  thấp đến cao như  sau: 
Thời gian đầu, tôi treo bảng phụ ghi sẵn câu văn cần hướng dẫn, dùng bút  
dạ vạch chỗ cần ngắt hơi,  giáo viên đọc mẫu rồi yêu cầu học sinh luyện  
đọc cho đúng. Khi học sinh đã đọc tốt hơn và được làm quen nhiều với  
cách ngắt, nghỉ hơi tôi đã nâng dần yêu cầu lên bằng cách gợi ý để học sinh  
tự phát hiện và chỉ ra chỗ cần ngắt hơi, tổ chức cho học sinh thảo luận để 
đi đến thống nhất, gọi một học sinh khá giỏi đọc mẫu ­ giáo viên nhận xét, 
chỉnh sửa, sau đó yêu cầu học sinh luyện đọc. Để  thể  hiện chỗ  ngắt, nghỉ 

hơi tôi dùng kí hiệu: ngắt một nhịp (/), ngắt hai nhịp (// ).
Ví dụ 1:    
Đêm nay / anh đứng gác ở trại.// Trăng ngàn và gió núi bao la / khiến  
lòng anh man mác nghĩ tới trung thu / và nghĩ tới các em.//
Anh mừng cho các em vui Tết trung thu độc lập đầu tiên / và anh  
mong ước ngày mai đây,/ những tết trung thu tươi đẹp hơn nữa /sẽ đến với  
các em.// 
(Trung thu độc lập ­ tập 1, trang 66)
Ví dụ 2:
                                            Nhìn thấy gió/ vào xoa mắt đắng/
                                            Thấy con đường/ chạy thẳng vào tim/
                                           Thấy sao trời/ và đột ngột cánh chim/
                                           Như sa,/như ùa vào buồng lái.//
                                      
                                           Không có kính, /ừ thì ướt áo/
                                           Mưa tuôn,/ mưa xối như ngoài trời/
                                          Chưa cần thay,/ lái trăm cây số nữa/
                                          Mưa ngừng,/ gió lùa / mau khô thôi.//
                                       (Bài thơ về tiểu đội xe không kính­ tập 2, trang  
71 ).
b) Thể hiện nhịp điệu đọc phù hợp với nội dung bài học:
Bên cạnh việc hướng dẫn học sinh ngắt giọng thể  hiện đúng quan 
hệ  ngữ  nghĩa­ ngữ  pháp còn cần phải dạy cho học sinh đọc đúng tốc độ,  
ngắt giọng biểu cảm. Điều này thể hiện ở chỗ: khi đọc cần thay đổi nhịp 
điệu lúc chậm rãi, lúc dồn dập khẩn trương; chỗ  đọc nhanh hoặc ngừng 
                                                          

9



lâu hơn bình thường, hay chỗ dừng không do lôgíc ngữ nghĩa mà do dụng ý 
của người đọc nhằm gây ấn tượng về cảm xúc, nhằm tạo nên những chỗ 
ngừng “gây bão tố”, tập trung sự  chú ý của người nghe vào những từ  ngữ 
sau chỗ ngừng, những từ ngữ mang trọng âm ngữ nghĩa.
Ví dụ :                                                   Sông La / ơi sông La
                                                              Trong veo / như  ánh mắt
                                                         Bờ tre / xanh im mát
                                                        Mươn mướt / đôi hàng mi
                                                        Bè đi / chiều thầm thì
                                                        Gỗ lượn đàn thong thả.  
                                                               (Bè xuôi sông La­ tập 2, trang  
26).
Chọn cách ngắt nhịp “Sông La/  ơi sông La” để  “ơi” được ngân dài tha  
thiết, làm nổi bật cách nhân hoá sông La bằng cách gọi tên, giúp biểu hiện  
tình cảm thân thương của tác giả  với con sông quê hương... Cách so sánh 
dòng sông “ trong veo như ánh mắt” cũng có tác dụng đem đến cho sắc màu  
trong xanh của nước sông La tình cảm của con người. Vẫn nhịp 2/3 “ Bè đi/  
chiều thầm thì” làm cho câu thơ sống động hơn với nhiều đối tượng được  
miêu tả, nhiều hoạt động  được lột tả và để không hạn chế thời gian “ Bè 
đi” mà tạo một kết hợp bất thường “ chiều thầm thì” cho thời gian cất lên  
thành lời, để  âm điệu câu thơ  bỗng vang động, ngân dài và bay bổng mê 
say...
c) Thể hiện cường độ đọc :
Tôi  giúp  học  sinh  hiểu:   đọc  chậm  quá,  nhanh  quá   hoặc   đọc  liến 
thoáng đều làm cho người nghe khó theo dõi, không hiểu đúng và đầy đủ 
nội dung của bài đọc. Âm lượng đọc (độ  to nhỏ  của giọng đọc) phải phù 
hợp, không nhỏ quá hoặc to quá. Vì thế cần hướng dẫn học sinh điều chỉnh  
âm lượng đọc  ở từng từ ngữ, câu, đoạn, bài cho phù hợp với nội dung bài 
học và ẩn ý của tác giả được gửi gắm sâu kín sau lớp vỏ ngôn từ.
Ví dụ 1:                                 

                                                   Nòi tre đâu chịu mọc cong
                                         Chưa lên đã nhọn như chông  / lạ thường.
                                                  Lưng trần phơi nắng / phơi sương
                                        Có manh áo cộc, tre nhường cho con.
                                                   Măng non là búp măng non
                                          
                                          Đã mang dáng thẳng / thân tròn của tre.
                                                  Năm qua đi, tháng qua đi
                                         Tre già măng mọc có gì lạ đâu.
                                         Mai sau,
                                         Mai sau,
                                                          

10


                                   Mai sau,
                                   Đất xanh / tre mãi  xanh màu tre xanh.
                                                                 ( Tre Việt Nam ­ tập 1, trang  
41)
Ở  khổ  thơ  trên cần đọc với giọng nhẹ  nhàng, tha thiết thể  hiện được 
dụng ý của tác giả trong cách ngắt nhịp, cách ngắt dòng độc đáo. Sự  trùng 
điệp của ba dòng thơ “Mai sau” có một giá trị  biểu đạt đặc biệt: ý thơ  âm 
vang bay bổng, câu thơ gợi ra những liên tưởng phong phú. Ngày xưa đã có 
bờ tre xanh, hôm nay rồi cả mai sau, mai sau nữa vẫn có bờ tre xanh. Dòng 
thơ  cuối cùng với ba từ “xanh” trong những kết hợp cú pháp đặc sắc (Đất 
xanh, xanh màu, tre xanh) gợi một màu sắc trường tồn của tre Việt Nam, 
của con người Việt Nam, của truyền thống cao  đẹp về  con người Việt  
Nam trong suốt chiều dài hơn bốn ngàn năm lịch sử  dựng nước và giữ 
nước của dân tộc ta...

Ví dụ 2 : 
Công chúa nhìn chú hề, mỉm cười:
­ Khi ta mất một chiếc răng, chiếc mới sẽ  mọc ngay vào chỗ ấy. Khi ta  
cắt những bông hoa trong vườn, những bông hoa mới sẽ   mọc lên. Có đúng 
không nào?
Chú hề vội tiếp lời:
­ Tất nhiên rồi. Khi một con hươu mất sừng, cái sừng mới sẽ  mọc ra. 
Sau khi đêm thay thế cho ngày, ngày lại thế chỗ của đêm.
­ Mặt trăng cũng như vậy, mọi thứ  đều như vậy…// ­ Giọng công chúa  
nhỏ dần, nhỏ dần. Nàng đã ngủ.
                                                     (Có rất nhiều mặt trăng ­ tập 1, trang  
168).
Khi đọc đoạn văn trên, cần thể hiện giọng đọc của chú hề nhẹ 
nhàng, khôn khéo; lời công chúa hồn nhiên, tự tin, thông minh ( ở câu 
trước); giọng đọc chậm rãi, nhỏ dần, nghỉ hơi lâu sau dấu ba chấm ( ở câu 
sau).
d) Thể hiện giọng đọc lên cao hay xuống thấp: 
Để thực hiện được yêu cầu này, trong giờ tập đọc giáo viên không nên  
xem nhẹ  khâu nào ( từ  đọc đúng­ đọc hiểu­ đọc diễn cảm ); thực chất cả 
ba quá trình đọc này có mối quan hệ  chặt chẽ  và biện chứng với nhau để 
đạt đến cái đích cuối cùng trong một giờ tập đọc.
Tuy vậy, để học sinh có giọng đọc ( ngữ  điệu) phù hợp, chính xác cần 
phải  thực hiện tốt  kĩ  năng  đọc hiểu như: hiểu nghĩa từ, tìm  được “từ 
khoá”, “câu khoá” trong bài, tóm tắt được nội dung của đoạn, bài; phát hiện  
ra những yếu tố văn và giá trị của chúng trong việc biểu đạt nội dung. Cần 
chú ý đến các biện pháp nghệ  thuật được tác giả  sử  dụng trong văn thơ 
như: nhân hoá, so sánh, điệp từ, điệp ngữ,...
                                                          

11



 Ví dụ 1: 
Đọc những câu sau, lời dẫn chuyện đọc thấp, lời tên Chúa tàu giọng 
đọc lên cao và giằn giọng, còn đọc lời bác sĩ   Ly giọng đọc điềm tĩnh  
nhưng dứt khoát: 
Chúa tàu trừng mắt nhìn bác sĩ, quát:
­ Có câm mồm không?
Bác sĩ điềm tĩnh hỏi:
­ Anh bảo tôi phải không?
Khi tên chúa tàu cục cằn bảo “phải”,  bác sĩ nói:
­ Anh cứ uống rượu mãi như thế / thì đến phải tống anh đi nơi khác.
                                              (Khuất phục tên cướp biển­ tập 2, trang  
66).
Ví dụ 2:                                       
                                               Trăng ơi... // từ đâu đến?
        Hay từ đường hành quân
Trăng soi chú bộ đội
Và soi vàng góc sân.
                                              Trăng từ đâu... // từ đâu?
     Trăng đi khắp mọi miền
                                             Trăng ơi, có nơi nào
  Sáng hơn đất nước em.
( Trăng ơi ... từ đâu đến?­ tập 2, trang 107)
Khi đọc hai khổ  thơ  trên cần đọc với giọng nhẹ  nhàng, tình cảm. 
Cần chú ý đọc đúng các câu hỏi: Trăng ơi...// từ đâu đến? Trăng từ  đâu...// 
từ  đâu? nghỉ  hơi dài sau dấu ba chấm và lên giọng  ở  cuối câu nhằm thể 
hiện sự ngạc nhiên, ngưỡng mộ của nhà thơ đối với trăng.
e) Thể hiện sắc thái giọng đọc: 
Thông qua giọng đọc, người đọc có thể biểu hiện được những sắc thái 

tình cảm đa dạng của con người như: buồn, yêu, ghét, lo lắng, hờn giận,  
khinh bỉ, hóm hỉnh, phẫn nộ... phù hợp với từng thể loại văn học, nhân vật 
trong tác phẩm và dụng ý của tác giả  được gửi gắm sâu kín sau lớp vỏ 
ngôn từ.
 Ví dụ 1:                                
... Cáo kia / đon đả ngỏ lời:
  “ Kìa / anh bạn quý, xin mời xuống đây
Để nghe cho rõ tin này
 Muôn loài mạnh yếu từ rày kết thân
             Lòng tôi sung sướng muôn phần
                                         Báo cho bạn hữu xa gần đều hay
 Xin đừng e ngại, xuống đây
Cho tôi hôn  bạn, tỏ bày tình thân.”
                                                          

12


 Nghe lời Cáo dụ thiệt hơn
   Gà rằng: “ Xin được ghi ơn trong lòng
  Hòa bình gà cáo sống chung
Mừng này còn có tin mừng nào hơn
Kìa, tôi thấy cặp chó săn
Từ xa chạy lại, chắc loan tin này.”
     Cáo nghe, hồn  lạc phách bay
    Quắp đuôi, co cẳng chạy ngay tức thì.
Gà ta khoái chí cười phì:
“ Rõ phường gian dối, làm gì được ai.”
( Gà Trống và Cáo­ tập 1, trang 50)
Đoạn thơ trên cần đọc với giọng vui, dí dỏm, thay đổi sắc thái giọng  

đọc một cách linh hoạt cho phù hợp với tâm trạng và tính cách từng nhân  
vật. Lúc đầu, giọng cáo tinh ranh, xảo quyệt, giả  giọng thân thiện. Còn 
giọng gà thông minh, ăn nói ngọt ngào­ giả vờ tin để hù dọa cáo. Đoạn sau, 
giọng đọc thể hiện sự khiếp sợ của cáo khi nghe gà nói đến “ cặp chó săn”,  
phải bỏ  chạy để  lộ  mưu gian; còn giọng gà lúc này hả  hê, khoái chí thể 
hiện sự vui mừng vì đã lừa lại được cáo.
Ví dụ 2:
­ Cậu làm trò gì đấy?
­ Em nhặt cho đầy giỏ đây!
­ Cậu không thấy đạn réo à?
Ga­ vrốt trả lời:
­ Có chứ, nó rơi như mưa ấy! Nhưng làm sao nào?
Cuốc­ phây­ rắc thét lên:
­ Vào ngay!
­ Tí ti thôi! Ga­ vrốt nói.
( Ga­ vrốt ngoài chiến lũy­ tập 2, trang 80)
Khi đọc đoạn văn trên cần thay đổi sắc thái giọng đọc cho phù hợp 
với nhân vật: giọng Cuốc­ phây­ rắc lúc đầu ngạc nhiên sau lo lắng; giọng  
Ga­ vrốt luôn bình thản, hồn nhiên, tinh nghịch.
g)  Thể hiện nét mặt, điệu bộ trong khi đọc:
Khi đọc nếu biết thể hiện nét mặt, điệu bộ  một cách tự  nhiên, phù 
hợp với nội dung văn bản thì sẽ  góp phần tạo nên sự  truyền cảm đối với  
người nghe.
Ví dụ :
Bước vào phòng ông nằm, em hoảng hốt thấy mẹ đang khóc nấc lên. 
Thì ra ông đã qua đời. “ Chỉ vì mình mãi chơi bóng, mua thuốc về chậm mà 
ông chết.”­ An­ đrây­ ca òa khóc và kể  hết mọi chuyện cho mẹ nghe. Mẹ 
an ủi em:

                                                          


13


­ Không, con không có lỗi. Chẳng thuốc nào cứu nổi ông đâu. Ông đã 
mất từ lúc con vừa mới ra khỏi nhà.
Nhưng An­ đrây­ ca không nghĩ như vậy. Cả đêm đó, em ngồi nức nở 
dưới gốc cây táo do tay ông vun trồng. Mãi sau này, khi đã  lớn lên, em vẫn  
luôn tự dằn vặt: “ Giá mình mua thuốc về kịp thì ông còn sống thêm được ít 
năm nữa!”
( Nỗi dằn vặt của An­ đrây­ ca, tập 1, trang 55)
Khi đọc đoạn văn trên cần thể hiện giọng đọc, nét mặt buồn bã, sự 
ân hận, day dứt của An­ đrây­ ca trước cái chết của ông.
* Biện pháp 4: Tổ chức kiểm tra, đánh giá kết quả đọc của học sinh:
Trong giờ dạy Tập đọc, tôi thường xuyên kiểm tra, đánh giá kết quả 
đọc của học sinh nhằm động viên khuyến khích các em trong quá trình học 
tập, đồng thời điều chỉnh phương pháp dạy học cho phù hợp hơn. Sau mỗi 
lần kiểm tra học sinh đọc tôi thường nhận xét, sửa lỗi và yêu cầu các em  
luyện đọc ở mức độ cao hơn. Ngoài ra, tôi còn tổ chức cho các em tự đánh 
giá lẫn nhau để  tạo ra không khí thi đua học tập  ở  trong nhóm, trong lớp. 
Bởi vì, khi được tham gia vào việc nhận xét, đánh giá bạn đọc các em sẽ 
cảm thấy mình là trung tâm của hoạt động học, các em sẽ phấn khởi và cố 
gắng hơn trong học tập.

                                                          

14


C.KTLUN

I.KTQUTC:
Saumtthigian(t uthỏng10nm2010ncuithỏng3nm
2011)ỏpdngMtsbinphỏprốnluynknngcdincmchohc
sinhlp4nhótrỡnhbytrờn,tụithucktqunhsau:
ưashcsinhócúýthcsaclisaicamỡnhtrongkhic.
ưSlnghcsinhcbitrụichyvitc mbo(khong85ư
90ting/phỳt),bitngtnghhiỳnggiacỏcducõuvgiacỏccm
t,bitthhingingcphựhpvinidungbicótnglờn.
ưGi tpcótr nờnsụini,hpdncỏcemhn,nhiuemhng
hỏi,xungphongcbivphỏtbiuýkinnhnxộtv ktqu cca
bn.
Vicỏchỏnhgiỏkhnngcdincmcahcsinhnhótrỡnhby
phnthctrngtụitinhnhkhosỏt,ỏnhgiỏ,sosỏnhktqucca
hcsinhlptụivilpbn(lp4B),thhintrongbngsau:
Tngs Thiim
Lp
hcsinh
ỏnhgiỏ
29
4A
29
4B

28

Đầu tháng
10/ 2010
Cuối tháng
03/ 2011
Cuối tháng

03/ 2011

Tt
SL TL(%)

Mcc
Khỏ
Trungbỡnh
Yu
SL TL(%) SL TL(%) SL TL(%)

1

3,4

3

10,4

12

41,4

13

44,8

5

17,3


9

31

13

44,8

2

6,9

2

7,1

5

17,9

16

57,1

5

17,9

Việc đánh giá mức độ đọc diễn cảm nêu trên ( Bảng số liệu) là

kết quả cộng hởng của cả ba quá trình rèn đọc ở học sinh: Đọc đúngnhanh, đọc hiểu và đọc diễn cảm. Bởi cả ba quá trình này có sự tác


15


động tơng hỗ với nhau, không thể tách rời, đó là quá trình chuyển từ
thấp đến cao về chất trong một giờ tập đọc.
Từ kết quả thu đợc nh trên tôi nhận thấy rằng: Việc áp dụng một
số biện pháp rèn luyện kĩ năng đọc diễn cảm cho học sinh lớp 4 đã
mang lại cho tôi một kết quả đáng phấn khởi. Khả năng đọc (đặc biệt
là đọc diễn cảm) của học sinh lớp tôi có tiến bộ rõ rệt so với đầu năm
học, cao hơn so với lớp bạn ( ở cùng thời điểm đánh giá). Tuy kết quả
thu đợc cha phải là cao nhng phần nào đã nói lên tính hiệu quả của
sáng kiến kinh nghiệm này.
II.BIHCKINHNGHIM:
1.ivigiỏoviờn:
DyhctingVitnúichung(dyphõnmụntpc,phnluync
dincmnúiriờng),thycụgiỏokhụngcũnúngvaingitruynth
kinthcchohcsinhchyubngphngphỏpthuyttrỡnh,ginggii
hcsinhthngnghevghinhnhtrcõymtrthnhngit
chc,iukhinquỏtrỡnhdyhc hcsinhtớchcc,ch ng,sỏng
tochimlnhkinthcmi.Doú, rốnluynknngcdincm
chohcsinhtktquttgiỏoviờncnphi:
ưHiurừcimtõmsinhlớlatuihcsinhTiuhctỏcng,
truynthkinthckhoahccỏcmụnhcncỏcemmtcỏchphựhp
nht,hiuqunht.
ư Giỏoviờnphi thngxuyờnluyn c cúth cmutht
chunttccỏcbitpc.
ưNmvngvphihpnhunnhuynnhiuphngphỏp,hỡnhthc

dyhctớchccgidycúhiuquthitthc.
ưhcsinhhcttphnluyncdincmtrongmtgitpc,
giỏoviờnphi hngdnhcsinhluyn cttphn c ỳng, c
nhanhvnmchccnidungbic.
ưSonbik,lnghoỏc thtngnhimvcatngphnhc;t,
ng,cõu,onnotrongbicnccdincm:thigiantngphn
hclbaonhiờu,dựngphngphỏpvhỡnhthcdyhcnochothớchhp
vitngthloivn,th,truyn...
ưSdngy,chớnhxỏc,hplýcỏcdựngtrcquanbtrtt
chophntpc(nhtlphnluyncdincm).Quantõmnttc
cỏcitnghcsinhtronglp,tochocỏcemmttõmth tt,mt
nimtinvovichc,khụngngikhútronghctp.
2.ivihcsinh:
rốnluynknngcdincmtktqutthcsinhcnphi:
ư Cnhcbitrc nhtheohngdncagiỏoviờn(chỳtrng
phncỳng,cnhanh).


16


 ­ Phải có đồ  dùng dạy học đầy đủ, đặc biệt là bút chì dùng để  gạch 
chân nhẹ những chỗ cần đọc đúng, cần nhấn giọng và đánh dấu nhịp thơ, 
câu văn cần đọc diễn cảm theo hướng dẫn của giáo viên.
­ Biết cách phối hợp cùng nhau trong giờ học (học nhóm), để bổ trợ cho  
nhau trong quá trình học tập chiếm lĩnh kiến thức mới. 
 ­ Tạo thói quen và dần ham thích đọc sách, đọc nhiều loại văn bản khoa 
học khác nhau để có cách đọc, cách cảm, cách nghĩ đa dạng và phong phú 
về  những gì được đọc. Giúp các em đọc đúng, đọc nhanh, đọc diễn cảm. 
Biết giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt và thêm yêu quý tiếng mẹ đẻ của  

mình. 
III. MỘT SỐ Ý KIẾN ĐỀ XUẤT:
Để  góp phần nâng cao chất lượng dạy học phần luyện  đọc diễn  
cảm   trong phân môn Tập đọc nói riêng, môn Tiếng Việt Tiểu học nói  
chung, tôi mạnh dạn đề xuất một số ý kiến như sau:
* Đối với giáo viên: Không ngừng học tập để  nâng cao trình độ  chuyên 
môn nghiệp vụ. Nâng cao tinh thần trách nhiệm đối với học sinh, mạnh 
dạn đổi mới phương pháp và hình thức tổ chức dạy học.
* Đối với nhà trường:
­ Thường xuyên tổ chức các buổi sinh hoạt chuyên môn để giáo viên 
trao đổi những vướng mắc, hay chia sẻ  những kinh nghiệm giảng dạy có 
hiệu quả trong quá trình công tác.
­  Tạo điều kiện về cơ sở vật chất để học sinh có thể được học hai 
buổi/ ngày.
*Đối với Ngành:  Để tạo ra động lực và thói quen thường xuyên luyện đọc  
cho cả  giáo viên và học sinh, hằng năm Ngành giáo dục nên tổ  chức cuộc  
thi : “ Đọc diễn cảm” cho giáo viên và học sinh.
Trên đây là sáng kiến kinh nghiệm của bản thân, được đúc rút trong  
quá trình công tác, với năng lực có hạn và áp dụng trong thực tế  dạy học  
chưa được lâu... nên không tránh khỏi những hạn chế  cần được bổ  sung, 
cần được làm sáng tỏ  thêm. Tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng  
góp, trao đổi, bổ sung từ phía các nhà lãnh đạo trong ngành Giáo dục và các 
bạn đồng nghiệp để  sáng kiến của tôi được hoàn thiện hơn và có thể  áp 
dụng rộng rãi trong thực tiễn dạy học.
Tôi xin chân thành cảm ơn !
                                                             Thanh Tân, ngày 05 tháng 04 năm 2011
Người viết:
                                                          

17





VThMai

Mục lục
PHN
A.
I.
II.

1.

2.
3.
B.
I.
II.

NIDUNG
Đặt Vấn đề
Lời mở đầu
THCTRNGCAVNNGHIấNCU
Thctrngdyhcưhọc phần luyện đọc diễn
cảm
trong phân môn Tập đọc ở Trờng Tiểu học
Thanh Tân 1.
Ktqurèn đọc diễn cảm của học sinh lớp 4A
Trờng Tiểu học Thanh Tân 1.

Nguyờnnhõn
Giải Quyết vấn đề
CCGIIPHPTHCHIN
MTSBINPHPTCHCTHCHIN


Trang
1
1
1

1

2
3
5
5
5
18


C.
I.
II.
III.

KẾT LUẬN
KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC
Bµi häc kinh nghiÖm
MỘT SỐ Ý KIẾN ĐỀ XUẤT


                                                          

13
13
13
14

19



×