Tải bản đầy đủ (.doc) (28 trang)

BAI THU HOACH GIAO VIEN HANG 3: trong hoạt động Giáo dục tiểu học, việc yêu cầu chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học là đúng đắn và cấp thiết trong giai đoạ

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (422.42 KB, 28 trang )

MỤC LỤC
Trang
PHẦN A. MỞ ĐẦU................................................................................................2
I. Lí do chọn đề tài.............................................................................................4
II Mục đích nghiên cứu....................................................................................6
1. Đối tượng – phạm vi nghiên cứu...................................................................6
2. Phương pháp nghiên cứu .............................................................................6
PHẦN B. NỘI DUNG..........................................................................................7
I. Cơ sở lý luận ..................................................................................................7
1. Một số khái niệm...........................................................................................7
2. Một số vấn đề về lý luận................................................................................8
3. Các đặc điểm cơ bản của việc dạy học theo hướng phát triển năng lực ........9
4. Nguyên tắc dạy học theo định hướng phát triển năng lực, phẩm chất .........10
5. Đặc trưng trong dạy học theo định hướng phát triển năng lực, phẩm chất...12
II. Một số phương pháp dạy học hiệu quả ....................................................13
1.Phương pháp hoạt động nhóm......................................................................13
2. Phương pháp phát hiện và giải quyết vấn đề................................................15
3. Phương pháp động não ...............................................................................17
4. Dạy học theo lối kiến tạo.............................................................................18
5. Dạy học thông qua hoạt động trải nghiệm ..................................................19
III. Thực trạng và giải pháp............................................................................20
1. Thực trạng ...................................................................................................20
1


2. Nguyên nhân................................................................................................22
3. Giải pháp.....................................................................................................22
IV. Biện pháp và bài học kinh nghiệm ...........................................................24
1. Biện pháp.....................................................................................................23
2. Bài học kinh nghiệm....................................................................................27
PHẦN C. KẾT LUẬN.........................................................................................27



2


DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
TT
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10

Chữ viết tắt
PPDH
GV
HS
TiH
GD&ĐT
CNTT
PH
ST
CT
BGH

Nội dung viết tắt

Phương pháp dạy học
Giáo viên
Học sinh
Tiểu học
Giáo dục và Đào tạo
Công nghệ thông tin
Phát huy
Sáng tạo
Cá thể
Ban giám hiệu

A. PHẦN MỞ ĐẦU
I. Lí do chọn đề tài:
Phẩm chất và năng lực là hai thành phần cơ bản trong cấu trúc nhân cách nói chung
và là yếu tố nền tảng tạo nên nhân cách của một con người.
Giáo dục - đào tạo giữ vai trò hết sức quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của
mỗi quốc gia cũng như của toàn nhân loại. Giáo dục là cơ sở hình thành và phát triển nhân
cách của con người, đặt nền móng vững chắc cho giáo dục phổ thông và cho toàn bộ cho hệ
3


thống quốc dân. Để đạt mục tiêu trên, trong hoạt động Giáo dục tiểu học, việc yêu cầu
chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng
lực và phẩm chất người học là đúng đắn và cấp thiết trong giai đoạn hiện nay.
Sứ mệnh của giáo dục là phát triển toàn diện con người. Trong đó, quan trọng nhất là
phẩm chất và năng lực, cũng có thể gọi chung là nhân cách như nhiều nhà giáo dục học vẫn
thường gọi. Giáo dục luôn giữ một vai trò rất trọng yếu trong sự phát triển của mỗi quốc gia,
là biện pháp để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tạo lợi thế so sánh về nguồn lao động
tri thức. Phát triển giáo dục và đào tạo là nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân
tài. Chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện

năng lực và phẩm chất người học. Học đi đôi với hành; lý luận gắn với thực tiễn; giáo dục
nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội. Từ dạy học chỉ cú trọng cung
cấp kiến thức chuyển sang định hướng dạy học phát triển năng lực học sinh là xu thế tất yếu
của đổi mới phương pháp dạy học. Tổ chức dạy học nhằm giúp học sinh hình thành và triển
năng ,phẩm chất cũng không phải là mới tuy nhiên quá trình tổ chức dạy học để thể hiện
được rõ nét việc phát huy năng lực cá nhân, tạo điều kiện cho học sinh phát huy tính sáng tọ
và phối hợp, tương trợ lẫn nhau trong học tập trong mỗi đơn vị kiến thức, mỗi tiết học, hoạt
động giáo dục vẫn cần sự thay đổi cụ thể, thiết thực và quan trọng để hình thành năng lực,
phẩm chất của học sinh.
Theo xu thế toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế hiện nay, nền giáo dục nước ta cũng
đang trong tiến trình đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo. Nếu như trước đây giáo
dục chú trọng mục tiêu giáo dục toàn diện cho học sinh và giúp người học hình thành hệ
thống kiến thức, kỹ năng, thái độ thì ngày nay, điều đó vẫn còn đúng, còn cần nhưng chưa
đủ.
Thật vậy, trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với những
tác động tích cực của nền kinh tế tri thức và tiến bộ của thông tin, truyền thông, giáo dục cần
phải giúp người học hình thành một hệ thống phẩm chất, năng lực đáp ứng được với yêu cầu
mới. Hệ thống phẩm chất, năng lực đó được cụ thể hóa phù hợp với sự phát triển tâm lý, sinh
lý của người học, phù hợp với đặc điểm môn học và cấp học, lớp học. Theo đó, những phát

4


triển của phẩm chất, năng lực người học trong quá trình giáo dục cũng sẽ là quá trình hình
thành, phát triển, hoàn thiện nhân cách con người.
Là một giáo viên dạy Tiểu học, bản thân tôi luôn cố gắng học tập để nâng cao trình độ
chuyên môn nghiệp vụ, đáp ứng nhu cầu về trình độ giáo viên, đồng thời để đủ điều kiện
thăng hạng theo chức danh nghề nghiệp giáo viên hạng III.
Qua quá trình được học tập và nghiên cứu và đặc biệt dưới sự hướng dẫn, truyền đạt của
các thầy, cô giáo phụ trách giảng dạy Chương trình bồi dưỡng theo tiêu chuẩn chức danh

nghề nghiệp giáo viên tiểu học ở hạng III, qua 10 chuyên đề đã học, tôi nắm bắt được một số
kiến thức cần thiết cụ thể là xu hướng phát triển của giáo dục, tinh thần đổi mới căn bản và
toàn diện giáo dục, các mô hình trường học mới.
Hội nghị TW 8, khóa XI về đổi mới căn bản toàn diện giáo dục và đào tạo nêu rõ:
“Tiếp tục đổi mới phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ
động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ năng của người học, khắc phục lối truyền thụ áp
đặt một chiều, ghi nhớ máy móc. Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học,
tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kỹ năng, phát triển năng lực. Chuyển
từ học chủ yếu trên lớp sang tổ chức hình thức học tập đa dạng, chú ý các hoạt động xã hội,
ngoại khóa, nghiên cứu khoa học. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông
trong dạy và học”. Để thực hiện tốt mục tiêu về đổi mới căn bản, toàn diện GD&ĐT theo
Nghị quyết số 29-NQ/TW, tôi thực hiện chuyên đề “Dạy học theo định hướng phát triển
năng lực học sinh tiểu học” để cần có nhận thức đúng về bản chất của đổi mới phương
pháp dạy học theo định hướng phát triển năng lực, phẩm chất người học và một số biện
pháp đổi mới phương pháp dạy học theo hướng này nhằm làm sáng tỏ trong hoạt động Giáo
dục tiểu học, việc yêu cầu chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức
sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học là đúng đắn và cấp thiết trong
giai đoạn hiện nay. Đồng thời, làm sáng kiến kinh nghiệm để đáp ứng nhu cầu giáo dục toàn
diện cho học sinh. Cụ thể tôi đã áp dụng các biện pháp này cho lớp tôi trực tiếp giảng dạy
năm học 2018 - 2019.

5


II. Mục đích nghiên cứu:
Nghiên cứu những cơ sở lí luận và thực tiễn trong các hoạt động Giáo dục tiểu học,
việc yêu cầu chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển
toàn diện năng lực và phẩm chất người học là đúng đắn và cấp thiết trong giai đoạn hiện nay
và cụ thể là học sinh Trường Tiểu học Nguyễn Thái Bình. Đề xuất một số biện pháp nâng
cao hiệu quả hoạt động giáo dục nhằm bồi dưỡng tình cảm đạo đức và rèn kĩ năng sống, phát

triển toàn diện năng lực và phẩm chất cho học sinh.
1. Đối tượng - phạm vi nghiên cứu:
a. Đối tượng nghiên cứu:
Học sinh lớp …và học sinh Trường Tiểu học….
b. Phạm vi nghiên cứu:
Các hoạt động giáo dục trên lớp.
2. Phương pháp nghiên cứu:
a. Phương pháp nghiên cứu lí luận:
Nghiên cứu các tài liệu, các nghị quyết của Đảng, các văn bản pháp qui Nhà nước, luật Giáo
dục, điều lệ trường Tiểu học.
b. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
- Phương pháp quan sát.
- Phương pháp đàm thoại.
- Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động giáo dục.
- Phương pháp tổng kết và đúc rút kinh nghiệm
PHẦN B: NỘI DUNG
I. Cơ sở lí luận trong hoạt động Giáo dục tiểu học, việc yêu cầu chuyển mạnh quá

6


trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và
phẩm chất người học là đúng đắn và cấp thiết trong giai đoạn hiện nay.
1. Một số khái niệm:
a. Khái niệm giáo dục:
Theo nghĩa rộng: Giáo dục là quá trình hoạt động có mục đích, có tổ chức của nhà
giáo dục, người được giáo dục dưới sự tác động của nhà giáo dục nhằm hình thành ở người
được giáo dục một cách tích cực, tự giác, độc lập những quan điểm, niềm tin, định hướng giá
trị lí tưởng xã hội chủ nghĩa, những động cơ thái độ kĩ năng, kĩ xảo, thói quen, đối xử trong
các quan hệ chính trị đạo đức, pháp luật...thuộc các lĩnh vực đời sống xã hội.

Theo nghĩa hẹp: là một quá trình hoạt động có ý thức, có mục đích, có kế hoạch của
một người (hay một nhóm người) - gọi là giáo viên - nhằm tác động vào hệ thống nhận thức
của người đó, để làm phát triển trí thông minh, phát triển khả năng nhận thức phù hợp với
thế giới khách quan, và làm phát triển nhận thức của người đó lên; qua đó tạo ra một con
người mới, có những phẩm chất phù hợp với yêu cầu được đặt ra.
Giáo dục theo nghĩa hẹp là nuôi dưỡng, làm cho phát triển hoặc triệt tiêu, giảm cái có
sẵn. Ví dụ như trí thông minh căn bản là cái có sẵn, tính thiện là cái có sẵn,... Giáo dục làm
tăng trưởng trí thông minh căn bản, và tính thiện lên.
b. Khái niệm về hoạt động:
- Theo triết học: Hoạt động biện chứng của chủ thể bao gồm khách thể hóa chủ thể và chủ
thể háo khách thể.
- Theo sinh lí học: hoạt động là sự tiêu hao năng lượng,thần kinh và cơ bắp của con người
tác động vào hiện thực khách quan nhằm thỏa mãn nhu cầu của mình.
- Theo tâm lí học duy vật biện chứng: Hoạt động là phương thức tồn tại của con người;là sự
tác động một cách tích cực giữa con người với hiện thực,thiết lập mối quan hệ giữa con
người với thế giới khách quan. Nhằm tạo ra sản phẩm cả về phía thế giới,cả về phía con
người.
c. Khái niệm về dạy học theo định hướng phát triển năng lực và phẩm chất người học:
7


Phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học là chú trọng phát triển cả phẩm
chất và năng lực con người, cả dạy chữ, dạy người, dạy nghề. Giáo dục và đào tạo phải tạo
ra những con người có phẩm chất, năng lực cần thiết như trung thực, nhân văn, tự do sáng
tạo, có hoài bão và lí tưởng phục vụ Tổ quốc, cộng đồng; đồng thời phải phát huy tốt nhất
tiềm năng, khả năng sáng tạo của mỗi cá nhân, làm chủ bản thân, làm chủ đất nước và làm
chủ xã hội; có hiểu biết và kĩ năng cơ bản để sống tốt và làm việc hiệu quả.
Trong quá trình dạy học, năng lực được hiểu:
-


Năng lực là sự kết hợp tri thức, kỹ năng, thái độ.

- Mục tiêu bài học được cụ thể hóa thông qua các năng lực được hình thành.
- Nội dung kết hợp với hoạt động cơ bản nhằm hình thành nên năng lực trong mỗi một
môn học.
Vì thế, năng lực người học cần đạt là cơ sở để xác định các mục tiêu, nội dung, hoạt
động, phương pháp … dạy học mà người học cần phải căn cứ vào đó để tiến hành các hoạt
động giảng dạy và giáo dục.
2. Một số vấn đề lí luận về hoạt động Giáo dục tiểu học, việc yêu cầu chuyển mạnh
quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và
phẩm chất người học:
a) Vị trí thực hiện
-

Các hoạt động giáo dục chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức

sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học được phân chia thành hoạt động
dạy học trong nhà trường:
+ Hoạt động dạy học trên lớp.
+ Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp.
Mỗi tiết học đều có chức năng vị trí, nhiệm vụ riêng nhưng chúng đều góp phần tích cực và
thực hiện mục tiêu giáo dục nhằm phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học.
b) Kết quả :
8


+ Sẵn sàng chia sẻ giúp đỡ bạn khi bạn gặp khó khăn. Các bạn gặp khó khăn trong học
tập đã mạnh dạn hỏi bạn, không còn ngại ngùng, xấu hổ.
+ Trực tiếp rèn luyện đạo đức, nhân cách, tính cách tài năng và thiên hướng nghề nghiệp
cá nhân, hình thành các mối quan hệ giữa con người với đời sống xã hội, con người với thiên

nhiên, với môi trường sống.
+ Các em đã biết tự giác làm nhiều việc: sắp xếp sách vở đồ dùng ngăn nắp mỗi khi ra
chơi; xếp bàn ghế, vệ sinh lớp học gọn gàng sạch sẽ mỗi khi tan học. Khi tham gia hoạt động
tập thể, các em rất mạnh dạn, nói rõ ràng, mạch lạc.
+ Củng cố mở rộng, khơi sâu năng lực nhận thức của các bộ môn.
3. Các đặc điểm cơ bản của dạy học theo hướng phát triển năng lực:
a) Mục tiêu:
Mục tiêu hình thành năng lực, phẩm chất định hướng cho việc lựa chọn, đánh giá
mức độ quan trọng và cấu trúc hóa các nội dung và hoạt động và hành động dạy học về mặt
phương pháp. Chú trọng hình thành năng lực, thông qua việc hình thành kiến thức, kỹ năng.
Mục tiêu dạy học được mô tả không chi tiết và không nhất thiết phải quan sát, đánh giá
được. Kết quả học tập cần đạt được mô tả chi tiết và có thể quan sát, đánh giá được; thể hiện
được mức độ tiến bộ của HS một cách liên tục. Mục tiêu dạy học được mô tả chi tiết và có
thể quan sát, đánh giá được; thể hiện mức độ tiến bộ của học sinh một cách liên tục.
b) Nội dung:
Chương trình chỉ quy định những nội dung chính, không quy định chi tiết. Nội dung
được lựa chọn nhằm đạt được kết quả đầu ra đã quy định; gắn với các tình huống thực tiễn.
c) Hình thức dạy học:
Đa dạng về nhiều hình thức tổ chức hoạt động nhằm phát triển năng lực và phẩm chất
của người học, đặc biệt chú ý đến các hoạt động xã hội, ngoại khóa, nghiên cứu khoa học,
trải nghiệm sáng tạo, ứng dụng CNTT trong dạy và học.
d) Đánh giá:
9


Tiêu chí đánh giá được dựa vào kết quả “đầu ra”,chú trọng quan tâm tới sự tiến bộ
của người học, chú trọng khả năng vận dụng kiến thức đã học vào thực tiễn, biếp áp dụng
vốn kiến thức đã học để giải quyết vấn đề khi gặp phải trong cuộc sống.
4. Nguyên tắc dạy học theo định hướng phát triển năng lực, phẩm chất:
Trong hoạt động Giáo dục tiểu học, việc yêu cầu chuyển mạnh quá trình giáo dục từ

chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học có
hiệu quả cần tuân theo những nguyên tắc sau:
4.1 Chương trình lấy việc học làm gốc, lấy người học làm chủ thể của quá trình dạy học:

Mỗi học sinh đều có thể được học những gì mình quyết định. Mỗi học sinh đều có thể
được học những gì mình muốn, theo cách mình lựa chọn, theo một lộ trình và tùy theo
đặc trưng tâm, sinh lý, hoàn cảnh sống của từng người dưới sự hướng dẫn của giáo viên.
Điểm then chốt của đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục nước ta, quyết định sự
thành bại của công cuộc đổi mới này là chương trình giáo dục phải lấy người học làm gốc,
lấy sự học là điểm xuất phát của mọi quyết định.
Cách thiết kế chương trình giáo dục nói chung, các môn học nói riêng, cách thức tổ
chức thực hiện chương trình, phương pháp dạy học môn học, cách kiểm tra - đánh giá…
phải tuân thủ nguyên lý này thì mới có thể tạo ra lớp người có năng lực thực sự, có bản sắc
riêng, có hoài bão, có tầm nhìn hướng ra thế giới, làm cơ sở để tạo đào tạo nguồn nhân lực
có sức cạnh tranh cao phục vụ cho công nghiệp hóa - hiện đại hóa.
4.2 Kiến thức và năng lực bổ sung cho nhau:
Rèn luyện năng lực được tiến hành theo đường xoắn ốc, trong đó các năng lực có
trước được sử dụng để kiến tạo kiến thức mới, và đến lượt mình kiến thức mới lại đặt cơ sở
để hình thành những năng lực mới. Như vậy, năng lực chỉ được hình thành khi quá trình dạy
học lấy việc học làm gốc.
Sự phát triển năng lực không diễn ra theo tuyến tính, từ đơn giản đến phức tạp, từ bộ
phận tới toàn thể. Năng lực được kiến tạo trên cơ sở mức độ phức tạp, đa dạng của vấn đề.
10


Điểm xuất phát để sử dụng và phát triển năng lực là toàn cảnh thách thức cần vượt qua, còn
điểm đến là phương án tối ưu để giải quyết vấn đề hoặc cách ứng xử phù hợp trong tình
huống đã cho.
4.3 Chỉ dạy học những vấn đề cốt lõi:
Rèn luyện năng lực đòi hỏi phải có đủ thời gian, học sinh phải sử dụng nhiều lần, lặp

đi lặp lại mới có thể tăng cường lực năng lực cả về chiều rộng lẫn chiều sâu. Việc lựa chọn
cách tiếp cận theo năng lực trong trường phổ thông còn làm hàm ý trong thời gian học tập tại
trường, học sinh phải được rèn luyện, kiến tạo những năng lực cho phép họ từ kiến tạo
những kiến thức, kĩ năng mới để thích nghi với môi trường sống luôn thay đổi sau này. Đây
chính là lý do để xác định là các năng lực xuyên suốt chương trình đào tạo với tư cách là
công cụ để học tập suốt đời.
4.4 Học tích hợp:
Học tích hợp, học phương pháp luận, học cách kiến tạo kiến thức để rèn luyện khả
năng kết hợp các nguồn kiến thức khác nhau, học sinh mới có khả năng giải quyết các vấn
đề phức tạp trong cuộc sống lao động sau này.
4.5 Mở cửa trường phổ thông ra thế giới bên ngoài:
Mở cửa trường phổ thông cũng là cách tốt nhất để học sinh có cơ hội vận dụng kiến
thức, kỹ năng học được trong nhà trường vào giải quyết các vấn đề khác nhau đang diễn ra
trong xã hội. Đây cũng là phương thức đào tạo tốt nhất để học sinh sau khi tốt nghiệp tự tin,
bắt tay ngay vào lao động hoặc học cao hơn.
4.6 Đánh giá thúc đẩy quá trình học:
Đánh giá không phải là mục đích tự thân. Học sinh không phải là để được đánh giá,
nhưng họ cần được đánh giá để học tốt hơn, tiến bộ nhanh hơn, bền vững hơn. Đánh giá là
công cụ để học tập: Một điều quan trọng cần nhận thức đúng là đánh giá trên hết là công cụ
giúp học sinh học tốt và giúp giáo viên hướng dẫn học sinh trong suốt quá trình học trong
trường, tạo động lực cho học sinh tiến bộ không ngừng trong suốt quá trình học môn học.

11


Kiểm tra đánh giá phải được tích hợp vào quá trình dạy học để giúp học sinh có động lực
học tập và không ngừng tiến bộ trong suốt quá trình học tập.
 Tóm lại, Dạy học theo định hướng phát triển năng lực cần tạo điều kiện cho HS tự
mình hoàn thành nhiệm vụ nhận thức với sự tổ chức, hướng dẫn của GV, chú ý rèn luyện
năng lực giải quyết vấn đề gắn với những tình huống của cuộc sống gắn với hoạt động thực

hành, thực tiễn. Để làm được như vậy ta cần phải thực hiện những điều sau:
- Xác định mục tiêu dạy học theo chuẩn đầu ra.
- Lựa chọn hình thức học tập phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động của HS, có tác dụng
tích cực trong việc hình thành và phát triển năng lực tự học của HS
- Đánh giá quá trình và kết quả học tập theo chuẩn “ đầu ra”; quan tâm tới sự tiến bộ của
người học, chú trọng khả năng vận dụng kiến thức đã học vào thục tiễn.
5. Đặc trưng trong dạy học theo định hướng phát triển năng lực, phẩm chất:
-

Việc đổi mới phương pháp dạy học theo định hướng phát triển năng lực thể hiện qua

bốn đặc trưng cơ bản sau:
Một, dạy học thông qua tổ chức liên tiếp các hoạt động học tập, giúp học sinh tự
khám phá những điều chưa biết chứ không thụ động tiếp thu những tri thức được sắp đặt sẵn.
Giáo viên là người tổ chức và chỉ đạo học sinh tiến hành các hoạt động học tập phát hiện
kiến thức mới, vận dụng sáng tạo kiến thức đã biết vào các tình huống học tập hoặc tình
huống thực tiễn...
Hai, tăng cường phối hợp học tập cá thể với học tập hợp tác, lớp học trở thành môi
trường giao tiếp GV - HS và HS - HS nhằm vận dụng sự hiểu biết và kinh nghiệm của từng
cá nhân, của tập thể trong giải quyết các nhiệm vụ học tập chung.
Ba, chú trọng đánh giá kết quả học tập theo mục tiêu bài học trong suốt tiến trình dạy
học thông qua hệ thống câu hỏi, bài tập (đánh giá lớp học). Chú trọng phát triển kỹ năng tự
đánh giá và đánh giá lẫn nhau của học sinh với nhiều hình thức như theo lời giải/đáp án mẫu,
12


theo hướng dẫn, hoặc tự xác định tiêu chí để có thể phê phán, tìm được nguyên nhân và nêu
cách sửa chữa các sai sót.
Bốn, chú trọng rèn luyện cho học sinh biết khai thác sách giáo khoa và các tài liệu
học tập, biết cách tự tìm lại những kiến thức đã có, suy luận để tìm tòi và phát hiện kiến thức

mới... Định hướng cho học sinh cách tư duy như phân tích, tổng hợp, đặc biệt hoá, khái quát
hoá, tương tự, quy lạ về quen… để dần hình thành và phát triển tiềm năng sáng tạo.
II. Một số phương pháp dạy học (PPDH) hiệu quả:
1. Phương pháp hoạt động nhóm:
Lớp học được chia thành từng nhóm nhỏ từ 4 đến 6 người. Tùy mục đích, yêu cầu của
vấn đề học tập, các nhóm được phân chia ngẫu nhiên hay có chủ định, được duy trì ổn định
hay thay đổi trong từng phần của tiết học, được giao cùng một nhiệm vụ hay những nhiệm
vụ khác nhau.
Nhóm tự bầu nhóm trưởng nếu thấy cần. Trong nhóm có thể phân công mỗi người
một phần việc. Trong nhóm nhỏ, mỗi thành viên đều phải làm việc tích cực, không thể ỷ lại
vào một vài người hiểu bết và năng động hơn. Các thành viên trong nhóm giúp đỡ nhau tìm
hiêu vấn đề nêu ra trong không khí thi đua với các nhóm khác. Kết quả làm việc của mỗi
nhóm sẽ đóng góp vào kết quả học tập chung của cả lớp. Để trình bày kết quả làm việc của
nhóm trước toàn lớp, nhóm có thể cử ra một đại diện hoặc phân công mỗi thành viên trình
bày một phần nếu nhiệm vụ giao cho nhóm là khá phức tạp.

HS hoạt động nhóm
13


* Phương pháp hoạt động nhóm có thể tiến hành:
· Làm việc chung cả lớp:
- Nêu vấn đề, xác định nhiệm vụ nhận thức
- Tổ chức các nhóm, giao nhiệm vụ
- Hướng dẫn cách làm việc trong nhóm.
· Làm việc theo nhóm:
- Phân công trong nhóm.
- Cá nhân làm việc độc lập rồi trao đổi hoặc tổ chức thảo luận trong nhóm
- Cử đại diện hoặc phân công trình bày kết quả làm việc theo nhóm
· Tổng kết trước lớp:

- Các nhóm lần lượt báo cáo kết quả.
- Thảo luận chung.
- Giáo viên tổng kết, đặt vấn đề cho bài tiếp theo, hoặc vấn đề tiếp theo trong bài.
Phương pháp hoạt động nhóm giúp các thành viên trong nhóm chia sẻ các băn khoăn,
kinh nghiệm của bản thân, cùng nhau xây dựng nhận thức mới. Bằng cách nói ra những điều
đang nghĩ, mỗi người có thể nhận rõ trình độ hiểu biết của mình về chủ đề nêu ra, thấy mình
cần học hỏi thêm những gì. Bài học trở thành quá trình học hỏi lẫn nhau chứ không phải là
sự tiếp nhận thụ động từ giáo viên. Thành công của bài học phụ thuộc vào sự nhiệt tình tham
gia của mọi thành viên, vì vậy phương pháp này còn gọi là phương pháp cùng tham gia.

2. PPDH phát hiện và giải quyết vấn đề:
a) Bản chất:
Dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề là PPDH trong đó GV tạo ra những tình
huống có vấn đề, điều khiển HS phát hiện vấn đề, hoạt động tự giác, tích cực, chủ động,
14


sáng tạo để giải quyết vấn đề và thông qua đó chiếm lĩnh tri thức, rèn luyện kĩ năng và đạt
được những mục đích học tập khác. Đặc trưng cơ bản của dạy học phát hiện và giải quyết
vấn đề là "tình huống gợi vấn đề" vì "Tư duy chỉ bắt đầu khi xuất hiện tình huống có vấn đề"
(Rubinstein).
Tình huống có vấn đề (tình huống gợi vấn đề) là một tình huống gợi ra cho HS những
khó khăn về lí luận hay thực hành mà họ thấy cần có khả năng vượt qua, nhưng không phải
ngay tức khắc bằng một thuật giải, mà phải trải qua quá trình tích cực suy nghĩ, hoạt động để
biến đổi đối tượng hoạt động hoặc điều chỉnh kiến thức sẵn có.
b) Quy trình thực hiện:
Bước 1. Phát hiện hoặc thâm nhập vấn đề:
• Phát hiện vấn đề từ một tình huống gợi vấn đề.
• Giải thích và chính xác hóa tình huống (khi cần thiết) để hiểu đúng vấn đề được đặt
ra.

• Phát biểu vấn đề và đặt mục tiêu giải quyết vấn đề đó.
Bước 2: Tìm giải pháp giải quyết vấn đề:
• Phân tích vấn đề: Làm rõ mối liên hệ giữa cái đã biết và cái cần tìm (dựa
vào những tri thức đã học, liên tưởng tới kiến thức tích hợp)
• Đề xuất phương án giải quyết vấn đề: Thu thập, tổ chức dữ liệu; huy động tri thức, sử
dụng những phương pháp, kĩ thuật nhận thức, tìm đoán suy luận. Phương hướng đề xuất và
thực hiện hướng giải quyết vấn đề là hình thành được một giải pháp.
• Hình thành giải pháp: Cần kiểm tra tính đúng đắn của giải pháp: nếu giải pháp đúng
thì kết thúc hoạt động, nếu giải pháp không đúng thì lặp lại từ khâu phân tích vấn đề cho đến
khi tìm được giải pháp đúng.

15


Sơ đồ quy trình PPDH phát hiện và giải quyết vấn đề.
Bước 3. Trình bày giải pháp
• HS trình bày lại toàn bộ từ việc phát biểu vấn đề tới giải pháp. Nếu vấn đề là một đề
bài cho sẵn thì có thể không cần phát biểu lại vấn đề.
Bước 4. Nghiên cứu sâu giải pháp
• Tìm hiểu những khả năng ứng dụng kết quả
• Đề xuất những vấn đề mới có liên quan nhờ xét tương tự, khái quát hóa, lật ngược
vấn đề,... và giải quyết nếu có thể.
Ví dụ về dạy học giải quyết vấn đề:
Ví dụ: Bài toán giải của bảng chia 4 (Toán lớp 2)
Để giải được bài toán của bảng chia 4, HS có thể thực hiện như sau:
- HS học kĩ đề toán
- HS tự phân tích bài toán và hình thành được kiến thức:
+ Bài toán cho biết gì?
16



+ Bài toán hỏi gì?
+ Để tìm ra kết quả ta làm như thế nào?
-Từ đó HS có thể ứng dụng kết quả trên trong thực tế như : Trong lớp mình có tất cả 30 cái
bàn được xếp thành 4 hàng thì mỗi hàng sẽ đứng 5 bàn…

3. Phương pháp động não:
Động não là phương pháp giúp học sinh trong một thời gian ngắn nảy sinh được
nhiều ý tưởng, nhiều giả định về một vấn đề nào đó. Thực hiện phương pháp này, giáo viên
cần đưa ra một hệ thống các thông tin làm tiền đề cho buổi thảo luận.
* Cách tiến hành
• Giáo viên nêu câu hỏi, vấn đề cần được tìm hiểu trước cả lớp hoặc trước nhóm.
• Khích lệ học sinh phát biểu và đóng góp ý kiến càng nhiều càng tốt.
• Liệt kê tất cả các ý kiến phát biểu đưa lên bảng hoặc giấy khổ to.
• Phân loại ý kiến.
• Làm sáng tỏ những ý kiến chưa rõ ràng và thảo luận sâu từng ý.
4. Dạy học theo lối kiến tạo:
Khái niệm:
Là một trong những phương pháp dạy học tích cực. Phương pháp này coi trọng vai
trò chủ động của người học trong quá trình học tập, người học chủ động tự xây dựng hiểu
biết cho bản thân; tự kết nối thông tin mới với thông tin hiện tại để kiến thức mới có ý nghĩa
hơn và tạo nên các thông tin mới khác. Việc học tập không phải diễn ra nhờ quá trình chuyển
thông tin từ giáo viên hay giáo trình đến bộ não của học sinh; thay vào đó, mỗi người học tự
xây dựng hiểu biết hợp lý mang tính cá nhân của riêng họ.
Bản chất:

17


Là quá trình người học xây dựng nên nhwngxkieesn thức cho bản thân thông qua các

hoạt động đồng hóa và điều ứng các kiến thức và kĩ năng đã có để thích ứng với môi trường
học tập mới. Dạy học theo quan điểm của thuyết kiến tạo nghĩa là giáo viên hướng dẫn để
HS tự khám phá ra tri thức, thực hiện những nhiệm vụ học tập, từ đó kiến tạo tri thức cho
bản thân. Vì vậy, các kiểu dạy học như: dạy học khám phá, dạy học hợp tác, dạy học giải
quyết vấn đề, … đều được coi là các PPDH vận dụng quan điểm của lý thuyết kiến tạo.
Quy trình dạy học theo lối kiến tạo:
Bước 1: Làm bộc lộ quan niệm của HS: Trong bước này giáo viên giúp HS hệ thống, ôn lại
các kiến thức cũ có liên quan đến kiến thức mới bằng cách sử dụng các câu hỏi, các bài tập.
Sau đó GV hoặc HS sẽ nêu vấn đề ( bài tập, thí nghiệm, câu hỏi,..) từ đó tạo cơ hội cho HS
bộc lộ quan niệm của mình về vấn đề học tập.
Bước 2: Tổ chức điều khiển HS thảo luận: GV tổ chức cho HS đề xuất các giả thuyết, kiểm
tra giả thuyết (thử và sai) phân tích kết quả và từ đó rút ra kết luận chung cho cả lớp.
Bước 3: Tổ chức cho HS vận dụng kiến thức: GV tổ chức cho HS vận dụng kiến thức giải
quyết các vấn đề về lý thuyết cũng như thực tiễn qua đó giúp HS khắc sâu hơn kiến thức
mới.
HS sẽ bắt đầu từ việc khám phá tri thức cần lĩnh hội. HS có cơ hội bộc lộ những quan
điểm của mình, lắng nghe quan điểm của bạn, đucợ tranh luận, thống nhất ý kiến. Qua lắng
nghe, theo dõi những quan điểm của học sinh, giáo viên sẽ phát hiện ra những yếu tố bất ngờ
hoặc khác thường. Trong dạy học theo lối kiến tạo, GV tôn trọng những ý kiến của HS,
khuyến khích HS lựa chọn con đường đi đúng để tiếp cận được tri thức. sau quá trình học,
HS không chỉ có kiến thức phù hợp với yêu cầu mà còn tìm được con đường chiếm lĩnh tri
thức.
Ví dụ: Dạy học về các loài cây sống trên cạn ( môn TNVXH lớp 2)
- Nhóm HS thảo luận vẽ về cây sống trên cạn mà em biết.
- HS trả lời câu hỏi:
+Nhóm em đã vẽ câu gì? Cây đó sống ở đâu?
18


+ Tại sao nhóm em lại vẽ cây đó?

5. Dạy học thông qua hoạt động trải nghiệm:
Bản chất:
Học qua trải nghiệm là một quá trình học diễn ra một cách tự nhiên trong mỗi người.
Học qua trải nghiệm là quá trình học thông qua việc xem xét, phân tích những sự việc mỗi
người đã trải qua, đã chứng kiến, đã nghe thấy, đã đọc được hoặc xem được để tự rút ra kinh
nghiệm, bài học cho chính mình và áp dụng các bài học đó để ứng xử hợp lý, hiệu quả hơn.
Học qua trải nghiệm là một cách học có hiệu quả vì lý thú, giúp cho người học hưng
phấn và cảm thấy quá trình học tập nhẹ nhàng.Trong dạy học thông qua trải nghiệm, GV là
người điều hành, đẫn dắt HS qua các hoạt động học tập theo các bước của chu tình hcj qua
trải nghiệm để các em biến các trải nghiệm thành kinh nghiệm hữu ích cho bản thân sau mỗi
tiết học và trong cuộc sống hàng ngày.

HS học trải nghiệm
Quy trình dạy học trải nghiệm:
Dạy học trải nghiệm gồm 5 bước chủ yếu sau:
Bước 1: Trải nghiệm: HS hoạt động theo hướng dẫn hoặc theo kế hoạch đã lập, quan sát và
ghi nhớ quá trình và kết quả trải nghiệm.
Bước 2: Chia sẻ: HS chia sẻ quá trình và kết quả trải nghiệm, tập diễn đạt và mô tả lại rõ
ràng nhất các kết quả trải nghiệm và mối tương quan giữa các sự kiện.

19


Bước 3: Phân tích: HS nhìn lại cả quá trình trải nghiệm, thảo luận, phân tích, liên hệ trải
nghiệm với chủ đề của hoạt động và các kĩ năng sống học đường.
Bước 4: Tổng quát: HS liên hệ những kết quả và điều học được từ trải nghiệm với các ví dụ
trong cuộc sống thực tế, suy nghĩ về việc áp dụng những điều học được vào cacstinhf huống
thực tế.
Bước 5: Áp dụng: HS áp dụng những điều học được vào các tình huống tương tự hoặc các
tình huống khác có liên quan trong thực tế.

III. Thực trạng và giải pháp trong các hoạt động Giáo dục tiểu học, việc yêu cầu
chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn
diện năng lực và phẩm chất người học là đúng đắn và cấp thiết trong giai đoạn hiện
nay.
1. Thực trạng:
a. Thực trạng chung của toàn quận về chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu
trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học:
Đến nay, trong giáo dục các cấp nói chung và cấp TiH nói riêng của chúng ta vẫn còn
không ít tình trạng thầy đọc trò chép. Công việc dạy và học trong đổi mới sẽ là “giảng ít, học
nhiều”, chuyển từ dạy - học sang tự học là chính, chuyển một phần đáng kể từ giảng dạy
sang tổ chức các hoạt động học và hướng dẫn cho học sinh, tất nhiên là mức độ khác nhau
phù hợp với từng cấp học. Năng lực bao giờ cũng là sự “tự nó”, phát triển là tự phát triển,
không thể áp đặt, cấp phát, vay mượn mà người thầy hướng dẫn phương pháp tiếp cận và tác
động vào các yếu tố bên trong ở người học, kích thích để nó tự phát triển. Đó là công việc
của nhà giáo dục học, nhà khoa học, người nghệ sĩ. Vinh quang và khó khăn.
b. Thực trạng về hoạt động chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến
thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học:
Đối với cán bộ quản lí: BGH nhà trường, TPT Đội đều xác định vị trí, tầm quan trọng
của các hoạt động chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát
triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học là cần thiết, là tất yếu của nhà trường, đồng
20


thời phải làm tốt công tác phối hợp với các tổ chức, các đoàn thể trong và ngoài nhà trường
để nhận được sự ủng hộ.
Đội ngũ giáo viên: Nhìn chung các giáo viên phụ trách lớp đã nhận thức rõ về hoạt
động các hoạt động chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát
triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học.
Về học sinh: Phần lớn học sinh rất say mê, yêu thích, thích thú với các hoạt động mang
tính phát huy năng lực và phẩm chất. Các em sẵn sàng tham gia hoạt động với mọi hình thức

mà được thầy cô hướng dẫn. Nhiều học sinh còn rụt rè, nhút nhát chưa mạnh dạn, thiếu tự
tin khi đứng trước đông người.
c) Những hạn chế cần khắc phục:
Việc vận dụng các phương pháp và kĩ thật dạy học tích cực còn hạn chế. Phương
pháp thảo luận nhóm được tổ chức trong lớp học là thực hiện chương trình SGK hiện hành
nhưng chủ yếu vẫn dựa vào một vài cá nhân học sinh tích ccj tham gia, các thành viên còn
lại còn dựa dẫm, chưa thực sự chủ động. Mục đích của việc thảo luận nhóm chưa đạt được
kết quả cao.Mặc dù GV thực hiện thay đổi phương pháp dạy học, thay đổi cách thức tổ chức
nhằm đạt mục tiêu dạy theo định hướng phát triển năng lực. Về nhận thức: Một bộ phận giáo
viên, học sinh chưa tích cực chủ động trong thực hiện. Về hành vi, kĩ năng: Kĩ năng tổ chức
hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp của giáo viên còn hạn chế. Công tác tự rèn luyện, tự
phấn đấu của học sinh chưa cao.
2. Nguyên nhân:
HS khi tiếp cận, tìm tòi những thông tin thời sự phục vụ cho bản thân còn hạn chế.
Một số học sinh chưa có phương pháp học tập phù hợp, chưa tích cực trong việc tìm tòi
nghiên cứu bài học nên chưa đảm bảo các năng lực.
Việc kiểm tra đánh giá của quá trình dạy học, đổi mới kiểm tra đánh giá thúc đẩy đổi
mới quá trình dạy học. Dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề là con đường phát huy tích
cực của học sinh.Có thể áp dụng trong nhiều hình thức dạy học của GV với mức độ tự lực
khác nhau của học sinh. Trong thực tiễn hiện nay, dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề
thường chú ý đến những vấn đè khoa học chuyên môn, ít chú ý đến các vấn đề gắn với thực
tiễn.Tuy nhiên nếu chỉ chú trọng giải quyết các vấn đề nhận thức trong khoa học chuyên
môn, học sinh chưa được chuẩn bị tốt cho việc giải quyết các tình huống. Vì vậy cần xay
dừng quan điểm dạy học theo tình huống.
21


3. Giải pháp:
Trong những năm vừa qua đội ngũ giáo viên nhà trường NTB đã có nhiều cố gắng
tìm tòi, học hỏi đồng nghiệp và mạnh dạn nêu ra một số giải pháp để đưa vào giảng dạy hoạt

động Giáo dục tiểu học, việc yêu cầu chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị
kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học là đúng đắn và cấp thiết
trong giai đoạn hiện nay nhằm bồi dưỡng tình cảm đạo đức và rèn kĩ năng sống cho học sinh
như sau:
a) Xây dựng các điều kiện, cơ sở vật chất thuận lợi trong quá trình dạy học nhằm phát
huy năng lực, phẩm chất của người học:
- Xây dựng môi trường dạy – học đủ điều kiện và cơ sở thuận lợi cho GV và HS dạy học
trong suốt quá trình truyền đạt kiến thức, đủ phương tiện học tập để phát huy năng lực, phẩm
chất của người học.
- Xây dựng đội ngũ. Bồi dưỡng đội ngũ giáo viên có vai trò, nghiệp vụ và năng lực tổ chức
hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp trong yêu cầu giáo dục toàn diện học sinh.
b) Nâng cao nhận thức về chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến
thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học:

BGH cho giáo viên thấy được tầm quan trọng của chuyển mạnh quá trình giáo dục
từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người
học. Thường xuyên tổ chức các buổi sinh hoạt chuyên môn nhằm giúp giáo viên có
kiến thức cơ bản về tổ chức hoạt động phát triển toàn năng lực và phẩm chất của HS.
c)Xây dựng, lên kế hoạch phù hợp với thực tế điều kiện của lớp chủ nhiệm.

Giáo viên chủ nhiệm cần có giáo án cụ thể mang tính phát huy toàn diện năng
lực và phẩm chất của người học. Đồng thời cần lập ra kế hoạch cho từng tuần, từng
tháng, từng học kì. Có thể lập kế hoạch hoạt động theo các chủ điểm, trong từng tuần
có lịch cụ thể cho từng ngày, làm những gì, làm như thế nào.
IV. Biện pháp và bài học kinh nghiệm:
22


1. Một số biện pháp nâng cao hiệu quả các hoạt động Giáo dục tiểu học, chuyển
mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng

lực và phẩm chất người học là đúng đắn và cấp thiết trong giai đoạn hiện nay:
 Biện pháp thứ nhất: Xác định nhiệm vụ cơ bản và trách nhiệm của bản thân mỗi
giáo vên trong việc hình thành năng lực phẩm chất của học sinh.
Giáo viên có thể làm được gì để hình thành và phát triển các năng lực phẩm chất cho
học sinh một cách hiệu quả nhất?
Đó là câu hỏi mà bản thân tôi và không ít giáo viên phải suy nghĩ rất nhiều và cũng
từ đó tôi đã xác định được nhiệm vụ cơ bản của mình trong nhiệm vụ chung của ngành đó là
trách nhiệm hình thành và phát triển năng lực, phẩm chất cho học sinh như sau:
- Giáo viên cần tích cực đổi mới phương pháp giảng dạy nhằm khuyến khích sự sáng tạo,
tích cực của học sinh, phải biết khai thác, phát huy năng khiếu, tiềm năng sáng tạo ở mỗi
học sinh vì mỗi học sinh là một nhân vật đặc biệt, phải giáo dục học sinh như thế nào để các
em cảm thấy thoải mái trong mọi tình huống của cuộc sống.
- Giáo viên cần giúp các em có được những mối liên kết mật thiết với nhữn gbạn khác trong
lớp, các em biết chia sẻ chăm sóc lẫn nhau, các em cần phải học về cách ứng xử, biết lắng
nghe trình bày và diễn đạt được ý của mình khi tham gia vào trong các nhóm học sinh khác
nhau, giúp các em luôn cảm thấy tự tin khi tiếp nhận các thử thách mới. Cần chuẩn bị cho
học sinh sự tự tin, thoải mái trong mọi trường hợp. Thường xuyên liên hệ với phụ huynh để
kịp thời nắm tình hình của các em,trao đổi với phụ huynh những nội dung và biện pháp
chăm sóc và giáo dục các emtại nhà, bàn bạc cách giải quyết những khó khăn gặp phải.
 Biện pháp thứ hai, Tìm hiểu về tầm quan trọng của việc cần hình thành năng lực,
phẩm chất cho học sinh ngay từ lứa tuổi tiểu học.
Qua thực tế giảng dạy tôi thấy rằng học sinh của chúng ta nếu chỉ học trên líthuyết
chưa đủ mà trong cuộc sống có rất nhiều mối quan hệ, có nhiều tình huống khác nhau mà
chỉ với các kiến thức đơn thuần học sinh không có khả năng giải quyết các tình huống khác
nhau trong cuộc sống.
23


Nhiều tình huống cuộc sống các em phải ứng phó một mình. Do quá nhiều việc phải
tự mình quyết định nên các em không những phải cần biết rõ làm thế nào là điều hay lẽ phải

mà còn phải có khả năng hành động theo nhận thức. Có năng lực sẽ giúp các em có thể
chuyển tải những gì các em nhậnthức được (tức là những điều các em nhận biết), những gì
các em cảm nhận được,những gì các em quan tâm thành những khả năng thực thụ giúp các
em biết phảilàm gì, làm như thế nào? Có phẩm chất, năng lực các em biết điều chỉnh hành
vi của mình trong những tình huống khác nhau của cuộc sống. Giáo dục năng lực, phẩm
chất sống giúp các em xây dựng những hành vi lành mạnh, thay đổi những hành vi tiêu cực
trên cơ sở đó giúp các em không chỉ có kiến thức mà có được cả thái độ và khả năng thích
hợp.
 Biện pháp thứ ba, Tổ chức điều tra sơ khảo về tình hình thực tế qua phụ huynh, tiếp
cận tạo niềm tin:
GV trực tiếp điều tra tình hình thực tế, sơ khảo về tình hình mọi mặt để nắm mặt
mạnh, mặt yếu của lớp mình phụ trách. Trong lớp có bao nhiêu học sinh congia đình nghèo,
gia đình khó khăn, con công nhân, con nông dân... Từ đó có cơ sở để phân loại các biện
pháp giáo dục. Đối với những học sinh nghèo, học sinh gặp hoàn cảnh khó khăn thì luôn kết
hợp với nhà trường, hội cha mẹ học sinh, các ban ngành đoàn thể khác tạo mọi điều kiện
giúp đỡ các em về mọi mặt tinh thần cũng như vật chất.
GV luôn tạo ra sự gần gũi với các em trong học tập cũng như trong giao tiếp,vui chơi
để phát hiện khả năng nhận thức tư duy ở mỗi em. Thường xuyên theo dõi để phát hiện học
sinh nào chăm học, học sinh nào lười học, em nào trung thực, emnào chưa trung thực. Với
những em lười học, tôi thường động viên các em bằng những lời nói nhẹ nhàng, bằng những
tuyên dương tán thưởng khi các em chămhọc hơn. Với những em chưa trung thực, tôi
thường dùng các câu chuyện có tìnhh uống để kể cho các em nghe, cho các em liên hệ giáo
dục qua câu chuyện đó.
 Biện pháp thứ tư, Xác định được những năng lực, phẩm chất cơ bản cần hình thành
cho lứa tuổi học sinh ở lứa tuổi tiểu học:
Với mỗi lứa tuổi giáo viên cần lựa chọn đúng những năng lực, phẩm chất phùhợp cần rèn
24


luyện cho các em.Cụ thể tôi đã nghiên cứu, tham khảo tài liệu và thống kê được các năng

lựcvà phẩm chất mà học sinh tiểu học cần hình thành và phát triển theo các nhóm sau:
Các năng lực của học sinh cần được hình thành và phát triển:
• Tự phục vụ, tự quản: Thực hiện được một số việc phục vụ cho sinh hoạt của bản thân
như vệ sinh thân thể, ăn, mặc; một số việc phục vụ cho học tập như chuẩn bị đồ dùng học
tập ở lớp, ở nhà; các việc theo yêu cầu của giáo viên, làm việc cá nhân, làm việc theo sự
phân công của nhóm, lớp; bố trí thời gian học tập, sinh hoạt ở nhà; chấp hành nội quy lớp
học; cố gắng tự hoàn thành công việc.
• Giao tiếp, hợp tác: Mạnh dạn khi giao tiếp; trình bày rõ ràng, ngắn gọn; nói đúng nội
dung cần trao đổi; ngôn ngữ phù hợp với hoàn cảnh và đối tượng; ứng xử thân thiện, chia sẻ
với mọi người; lắng nghe người khác, biết tranh thủ sự đồng thuận.
• Tự học và giải quyết vấn đề: Có khả năng tự thực hiện nhiệm vụ học cá nhântrên lớp,
làm việc trong nhóm, lớp; có khả năng tự học có sự giúp đỡ hoặc không cần giúp đỡ; biết
tự thực hiện đúng nhiệm vụ học tập; biết chia sẻ kết quả học tập với bạn, với cả nhóm; biết
tự đánh giá kết quả học tập và báo cáo kết quả trong nhóm hoặc với giáo viên; biết tìm kiếm
sự trợ giúp kịp thời của bạn, giáo viên hoặc người khác; biết vận dụng những điều đã học
để giải quyết nhiệm vụ trong học tập.
 Biện pháp thứ năm, Xây dựng kế hoạch, nề nếp nội quy lớp học :
Xây dựng lớp có nề nếp tốt tức là tạo cho các em học sinh có năng lực tựquản tốt, vì vậy
ngay từ đầu năm học giáo viên chủ nhiệm phải lên kế hoạch cho cảnăm học, từng tháng,
từng tuần dựa trên kế hoạch của nhà trường.
Ngoài ra, giáo dục các em phải: “Nói lời hay, làm việc tốt”, “Gọi bạn xưng mình”. Thường
xuyên giáo dục các em có tính tự giác, chấp hành tốt nội quy củalớp, của trường. Muốn các
em thực hiện tốt, nghiêm túc thì người giáo viên chủ nhiệm lớp phải thực sự gương mẫu về
mọi mặt, phải là: “Tấm gương sáng cho học sinh noi theo”, nói phải làm, đề ra phải thực
hiện và khen chê đúng mực. Vì học sinh tiểu học các em đang ở lứa tuổi nhỏ nên giáo dục
nghiêm khắc nhưng cởi mở gần gũi độ lượng, luôn vị tha đối với học sinh biết nhận lỗi và
25



×