MỞ ĐẦU
Pháp luật là công cụ để nhà nước quản lí xã hội và thực hiện các chức năng
khác của mình. Pháp luật là công cụ tối ưu khi nó phản ánh đúng với thực tế và
ngược lại. Cũng chính bởi lẽ đó mà có nhiều yếu tố xã hội ảnh hưởng đến hoạt
động xây dựng pháp luật. Sau đây bài viết của em xin trình bày vấn đề: “ Phân
tích các yếu tố xã hội tác động đến hoạt động xây dựng pháp luật. Cho ví dụ
gắn với một đạo luật cụ thể ở nước ta.”
NỘI DUNG
I. Một số vấn đề lí luận về xây dựng pháp luật:
1. Khái niệm xây dựng pháp luật:
Xây dựng pháp luật là phương diện hoạt động cơ bản của nhà nước nhằm
tạo ra công cụ, phương tiện, hữu hiệu phục vụ công tác quản lí nhà nước, quản lí
xã hội. Nói một cách khái quát, hoạt động xây dựng pháp luật là hoạt động soạn
thảo, ban hành các luật, văn bản pháp luật, bao gồm từ khâu nghiên cứu, soạn
thảo và công bố văn bản." Nếu nói về hoạt động xây dựng pháp luật về thực chất
là đề cập việc xây dựng và ban hành các loại văn bản quy phạm pháp luật của
các cơ quan nhà nước có thẩm quyền và cá nhân có thẩm quyền ở trung ương và
địa phương"
2. Chủ thể của hoạt động xây dựng pháp luật:
Xét về mặt chủ thể, hoạt động xây dựng pháp luật bao gồm không chỉ các
cơ quan chính quyền nhà nước, các nhà chức trách có thẩm quyền, mà còn có
các tổ chức đoàn thế xã hội được giao những nhiệm vụ thuộc chức năng quản lý
nhà nước.
Nhân dân là chủ thế rộng rãi của hoạt động xây dựng pháp luật. Nhân dân
đóng góp ý kiến vào việc xây dựng văn bản pháp luật, kiến nghị bổ sung, sửa
đổi văn bản cho phù hợp với thực tế cuộc sống.
II. Một số yếu tố xã hội ảnh hưởng đến hoạt động xây dụng pháp luật
Có rất nhiều yếu tố xã hội ảnh hưởng đến hoạt động xây dựng pháp luật.
Trong phần này chỉ xin đề cập sự ảnh hưởng của các yếu tố: năng lực soạn thảo
các dự án luật, thông tin đại chúng và dư luận xã hội.
1. Năng lực soạn thảo các dự án luật
Thực tế cho thấy, việc xây dựng, ban hành các văn bản quy phạm pháp luật,
nhất là các văn bản quy phạm pháp luật dưới luật ở nước ta trong thời gian qua,
mặc dù số lượng lớn, nhưng còn có những hạn chế nhất định; nhiều văn bản
chồng chéo nhau, có nội dung trùng lặp, thiếu đồng bộ, thậm chí mâu thuẫn
nhau làm cho hiệu quả điều chỉnh các quan hệ xã hội của pháp luật bị hạn chế
rất nhiều. Bên cạnh đó, chất lượng của các văn bản quy phạm pháp luật chưa
được cao, thiếu tính chặt chẽ, đồng bộ, phù hợp, kịp thời. Trình độ lập pháp, lập
quy chưa theo kịp sự chuyển biến nhanh chóng của thực tiễn đời sống xã hội nên
đã không tiên liệu, dự báo được hết những vấn đề, sự kiện, tình huống thực tiễn
có thể xảy ra trong thực tế xã hội. Từ đó, dẫn đến tình trạng có những văn bản
quy phạm pháp luật được ban hành không phù hợp hoặc nhanh chóng trở nên lạc
hậu so với yêu cầu cùa đời sống xã hội, không phát huy được hiệu lực, hiệu quả
trong thực tế cuộc sống.
Chất lượng của hoạt động xây dựng pháp luật, mà cụ thể là tính khả thi,
hiệu lực và hiệu quả của văn bản quy phạm pháp luật được ban hành phụ thuộc
rất nhiều vào năng lực soạn thảo các dự án luật. Vì vậy, đây là yếu tố có ảnh
hưởng mạnh mẽ nhất đến hoạt động xây dựng pháp luật, vấn đề này liên quan
đến các khía cạnh cụ thể sau đây:
Nhận thức của các chủ thể hoạt động xây dựng pháp luật về tầm quan
trọng, sự cần thiết của văn bản quy phạm pháp luật cần xây dựng, ban hành, về
trách nhiệm của chủ thể ở tất cả các khâu, các bước, từ đề xuất, kiến nghị xây
dựng chính sách, chương trình làm luật cho đến soạn thảo, thẩm định, thẩm tra,
xem xét, thông qua văn bản quy phạm pháp luật... đều có ảnh hưởng mạnh mẽ
đến chất lượng văn bản pháp luật. Sự nhận thức đúng đắn, đầy đủ hay mờ nhạt,
nửa vời sẽ quy định thái độ tích cực hay tiêu cực, sự hăng hái, nhiệt tình hay thờ
ơ, lãnh đạm của các chủ thể khi tham gia vào hoạt động xây dựng pháp luật. Đến
lượt mình, sự nhận thức này tác động đến năng lực soạn thảo và chất lượng các
văn bản quy phạm pháp luật được ban hành.
Trình độ hiểu biết xã hội, sự am hiểu nhất định của các chủ thể tham gia
hoạt động xây dựng pháp luật về lĩnh vực quan hệ xã hội đang cần có pháp luật
điều chỉnh có tác động rất quan trọng đến chất lượng văn bản quy phạm pháp
luật. Nếu các chủ thể có được sự hiểu biết đầy đủ, sâu sắc về các mặt, các khía
cạnh cụ thể của lĩnh vực quan hệ xã hội đang cần có văn bản quy phạm pháp
luật điều chỉnh, từ tình trạng thực tế, nguyên nhân phát sinh, tồn tại của vấn đề
mà thực tiễn đang đặt ra cho đến các nhân tố văn hóa - xã hội có tác động, ảnh
hưởng đến vấn đề đó,... thì chủ thể sẽ đề xuất được những quy phạm, chuẩn mực
pháp luật sát với thực tế; dự liệu được những khả năng, tình huống có thể phát
sinh trong tương lai để đưa ra các quy phạm pháp luật đón trước mà không cần
phải chờ sự kiện, vấn đề phát sinh sau đó mới xây dựng pháp luật. Ngược lại, sự
hiểu biết hời hợt, nông cạn về thực trạng các quan hệ xã hội là nguyên nhân làm
cho văn bản quy phạm pháp luật được ban hành có thể bị xa rời thực tiễn, không
phát huy được hiệu quả, tác dụng trong điều chỉnh các quan hệ xã hội.
- Tri thức, hiểu biết pháp luật và ý thức pháp luật của các chủ thể tham gia
hoạt động xây dựng pháp luật là yếu tố tác động mạnh mẽ đến chất lượng văn
bản quy phạm pháp luật được ban hành. Nó là cơ sở để các chủ thể nêu lên các
sáng kiến luật, lập đề nghị xây dựng luật, phân tích hình thức, nội dung, cấu trúc
của các dự thảo văn bản quy phạm pháp luật xem chúng đã hợp lí chưa, chỉ ra
tính hợp hiến hay không hợp hiến, sự trùng lặp hay không trùng lặp với những
văn bản đã được ban hành; đã bao quát được hết các khả năng, tình huống thực
tế có thể xảy ra hay còn bộc lộ những khe hở, thiếu hụt nào đó... Nhờ có kiến
thức, hiểu biết pháp luật, khi chủ thể xây dựng pháp luật chú trọng việc xem xét,
đánh giá những điểm nêu trên trong quá trình soạn thảo dự án luật sẽ cho ra đời
văn bản quy phạm pháp luật tốt, có chất lượng cao; ngược lại, sự chồng chéo,
thiếu đồng bộ trong văn bản là điều có thể nhìn thấy trước.
Hoạt động của cơ quan chủ trì soạn thảo, các cơ quan tham gia, phối hợp và
sự đề cao tính chịu trách nhiệm của mỗi cơ quan cũng có tác động, ảnh hưởng
không nhỏ đến chất lượng dự thảo văn bản quy phạm pháp luật, về nguyên tắc,
cơ quan chịu trách nhiệm soạn thảo dự án luật phải hoạt động độc lập thì mới
đảm bảo tính khách quan, vô tư trong dự liệu, đề ra các quy phạm pháp luật,
tránh được tình trạng “vừa đá bóng, vừa thổi còi. Sự tham vấn ý kiến của các cơ
quan khác là rất cần thiết nhằm khắc phục sự cảm tính, tùy tiện. Tham khảo các
văn bản pháp luật của nước ngoài ở lĩnh vực có liên quan cũng rất quan trọng,
nhưng chỉ là tham khảo, tránh dập khuôn, máy móc vì mỗi đất nước có nền kinh
tế, văn hóa, xã hội, phong tục, tập quán khác nhau.
Thực tế chỉ ra rằng, trong một số trường hợp, văn bản quy phạm pháp luật
được ban hành nhanh chóng trở nên lạc hậu so với yêu cầu của cuộc sống chính
là do năng lực soạn thảo dự án luật của các chủ thể tham gia hoạt động xây dựng
pháp luật còn nhiều hạn chế, trình độ kiến thức, hiểu biết xã hội, hiểu biết pháp
luật của họ còn thấp; chưa có các chuyên gia làm việc chuyên nghiệp trong lĩnh
vực này. Một số văn bản pháp luật điều chỉnh ngành nào, lĩnh vực nào thì giao
cho ngành đó soạn thảo nên chưa đảm bảo tính khách quan, vô tư trong các
chuẩn mực pháp luật. Tất cả những điều đó cần được khắc phục để có thể nâng
cao hơn nữa chất lượng của hoạt động xây dựng pháp luật. Nhà nước cần phải
có chính sách thu hút, đào tạo, bồi dưỡng, bố trí cán bộ, công chức tham gia xây
dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ quy
định tại Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật; hiện đại hóa phương tiện,
hạ tầng kĩ thuật; bảo đảm kinh phí cho hoạt động xây dựng chính sách, soạn
thảo, thẩm định, thẩm tra, chỉnh lí, hoàn thiện và ban hành văn bản quy phạm
pháp luật.
2. Thông tin đại chúng
Sự hoạt động của các phương tiện thông tin đại chúng như báo chí, phát
thanh, truyền hình có tác động, ảnh hưởng rất mạnh mẽ và quan trọng tới hoạt
động xây dựng pháp luật. Ảnh hưởng của các phương tiện thông tin đại chúng
tới hoạt động xây dựng pháp luật thể hiện ở các điểm cơ bản sau:
Các phương tiện thông tin đại chúng cung cấp thông tin tương đối đầy đủ
và đa dạng về các sự việc, sự kiện, hiện tượng pháp lí xảy ra trong đời sống
chính trị, xã hội, pháp luật; cung cấp những tri thức, hiểu biết pháp luật cần thiết
cho các chủ thể của hoạt động xây dựng pháp luật, phản ánh hoạt động tiếp xúc
cử tri của các đại biểu Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp, đưa tin về các kì
họp của Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp... Qua đó, các phương tiện thông
tin đại chúng tác động tới nhận thức của các chủ thể về tầm quan trọng của hoạt
động xây dựng pháp luật, tạo cơ sở thông tin để các tầng lớp xã hội tham gia vào
hoạt động xây dựng pháp luật.
Các phương tiện thông tin đại chúng đăng tải những thông tin về chính
sách pháp luật của nhà nước, các dự thảo văn bản quy phạm pháp luật mới, đưa
các thông tin đó nhanh chóng đến được với đông đảo các tầng lớp nhân dân. Các
phương tiện thông tin đại chúng tạo diễn đàn ngôn luận công khai để các chủ thể
của hoạt động xây dựng pháp luật tham gia bình luận, phân tích, đóng góp ý
kiến vào hình thức, nội dung, cấu trúc của văn bản quy phạm pháp luật. Đồng
thời, các phương tiện thông tin đại chúng đăng tải các thông tin phản hồi, các ý
kiến đóng góp của các nhà khoa học, các tầng lớp nhân
dân cho hoạt động xây dựng pháp luật. Bằng cách tác động đó, thông tin đại
chúng giúp cho các cơ quan nhà nước có thẩm quyền tập hợp thông tin, xử lí và
tiếp thu có chọn lọc các ý kiến xác đáng phục vụ cho việc sừa đổi, bổ sung và
ngày càng hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật.
- Các phương tiện thông tin đại chúng có vai trò định hướng thông tin pháp
luật, tạo lập các luồng dư luận xã hội tích cực phản ánh hoạt động xây dựng
pháp luật; góp phần đấu tranh chống lại các âm mưu phá hoại, các luận điệu
tuyên truyền, xuyên tạc và bịa đặt của các thế lực thù địch về nội dung, bản chất
hệ thống pháp luật của Nhà nước ta; củng cố niềm tin của nhân dân vào bản chất
ưu việt của hệ thống pháp luật xã hội chủ nghĩa.
3. Dư luận xã hội
Dư luận xã hội là tập hợp các ý kiến, thái độ có tính chất phán xét, đánh giá
của các nhóm xã hội hay của xã hội nói chung trước những vấn đề mang tính
thời sự, có liên quan tới lợi ích chung, thu hút được sự quan tâm của nhiều người
và được thể hiện trong các nhận định hoặc hành động thực tiễn của họ.
Trong bất kì một xã hội nào, dư luận xã hội cũng đều có ảnh hưởng nhất
định và trong nhiều trường hợp, còn có tác động mạnh mẽ đến các quá trình
chính trị, xã hội, đến việc lãnh đạo và quản lí xã hội. Trong lịch sử xã hội loài
người, dư luận xã hội đã đóng vai trò là yếu tố điều hoà các mối quan hệ xã hội
và điều chỉnh hành vi của con người. Sức mạnh của dư luận xã hội đã được thể
hiện ngay cả khi trong xã hội còn chưa xuất hiện các hiện tượng giai cấp, nhà
nước và pháp luật. Trong xã hội nguyên thuỷ, mặc dù dư luận xã hội chỉ tồn tại
với tư cách những ý kiến, quan điểm, thái độ, sự phán xét chung của cộng đồng
người, nhưng nó đã giữ vai trò vừa là phương tiện giáo dục, vừa là công cụ định
hướng, điều tiết hành vi của con người. Điều đáng sợ nhất đối với mỗi thành
viên trong xã hội nguyên thuỷ là bị dư luận xã hội lên án, bị cộng đồng ruồng
bỏ. Khi khái quát về chế độ xã hội nguyên thuỷ, Ph. Ăngghen đã nhận xét rằng,
trong chế độ xã hội này "ngoài dư luận công chúng ra, không có một phương
tiện cưỡng chế nào cả".(1) Trong xã hội có giai cấp, vai trò điều hoà các quan hệ
xã hội của dư luận xã hội được thể hiện cùng với pháp luật. Khi nói về pháp
luật, theo C. Mác, dư luận xã hội là “kết quả của việc biến ý thức xã hội thành
sức mạnh xã hội... nhờ có các luật pháp chung do chính quyền nhà nước thi
hành”.(2) Sự khẳng định của Mác cho chúng ta chiếc chìa khóa để hiểu biết về
cơ chế biến đổi dư luận xã hội thành sức mạnh xã hội và chỉ ra sự ảnh hưởng
của dư luận xã hội đối với hoạt động xây dựng, thực hiện và áp dụng pháp luật.
Dư luận xã hội có vai trò và tác động quan trọng đến nhiều lĩnh vực khác
nhau của đời sống xã hội, như kinh tế, chính trị, đạo đức, pháp luật, văn hóa,
giáo dục..., trong số đó, phải kể tới sự tác động, ảnh hưởng của dư luận xã hội
đối với hoạt động xây dựng pháp luật. Ở nước ta hiện nay, sự ảnh hưởng đó thể
hiện trên các phương diện sau:
Thứ nhất, dư luận xã hội là sự thể hiện lợi ích chung thông qua tiếng nói
chung của nhân dân, nên nó là điều kiện cần thiết để các tầng lớp nhân dân phát
1C. Mác và Ph. Ăngghen, Toàn tập, tập 21, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr. 251.
2C. Mác và Ph. Ăngghen, Toàn tập, tập 16, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr. 263.
huy quyền làm chủ, mở rộng nền dân chủ xã hội, tích cực tham gia vào hoạt
động xây dựng pháp luật. Các tầng lớp nhân dân là chủ thể rộng rãi của hoạt
động xây dựng pháp luật. Hiến pháp cùa Nhà nước ta đã khẳng định nguyên tắc
quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, đồng thời, thiết lập cơ chế bảo đảm sao
cho việc thực thi quyền lực nhà nước phục vụ cho lợi ích của nhân dân và luôn
nằm dưới sự kiểm soát của nhân dân. Dưới chế độ ta, nhân dân thực hiện quyền
lực nhà nước thông qua hai hình thức cơ bản là dân chủ trực tiếp và dân chủ đại
diện. Dân chủ trực tiếp là hình thức nhân dân trực tiếp thể hiện ý chí và nguyện
vọng của mình. Đây là hình thức hữu hiệu tạo cho nhân dân, với tính cách là chủ
thể tối cao và duy nhất của quyền lực nhà nước, khả năng tham gia tích cực và
chủ động vào các hoạt động của Nhà nước, trong đó có hoạt động xây dựng
pháp luật. Dân chủ đại diện là hình thức cơ bản mà thông qua đó, nhân dân thực
hiện quyền lực nhà nước, vận hành theo quy định của Hiến pháp. Theo cơ chế
này, nhân dân bầu ra cơ quan đại diện. Cơ quan đại diện trực tiếp nhận quyền
lực từ nhân dân nên còn được gọi là cơ quan quyền lực nhà nước, trong đó Quốc
hội là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, Hội đồng nhân dân là cơ quan
quyền lực nhà nước ở địa phương.
Thứ hai, dư luận xã hội là nguồn thông tin phản hồi có ý nghĩa rất quan
trọng và thiết thực đối với quá trình xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật,
đối với việc ban hành các quyết định của các cá nhân, nhà chức trách có thẩm
quyền. Để có được các văn bản pháp luật sát thực tế, các văn bản quản lí hành
chính nhà nước đúng đắn, có tính khả thi cao, trước khi xây dựng, soạn thảo các
dự án luật hay ban hành các quyết định, các cơ quan lập pháp, cơ quan quản lí
phải nắm bắt được thực trạng tư tưởng, tâm lí của các đối tượng xã hội chịu tác
động trực tiếp của văn bản quy phạm pháp luật. Mọi chủ trương, chính sách
pháp luật khó có thể trở thành hiện thực nếu không hợp lòng dân, không được
nhân dân ủng hộ. Khi đã có được các dự án luật, việc thu thập các thông tin phản
hồi từ dư luận xã hội lại càng quan trọng. Mọi vướng mắc, lệch lạc trong quá
trình triển khai thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật, do nhiều yếu tố khó
lường trước, đều được bộc lộ qua dư luận xã hội. Dư luận xã hội là một trong
những cơ sở thông tin phản hồi giúp các cơ quan nhà nước có thẩm quyền đưa ra
các văn bản, quyết định phù hợp lòng dân. Dư luận xã hội có tác dụng phát hiện
những thiếu hụt, những khe hở trong các văn bản quy phạm pháp luật, giúp cho
Nhà nước có biện pháp sửa đổi, bổ sung và điều chỉnh một cách kịp thời các văn
bản pháp luật còn khiếm khuyết, tháo gỡ các vướng mắc, khó khăn phát sinh
trong quá trình tổ chức thực hiện pháp luật.
Thứ ba, dư luận xã hội không mang tính pháp lí nhưng nó lại có sức mạnh
rất to lớn trong việc định hướng và điều chỉnh hành vi, hoạt động của các thành
viên trong xã hội. Trong hoạt động xây dựng pháp luật, các cá nhân, nhà chửc
trách có thẩm quyền, với tư cách chủ thể xây dựng pháp luật, cần phải biết lắng
nghe dư luận xã hội một cách nghiêm túc và phân tích nó một cách khoa học để
có thể rút ra được những kết luận chính xác về thực trạng của những lĩnh vực
quan hệ xã hội đang cần có pháp luật điều chỉnh. Nhờ đó, Nhà nước có thể ban
hành pháp luật một cách kịp thời, đồng bộ và hiệu quả; tác động đúng phạm vi,
đúng đối tượng cần điều chỉnh; góp phần tăng cường vai trò và hiệu lực của
công tác quản lí xã hội bằng pháp luật.
III. Ví dụ gắn với đạo luật cụ thể ở nước ta
1. Các văn bản quy phạm pháp luật ở nước ta ngày càng hoàn thiện và sát
thực tế hơn:
Hệ thống pháp luật nước ta đang ngày càng hoàn thiện và có chất lượng
cao hơn. Hầu hết các quan hệ xã hội đã được pháp luật phản ánh và điều chỉnh
một cách cụ thể hơn. Các văn bản pháp luật từ Hiến Pháp đến các văn bản dưới
luật đều được xây dựng dựa trên một nguyên tắc nhất định. Luật Ban Hành văn
bản quy phạm pháp luật đã phản ánh cụ thể vấn đề thẩm quyền xây dựng, nội
dung, hình thức văn bản quy phạm phạm pháp luật. Làm cho việc xây dựng
pháp luật được thống nhất và hoàn thiện hơn về nội dung các văn bản quy phạm
pháp luật.
Nội dung của các văn bản quy phạm pháp luật ngày càng phù hợp với điều
kiện kinh tế - xã hội của đất nước, kế thừa truyền thống, tập quán tốt đẹp của
dân tộc, hạn chế ý muốn chủ quan, duy ý chí. Các quy định của pháp luật ngày
càng thiết thực hơn với cuộc sống. Các quy định pháp luật lỗi thời lạc hậu so với
sự biến đổi của tình hình đất nước được thay thế bằng các quy định mới và ban
hành thêm các quy định mới để phù hợp với các quan hệ xã hội phát sinh.
Các chủ trương, chính sách của Đảng đã được thể chế hóa một cách sáng
tạo thành các quy định cúa pháp luật phù hợp với nguyên tắc Đảng lãnh đạo.
Trong thời gian qua, nội dung các văn bản pháp luật đã bám sát nhiệm vụ cách
mạng trong từng thời kỳ, thể chế hoá được nhiều đường lối, chính sách đổi mới
cúa Đảng trên nhiều lĩnh vực. Vì thế, nội dung của văn bản pháp luật chứa đựng
những tư duy pháp lý mới, làm cho luật, pháp lệnh trở thành phương tiện đầy
hiệu lực để đưa đường lối, chính sách của Đảng vào cuộc sống, làm cho đường
lối, chính sách của Đảng trở thành hiện thực. Việc thể chế hoá đường lối, chính
sách của Đảng thành các điều luật, pháp lệnh đã khắc phục được tình trạng "sao
chép” giản đơn, máy móc. Những tư duy chính trị - kinh tế mới trong cương
lĩnh, trong nghị quyết của Đảng đã được thể chế hoá thành những quy tắc xử sự
chung trong các trường hợp cụ thể, trên các lĩnh vực của đời sống xã hội và quan
tâm đến tính hiện thực của những quy phạm pháp luật. Vì vậy, nói chung, nội
dung của các dự án luật, pháp lệnh của nước ta thời gian qua so với trước đây đã
chứa đựng nhiều nội dung mới.
Trình độ lập pháp ngày càng cao. Tính rõ ràng và trong sáng trong các quy
định cúa pháp luật là tăng. Các quy định có tính dự báo cao và ngày càng phù
hợp hơn với thực tế hơn.
2. Hạn chế trong việc xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật ở nước ta:
Mặc dù có nhiều tiến bộ, nhưng, theo đánh giá của Nghị quyết Hội nghị
Trung ương 5, khóa X, "Hệ thống thể chế, pháp luật, nhất là thể chế kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa vẫn còn nhiều bất cập, vướng mắc".
Thứ nhất, các văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam hiện nay có thể
nói đang trong tình trạng vừa thừa vừa thiếu. Các văn bán quy phạm pháp luật ra
đời là để giải quyết, điều chỉnh các quan hệ, hành vi pháp lý nảy sinh trong xã
hội. Các quan hệ, hành vi pháp lý phát triển đến đâu thì các văn bản quy phạm
pháp luật phải được điều chỉnh đến đó. Chỉ có như thế thì các quy định mới
nhanh chóng đi vào cuộc sống, mới mang lại hiệu quả xã hội thiết thực. Tuy
nhiên, trên thực tế do hiểu không đúng về nhà nước pháp quyền, khi nhấn mạnh
đến vai trò tối thượng của pháp luật, nhưng lại đồng nhất với việc có nhiều văn
bản pháp luật được ban hành nên đang có tình hình muốn ban hành càng nhiều
văn bản quy phạm pháp luật càng tốt, lĩnh vực nào, ngành nào cũng muốn có
luật, pháp lệnh riêng của mình. Do vậy, nhiều vấn đề xã hội tuy chưa đặt ra yêu
cầu cần phải có những quy định điều chỉnh có tính chất pháp lý, nhưng một số
bộ, ngành, tố chức xã hội vẫn xây dựng các dự án luật trình và thuyết phục để
được thông qua. Kết quả là bên cạnh những bộ luật hoặc pháp lệnh nhanh chóng
đi vào thực tiễn và được cả xã hội đón nhận thì cũng có những luật, pháp lệnh
hoặc một phần nào đó của các văn bản này, ý nghĩa điều chỉnh thực tiễn không
cao hoặc rất yếu. Có thể thấy điều này khá cụ thể qua một số luật về đối tượng,
pháp lệnh về địa phương. Trong những văn bản đó do mang tính chính trị, chủ
trương nên không xác định rõ được quan hệ, hành vi, đối tượng, phạm vi điều
chinh. Nhiều quy định chỉ là các quan điểm hoặc mang tính hình thức, nặng về ỷ
nghĩa thuyết phục, hô hào, thiếu các quy định có tính chế tài - một đặc trưng
không thể thiếu của luật - nên hiệu lực pháp luật yếu, không thực sự đi vào cuộc
sống, hiệu quả xã hội không cao. Ngược lại, nhiều vấn đề rất cần phải được quy
định, điều chỉnh thì lại thiếu các văn bản pháp lý điều chỉnh. Thí dụ như những
vấn đề về thẩm quyền của chủ sở hữu phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp, trách
nhiệm cúa người đứng đầu các cơ quan hành chính, của cán bộ, công chức trong
thực thi công vụ, hoặc vấn đề bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng mà báo chí
đã nêu lại chưa được ban hành. Nói một cách khác, không ít các văn bản quy
phạm pháp luật được xây dựng chủ yếu xuất phát từ ý chí chủ quan của cơ quan
quản lý mà không phải từ yêu cầu của các quan hệ xã hội trên thực tế cần điều
chỉnh.
Thứ hai, nhiều văn bản quy phạm pháp luật được xây dựng "quá tầm".
Nhiều vấn đề xã hội chỉ cần các văn bản điều chỉnh của Chính phủ hoặc các văn
bản quy định cúa các bộ là đủ. Nhưng nhiều khi những vấn đề đó lại được nâng
lên điều chính trong các văn bản pháp luật ở cấp độ cao hơn, khiến cho việc xây
dựng bị kéo dài, không đáp ứng kịp thời việc xử lý những vấn đề xã hội đặt ra.
Do vậy, nội dung quy định của các văn bản này nhiều khi không sát hợp, thiếu
tính thuyết phục.
Nhiều văn bán tính dự báo và tiên liệu thấp, không đáp ứng yêu cầu phát
triển của tình hình.
Thứ ba, ngoài việc có nhiều văn bản "quá tầm'' còn có hiện tượng nhiều
quy định pháp luật còn thiếu hệ thống, thiếu sự tập trung, thống nhất và cụ thể.
Một quan hệ pháp lý nhưng lại được quy định rải rác trong nhiều văn bản ở
nhiều cấp khác nhau (quy định ở cả trong luật, nghị định, thông tư), nên rất khó
cho việc nắm vững và áp dụng một cách thống nhất. Có thể thấy điều này trong
hệ thống các văn bản điều chỉnh về cán bộ, công chức, về chính quyền đô thị
hay về hội; do vậy không thuận lợi cho việc thực thi pháp luật ở cả phía người
quản lý lẫn phía người bị quản lý.
Thứ tư, trong các văn bản quy phạm pháp luật, những nội dung khó thường
bị gác lại hoặc giao cho các văn bản có vị trí pháp lý thấp hơn quy định. Có
những văn bản luật được ban hành trong đó có nhiều điều giao cho Chính phủ
quy định (Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Pháp lệnh Cựu chiến binh, Luật
Thanh niên...). Tình hình này dẫn đến các quy định pháp luật trong các văn bản
luật hoặc nghị định rất ngắn, nhưng các văn bản triển khai hướng dẫn lại rất
nhiều và vì thế các văn bản pháp luật được xây dựng mất nhiều công sức, thời
gian, theo nhiều quy trình, thủ tục mà vẫn khó đi vào đời sống.
Thứ năm, tình trạng thiếu đồng bộ, thiếu thống nhất về nội dung giữa các
văn bản pháp luật còn khá nhiều.Tình trạng này thể hiện trên hai phương diện.
Một là, nhiều văn bản công bố sau mâu thuẫn với những quy định của văn bản
được ban hành trước đó(1). Hai là, luật ban hành nhưng do chưa có văn bản
hướng dẫn thi hành một cách kịp thời nên đã rơi vào tình trạng "nằm chờ" (2).
Thực tế đó cộng với việc có nhiều nội dung cần các văn bản dưới luật quy định
đã tạo cho các văn bản triển khai, hướng dẫn có giá trị pháp lý "cao" hơn luật,
pháp lệnh. Pháp lệnh đã ban hành, nhưng phải chờ nghị định; nghị định ban
hành phải chờ thông tư hướng dẫn mới thực hiện được.
Thứ sáu, tình trạng chồng chéo, trùng lặp khá phổ biến của các văn bản quy
phạm pháp luật.Nhiều quy định của văn bản này mâu thuẫn với quy định của
văn bản khác, thậm chí ngay trong một văn bản.Như vấn đề quy định giấy tờ sở
hữu nhà, đất hay trong lĩnh vực tổ chức bộ máy. Nhiều quy định không còn phù
hợp hoặc chậm được sửa đổì, bổ sung. Ngược lại, nhiều vấn đề cần phải được ổn
định thì lại thường xuyên sửa đổi, bổ sung, tính ốn định của nhiều văn bản chưa
cao, có những văn bản mới thông qua chưa có văn bản hướng dẫn thi hành đã
phải sửa, gây khó khăn trong việc hiểu, giải thích, áp dụng một cách thống nhất
và đầy đủ. Thí dụ như hệ thống pháp luật quy định về quản lý đất đai, cấp giấy
phép sở hữu nhà và đất. Các quy định này liên tục bị sửa đổi, bổ sung tạo tâm lý
không yên tâm trong quản lý và sử dụng tài sản của mình.
KẾT LUẬN
Vấn đề xây dựng pháp luật là một vấn đề quan trọng như vậy cho nên cần
nhận thức đúng đắn về vấn đề này. Hơn nữa cần khắc phục các tồn tại, hoàn
thiện luật ban hành văn bản pháp luật để việc xây dựng văn bản pháp luật được
chặt chẽ hơn. Làm cho mỗi người dân thực sự tham gia vào xây dựng pháp luật
và đáp ứng nguyện vọng của chính nhân dân.
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Giáo trình xã hội học pháp luật, trường đại học Luật Hà Nội
2. Tạp chí cộng sản điện tử
3. Tạp chí nghiên cứu lập pháp
4. Thông tin trên mạng Internet