Tải bản đầy đủ (.doc) (45 trang)

Nghiên cứu về đặc điểm hình thái và giải phẫu loài bồ hòn (sapindus saponaria line) tại trạm đa dạng sinh học mê linh vĩnh phúc (2017)

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.88 MB, 45 trang )

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA SINH - KTNN

======

PHẠM THỊ THÚY NGÂN

NGHIÊN CỨU VỀ ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI VÀ
CẤU TẠO GIẢI PHẪU LOÀI BỒ HÒN
(SAPINDUS SAPONARIA Line)
TẠI TRẠM ĐA DẠNG SINH HỌC MÊ LINHVĨNH PHÚC
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Thực vật học
Người hướng dẫn khoa học

TS. Đỗ Thị Lan Hương

HÀ NỘI – 2017


LỜI CẢM ƠN
Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Tiến sĩ Đỗ Thị Lan Hương đã
tận tình hướng dẫn em để hoàn thành khoá luận này.
Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong tổ Thực vật, khoa Sinh –
KTNN, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 đã tạo điều kiện giúp đỡ em trong
quá trình làm đề tài và hoàn thành khóa luận này.
Vì lần đầu tiên bước vào làm nghiên cứu nên không tránh khỏi những
thiếu sót, em rất mong nhận được ý kiến đóng góp của thầy cô và các bạn sinh
viên để khóa luận của em được hoàn thiện hơn.
Hà Nội, ngày tháng năm 2017
Sinh viên thực hiện



Phạm Thị Thúy Ngân


LỜI CAM ĐOAN
Khóa luận này được thực hiện dưới sự hướng dẫn của Tiến sĩ Đỗ Thị
Lan Hương.
Tôi xin cam đoan:
- Đây là kết quả của tôi nghiên cứu.
- Kết quả này không trùng với kết quả nghiên cứu của bất kì tác giả nào
đã được công bố.
Nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm.
Hà Nội, ngày tháng năm 2017
Sinh viên thực hiện

Phạm Thị Thúy Ngân


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU........................................................................................................... 1
1. Lí do chọn đề tài............................................................................................ 1
2. Mục đích nghiên cứu..................................................................................... 2
3. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn.......................................................... 2
3.1. Ý nghĩa khoa học..................................................................................... 2
3.2. Ý nghĩa thực tiễn ..................................................................................... 2
4. Bố cục khóa luận ........................................................................................... 2
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU ........................................................... 3
1.1. Lịch sử nghiên cứu hình thái và giải phẫu thực vật trên thế giới .............. 3
1.2. Quá trình nghiên cứu hình thái giải phẫu thực vật ở Việt Nam................. 6
1.3. Những nghiên cứu về loài Bồ hòn Sapindus saponaria L......................... 7

1.3.1. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước .......................................... 7
1.3.2. Sơ lược về Họ Bồ hòn ( Sapindaceae) ................................................. 7
CHƯƠNG II: ĐỐI TƯỢNG, ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU.................................................................................................. 9
2.1. Đối tượng nghiên cứu................................................................................. 9
2.2. Địa điểm nghiên cứu .................................................................................. 9
2.3. Thời gian nghiên cứu ................................................................................. 9
2.4. Phương pháp nghiên cứu............................................................................ 9
2.4.1. Phương pháp kế thừa ............................................................................ 9
2.4.2. Phương pháp nghiên cứu thực địa ....................................................... 9
2.4.3. Phương pháp ngâm mẫu tươi.............................................................. 10


2.4.4. Nghiên cứu trong phòng thí nghiệm................................................... 10
2.5. Giới thiệu chung về khu vực nghiên cứu ................................................. 11
2.5.1. Vị trí địa hình...................................................................................... 11
2.5.2. Địa chất và thổ nhưỡng....................................................................... 12
2.5.3. Khí hậu - thủy văn .............................................................................. 12
2.5.4. Thảm thực vật ..................................................................................... 12
CHƯƠNG III: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU..................................................... 14
3.1. Đặc điểm hình thái và cấu tạo giải phẫu rễ cây Bồ hòn (Sapindus
sapnoria L.)..................................................................................................... 14
3.1.1 Đặc điểm hình thái của rễ .................................................................... 14
3.1.2 Cấu tạo giải phẫu của rễ ...................................................................... 14
3.2. Đặc điểm hình thái và giải phẫu của thân loài Bồ hòn (Sapindus sapnoria
L.) .................................................................................................................... 15
3.2.1. Đặc điểm hình thái của thân ............................................................... 15
3.2.2. Cấu tạo giải phẫu của thân loài Bồ hòn.............................................. 16
3.3. Đặc điểm hình thái và giải phẫu của lá Bồ hòn (Sapindus sapnoria L.) . 19
3.3.1. Đặc điểm hình thái của lá ................................................................... 19

3.3.2. Cấu tạo giải phẫu của lá...................................................................... 20
3.4. Đặc điểm hình thái cơ quan sinh sản của loài Bồ hòn ............................. 25
3.4.1 Đặc điểm hình thái của hoa ................................................................. 25
3.4.2 Đặc điểm hình thái của quả ................................................................. 26
3.5. Giá trị tài nguyên của loài Bồ hòn .......................................................... 26
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ......................................................................... 31


1. Kết luận ....................................................................................................... 31
1.1. Hình thái ................................................................................................ 31
1.2. Giải phẫu................................................................................................ 31
2. Ý kiến đề xuất ............................................................................................. 32
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................ 33


DANH MỤC CÁC HÌNH
Ảnh 1: Rễ thu được tại địa điểm lấy mẫu thuộc TĐD Sinh học Mê Linh ...... 14
Ảnh 2: Cấu tạo rễ thứ cấp của loài Bồ hòn (Sapindus saponaria L.) .............. 15
Ảnh 3: Thân chính và một cành nhỏ của loài Bồ hòn tại điểm thu mẫu......... 16
Ảnh 4: Thân khi bóc vỏ ................................................................................... 16
Ảnh 5: Lát cắt ngang thân sơ cấp của loài Bồ hòn ......................................... 16
Ảnh 6: Một phần của thân sơ cấp.................................................................... 17
Ảnh 7: Một phần thân sơ cấp. 1.Lông đơn bào ............................................... 17
Ảnh 8: Đỉnh sinh trưởng của loài Bồ hòn ....................................................... 17
Ảnh 9: Lát cắt ngang thân thứ cấp của loài Bồ hòn ........................................ 18
Ảnh 10: Một phần thân thứ cấp của loài Bồ hòn ............................................ 19
Ảnh 11: Hình thái lá kép và lá chét của loài Bồ hòn ...................................... 19
Ảnh 12: Cành lá thu được tại điểm lấy mẫu ................................................... 20
Ảnh 13: Lá non có lông phủ mặt dưới ............................................................ 20
Ảnh 14: Lát cắt ngang phiến lá ....................................................................... 20

Ảnh 15: Lát cắt ngang đoạn phình to của cuống lá chính ............................... 22
Ảnh 16: Lát cắt ngang cuống lá phần phía trên đoạn cuống phình ................ 22
Ảnh 17: Lát cắt ngang cuống lá chét............................................................... 23
Ảnh 18: Lát cắt ngang gân chính của lá chét .................................................. 23
Ảnh 19: Một phần gân chính của lá chét ........................................................ 24
Ảnh 20: Hoa bồ hòn ........................................................................................ 25
Ảnh 21: Quả bồ hòn xanh và quả bồ hòn chín ................................................ 26
Ảnh 22: Chiết suất quả Bồ hòn làm chất tẩy rửa (Nguồn: internet) ............... 29


DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

TĐD

Trạm Đa dạng

P.T.T.Ngân

Phạm Thị Thúy Ngân

Tr

Trang

NXB

NHÀ XUẤT BẢN


MỞ ĐẦU

1. Lí do chọn đề tài
Họ Bồ hòn (Sapindaceae Juss. 1789) là họ thực vật có nhiều cây ăn quả
quen thuộc với người Á Đông nói chung và người Việt nói riêng như: Vải,
Nhãn, Chôm chôm, … Trong đó có cây Bồ hòn còn được gọi là Bòn hòn, Vô
hoạn tử; tên khoa học là Sapindus saponaria. Quả Bồ hòn là loại quả hạch
khi chín thịt quả mềm như đường mạch nha, có hoạt tính như xà phòng, được
người dân nhiều nước Châu Á sử dụng. Quả được dùng làm chất tẩy rửa, dầu
gội đầu. Thịt quả có hàm lượng saponin cao, có tính kháng khuẩn, và là tác
nhân sủi bọt nhẹ và tẩy rửa. Nhiều nước trên thế giới dùng quả Bồ hòn để làm
nguyên liệu tẩy trong chăm sóc da, tóc và cho các hiệu giặt. Chính saponin
trong thịt quả giúp ích cho việc tẩy các vết bẩn khỏi lòng bàn tay, làm giảm
nhẹ bệnh chàm, bệnh vảy nến, và được dùng như một chất bổ trợ trong ngành
dệt và sản xuất kem đánh răng. Nó cũng được dùng làm chất long đờm, gây
nôn, ngừa thai, chữa chứng động kinh, chứng đau nửa đầu, trị chấy, ngứa
ngáy, mẫn cảm da và điều chỉnh chứng chảy nước bọt thái quá. Cũng có nơi,
quả Bồ hòn được dùng điều trị nhiều bệnh khác như cảm lạnh, mụn nhọt,
động kinh, táo bón, nôn mửa… Một số nghiên cứu cho thấy nó còn có tác
dụng ngăn ngừa sự phát triển các tế bào u bướu.
Ở nhiều nước phương Tây (Canada, Mỹ, Anh…), quả Bồ hòn được
xem là nguyên liệu chính để sản xuất xà phòng thân thiện môi trường, không
độc hại, không gây ảnh hưởng xấu cho sức khỏe cộng đồng, và họ đã trồng
rừng bồ hòn để sản xuất một loại bột giặt nổi tiếng có tên là Bohdi Soap Nuts.
Chính vì quả Bồ hòn có rất nhiều điểm đặc biệt như vậy nên nó được
xem là cây quan trọng nhiều mặt ở nhiều nước Châu Á. Hiện nay, cây Bồ hòn
được trồng ở một số địa phương để lấy quả. Để giúp người trồng và nghiên
cứu xác định chính xác cây Bồ hòn, cung cấp thêm dẫn liệu về giải phẫu của

1



loài Bồ hòn chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu về đặc
điểm hình thái và giải phẫu loài Bồ hòn (Sapindus saponaria Line) tại
Trạm Đa dạng Sinh học Mê Linh - Vĩnh Phúc”
2. Mục đích nghiên cứu
- Mô tả đặc điểm hình thái, giải phẫu cơ quan sinh dưỡng và đặc điểm
hình thái cơ quan sinh sản của loài Bồ hòn thu được ở Trạm Đa dạng sinh học
Mê Linh- tỉnh Vĩnh Phúc.
- Giá trị tài nguyên của loài Bồ hòn.
3. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn
3.1. Ý nghĩa khoa học
Đề tài cung cấp những dẫn liệu khoa học về hình thái và giải phẫu loài
Bồ Hòn để phục vụ cho nghiên cứu và giảng dạy.
3.2. Ý nghĩa thực tiễn
Việc nghiên cứu về hình thái, giải phẫu sẽ giúp dễ dàng nhận biết loài Bồ
hòn trong thực tế thiên nhiên và nhiều nghiên cứu liên quan.
4. Bố cục khóa luận
Khóa luận gồm 43 trang, 22 ảnh. Khóa luận được chia thành các phần
chính với số trang như sau: mở đầu 2, tổng quan tài liệu 7, đối tượng – địa
điểm – thời gian và phương pháp nghiên cứu 5, kết quả nghiên cứu 17, kết
luận và kiến nghị 2, tài liệu tham khảo: 3 và các phần phụ gồm 7 trang cả bìa.


CHƯƠNG I
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Lịch sử nghiên cứu hình thái và giải phẫu thực vật trên thế giới
Thực vật có vai trò vô cùng quan trọng đối với con người cũng như các
sinh vật khác trên trái đất: điều hòa khí hậu, cung cấp khí oxi cho sự sống và
lương thực, thực phẩm, dược liệu,... Để tận dụng được những lợi ích mà thực
vật đem lại, con người ngày càng có nhu cầu hiểu biết nhiều hơn về nó. Hình
thái giải phẫu học thực vật là bộ môn khoa học chuyên nghiên cứu về hình

dạng bên ngoài và cấu tạo bên trong cơ thể thực vật. Ngay từ thời cổ đại, các
nhà khoa học đã nghiên cứu vấn đề này. Cho đến nay hình thái giải phẫu học
thực vật vẫn đang được tiếp tục nghiên cứu để làm rõ thêm các quy luật về
hình thái và cấu tạo cơ thể thực vật trong quá trình phát triển, thích nghi với
môi trường sống. Tuy nhiên, giới thực vật vô cùng phong phú, khả năng thích
nghi với môi trường tự nhiên của chúng thật đa dạng, điều này đã tạo nên
nguồn gen quý, sự đa dạng sinh học cho hành tinh chúng ta.
Thực vật học là bộ môn khoa học xuất hiện tương đối sớm. Cách đây
gần 3000 năm, một trong những công trình đầu tiên có tính chất khoa học mà
ngày nay người ta biết được là của Theophraste (317-286 trước công nguyên)
đã viết nhiều sách về thực vật như "Lịch sử Thực vật", "Nghiên cứu về cây
cỏ". Trong các sách đó, lần đầu tiên đề cập đến các dẫn liệu có hệ thống về
hình thái, cấu tạo cơ thể thực vật cùng với cách sống, cách trồng, cũng như
công dụng của nhiều loại cây.
Thế kỷ XVI-XVII, Caesalpine, Rivenus, Tournefort... đã xây dựng hệ
thống phân loại thực vật dựa trên cơ sở đặc tính hình thái của hạt, phôi và cánh
hoa.
Năm 1703, John Ray đã phân biệt sự khác nhau giữa cây Một lá mầm
và cây Hai lá mầm, tách chúng ra thành 2 nhóm phân loại lớn.


Thời kỳ phục hưng, nguồn lợi từ thực vật đối với việc phát triển của
chủ nghĩa tư bản với tư cách là một loại hàng hoá đã được đặc biệt chú ý.
Kiến thức về thực vật do đó cũng được tăng lên nhanh chóng. Nhiều hệ thống
phân loại ra đời, nhưng phải kể đến ở đây là Linnê (1707-1778), ông đã mô
tả
10.000 loài và xếp chúng vào một hệ thống nhất định. Hình thức ông dùng để
phân loại thực vật dựa vào hình thái cơ quan sinh sản mà trong đó chủ yếu là
nhị và một phần lá noãn.
Sau Linnê có một số nhà bác học như Tutxiơ, Ađanxơn, Oguxt,

Đơcanđôn, Anphônxơ đã có nhiều đóng góp cho phân loại hình thái và hệ
thống thực vật thông qua phương pháp nghiên cứu đặc điểm hình thái và cấu
tạo giải phẫu thực vật.
Tuy nhiên, việc nghiên cứu phân loại hình thái học thực vật của các nhà
khoa học đã nêu trên chỉ dựa vào việc quan sát đặc điểm hình thái của cây để
làm tiêu chuẩn.
Năm 1838, Robert Hook (Anh) đã phát minh ra kính hiển vi mở đầu cho
một giai đoạn mới nghiên cứu cấu trúc bên trong cơ thể thực vật.
Thế kỷ XVII - XVIII, nhờ sự phát triển của nhiều ngành khoa học như
vật lý, hóa học,... người ta đã thu được khá nhiều dẫn liệu quan trọng về cấu
tạo bên trong cơ thể thực vật, nên việc nghiên cứu thực vật không còn bó hẹp
trong việc sưu tầm mô tả nữa mà phương pháp thực nghiệm được sử dụng.
Hàng loạt các công trình khoa học đã ra đời, trong đó có:
+ "Giải phẫu thực vật" của M. Malpighi (Ý), (1675-1679).
+ "Anatomy of vegetables" của Grew (Anh), (1652).
Những nghiên cứu này có thể được xem là mở đầu cho khoa học giải
phẫu thực vật ngày nay.
Đầu thế kỷ XIX, các nhà khoa học đã tìm ra mối liên quan giữa cấu
trúc và một số chức năng cơ bản trong đời sống của thực vật như quang hợp,


hô hấp,...Năm 1874, Svendener đã chú ý đến việc áp dụng chức năng sinh lý
khi nghiên cứu giải phẫu thực vật. Năm 1884, Haberland đã phát triển hướng
nghiên cứu này trong cuốn sách "Giải phẫu - Sinh lý thực vật".
De Barry (1877) cho ra đời cuốn "Giải phẫu so sánh các cơ quan dinh
dưỡng", trong đó phân biệt các loại mô, túi tiết, mạch, ống nhựa mủ,...Cách
phân biệt của ông tuy còn mang tính chất nhân tạo nhưng cũng đánh dấu một
bước tiến bộ trong nghiên cứu cấu trúc của cơ thể thực vật.
Vào nửa sau thế kỷ XX, việc nghiên cứu hình thái, giải phẫu thực
vật ngày càng được đẩy mạnh và được ứng dụng cho một số ngành khác nhau

như sinh lý, sinh thái học thực vật, phân loại,... Các kết quả nghiên cứu trên
được tập hợp trong một số sách về giải phẫu thực vật của nhiều tác giả trên thế
giới, như: "Giải phẫu các họ cây Hai lá mầm và Một lá mầm" của Metcalfe và
Chalk (1950, 1960, 1961) là một công trình có giá trị, tập hợp đợc kết quả
nghiên cứu của nhiều tác giả trên thế giới.
Katherine Esau (1956) đã đề cập đến cấu tạo giải phẫu của một số cây
leo Hai lá mầm. Theo tác giả thân cây Hai lá mầm thuộc thân thảo không có
sinh trưởng cấp hai. Hệ thống mạch cấp một bao gồm các dải xếp sát nhau, có
kích thước thay đổi như: bí ngô (Cucurbita); mộc hương (Aristolochia). Còn
cây Một lá mầm thuộc thảo trong các lát cắt ngang của lóng có thể nhìn thấy
ba hệ thống mô thông thường, là biểu bì, mô cơ bản và mô dẫn. Các bó dẫn
này thường được phân bố theo hai mặt phẳng cơ bản, hoặc chúng nằm thành
hai vòng, một vòng bao gồm những bó nhỏ hơn, còn vòng kia gồm những bó
lớn hơn nằm sâu trong thân,...[9] [10].
Kixeleva (1977) mô tả khá kỹ cấu tạo giải phẫu cây Một lá mầm, cây
Hai lá mầm và một số hình thức biến thái của thân. Theo tác giả những cây
leo có thân dài và mềm dẻo. Tính mềm dẻo của chúng là do cấu tạo độc đáo
của gỗ mà ra. Gỗ ở cây leo không tạo thành vòng dày đặc thống nhất, mà bị
phân cắt ra bởi


các tia tuỷ hay bởi các phần libe thành những vùng riêng biệt [18].
1.2. Quá trình nghiên cứu hình thái giải phẫu thực vật ở Việt Nam
Ở Việt Nam, việc nghiên cứu hình thái giải phẫu thực vật chỉ thực sự
phát triển vào khoảng 30 năm trở lại đây. Tuy nhiên, cũng như hầu hết các
công trình nghiên cứu trên thế giới, phần lớn đều đi sâu quan sát mô tả cấu tạo
cơ quan dinh dưỡng, mô tả cấu tạo của cơ thể thực vật một cách chung chung.
Những năm gần đây, một số tác giả trong nước đã quan tâm nghiên cứu
một số loài, chi hay họ thực vật Hạt kín như:
Phan Nguyên Hồng (1970) mô tả hình thái và cấu tạo giải phẫu một số

cơ quan của các loài cây ngập mặn theo hướng thích nghi [12].
Nguyễn Bá (1974) nghiên cứu khá kĩ hình thái, cấu tạo các cơ quan
trong cơ thể thực vật nhưng lĩnh vực hình thái giải phẫu theo hướng thích
nghi thì lại chưa được đề cập nhiều [1].
Hoàng Thị Sản, Phan Nguyên Hồng, Nguyễn Tề Chỉnh (1980) và
Hoàng Thị Sản, Trần Văn Ba (1998) đều đề cập đến đặc điểm cấu tạo, sự phát
triển chung của cơ thể thực vật nhưng cũng chưa đưa ra được nhiều dẫn
chứng cụ thể về đặc điểm hình thái và giải phẫu thích nghi của loài [23].
Nguyễn Tề Chỉnh (1980) với đề tài nghiên cứu “Góp phần tăng cường
tính thực tiễn trong giáo trình giải phẫu và hình thái thực vật qua nghiên cứu
cấu tạo giải phẫu cơ quan dinh dưỡng một số cây hạt kín ở Việt Nam”. Số
lượng mẫu tác giả làm giải phẫu khá nhiều và phong phú trong đó có đề cập
qua một số loài: bầu bí, khoai lang, bìm bìm... Tuy nhiên, trong đề tài này chỉ
mô tả cấu trúc giải phẫu đơn thuần, chưa chỉ ra được những đặc điểm sai khác
giữa các loài nghiên cứu và vấn đề cấu tạo giải phẫu theo hướng thích nghi
hoàn toàn không đề cập đến.
Đỗ Thị Lan Hương (2012) trong luận án tiến sĩ “Nghiên cứu đặc điểm
hình thái và cấu tạo giải phẫu của một số loại cây dây leo thuộc miền bắc


Việt Nam” đã tìm ra đặc điểm thích nghi của một số loài cây Bầu bí trong
điều kiện khác nhau [14].
Như vậy, việc nghiên cứu hình thái giải phẫu thích nghi phù hợp với
chức năng của các cơ quan dinh dưỡng bước đầu được nghiên cứu một cách
cụ thể. Các công trình khoa học được nghiên cứu trên đối tượng là cây nội địa
chưa được nhiều. Do đó, dẫn chứng minh họa thực tế còn hạn chế.
Nhìn chung các công trình nghiên cứu hình thái, giải phẫu thích nghi
phù hợp với chức năng bước đầu đã được nghiên cứu một cách cụ thể.
1.3. Những nghiên cứu về loài Bồ hòn Sapindus saponaria L.
1.3.1. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước

- Trong nước: Một số công ty đã nghiên cứu và chiết suất từ quả bồ
hòn để làm ra nhưng sản phẩm thiên nhiên an toàn và thân thiện với môi
trường.Ví dụ như: sản phẩm dầu gội đầu, nước rửa kính, làm sạch trang sức,
quả giặt bồ hòn an toàn cho cả da em bé, vv…
- Ngoài nước: Ở các nước Châu Á việc sử dụng quả Bồ hòn làm xà
phòng đã được ứng dụng từ xa xưa. Ở nhiều nước phương Tây (Canada, Mỹ,
Anh…), quả Bồ hòn được xem là nguyên liệu chính để sản xuất xà phòng
thân thiện môi trường, không độc hại, không gây ảnh hưởng xấu cho sức khỏe
cộng đồng, và họ đã trồng rừng bồ hòn để sản xuất một loại bột giặt nổi tiếng
có tên là Bohdi Soap Nuts. Ở Ấn Độ, vỏ quả nghiền bột trộn với mật ong
chữa viêm phổi; ở Nepal dùng vỏ quả giã nát đắp hàng ngày chữa bệnh nấm
da, ghẻ; vỏ quả còn được phơi khô, tán nhỏ thổi vào họng chữa họng tắc
không nuốt được; hạt tán bột ngậm (nhổ nước) chữa hôi miệng và sâu răng.
1.3.2. Sơ lược về Họ Bồ hòn ( Sapindaceae)
Là một họ thực vật trong Bộ Bồ hòn (Sapindales). Họ này có khoảng
140-150 chi và 1.400-2.000 loài.
Chúng là các loại cây thân gỗ, cây bụi, cây thân thảo và dây leo sinh


sống trong vùng ôn đới và nhiệt đới trên toàn thế giới. Nhiều loài là các
loại "cây tiết sữa", tức là chúng chứa nhựa cây giống sữa, và nhiều loài chứa
các sanponin có độ độc tính vừa phải trong lá hoặc trong hạt. Lá của chúng
thường là lá kép lông chim.
Hoa nhỏ, mọc thành cụm hình xim (ít khi là hoa đơn độc), thường kèm
theo lá bắc. Các hoa cái chủ yếu ở gốc của cụm hoa còn hoa đực ở trên đỉnh
cụm. Có 5 đài hoa (đôi khi 4), rời hoặc hợp. Số lượng cánh hoa là 5 (đôi khi
là 4 hoặc không cánh), thường là rời, cũng có khi là hợp gốc. Thường có 8 nhị
hoa, được phân bổ thành hai vòng, mỗi vòng 4 nhị, nhưng số lượng nhị cũng
có thể là từ 4 đến 10 hoặc nhiều hơn. Các chỉ nhị thường có lông tơ.
Quả là loại có cùi hoặc khô, nứt ra hoặc không; phôi nhờn hoặc có tinh

bột, không có nội nhũ. Quả có thể là loại quả nang, quả hạch, quả hạt, quả
mọng, quả nứt hay quả cánh. Các hạt có vỏ hạt. Phôi mầm uốn cong hay cuộn
xoắn.


CHƯƠNG II:
ĐỐI TƯỢNG, ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng nghiên cứu
- Loài Bồ hòn (Sapindus sapnoria L.) được trồng ở khắp các tỉnh miền
Bắc nước ta như Cao Bằng, Lạng Sơn (Than Mọi), Bắc Cạn, Thái Nguyên,
Quảng Ninh, Hà Tây, Phú Thọ. Mẫu thu tại trạm Đa dạng sinh học Mê Linh Vĩnh Phúc.
- Ngoài ra, chúng tôi còn phân tích các mẫu vật thuộc loài này hiện được
lưu giữ tại Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật để xây dựng bản mô tả loài
này ở Việt Nam.
2.2. Địa điểm nghiên cứu
- Phòng thí nghiệm thực vật học của trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2.
Phòng Thực vật, Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật
- Đề tài được nghiên cứu tại Tram Đa dạng Sinh học Mê Linh, xã Ngọc
Thanh, thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc.
2.3. Thời gian nghiên cứu
- Từ tháng 08/2016- 05/2017
2.4. Phương pháp nghiên cứu
2.4.1. Phương pháp kế thừa
Kế thừa các kết quả về thông tin, số liệu và những tư liệu, kết quả liên
quan đến đề tài mà các công trình nghiên cứu đã báo cáo tổng kết công khai,
công bố, đăng tải trên các phương tiện thông tin chính thức về đặc điểm hình
thái của loài Bồ hòn.
2.4.2. Phương pháp nghiên cứu thực địa
+ Cách lấy mẫu: Chụp ảnh, thu mẫu cành có hoa.



+ Đánh số hiệu; cố định mẫu trong dung dịch đã chuẩn bị sẵn. Mẫu vật
được lưu trữ ở Phòng thí nghiệm Thực vật học của Trường Đại học Sư phạm
Hà Nội 2.
2.4.3. Phương pháp ngâm mẫu tươi
Ngâm mẫu tươi trong hỗn hợp dung dịch: 400ml rượu etylic 96%, 80ml
formol, 40ml axit axetic 40%, 280ml nước cất (theo phương pháp của
Pauseva, 1974). Dung dịch này giữ cho mẫu thực vật tươi lâu, để giữ mẫu
tươi lâu cần thay dung dịch 4 tháng 1 lần.
2.4.4. Nghiên cứu trong phòng thí nghiệm
* Làm tiêu bản giải phẫu tươi bằng dao lam cắt tay để quan sát cấu trúc
cơ quan cần nghiên cứu.
Làm tiêu bản cố định theo phương pháp của R.M. Klein và D.T.
Klein
(1979) [19, 20], Trần Công Khánh (1981).
Lát cắt được nhuộm kép với xanh metylen và cacmin. Các bước tiến hành:
 Mẫu vi phẫu sau khi cắt được ngâm ngay vào nước Javen 15–30 phút
để loại hết nội chất của tế bào.
 Rửa sạch Javen bằng nước cất rồi ngâm mẫu vào nước có pha axit
axetic trong 5 phút để loại hết nước Javen còn dính lại.
 Rửa hết axít axetic bằng nước cất.
 Nhuộm màu trong dung dịch cacmin khoảng 30 phút.
 Rửa lại trong nước cất.
 Nhuộm mẫu trong dung dịch xanh metylen (1-2 phút).
 Lấy vi mẫu ra, rửa sạch bằng nước cất rồi đưa lên kính quan sát với
nước hoặc dung dịch glyxerin (với nước sẽ quan sát mẫu tươi, còn với dung
dịch glyxerin quan sát tươi nhưng có thể để được trong thời gian vài ngày).
*Bóc biểu bì lá để quan sát cấu tạo hiển vi: Đun mẫu lá 1-2 phút trong
dung dịch HNO3 loãng cho đến khi lá có màu vàng nhạt và có nhiều bọt khí



trên bề mặt lá thì dừng lại. Lấy mẫu ra rửa sạch bằng nước cất, tách biểu bì
trên và biểu bì dưới. Đặt mẫu lên lam kính rồi dùng bút lông đánh nhẹ để thịt
lá trôi đi rồi quan sát.
Ghi lại hình ảnh quan sát được bằng máy ảnh kỹ thuật số nối với kính
hiển vi quang học OLIMPIA.
Quan sát, đo, đếm mẫu vật qua kính hiển vi quang học. Sử dụng trắc vi
vật kính và trắc vi thị kính để xác định kích thước tế bào và mẫu vật cần đo
theo phương pháp của Pauseva (1974)
- Thu thập, xử lý mẫu theo phương pháp nghiên cứu đa dạng thực vật về
thành phần loài.
- Phân loại theo phương pháp hình thái so sánh và phương pháp giải
phẫu.
- Phương pháp làm tiêu bản giải phẫu được thực hiện theo các bước xử lí
mẫu, cắt tiêu bản, nhuộm kép, quan sát, chụp ảnh trên kính hiển vi. Phân tích
giải phẫu cơ quan sinh dưỡng: thân, lá, rễ; và cơ quan sinh sản: hoa, quả, hạt.
2.5. Giới thiệu chung về khu vực nghiên cứu
2.5.1. Vị trí địa hình
Trạm đa dạng sinh học Mê Linh thuộc Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh
vật, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam nằm trên địa bàn xã
Ngọc Thanh, thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc. Giáp ranh với Vườn quốc gia
Tam Đảo theo hướng Đông, đó cũng chính là lí do vì sao Trạm còn được coi
là hành lang xanh của Vườn quốc gia này.
o

o

Khu vực Trạm có tọa độ: 21 23’57’’ – 21 23’35’’ vĩ độ Bắc
o


o

105 42’40’’ – 105 46’65’’ kinh độ Đông
Nằm ở độ cao gần 500m so với mực nước biển, tổng diện tích của Trạm
là 170,3 ha, trong đó chiều dài khoảng 300m, chiều rộng trung bình khoảng
550m (chỗ rộng nhất khoảng 800m, chỗ hẹp nhất khoảng 300m), bao gồm


hần 70ha rừng thứ sinh, 30ha rừng trồng, hơn 60ha cây bụi, ao suối và 3ha
dành cho khu nhà làm việc tại Trạm.
Đây thuộc vùng bán sơn địa phía Bắc huyện Mê Linh, là phần kéo dài về
phía Đông Nam của dãy Tam Đảo, có địa hình đồi và núi thấp xu hướng thấp
dần từ Bắc xuống Nam [11].
2.5.2. Địa chất và thổ nhưỡng
Đất gồm 2 loại chủ yếu là đất Feralit màu vàng và đất Feralit màu vàng
đỏ. Nhìn chung các loại đá mẹ khá cứng, thành phần khoáng có nhiều thạch
anh, Muscovit, khó phong hóa, hình thành nên các loại đất có thành phần cơ
giới nhẹ, cấp hạt thô, dễ bị rửa trôi và xói mòn, nhất là những nới dốc cao bị
xói mòn mạnh để trở lại phần đá rất cứng (điển hình là khu vực từ độ cao 300440m) [11].
2.5.3. Khí hậu - thủy văn
Đây là vùng nhiệt đới gió mùa, nằm rong vùng khí hậu chung của đồng
o

bằng Bắc Bộ, nhiệt độ trung bình hằng năm là 22-23 C, tập trung không đều,
tháng có nhiệt độ cao là tháng 6, tháng 7 và tháng 8. Còn mùa lạnh vào các
tháng 12, tháng 1 và tháng 2. Lượng mưa từ 1100-1600 mm/năm, phân bố
không đều [11].
2.5.4. Thảm thực vật
Theo các tài liệu đã thống kê, TĐD Sinh học Mê Linh có 171 họ thực vật

với 699 chi và 1126 loài. Trong đó:
+ Ngành Thông đất (Lycopodiophyta) 2 họ, 3 chi, 6 loài.
+ Cỏ tháp bút (Equisetophyta) 1 họ, 1 chi, 1 loài.
+ Dương xỉ (Polypodiophyta) 19 họ, 34 chi, 64 loài.
+ Ngành Ngọc lan (Magnoliophyta) 147 họ, 693 chi, 1151 loài.
+ Các họ khác có nhiều loài là: Thầu dầu (Euphorbiaceae) với 67 loài;
Cà phê (Rubiaceae) 35 loài, Lan (Orchidaceae) 38 loài; Cói (Cyperaceae) 35


loài; Đậu (Fagaceae) 35 loài; Gừng (Zingiberaceae) 20 loài; Ráy (Araceae) 22
loài; Cỏ roi ngựa (Verbenaceae) 21 loài; Đơn nem (Myrsinaceae) 20 loài; Cúc
(Asteraceae) 29 loài; Dâu tằm (Moraceae) 21 loài [21][24].
Hệ thực vật ở Trạm được chia thành các bộ, gồm bộ thực vật trên núi
đất, thực vật trên núi đá, thực vật hạt trần, bộ tre trúc, thực vật ưa ẩm, thực
vật thủy sinh…
Hệ sinh thái của Trạm giờ đây không chỉ có các loài cây địa phương mà
còn được bổ sung 88 loài thực vật trên khắp đất nước như: Kim giao, Nghiến,
Sưa, Sao đen, Nhội, Lát hoa, Vàng anh, Kháo, Chò nâu,... [11].


CHƯƠNG III
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1. Đặc điểm hình thái và cấu tạo giải phẫu rễ cây Bồ hòn (Sapindus
sapnoria L.)
3.1.1 Đặc điểm hình thái của rễ
Qua quan sát tại địa điểm lấy mẫu
chúng tôi thấy cây Bồ hòn có rễ cọc, rễ
chính to, dài, đâm sâu trong lòng đất. Rễ
bên nhỏ hơn mọc xung quanh tạo thành
một thể thống nhất bám chắc vào đất,

giúp cây đứng vững trong không gian.
Rễ của cây có chức năng chính là hút
nước, ion khoáng và giữ chặt cây vào Ảnh 1: Rễ thu được tại địa điểm lấy
mẫu thuộc TĐD Sinh học Mê Linh
đất.
(Nguồn: P.T.T.Ngân)
Quan sát mẫu thu được, rễ rất cứng
do các thành phần cấu tạo đã hóa gỗ và
vỏ ngoài màu nâu, xuất hiện nốt sần.
3.1.2 Cấu tạo giải phẫu của rễ
Cấu tạo thứ cấp của rễ cây bồ hòn được hình thành do sự hoạt động của
2 tầng phát sinh là tầng sinh vỏ và tầng sinh trụ.
Phần vỏ
Tầng bần gồm 2-3 lớp tế bào hình phiến, kích thước tương đối đồng đều,
xếp sít nhau tạo thành vòng bao quanh rễ. Vách tế bào hóa bần do thấm chất
suberin, làm cho tế bào mất nội chất sống và có màu vàng. Bần có đặc tính
không thấm nước và khí nên có tác dụng bảo vệ cho cây khỏi bị mất nước,


ngoài ra còn bảo vệ cho các mô ở bên trong không bị phá hoại. Bên ngoài rễ
còn có rất nhiều nốt sần nhỏ đó là lỗ vỏ. Dưới bần là 3-5 lớp tế bào mô
mềm vỏ có kích thước đều nhau, xếp thành các vòng liên tục, không có
khoảng
gian bào.

1
2
3
4
5

6
7

Ảnh 2: Cấu tạo rễ thứ cấp
của loài Bồ hòn (Sapindus
saponaria L.)
(Nguồn: P.T.T.Ngân)
1. Bần
2. Mô mềm vỏ
3. Gỗ
4. Lỗ vỏ
5. Tầng sinh trụ
6. Mô mềm ruột
7. Libe

Miền trụ giữa
Trụ giữa chiếm 3/5 diện tch mặt cắt ngang của rễ. Tế bào vỏ trụ (1-2
lớp) dạng hình phiến, kích thước đều nhau, xếp thành vòng liên tục. Hệ
dẫn của rễ tạo thành các bó xếp chồng, libe ở ngoài, gỗ nằm trong. các mạch
gỗ hình tròn hoặc hình trứng kích thước khá lớn. Tế bào libe khi nhuộm kép
bắt màu hồng, hình đa giác, kích thước nhỏ, xếp sít nhau.
Nằm trong cùng của lát cắt là mô mềm gỗ, với các dãy tế bào hình chữ
nhật nằm xen giữa mạch gỗ. Tiếp đến là mô mềm ruột với các tế bào có hình
đa giác gần tròn, số lượng ít, kích thước không đều và xếp lộn xộn.
3.2. Đặc điểm hình thái và giải phẫu của thân loài Bồ hòn (Sapindus
sapnoria L.)
3.2.1. Đặc điểm hình thái của thân
Thân loài Bồ hòn thuộc dạng thân gỗ, cao tới 25 m, đường kính tới 56



cm. Khi còn non, phần vỏ thân tại các đỉnh sinh trưởng tính từ ngọn xuống
khoảng 25-30 cm có màu lục (cành lộc non), quan sát kỹ bằng kính lúp chúng
tôi thấy phần trồi ngọn và lá non có lông đơn bào bao phủ. Khi sang giai đoạn
thứ cấp, phần vỏ thân có màu nâu xen lẫn màu lục đậm. Thân chính, các
cành
già vỏ sần sùi, màu nâu, không có lông bao phủ.

Ảnh 3: Thân chính và một cành nhỏ

Ảnh 4: Thân khi bóc vỏ

của loài Bồ hòn tại điểm thu mẫu

(Nguồn: P.T.T.Ngân)

(Nguồn: P.T.T.Ngân)
3.2.2. Cấu tạo giải phẫu của thân loài Bồ hòn
Cấu tạo giải phẫu thân Bồ hòn có dạng điển hình của thân cây Hai lá
mầm, gồm cấu tạo sơ cấp và cấu tạo thứ cấp. Ở các địa hình khác nhau
cấu tạo chung của thân là không thay đổi mà chỉ có những thay đổi nhỏ về
kích thước tế bào.
Phần sơ cấp
Lát cắt ngang thân cây của loài Bồ hòn gần đỉnh ngọn từ ngoài vào trong
gồm:

1
2
3
4


Ảnh 3: Lát cắt ngang thân
sơ cấp của loài Bồ hòn
(Nguồn: P.T.T.Ngân)
1. Biểu bì 2. Mô mềm vỏ


3. Bó dẫn 4. Mô mềm ruột


×