Tải bản đầy đủ (.doc) (74 trang)

Lựa chọn một số trò chơi nhằm phát triển sức nhanh cho trẻ 5 – 6 tuổi trường mầm non ngô quyền – vĩnh yên – vĩnh phúc (2017)

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (808.27 KB, 74 trang )

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC MẦM NON
------------------------

TRẦN THỊ KIỀU TRANG

LỰA CHỌN MỘT SỐ TRÕ CHƠI TRONG PHÁT
TRIỂN SỨC NHANH CHO TRẺ 5 - 6 TUỔI
TRƯỜNG MẦM NON NGÔ QUYỀN VĨNH YÊN - VĨNH PHÖC

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Ngành học: Giáo dục mầm non
Cán bộ hướng dẫn khoa học

TS. LÊ TRƯỜNG SƠN CHẤN HẢI

HÀ NỘI - 2017


LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đối với Thầy giáo – TS. Lê Trường Sơn
Chấn Hải, người đã tận tình hướng dẫn tôi hoàn thành khóa luận tốt nghiệp, từ
khâu chọn lựa đề tài đến hoàn chỉnh nội dung chi tiết. Những góp ý vô cùng
quý báu của thầy đã giúp tôi có những hiểu biết sâu sắc hơn về đề tài khóa
luận và gợi cho tôi phương pháp tổng hợp tài liệu và nghiên cứu hiệu quả.
Tôi xin chân thành cảm ơn tất cả các thầy cô giáo trong khoa, cũng
như các thầy cô giáo trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 đã luôn giúp đỡ, tạo
điều kiện cho tôi hoàn thành 4 năm Đại học một cách thuận lợi nhất.
Cuối cùng, tôi vô cùng biết ơn gia đình, người thân và bạn bè đã động
viên, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình viết khóa luận.
Hà Nội, ngày tháng năm 2017


Sinh viên

Trần Thị Kiều Trang


LỜI CAM ĐOAN
Tôi tên là: Trần Thị Kiều Trang
Sinh viên lớp: K39A GDMN Khoa GDMN trường ĐHSP Hà Nội 2.
Tôi cam đoan đề tài này là của riêng tôi, kết quả nghiên cứu của đề tài
này không trùng với bất cứ đề tài nào. Toàn bộ những vấn đề nghiên cứu đều
mang tính thời sự, cấp thiết và đúng thực tế của trường mầm non Ngô Quyền
– Vĩnh Yên – Vĩnh Phúc.
Hà Nội, ngày tháng năm 2017
Sinh viên

Trần Thị Kiều Trang


DANH MỤC BẢNG VÀ BIỂU
Bảng 3.1: Thực trạng về cơ sở vật chất và trang thiết bị tập luyện (n = 32) .. 33
Bảng 3.2: Thực trạng nhận thức về môn học Thể dục trong quá trình dạy
học môn Thể dục ở bậc học Mầm non............................................ 34
Bảng 3.3: Tổng hợp ý kiến đánh giá của giáo viên về năng lực giảng dạy
môn học Thể dục cho trẻ mầm non (n = 32)................................... 36
Bảng 3.4: Thực trạng tổ chức sử dụng trò chơi trong phát triển sức nhanh
cho trẻ trường mầm non Ngô Quyền (n = 32) ................................ 37
Bảng 3.5: Kết quả phỏng vấn giáo viên về lựa chọn một số trò chơi nhằm
phát triển sức nhanh cho trẻ 5 – 6 tuổi (n = 20).............................. 40
Bảng 3.6: Bảng phỏng vấn mức độ ưu tiên test kiểm tra đánh giá sức
nhanh cho trẻ mẫu giáo lớn trường mầm non Ngô Quyền. ............ 47

Bảng 3.7: Tiến trình giảng dạy trò chơi nhằm phát triển sức nhanh cho trẻ
5 – 6 tuổi trường mầm non Ngô Quyền.......................................... 48
Bảng 3.8: Kết quả kiểm tra trước TN của 2 nhóm ĐC và TN (nA = nB =
10). .................................................................................................. 50
Bảng 3.9: Kết quả kiểm tra sau TN của 2 nhóm ĐC và TN (nA = nB =
10) ................................................................................................... 50
Biểu đồ 3.1: Thành tích chạy 8m của 2 nhóm ĐC và TN trước và sau TN.... 52
Biểu đồ 3.2: Thành tích chạy cắm cờ của 2 nhóm ĐC và TN trước và sau TN
......................................................................................................................... 52
Biểu đồ 3.3: Thành tích chạy zích zắc của 2 nhóm ĐC và TN trước và sau TN
......................................................................................................................... 53


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
STT

Từ viết tắt

Giải thích từ viết tắt

1

ĐC

Đối chứng

2

ĐHSP


Đại học Sư phạm

3

GDMN

Giáo dục mần non

4

GDTC

Giáo dục thể chất

5

NXB

Nhà xuất bản

6

STT

Số thứ tự

7

TDTT


Thể dục thể thao

8

TN

Thực nghiệm


MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ................................................................................................... 1
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU................................... 4
1.1. Cơ sở lý luận xác định hướng nghiên cứu của đề tài ................................. 4
1.1.1. Những quan điểm của Đảng và Nhà nước về công tác GDTC cho trẻ
mầm non ............................................................................................................ 4
1.1.2. Cơ sở khoa học của lý luận GDTC cho trẻ lứa tuổi mầm non................ 6
1.2. GDMN trong hệ thống giáo dục quốc dân................................................. 9
1.2.1. Vị trí, vai trò của GDMN ........................................................................ 9
1.2.2. Mục tiêu của GDMN............................................................................. 11
1.2.3. Chương trình GDMN ............................................................................ 11
1.2.4. Nội dung, phương pháp GDMN ........................................................... 11
1.3. GDTC ở trường mầm non ........................................................................ 12
1.3.1. Vị trí và vai trò của môn GDTC đối với việc phát triển thể chất cho trẻ
mầm non .......................................................................................................... 12
1.3.2. Nhiệm vụ GDTC cho trẻ em lứa tuổi mầm non.................................... 13
1.4. Đặc điểm tâm lý của trẻ 5 - 6 tuổi trường mầm non Ngô Quyền ............ 15
1.4.1. Đặc điềm sinh lý.................................................................................... 15
1.4.2 Đặc điểm tâm lý ..................................................................................... 17
1.5. Một số nét của trò chơi trẻ em ................................................................. 19
1.5.1. Khái niệm trò chơi................................................................................. 19

1.5.2. Đặc điểm và cách thức phân loại trò chơi............................................. 20


1.5.3. Ý nghĩa của trò chơi .............................................................................. 20
1.6. Cơ sở giáo dục sức nhanh ........................................................................ 21
1.6.1. Khái niệm và các hình thức biểu hiện của sức nhanh........................... 21
1.6.2. Đặc điểm của sức nhanh ....................................................................... 22
1.6.3. Phương pháp giáo dục sức nhanh phản ứng vận động.......................... 23
CHƯƠNG 2. NHIỆM VỤ VÀ PHƯƠNG PHÁP TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU
......................................................................................................................... 25
2.1 Nhiệm vụ nghiên cứu ................................................................................ 25
2.2. Các phương pháp nghiên cứu................................................................... 25
2.2.1. Phương pháp đọc phân tích và tổng hợp tài liệu................................... 25
2.2.2. Phương pháp phỏng vấn........................................................................ 25
2.2.3. Phương pháp quan sát sư phạm............................................................. 26
2.2.4. Phương pháp kiểm tra sư phạm............................................................. 26
2.2.5. Phương pháp thực nghiệm .................................................................... 26
2.2.6. Phương pháp thống kê toán học............................................................ 27
2.3. Tổ chức nghiên cứu.................................................................................. 28
2.3.1. Thời gian nghiên cứu ............................................................................ 28
2.3.2. Đối tượng nghiên cứu............................................................................ 29
2.3.3. Địa điểm nghiên cứu ............................................................................. 29
CHƯƠNG 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU....................................................... 30
3.1. Thực trạng tổ chức GDTC và việc sử dụng một số trò chơi nhằm phát
triển sức nhanh cho trẻ 5-6 tuổi trường mầm non Ngô Quyền - Vĩnh Yên Vĩnh Phúc........................................................................................................ 30


3.1.1. Đánh giá thực trạng tổ chức GDTC cho trẻ 5 - 6 tuổi trường mầm non
Ngô Quyền - Vĩnh Yên - Vĩnh Phúc............................................................... 30
3.1.2. Thực trạng về cơ sở vật chất, trang thiết bị luyện tập........................... 31

3.1.3. Thực trạng về đội ngũ giáo viên và trình độ đội ngũ giáo viên của
trường .............................................................................................................. 33
3.1.4. Thực trạng năng lực giảng dạy môn học Thể dục của giáo viên ở trường
mầm non Ngô Quyền – Vĩnh Yên – Vĩnh Phúc ............................................. 34
3.1.5. Thực trạng của việc sử dụng một số trò chơi nhằm phát triển sức nhanh
cho trẻ 5 - 6 tuổi trường mầm non Ngô Quyền............................................... 36
3.2. Lựa chọn và đánh giá hiệu quả một số trò chơi phù hợp nhằm phát triển
sức nhanh cho trẻ 5 - 6 tuổi trường mầm non Ngô quyền - Vĩnh Yên - Vĩnh
Phúc ................................................................................................................. 38
3.2.1. Cơ sở lựa chọn một số trò chơi nhằm phát triển sức nhanh cho trẻ 5 -6
tuổi trường mầm non Ngô Quyền - Vĩnh Yên - Vĩnh Phúc............................ 38
3.2.2. Lựa chọn trò chơi nhằm phát triển sức nhanh cho trẻ 5 – 6 tuổi trường
mầm non Ngô Quyền – Vĩnh Yên – Vĩnh Phúc ............................................. 40
3.2.3. Lựa chọn test đánh giá sức nhanh cho trẻ 5 – 6 tuổi trường mầm non
Ngô Quyền – Vĩnh Yên- Vĩnh Phúc ............................................................... 47
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ......................................................................... 54
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC


1

ĐẶT VẤN ĐỀ
Nằm trong hệ thống giáo dục chung, GDMN được coi là một ngành học,
bậc học giữ vai trò nền tảng. Nó đặt nền móng cơ sở đầu tiên cho việc hình
thành và phát triển nhân cách trẻ mầm non và chuẩn bị cho trẻ vào lớp một.
Mục tiêu mà GDMN đó là: Giúp trẻ phát triển về thể chất, tình cảm, trí tuệ,
thẩm mĩ, hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách, hình thành và phát
triển ở trẻ em những chức năng tâm sinh lý, năng lực và phẩm chất mang tính
nền tảng, những kĩ năng sống cần thiết phù hợp với lứa tuổi, khơi dậy và phát

triển tối đa những khả năng tiềm ẩn, đặt nền tảng cho việc học tập ở các cấp
học tiếp theo và cho việc học tập suốt đời. Trách nhiệm này đặt trên vai ngành
giáo dục đòi hỏi ngành phải có những nội dung, chương trình phù hợp, đổi mới
phương pháp dạy và học một cách tích cực. Giáo dục không chỉ hoàn thành
việc đào tạo những con người thích ứng với xã hội mà còn đào tạo ra những
con người đủ phẩm chất và trí tuệ, thể lực để đáp ứng sự phát triển của xã hội.
Trong các mặt giáo dục trên thì GDTC mầm non phải là nhiệm vụ hàng
đầu, quan trọng nhất, vì sức khoẻ là vốn quý giá nhất và có ý nghĩa sống còn
với con người, đặc biệt đối với trẻ mẫu giáo. Ở lứa tuổi này, cơ thể trẻ đang
trong giai đoạn phát triển mạnh mẽ và hoàn thiện dần, vì thế cơ thể trẻ còn
non yếu dễ bị phát triển lệch lạc và mất cân đối. Do vậy, trẻ chỉ có thể phát
triển tốt nếu như được chăm sóc một cách hợp lý.
GDTC là một bộ phận quan trọng của giáo dục toàn diện. C.Mác đã đánh
giá rất cao ý nghĩa của GDTC, theo Mác “Việc kết hợp lao động sản xuất với
trí dục và thể chất không những chỉ là một trong những phương tiện tăng sản
xuất xã hội mà còn là phương tiện duy nhất để đào tạo con người phát triển
toàn diện” [14] . Vì vậy, GDTC cho trẻ trước tuổi đến trường phổ thông càng
có ý nghĩa quan trọng hơn.


2

Ở lứa tuổi mẫu giáo hoạt động vui chơi đóng vai trò chủ đạo, bởi vui
chơi đã gây ra những biến đổi về chất, có ảnh hưởng quyết định đến sự hình
thành nhân cách và là tiền đề cho sự học tập ở lứa tuổi tiếp theo. Phương
châm “học mà chơi, chơi mà học” luôn được quán triệt trong công tác chăm
sóc giáo dục trẻ. Việc kết hợp các trò chơi trong hoạt động học có chủ đích tại
trường mầm non có ý nghĩa vô cùng to lớn trong việc: rèn luyện thể lực, sự
khéo léo, nhanh nhẹn, sự nhịp nhàng, rèn luyện trí tuệ, sự nhanh trí, óc phán
đoán, gợi xúc cảm thẩm mĩ, khả năng hoạt động nhóm, gắn kết tình bạn,…

Trò chơi được xem là hình thức giáo dục đơn giản, giúp hình thành nhân
cách cũng như phát triển thể chất cho trẻ. Trẻ em không chỉ cần được chăm sóc
sức khỏe, được học tập, mà quan trọng nhất trẻ cần được thỏa mãn nhu cầu vui
chơi. Đúng như PGS. TS Nguyễn Văn Huy Giám đốc Bảo tàng Dân tộc học
Việt Nam đã nói: “Cuộc sống đối với trẻ mầm non không thể thiếu những trò
chơi”. Do vậy, hướng dẫn và tổ chức cho trẻ chơi các trò chơi một các khoa
học, hợp lý là nhiệm vụ quan trong của các cô giáo mầm non, các bậc cha mẹ
và những người lớn nói chung. Làm tốt nhiệm vụ này là chúng ta đã góp phần
mang lại lợi ích cho đất nước, niềm vui và hạnh phúc cho tuổi thơ.
Trong quá trình nghiên cứu tại trường mầm non Ngô Quyền – Vĩnh yên
– Vĩnh Phúc, quan sát và thấy được việc sử dụng các trò chơi trong phát triển
thể chất nói chung, phát triển sức nhanh cho trẻ 5 – 6 tuổi nói riêng còn nhiều
hạn chế, các trò chơi được sử dụng để GDTC cho trẻ còn nghèo nàn và chưa
tạo được hứng thú cho trẻ 5- 6 tuổi chính vì những lý do trên tôi thấy việc
nghiên cứu đề tài: “Lựa chọn một số trò chơi nhằm phát triển sức nhanh cho
trẻ 5 – 6 tuổi trường mầm non Ngô Quyền – Vĩnh Yên – Vĩnh Phúc” là vô
cùng cần thiết.


3

* Lịch sử vấn đề nghiên cứu đề tài
Bàn về vấn đề sử dụng một số trò chơi nhằm phát triển sức nhanh cho trẻ
5 – 6 tuổi có nhiều tác giả đề cập đến như:
- Nguyễn Thị Thúy Mai, lựa chọn một số trò chơi vận động nhằm phát
triển sức nhanh cho trẻ mẫu giáo lớn (5 – 6 tuổi) trường mầm non Vĩnh Sơn –
Vĩnh Tường – Vĩnh Phúc, (ĐHSP Hà Nội 2/2013).
- Nguyễn Thị Hương, lựa chọn và ứng dụng một số trò chơi vận động để
phát triển sức mạnh cho trẻ mẫu giáo lớn (5 – 6 tuổi) trường mầm non Ngô
Quyền – Vĩnh Yên – Vĩnh Phúc, (ĐHSP Hà Nội 2/2014)

Như vậy có rất nhiều đề tài nghiên cứu vấn đề sử dụng một số trò chơi
nhằm phát triển sức nhanh cho trẻ 5 – 6 tuổi nhưng chưa có ai nghiên cứu đề
tài “Lựa chọn một số trò chơi nhằm phát triển sức nhanh cho trẻ 5 – 6 tuổi
trường mầm non Ngô Quyền - Vĩnh Yên - Vĩnh Phúc” vì vậy chúng tôi lựa
chọn đề tài này để tiến hành nghiên cứu.
* Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu và lựa chọn được một số trò chơi nhằm phát triển sức nhanh
cho trẻ 5 - 6 tuổi trường mầm non Ngô Quyền - Vĩnh Yên - Vĩnh phúc, thông
qua đó nâng cao chất lượng và hiệu quả GDTC cho trẻ.
* Giả thuyết khoa học
Nếu các trò chơi được tổ chức khoa học, hợp lý, phù hợp với lứa tuổi của
trẻ mẫu giáo lớn (5 – 6 tuổi) trường mầm non Ngô Quyền – Vĩnh Yên – Vĩnh
Phúc, sẽ góp phần nâng cao phát triển toàn diện cho trẻ, đặc biệt là phát triển
được sức nhanh cho trẻ một cách tốt nhất.


4

CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Cơ sở lý luận xác định hướng nghiên cứu của đề tài
1.1.1. Những quan điểm của Đảng và Nhà nước về công tác GDTC cho trẻ
mầm non
Hồ Chủ tịch đã từng căn dặn: “Dạy trẻ như trồng cây non, giáo dục mẫu
giáo tốt sẽ mở đầu cho một nền giáo dục tốt” [1]. Nhận thức được vai trò của
GDMN trong sự hình thành và phát triển nhân cách con người Việt Nam hiện
đại, giáo dục trẻ trước tuổi học – giáo dục tiền học đường, luôn được Đảng và
nhà nước ta đặc biệt quan tâm, định hướng xác định mục tiêu, nhiệm vụ giáo
dục học sinh lứa tuổi mầm non. Nghị quyết số 14 NQ/TW ngày 11/1/1979
của Bộ Chính trị về cải cách giáo dục đã chỉ rõ “… kết hợp các biện pháp thể

dục khoa học và những biện pháp y học hiện đại để bảo vệ sức khỏe và rèn
luyện cho các cháu làm cho thể chất của các cháu ngay từ bé đã được nuôi
dưỡng và phát triển tốt” [3]. Trong thư của Nguyên Tổng bí thư Đỗ Mười gửi
tạp chí “Vì trẻ thơ” có viết: “Bảo vệ và chăm sóc giáo dục trẻ em, là một
trong những mắt xích đầu tiên của quá trình triển khai thực hiện chiến lược
con người” [10].
Quan điểm giáo dục hiện đại và tiến bộ nhất nhấn mạnh rằng, cùng với
việc chăm lo nuôi dưỡng, bảo vệ sức khỏe của trẻ, chủ động tạo ra những kích
thích, làm nảy sinh nhu cầu phát triển mới, từng bước hoàn thiện và phát triển
nhân cách của trẻ. Vì vậy, việc chăm sóc và giáo dục trẻ ngay từ những năm
đầu tiên của cuộc sống là một việc làm hết sức cần thiết và có ý nghĩa vô cùng
quan trọng trong sự nghiệp chăm lo đào tạo và bồi dưỡng thế hệ trẻ trở thành
những chủ nhân tương lai của đất nước.


5

Con người cần phải được giáo dục, đào tạo một cách có hệ thống ngay từ
những bước chập chững đầu tiên. Trong những điều kiện phát triển giáo dục
một cách đặc biệt thì khả năng tiềm tàng to lớn của trẻ sẽ được bộc lộ và do
đó việc hình thành nhân cách cho trẻ sẽ thu được những thành công to lớn.
Nhiều công trình khoa học trên thế giới và ở Việt Nam đã chứng minh được
lợi ích và hiệu quả của việc “can thiệp” vào lứa tuổi mầm non. Việc chăm sóc
sức khỏe của trẻ một cách khoa học từ khi trẻ còn nhỏ sẽ đảm bảo phát triển
toàn diện, đúng hướng, làm cơ sở cho sự phát triển trong những giai đoạn tiếp
theo của con người.
Do vậy, giáo dục nói chung và GDTC nói riêng cho trẻ trước tuổi đi học
có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Nếu trẻ không được chăm sóc, GDTC đúng
đắn và có hệ thống sẽ gây ra những thiếu sót trong sự phát triển của cơ thể trẻ,
mà về sau không thể khắc phục được. Có thể nói sự thành công trong bất kì

hoạt động nào của trẻ cũng đều phụ thuộc vào trạng thái sức khỏe. Sức khỏe
tốt sẽ tạo điều kiện cho trẻ tiếp thu quá trình một cách toàn diện.
Quan điểm Giáo dục và Đào tạo đến năm 2020 là thực hiện mục tiêu
giáo dục toàn diện ở tất cả các bậc học, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa,
hiện đại hóa đất nước. Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII đã khẳng định: Ở
bậc học, cấp học, ngành học nhất thiết không được coi nhẹ việc chăm sóc, bảo
vệ sức khỏe cho học sinh, tạo điều kiện cho các em được rèn luyện thông qua
các hoạt động, đặc biệt là hoạt động TDTT, để bản thân các em được thoải
mái về thể chất, tinh thần và xã hội [4].
Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IV (1976) đã chỉ rõ: “… Cần
đẩy mạnh phong trào thể dục, thể thao có tính quần chúng rộng lớn trong cả
nước, trước hết là ở cơ sở, nhằm thiết thực phục vụ sản xuất, công tác và học
tập, phục vụ quốc phòng, góp phần xây dựng con người mới và nếp sống
mới” [2]


6

Ngày 11 tháng 01 năm 1979, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 14 –
NQ/TW về cải cách giáo dục, trong đó nhấn mạnh:… chăm lo xây dựng thói
quen giữ gìn vệ sinh và rèn luyện thân thể của học sinh, đẩy mạnh các hoạt
động Thể dục, thể thao, nâng cao chất lượng luyện tập quân sự, chuẩn bị tốt
cho học sinh về ý thức và năng lực sẵn sàng chiến đấu bảo vệ Tổ quốc.[3]
Đối với GDMN việc kết hợp những phương pháp thể dục khoa học và
những biện pháp y học hiện đại để bảo vệ sức khỏe và rèn luyện cơ thể các
cháu, làm cho thể chất của các cháu ngay từ bé đã được nuôi dưỡng và phát
triển tốt.
1.1.2. Cơ sở khoa học của lý luận GDTC cho trẻ lứa tuổi mầm non
1.1.2.1. Cơ sở tư tưởng
Trong đời sống thực tế xã hội, không có GDTC chung chung tồn tại

ngoài điều kiện lịch sử cụ thể. Trong mỗi chế độ kinh tế xã hội nhất định đều
có quan điểm về GDTC.
Các nhà lý luận giáo dục duy tâm cho rằng, GDTC là bản tính hay nhu
cầu bản năng của con người giống như các sinh vật khác, GDTC mang tính
chất bẩm sinh của con người cũng tương tự như “sự giáo dục” – bắt trước của
loài vật vậy như đi, chạy, nhảy,… Với lập luận này, trên thực tế họ đã phủ
nhận vai trò của lao động và tư duy – một hiện tượng mới về chất đã làm cho
con người khác biệt với các loài vật. Theo họ, thực tiễn của hình thức giáo
dục này nhằm thỏa mãn những yêu cầu bản năng nào đó và hầu như không có
liên hệ đến yêu cầu xã hội và giáo dục và cả nội dung của giáo dục.
Các nhà lý luận giáo dục duy vật cho rằng: GDTC là một hiện tượng xã
hội – là phương tiện phục vụ xã hội, chủ yếu nhằm nâng cao thể chất, đồng
thời tác động mạnh mẽ đến sự phát triển tinh thần của con người. Họ khẳng
định rằng, chỉ khi nào con người tự giác tập luyện các bài tập thể chất, nhằm
phát triển cơ thể của bản thân để chuẩn bị cho những hoạt động thể chất nhất
định thì lúc đó GDTC thật sự có hiệu quả.


7

Các tư tưởng tiến bộ về giáo dục toàn diện, đó là con người phải được
phát triển hài hòa giữa thể chất và tinh thần đã xuất hiện trong kho tàng văn
hóa chung của xã hội loài người từ nhiều thế kỷ trước đây.
Tuy nhiên, do tính chất của quan hệ xã hội và lịch sử trong các chế độ ấy
thực sự đã không vượt ra khỏi giới hạn của những ước mơ tư duy cao đẹp
nhưng không có điều kiện khách quan để biến thành hiện thực.
Trên cơ sở nghiên cứu một cách sâu sắc quy luật khách quan của sự phát
triển xã hội, Các Mác và Ăngghen đã chứng minh sự phụ thuộc của giáo dục
và điều kiện vật chất, khám phá bản chất xã hội và giai cấp của giáo dục. Các
Mác nhấn mạnh rằng: “Giáo dục trong tương lai sẽ kết hợp lao động sản xuất

của xã hội, mà còn là biện pháp duy nhất để đào tạo con người phát triển toàn
diện” [14].
Công lao lớn nhất của C.Mác là phát hiện ra sự tái sản xuất trong mỗi
con người để xã hội phát triển. Ông coi GDTC là một bộ phận hữu cơ của
hiện tượng giáo dục, là điều kiện tất yếu đối với việc phát triển con người một
cách toàn diện. GDTC là phương tiện quan trọng để phát triển thể lực con
người và nó được bắt đầu từ lứa tuổi nhỏ. GDTC cho trẻ mầm non là cơ sở
phát triển toàn diện, rèn luyện cơ thể, hình thành những thói quen vận dộng
cần thiết cho cuộc sống.
Như vậy, luận điểm về tính tất yếu của sự phát tiển toàn diện về thể chất
và tinh thần, luận điểm về sự thống nhất giữa các mặt giáo dục đức, trí, thể,
mĩ và lao động trong thuyết học của Mác và sau này người kế tục là V.I.Lênin
đã trang bị cho lý luận GDTC phương pháp nhận thức và cho phép nghiên
cứu sâu sắc những quy luật sư phạm trong quá trình GDTC cho con người nói
chung, cho trẻ mầm non nói riêng.
1.1.2.2. Cơ sở khoa học tự nhiên
Cơ sở khoa học tự nhiên của GDTC là toàn bộ các môn khoa học mà
nhiệm vụ của nó là nghiên cứu những quá trình phát triển sinh học của con


8

người. Những kiến thức khoa học này được xây dựng trên cơ sở học thuyết
của các nhà sinh học vĩ đại như: I.M.Xêtrênnốp (1829 – 1905) I.P.Paplốp
(1849 -1936) và những người kế tục. Các học thuyết đó bao gồm: học thuyết
về sự thống nhất giữa cơ thể và môi trường, học thuyết về mối liên hệ thần
kinh tạm thời của các phản xạ có điều kiện và sự hình thành định hình động
lực, học thuyết về hoạt động thần kinh cao cấp.
Các môn khoa học tự nhiên nghiên cứu các quá trình phát triển sinh học
của con người, quy luật về sự thay đổi trong cơ thể do ảnh hưởng của luyện

tập TDTT, quy luật về sự thay đổi cơ chế sinh lý theo giới tính và theo lứa
tuổi ảnh hưởng của lượng vận động, những biểu hiện của những quy luật vật
lý, sinh học trong các động tác kỹ thuật của bài tập thể chất tác động lên cơ
thể con người,…
Những môn khoa học thuộc nhóm này bao gồm: sinh lý TDTT, sinh cơ
học, sinh hóa học TDTT, vệ sinh họcTDTT, y học TDTT, thể dục chữa bệnh.
Sinh lý học TDTT nghiên cứu những quy luật hình thành kỹ năng, kỹ
xảo vận động và quá trình phát triển tố chất thể lực của con người, cấu tạo của
cơ thể, chức năng hoạt động của các cơ quan và hệ cơ quan, đặc điểm phát
triển vận động trẻ em theo lứa tuổi.
Sinh cơ học TDTT giúp cho việc nghiên cứu kỹ thuật của bài tập thể
chất, đánh giá chất lượng thực hiện chung, đề ra phương pháp sửa chữa động
tác sai và đạt kết quả tốt nhất trong quá trình hình thành kỹ năng vận động.
Sinh hóa học TDTT nghiên cứu các quá trình hóa học diễn ra trong cơ
thể khi thực hiện bài tập thể chất cho phép hoàn thiện phương pháp tiến
hành chúng.
Vệ sinh học TDTT nghiên cứu những vấn đề có liên quan đến chế độ
vận động hợp lý, các phương tiện hoạt động TDTT.
Y học TDTT nghiên cứu những vấn đề đảm bảo về mặt sức khỏe cho
mọi người trong quá trình luyện tập TDTT.


9

Thể dục chữa bệnh nghiên cứu và xây dựng hệ thống bài tập thể chất
nhằm hoàn thiện những khuyết tật của con người về mặt thể chất.
Mỗi một môn khoa học trên nghiên cứu những mặt riêng lẻ, các quy luật
hay các phương tiện, nội dung, phương pháp sư phạm phù hợp trong quá trình
GDTC cho con người.
1.1.2.3. Cơ sở xã hội

Các môn khoa học xã hội nghiên cứu những quy luật xã hội của sự phát
triển GDTC, lịch sử và tổ chức GDTC.
Những môn khoa học thuộc nhóm này bao gồm: Lịch sử, tâm lý học,
giáo dục học, lý luận và phương pháp giáo dục của các môn TDTT.
Lịch sử TDTT nghiên cứu sự phát sinh, quá trình phát triển TDTT.
Tâm lý học TDTT nghiên cứu những đặc điểm tâm lý, những biến đổi về
tâm lý con người do ảnh hưởng của hoạt động này.
Giáo dục học TDTT nghiên cứu quá trình giáo dục trong hoạt động
TDTT và mối liên quan của hoạt động này với các mặt giáo dục toàn diện.
Lý luận và phương pháp giáo dục các môn TDTT nghiên cứu cơ sở lý
luận, cơ sở thực tiễn và quá trình giáo dục bộ môn đó với các lứa tuổi.
1.2. GDMN trong hệ thống giáo dục quốc dân
1.2.1. Vị trí, vai trò của GDMN
Giáo dục đào tạo là cốt lõi, là trong tâm của chiến lược trồng người. Phát
triển giáo dục là nền tảng để tạo ra nguồn nhân lực có chất lượng cao, là động
lực của sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa. Bởi vậy Đảng ta đã khẳng
định “Giáo dục là quốc sách hàng đầu”. Trong đó GDMN là một bộ phận cấu
thành của hệ thống giáo dục quốc dân, có vị trí rất quan trọng trong sự nghiệp
phát triển nguồi nhân lực của đất nước. GDMN thực hiện việc nuôi dưỡng,
chăm sóc, giáo dục trẻ từ 3 tháng tuổi đến 6 tháng tuổi.


10

GDMN là mắt xích đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân. Trong
báo cáo giám sát toàn cầu về giáo dục cho mọi người năm 2005, UNESCO đã
đánh giá: “Những năm đầu của cuộc sống là giai đoạn chủ yếu của sự phát
triển trí tuệ, nhân cách hành vi. Bằng chứng cho thấy rằng việc chăm sóc giáo
dục trẻ ở lứa tuổi trước tuổi đi học có liên quan đến việc phát triển nhận thức
và xã hội tốt hơn” [5].

GDMN là giai đoạn khởi đầu đặt nền móng cho sự hình thành và phát
triển nhân cách trẻ em, thời kì mầm non còn được gọi là thời kì vàng của cuộc
đời. Sự phát triển của trẻ em trong thời kì này rất đặc biệt, chúng hồn nhiên
non nớt, buồn vui, khóc cười theo ý thích. Những gì trẻ được học, được trang
bị ở trường mầm non có thể sẽ là những dấu ấn theo trẻ suốt cả cuộc đời.
Theo như nhà giáo lỗi lạc người Nga đã nói: “Những cơ sở căn bản của việc
giáo dục trẻ được hình thành từ trước tuổi lên 5. Những điều dạy cho trẻ trong
thời kỳ đó chiếm 90% tiến hành giáo dục trẻ. Về sau việc giáo dục đào tạo
con người vẫn tiếp tục nhưng lúc đó là bắt đầu nếm quả, cùng những nụ hoa
thời đó được vun tròng trong 5 năm đầu tiên”.
Vậy nên đứa trẻ lớn lên sẽ trở thành người như thế nào phần lớn phụ
thuộc vào tuổi thơ của các bé được diễn ra sao, bàn tay nào dẫn dắt các bé
trong những năm tháng thơ ấu, dẫn dắt như thế nào? Điều này phần lớn phụ
thuộc vào cha mẹ và đặc biệt là GDMN.
Lịch sử GDMN ghi nhận: GDMN là khâu đầu tiên của quá trình đào tạo
con người Việt Nam. GDMN góp phần giải phóng phụ nữ yên tâm công tác,
lao động sản xuất, có điều kiện học nâng cao hiểu biết và hưởng thụ những
phúc lợi nhỏ trong gia đình cũng như có cơ hội đóng góp cho xã hội.
Như vậy, GDMN là bậc học đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân.
Tầm quan trọng của GDMN là chỗ nó đặt nền móng ban đầu cho việc giáo
dục hình thành và phát triển nhân cách của trẻ.


11

1.2.2. Mục tiêu của GDMN
Mục tiêu của GDMN là giúp trẻ em phát triển về thể chất, tình cảm, trí
tuệ, thẩm mĩ, hình thành cho trẻ những yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn
bị cho trẻ vào lớp một. GDMN tạo sự khởi đầu cho sự phát triển toàn diện của
trẻ, đặt nền móng cho việc học ở các cấp học tiếp theo và cho việc học tập

suốt đời.
1.2.3. Chương trình GDMN
(Ban hành kèm theo thông tư số: 17/2009/TT-BGDĐT ngày 25 tháng 7
năm 2007 của bộ Giáo dục và Đào tạo)
GDMN là bộ phận trong hệ thống giáo dục quốc dân. GDMN thực hiện
việc nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em từ 3 tháng tuổi đến 6 tháng tuổi.
GDMN được chia thành hai giai đoạn: Nhà trẻ và mẫu giáo. Giai đoạn
nhà trẻ thực hiện việc nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em từ ba tháng tuổi
đến ba tuổi; giai đoạn mẫu giáo thực hiện việc nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo
dục trẻ em từ 3 tuổi đến 6 tuổi.
Chương trình GDMN là căn cứ để triển khai và chỉ đạo công tác chăm
sóc giáo dục trẻ trong các cơ sở GDMN, đồng thời là căn cứ để đào tạo bồi
dưỡng giáo viên mầm non, tăng cường cơ sở vật chất và đảm bảo các điều
kiện để nâng cao chất lượng GDMN.
1.2.4. Nội dung, phương pháp GDMN
Nội dung GDMN phải đảm bảo tính khoa học, tính vừa sức và nguyên
tắc tính đồng tâm phát triển từ dễ đến khó; đảm bảo tính liên thông giữa các
độ tuổi; thống nhất giữa nội dung giáo dục với cuộc sống hiện thực, gắn với
cuộc sống và kinh nghiệm của trẻ, chuẩn bị cho trẻ từng bước hòa nhập vào
cuộc sống. Phù hợp với sự phát triển tâm sinh lý của trẻ em, hài hòa giữa nuôi
dưỡng, chăm sóc và giáo dục; giúp trẻ em phát triển cơ thể với lứa tuổi; giúp
trẻ em biết kính trọng, yêu mến, lễ phép với ông bà, cha mẹ, thầy cô giáo; yêu


12

quý anh, chị, em, bạn bè; thật thà, mạnh dạn, tự tin và hồn nhiên, yêu thích cái
đẹp; ham hiểu biết, thích cái đẹp.
Phương pháp GDMN chủ yếu là thông qua việc tổ chức các hoạt động
chơi để giúp trẻ phát triển toàn diện; chú trọng trong việc nêu gương, động

viên, khích lệ. Phương pháp giáo dục phải tạo điều kiện cho trẻ được trải
nghiệm, tìm tòi, khám phá môi trường xung quanh dưới nhiều hình thức đa
dạng, đáp ứng nhu cầu, hứng thú của trẻ theo phương châm “chơi mà học, học
bằng chơi”. Chú trọng đổi mới tổ chức môi trường giáo dục nhằm kích thích
và tạo cơ hội cho trẻ tích cực khám phá, thử nghiệm và sáng tạo ở các khu
vực hoạt động một cách vui vẻ.
1.3. GDTC ở trường mầm non
1.3.1. Vị trí và vai trò của môn GDTC đối với việc phát triển thể chất cho trẻ
mầm non
GDTC là một quá trình sư phạm tác động trực tiếp lên con người một
cách có mục đích, có kế hoạch, có phương pháp, phương tiện nhằm phát triển
năng lực con người để đáp ứng nhu cầu của xã hội. GDTC không chỉ tác động
tích cực đến quá trình phát triển và hoàn thiện thể chất mà còn góp phần quan
trọng phát triển các phẩm chất đạo đức nhân cách và những phẩm chất cần
thiết trong cuộc sống học tập và lao động.
GDTC cho trẻ mầm non là quá trình tác động nhiều mặt vào cơ thể trẻ tổ
chức cho trẻ vận động và sinh hoạt hợp lý nhằm làm cho cơ thể trẻ phát triển
đều đặn, sức khỏe được tăng cường, tạo cơ sở cho sự phát triển toàn diện.
Mục tiêu của giáo dục là phải đào tạo ra những con người toàn diện về
mọi mặt có đủ: đức, trí, thể, mĩ, lao động. Bên cạnh công tác giáo dục văn hóa
thì GDTC cũng chiếm một vị trí quan trọng, là một bộ phận không thể thiếu
của giáo dục quốc dân. Nó là tiền đề giúp người học có đủ sức khỏe, tinh thần
thoải mái, sảng khoái để tiếp thu kiến thức các bộ môn khác.


13

Sức khỏe là vốn quý giá nhất có ý nghĩa sống còn đối với con người, đặc
biệt là trẻ dưới 6 tuổi. Ở lứa tuổi này quá trình tăng trưởng của trẻ đang diễn
ra nhanh chóng, nhưng cơ thể trẻ lại quá non nớt, trẻ dễ chịu ảnh hưởng của

những tác động bên ngoài, sức đề kháng của trẻ kém cho nên dễ mắc bệnh.
Do vậy, trẻ chỉ có thể phát triển thể lực tốt nếu người lớn chú ý đến việc chăm
sóc, giữ gìn sức khỏe, bảo vệ hệ thần kinh khỏe mạnh cho trẻ.
GDTC trong trường học là yếu tố cơ bản để chuẩn bị sức khỏe, thể
lực phục vụ cho lao động sẵn sàng bảo vệ Tổ quốc. Vì kết quả của hoạt động
GDTC là trình độ hoạt động thể lực của người học sẽ được nâng cao. Đó là cơ
sở để tiếp thu các thao tác lao động và giải quyết các kỹ xảo vận động hoàn
thiện.
1.3.2. Nhiệm vụ GDTC cho trẻ em lứa tuổi mầm non
GDTC cho trẻ mầm non là một trong những bộ phận của giáo dục toàn
diện cho trẻ, nó tạo ra những điều kiện thuận lợi trong quá trình giáo dục trẻ.
Dựa trên mục đích của GDTC mầm non là: “giáo dục trẻ khỏe mạnh,
nhanh nhẹn, cơ thể phát triển hài hào, cân đối”, đặc điểm phát triển của trẻ,
các giai đoạn cấp thiết của sự phát triển thể chất của trẻ lứa tuổi mầm non,
người ta đề ra ba nhiệm vụ GDTC cho trẻ mầm non.
1.3.2.1. Nhiệm vụ bảo vệ sức khỏe
Nhiệm vụ này bao gồm chăm sóc, nuôi dưỡng và rèn luyện một cách
khoa học; chăm sóc trẻ khi ăn, ngủ, chơi và học, đảm bảo việc thực hiện chế
độ sinh hoạt đúng giờ cho trẻ; cho trẻ ăn đủ chất, đủ lượng; rèn luyện cơ thể
bằng các hình thức tiết học thể dục, trò chơi vận động, dạo chơi...
Nhiệm vụ này được triển khai cụ thể như sau:
- Rèn luyện, nâng cao sức đề kháng của cơ thể trẻ em trước tác động của
những điều kiện môi trường xung quanh.
- Củng cố cơ quan vận động, hình thành tư thế thân người hợp lý.
- Góp phần nâng cao chức năng của hệ thần kinh thực vật.


14

1.3.2.2. Nhiệm vụ giáo dưỡng

Hình thành và phát triển những kỹ năng, kỹ xảo vận động, phát triển tố
chất thể lực, thói quen vệ sinh, nắm được một số kiến thức sơ đẳng về GDTC.
Nhờ có tính thích nghi của hệ thần kinh, những kỹ năng vận động được
hình thành dễ dàng ở trẻ em. Trẻ sử dụng những kỹ năng đó trong cuộc sống
hàng ngày để di động, dần dần trở thành thói quen vận động.
Tập luyện đúng đắn các động tác của bài tập vận động sẽ ảnh hưởng đến
cơ bắp, dây chằng, khớp, hệ xương. Việc sử dụng thành thạo những kỹ năng
vận động cho phép trẻ suy nghĩ về nhiệm vụ xuất hiện trong tình huống bất
ngờ trong hoạt động, vận động và trò chơi.
Cùng với việc hình thành kỹ năng vận động ở trẻ cần phát triển các tố
chất thể lực nhanh nhẹn, khéo léo, mạnh mẽ, bền bỉ,... từ những ngày đầu tiên
của cuộc sống. Với mục đích phát triển sức mạnh, nhanh nhẹn, khéo léo thì
phải tăng độ xa, độ cao của nhảy, tập ném xa.
Rèn luyện thói quen vệ sinh cá nhân và vệ sinh công cộng ở trẻ có ý
nghĩa quan trọng đối với sức khỏe của trẻ.
Tùy vào từng độ tuổi của trẻ, ta cần phải truyền đạt một số hiểu biết có
liên quan đến GDTC. Thông qua các tiết học thể dục, cần dạy trẻ những kiến
thức về tên gọi và cách sử dụng những dụng cụ thể dục đơn giản như bóng,
vòng, gậy... các bộ phận của cơ thể như tay, chân, ngực, bụng, lưng... các
hướng chuyển động trên, dưới, trước, sau... những kiến thức đó làm cho vận
động của trẻ trở nên chính xác, có định hướng hơn.
1.3.2.3. Nhiệm vụ giáo dục
Đối với trẻ mầm non, khả năng tự nhận thức của trẻ còn hạn chế, do đó
cần hình thành ở trẻ những nhu cầu, thói quen đến việc thực hiện bài tập thể
chất hàng ngày, giáo dục lòng yêu thích rèn luyện thể dục, sự hứng thú đến
việc luyện tập.


15


Trong quá trình GDTC, có nhiều khả năng kết hợp giải quyết những
nhiệm vụ giáo dục trí tuệ, đạo đức, thẩm mỹ và lao động.
GDTC với giáo dục trí tuệ:
Cơ thể con người là một khối thống nhất, trí lực và thể lực đều do hệ
thống thần kinh trung ương điều khiển. Khoa học về sinh lý và tâm lý đã chỉ
rõ, một cơ thể khỏe mạnh là tiền đề vật chất giúp con người phát triển trí
óc của mình.
GDTC với giáo dục đạo đức:
Đối với trẻ mầm non, do kinh nghiệm đạo đức còn hạn chế và khả
năng tự ý thức còn yếu, nên trẻ rất khó đánh giá hành vi của bản thân và các
bạn cùng tuổi. Điều đó, đòi hỏi trách nhiệm của nhà giáo dục đối với việc
hình thành có định hướng những cơ sở đạo đức ở trẻ nhỏ.
GDTC với giáo dục thẩm mỹ:
GDTC tạo điều kiện thuận lợi cho giáo dục thẩm mĩ. Trong quá trình thực
hiện bài tập thể chất, các động tác được thực hiện một cách khéo léo, nhịp
nhàng, sẽ tác động đến nhận thức của trẻ về vẻ đẹp của thân thể con người
khi vận động, tạo khả năng đánh giá cái đẹp của thân thể con người khi vận
động, cái đẹp của động tác về các tư thế như đi, đứng, chạy... Ngoài ra, màu
sắc của dụng cụ thể dục cũng tác động đến việc hình thành ở trẻ óc thẩm mĩ.
Giáo thể chất với giáo dục lao động:
Trong quá trình GDTC còn giải quyết một số nhiệm vụ lao động. Trong
các giờ luyện tập thể dục, trẻ có thể tham gia chuẩn bị và thu dọn dụng cụ
thể dục. Thông qua các trò chơi vận động có chủ đề, trẻ sẽ hiểu được tính
chất của các nghề nghiệp và các thao tác lao động của con người.
1.4. Đặc điểm tâm lý của trẻ 5 - 6 tuổi trường mầm non Ngô Quyền
1.4.1. Đặc điềm sinh lý
Hệ thần kinh: sự phát triển của hệ thần kinh ở lứa tuổi này đã được ở
mức
cao hơn so với lứa tuổi nhà trẻ. Sự trưởng thành của các tế bào thần kinh
của



16

đại não kết thúc… Tuy nhiên ở trẻ em quá trình hưng phấn và ức chế chưa cân
bằng, sự hưng phấn mạnh hơn sự ức chế. Do đó, phải đối xử thận trọng với
trẻ, tránh để trẻ phải thực hiện một khối lượng vận động quá sức hoặc kéo
dài thời gian vận động vì sẽ làm trẻ mệt mỏi. Hệ thần kinh có tác dụng chi
phối và điều tết đối với vận động cơ thể vì vậy hoạt động vận động của trẻ
có hai tác dụng: thúc đẩy sự phát triển công năng của tổ chức cơ bắp và thúc
đẩy sự phát triển công năng của hệ thần kinh. Vận động cơ thể của trẻ có thể
cải thiện tính công năng của quá trình thần kinh ở chúng. Song cần chú ý tới
sự luân phiên giữa vận động và nghỉ ngơi, tnh trạng quá trình vận động của
trẻ.
Hệ vận động: bao gồm xương, cơ và khớp
Xương: thành phần hóa học xương của trẻ có chứa nhiều nước và
chất hữu cơ hơn chất vô cơ so với người lớn, nên có nhiều sụn xương,
xương mềm, dễ bị cong gãy. Ở trẻ 5 – 6 tuổi xương cột sống có 2 đoạn
uốn cong vĩnh viễn ở cổ và ngực, lồng ngực đã hẹp hơn, đường kính ngang
lớn hơn đường kính trước sau, xương sườn chếch theo hướng dốc nghiêng.
Cơ: hệ cơ của trẻ phát triển yếu, tổ chức cơ bắp còn ít, các sợi cơ nhỏ
mảnh, thành phần nước trong cơ tương đối nhiều nên sức mạnh cơ bắp còn
yếu, cơ nhanh mệt mỏi. Do đó, trẻ lứa tuổi này không thích nghi với sự căng
thẳng lâu của cơ bắp, cần xen kẽ giữa vận động và nghỉ ngơi thích hợp trong
thời gian luyện tập. Khi trẻ được thường xuyên tham gia vận động thể lực hợp
lý sẽ tăng cường hiệu quả công năng các tổ chức cơ bắp, làm cho sức mạnh và
sức bền cơ bắp phát triển.
Khớp: trẻ lứa tuổi này ổ khớp còn nông, cơ bắp xung quanh khớp còn
yếu, dây chằng lỏng lẻo. Hoạt động vận động phù hợp với lứa tuổi của trẻ sẽ
giúp khớp được rèn luyện, từ đó tăng tính vững chắc của khớp.

Hệ tuần hoàn: hệ tuần hoàn của trẻ đang phát triển và hoàn thiện.
Buồng
tm phát triển tương đối hoàn thiện, tần số co bóp của tim là 80 – 110 lần
/phút.


17

Để tăng cường công năng của tm, khi cho trẻ luyện tập nên đa dạng hóa
các dạng bài tập, nâng dần lượng vận động cũng như cường độ vận động,
phối hợp động và tĩnh một cách nhẹ nhàng.
Hệ hô hấp: hô hấp của trẻ tương đối hẹp, niêm mạc đường hô hấp mềm
mại, mao mạch phong phú, dễ phát sinh nhiễm cảm. Lên 6 tuổi thể tích
hô hấp của phổi là khoảng 215 – 220 ml. Trẻ 5 – 6 tuổi mỗi phút hít thở
khoảng
20 – 22 lần.
Hệ trao đổi chất: cơ thể trẻ đang phát triển đòi hỏi bổ sung liên tục năng
lượng tiêu hao và cung cấp các chất tạo hình để kiến tạo các cơ quan và
mô. Ở trẻ năng lượng tiêu hao cho sự lớn lên và dự trữ chất nhiều hơn là cho
hoạt động cơ bắp. Do vậy, khi trẻ hoạt động vận động quá mức, ngay cả khi
dinh dưỡng đầy đủ thường dẫn đến tiêu hao năng lượng dự trữ trong các cơ
bắp và đọng lại những sản phẩm độc hại ở các cơ quan trong quá trình trao
đổi chất. Sẽ làm ảnh hưởng tới cơ bắp và hệ thần kinh, làm giảm sự nhạy
cảm. Do đó, cần thường xuyên thay đổi vận động của các cơ, chọn hình thức
vận động phù hợp với trẻ.
1.4.2 Đặc điểm tâm

Do đặc thù là một trường của thành phố nên trẻ em đến trường là con
em cán bộ, công nhân viên chức nhà nước (chiếm 70%), còn lại là con em
nông thôn (30%). Vì thế mà hằng ngày được bố mẹ đưa đến trường trong

sự yêu thương, quan tâm, chăm sóc rất chu đáo. Điều đó tạo cho trẻ
cảm giác an toàn, yên tâm và tâm lý thoải mái, vui vẻ khi tới trường.
Trẻ ưa thích hoạt động
- Bởi lứa tuổi mẫu giáo vui chơi là hoạt động chủ đạo của trẻ.
- Trẻ rất thích chơi những trò chơi bắt chước người lớn như: nấu ăn, bán
hàng, xây dựng ghép hình, các trò chơi đóng vai theo chủ đề và các trò chơi
vận động như: đá bóng, cướp cờ, ai ném xa nhất, đu quay, cầu trượt…


×