Edited with the trial version of
Foxit Advanced PDF Editor
To remove this notice, visit:
www.foxitsoftware.com/shopping
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
UBND THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG
BIỂU HIỆN NGÔN NGỮ CỦA CHIẾN LƯỢC
LỊCH SỰ ÂM TÍNH KHI THỰC HIỆN
HÀNH VI ĐE DỌA THỂ DIỆN
TRONG TRUYỆN NGẮN NAM CAO
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
CHUYÊN NGÀNH: NGÔN NGỮ VIỆT NAM
MÃ SỐ
: 60.22.01.02
Người hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Thị Thuận
HẢI PHÒNG - 2016
Edited with the trial version of
Foxit Advanced PDF Editor
To remove this notice, visit:
www.foxitsoftware.com/shopping
i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự
hướng dẫn của Tiến sĩ Nguyễn Thị Thuận. Các số liệu, kết quả trong luận văn
là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
Hải Phòng, ngày 16 tháng 12 năm 2016
Tác giả luận văn
Edited with the trial version of
Foxit Advanced PDF Editor
To remove this notice, visit:
www.foxitsoftware.com/shopping
ii
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn chân thành, sâu sắc tới các Thầy giáo,
Cô giáo Viện Ngôn ngữ học, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, Trường Đại
học Hải Phòng. Với những bài giảng sâu sắc, bằng sự tâm huyết, lòng nhiệt
tình, các Thầy Cô đã truyền thụ, bồi dưỡng kiến thức cho học viên chúng tôi
trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu khoa học.
Đặc biệt, tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Cô giáo - Tiến sĩ
Nguyễn Thị Thuận, người đã nhiệt tình, tận tụy và đầy trách nhiệm hướng dẫn
khoa học cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài.
Tôi xin trân trọng cảm ơn Phòng quản lý sau đại học - Trường Đại học
Hải Phòng.
Xin cảm ơn các bạn đồng nghiệp và gia đình đã động viên, chia sẻ,
giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu để hoàn thành khóa luận
này.
Hải Phòng, ngày 16 tháng 12 năm 2016
Tác giả
iii
MỤC LỤC
Nội dung
Trang
LỜI CAM ĐOAN..............................................................................
i
LỜI CẢM ƠN………………………………………………………
ii
MỤC LỤC…………………………………………………………..
iii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT.............................................................
iv
DANH MỤC BẢNG..........................................................................
v
MỞ ĐẦU............................................................................................
1
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN
8
ĐỀ TÀI……………………………………………………………...
1.1. Lịch sự trong giao tiếp ngôn ngữ………………………………
8
1.1.1. Khái niệm lịch sự………………………………………….....
8
1.1.2. Các phương châm lịch sự………………………………….....
9
1.1.3. Thể diện………………………………………………………
10
1.1.4. Chiến lược lịch sự âm tính…………………………………...
11
1.1.5. Những biểu hiện ngôn ngữ của phép lịch sự âm tính………...
12
1.2. Vai giao tiếp……………………………………………............
13
1.2.1. Một số quan điểm về vai giao tiếp…………………………..
13
1.2.2. Các phương tiện thể hiện vai giao tiếp……………………....
15
1.3. Vị thế xã hội……………………………………………...........
17
1.4. Vị thế giao tiếp…….…………………………………………...
17
1.5. Lí thuyết về hành động ngôn ngữ …………………………......
19
1.5.1. Khái niệm về hành động ngôn ngữ…………………………..
19
1.5.2. Phân loại các lớp hành động ngôn ngữ………………………
20
1.5.3. Cách sử dụng hành động ở lời………………………………..
20
1.6. Vài nét khái quát về cuộc đời và quan điểm nghệ thuật của
22
Nam Cao………………………………………………………….....
1.6.1. Vài nét về cuộc đời Nam Cao…………………………………...
22
iii
Nội dung
Trang
1.6.2. Vài nét về quan điểm nghệ thuật của Nam Cao………………
24
1.7. Tiểu kết chương 1………………………………………………
25
CHƯƠNG 2: CÁC BIỆN PHÁP THAY THẾ HÀNH VI ĐE DỌA
27
THỂ DIỆN TRONG TRUYỆN NGẮN NAM CAO.........................
2.1. Nhận xét chung về việc dùng các biện pháp thay thế hành vi đe
27
dọa thể diện trong truyện ngắn Nam Cao...........................................
2.2. Dùng các phương tiện tu từ.........................................................
29
2.2.1. Ẩn dụ........................................................................................
31
2.2.2. Điệp ngữ và trùng điệp cú pháp...............................................
34
2.2.3. Tỉnh lược và im lặng................................................................
36
2.2.4. Câu hỏi tu từ.............................................................................
38
2.3. Dùng các phép phủ định lịch sự..................................................
41
2.4. Dùng các hành vi ngôn ngữ gián tiếp..........................................
42
2.5. Tiểu kết chương 2........................................................................
45
CHƯƠNG 3: CÁC BIỆN PHÁP ĐI KÈM HÀNH VI ĐE DỌA
47
THỂ DIỆN TRONG TRUYỆN NGẮN NAM CAO.........................
3.1. Nhận xét chung về việc dùng các biện pháp đi kèm hành vi đe
47
dọa thể diện trong truyện ngắn Nam Cao...........................................
3.2. Dùng biện pháp “tháo ngòi nổ”...................................................
49
3.3. Nêu lí do để thanh minh..............................................................
52
3.4. Dùng yếu tố vuốt ve....................................................................
54
3.5. Dùng yếu tố rào đón, ướm lời.....................................................
59
3.6. Dùng kiểu tiền dẫn nhập một hành động bằng câu hỏi...............
62
3.7. Dùng lời xin lỗi...........................................................................
64
3.8. Tiểu kết chương 3........................................................................
65
KẾT LUẬN........................................................................................
69
TÀI LIỆU THAM KHẢO..................................................................
71
iv
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Từ viết tắt
Giải thích
FTA
Hành vi đe dọa thể diện
TSXH
Tần suất xuất hiện
Sp
Người tham gia vào hội thoại
Sp1
Vai người nói
Sp2
Vai người nghe
v
DANH MỤC BẢNG
Số hiệu
Tên bảng
Trang
Tổng hợp tần suất sử dụng các biện pháp thay thế hành
28
bảng
2.1
vi đe dọa thể diện trong truyện ngắn Nam Cao
2.2
Tổng hợp tần suất sử dụng các phương tiện tu từ trong
30
truyện ngắn Nam Cao
3.1
Tổng hợp tần suất sử dụng các biện pháp đi kèm hành
vi đe dọa thể diện trong truyện ngắn Nam Cao
47
1
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của xã hội loài
người. Nó gắn bó chặt chẽ với con người và được loài người nghiên cứu từ rất
sớm với nhiều công trình nghiên cứu có giá trị.
Từ đầu nửa sau của thế kỉ XX, Ngôn ngữ học đã chuyển mạnh từ kí
hiệu học và cấu trúc luận sang tìm hiểu việc sử dụng ngôn ngữ và được gọi là
Dụng học trong ngôn ngữ học. Dụng học ra đời chẳng những không phủ định
các thành tựu trước kia của ngôn ngữ học, mà còn mở ra nhiều vấn đề mới mẻ
và hữu ích. Nghiên cứu dụng học (ngôn ngữ trong giao tiếp) mới thấy hết giá
trị và tính phức tạp của nó trong thực tế sử dụng ngôn ngữ của con người.
Hiện nay bộ môn Ngữ dụng học ngày càng được quan tâm, nghiên cứu
nhiều hơn. Đặc biệt “Lịch sự” đã trở thành vấn đề được quan tâm nghiên cứu
của nhiều nhà Ngữ dụng học.
Các nhà nghiên cứu ngôn ngữ R.Lakoff, P.Brown và G.N.Leech,
S.Levinson thống nhất cho rằng lịch sự là chiến lược hay phương tiện tránh
đụng độ trong giao tiếp. Quan niệm này được trình bày rõ ràng nhất trong mô
hình lý thuyết về lịch sự của P.Brown và S.Levinson: “Lịch sự là một chiến
lược nhằm sửa đổi, giảm thiểu mức độ “mất thể diện” đã hoặc sẽ xảy ra
trong hoạt động giao tiếp của con người” [43, tr.47]. Còn theo Từ điển tiếng
Việt của Hoàng Phê, “Lịch sự” là “có thái độ nhã nhặn, lễ độ khi giao tiếp
phù hợp với quan niệm và phép tắc xã giao của xã hội” [29, tr.566]. Dù là
quan niệm nào chúng ta đều thấy có sự đồng nhất quan điểm rằng Lịch sự là
một phương thức để giảm thiểu sự xung đột trong diễn ngôn. Những chiến
lược lịch sự có nhiệm vụ đặc biệt là làm cho cuộc tương tác được thuận lợi.
Chiến lược lịch sự là cách ứng xử ngôn ngữ khôn khéo, tế nhị nhằm tránh xúc
2
phạm hay áp đặt và làm tăng sự vừa lòng đối với người đối thoại để đạt hiệu
quả giao tiếp cao nhất.
Lịch sự được các nhà nghiên cứu chia thành 2 loại: Lịch sự dương tính
và Lịch sự âm tính trong đó Lịch sự âm tính hướng vào thể diện âm tính, vào
lãnh địa của đối tác, tức là phép lịch sự này có tính né tránh (tránh không
dùng những hành vi đe dọa thể diện hoặc bù đắp, giảm nhẹ hiệu lực của các
hành vi đe dọa thể diện khi không thể không dùng chúng). Trong thực tế, con
người luôn sống trong các quan hệ xã hội đa dạng, phức tạp. Các quan hệ này
tạo ra môi trường sống của mỗi cá nhân và ảnh hưởng đến sự hình thành nhân
cách và xu hướng hành động của họ. Chính cuộc sống đòi hỏi mỗi người phải
có cách xử thế đúng đắn, thể hiện qua phép Lịch sự. Trong quá trình giao tiếp,
người ta thực hiện hàng loạt các hành động ngôn ngữ có tính đe dọa thể diện.
Nguyên tắc lịch sự đòi hỏi chúng ta không thực hiện các hành động đó hoặc
tìm cách giảm nhẹ tính đe dọa bằng các phương tiện ngôn ngữ khác nhau.
Không đe dọa thể diện của đối tác là một nguyên tắc tối cao trong giao tiếp.
Vì vậy các nguyên tắc lịch sự đã được tạo ra nhằm tránh hoặc làm giảm tính
căng thẳng trong giao tiếp.
Nam Cao là cây bút xuất sắc của văn học hiện thực phê phán Việt Nam
giai đoạn 1930-1945. Ông đã để lại cho đời những tác phẩm bất hủ, đặc biệt
là thể loại truyện ngắn. Đã gần một thế kỉ trôi qua, nhưng những nhân vật
trong truyện ngắn Nam Cao vẫn sống mãi với thời gian bởi nét độc đáo trong
nghệ thuật giao tiếp. Hệ thống các nhân vật trong truyện ngắn Nam Cao đã
phản ánh một cách sống động bức tranh hiện thực của xã hội đương thời. Có
thể khẳng định rằng chiến lược lịch sự trong cách sử dụng ngôn ngữ của các
nhân vật chính là một nét đặc sắc trong nghệ thuật sáng tác của nhà văn Nam
Cao. Như đã nói chiến lược lịch sự là cách ứng xử ngôn ngữ khôn khéo, tế nhị
nhằm tránh xúc phạm hay áp đặt và làm tăng sự vừa lòng đối với người đối
thoại để đạt hiệu quả giao tiếp cao nhất. Sở dĩ nhà văn Nam Cao được đánh
giá là một bậc thầy trong sử dụng ngôn ngữ tiếng Việt chính là bởi ông đã
3
sáng tạo ngôn ngữ nhân vật trong truyện ngắn của mình với chiến lược giao
tiếp lịch sự được biểu hiện hết sức phong phú.
Đã có nhiều công trình nghiên cứu, tìm hiểu về truyện ngắn Nam Cao
nhưng theo những tài liệu mà chúng tôi đã có dịp tìm hiểu thì tính đến thời
điểm này chưa có một công trình nào tìm hiểu về những biểu hiện ngôn ngữ
của chiến lược lịch sự âm tính khi thực hiện hành vi đe dọa thể diện. Đây là
một vấn đề mà chúng tôi cho rằng rất hấp dẫn trong việc tìm hiểu ngôn ngữ
nhân vật của ngòi bút Nam Cao. Với cương vị là một giáo viên dạy Ngữ văn
ở nhà trường phổ thông, tôi rất muốn đi sâu tìm hiểu phương diện này để có
thêm kiến thức giúp học sinh của mình khám phá các tầng giá trị của ngôn
ngữ văn chương. Vì vậy, tôi đã chọn “Biểu hiện ngôn ngữ của chiến lược lịch
sự âm tính khi thực hiện hành vi đe dọa thể diện trong truyện ngắn Nam Cao”
làm đối tượng nghiên cứu của đề tài. Từ đó, góp thêm một tiếng nói nhằm
khẳng định giá trị của lí thuyết giao tiếp qua nghệ thuật sử dụng ngôn từ trong
truyện ngắn Nam Cao.
2. Lịch sử vấn đề
2.1. Về chiến lược lịch sự âm tính và biểu hiện ngôn ngữ của chiến
lược lịch sự âm tính
Chiến lược lịch sự trong giao tiếp ngôn ngữ là một vấn đề được các nhà
nghiên cứu ngôn ngữ quan tâm như R.Lakoff, G.Leech, P.Brown và
S.Levison. Ở Việt Nam vấn đề này cũng được các nhà nghiên cứu ngôn ngữ
đi sâu tìm hiểu như Đại cương ngôn ngữ học, Tập 2 và giáo trình Ngữ dụng
học của Đỗ Hữu Châu, Ngôn ngữ học xã hội của Nguyễn Văn Khang, giáo
trình Ngữ dụng học của Đỗ Thị Kim Liên, giáo trình Ngữ dụng học của
Nguyễn Thị Thuận... Nhìn chung các tác giả này đều có chung quan điểm coi
lịch sự là chiến lược hay phương tiện để tránh đụng độ trong giao tiếp. Các
công trình này đều chỉ ra được các biểu hiện ngôn ngữ của siêu chiến lược
lịch sử âm tính nhưng vẫn chỉ là các công trình lí luận chung, mang tính hàn
lâm, chưa có một công trình nào vận dụng lí luận để xem xét các biểu hiện
4
ngôn ngữ của chiến lược lịch sự âm tính khi thực hiện hành vi đe dọa thể diện
trong tác phẩm cụ thể. Có một số công trình nghiên cứu cụ thể nhưng mới chỉ
là các công trình nghiên cứu về chiến lược lịch sự nói chung như một số bài
viết trên tạp chí Ngôn ngữ, đề tài luận văn thạc sĩ và luận án tiến sĩ như “Khái
niệm thể diện và ý nghĩa đối với việc nghiên cứu ứng xử lịch sự” của Vũ Thị
Thanh Hương, “Vai giao tiếp và phép lịch sự trong tiếng Việt” của Tạ Thị
Thanh Tâm, “Tính lịch sự của hành động cầu khiến trên tư liệu truyện ngắn
Nguyễn Công Hoan” của Nguyễn Thị Thuận, Bùi Thị Hường, “Lịch sự trong
tiếng Việt và giới tính” của Vũ Tiến Dũng, “Lịch sự trong hành động cầu khiến
tiếng Việt” của Lê Thị Kim Đính.
2.2. Về truyện ngắn Nam Cao
Cho đến nay đã có nhiều công trình với quy mô lớn nhỏ khác nhau
nghiên cứu về truyện ngắn Nam Cao. Riêng lĩnh vực ngôn ngữ học đã có
nhiều bài viết, luận văn và công trình nghiên cứu như “Vai giao tiếp trong
truyện ngắn của Nam Cao” của Bùi Khánh Chi (Luận văn thạc sĩ, ĐH Hải
Phòng); “Hàm ngôn lời thoại nhân vật trong một số truyện ngắn trước Cách
mạng của Nam Cao” của tác giả Vũ Thị Thu Giang (Luận văn Thạc sĩ, Đại học
Hải Phòng); “Hành động ngôn ngữ độc thoại trong một số tác phẩm của Nam
Cao” của tác giả Đặng Quỳnh Nga (Luận văn Thạc sĩ, Đại học Hải Phòng)…
và rất nhiều các bài viết khác đăng trên các tạp chí chuyên ngành Ngôn ngữ
như “Sự tình phát ngôn trong truyện ngắn Chí Phèo của Nam Cao” của Lê
Thị Thơm, “Chức năng chỉ dẫn trong đoạn mở đầu truyện ngắn Nam Cao”
của Nguyễn Thái Hòa (Tạp chí Ngôn ngữ số 6); “Từ xưng hô trong một số
sáng tác của Nam Cao” của Nguyễn Thị Hương (Ngữ học trẻ 2002 diễn đàn
học tập và nghiên cứu); “Đặc điểm sử dụng đơn vị từ vựng đồng nghĩa trong
văn xuôi Nam Cao” của Nguyễn Thúy Liễu (Tạp chí Ngôn ngữ số 3 - 2007);
“Các biểu thức ngôn ngữ đồng sở chỉ biểu thị nhân vật trong tác phẩm của
Chí Phèo” của Nguyễn Thúy Quyên (Tạp chí Ngôn ngữ số 6 - 2008); “Ngôn
ngữ nhân vật trong mối kì duyên Chí Phèo - Thị Nở” của Tạ Văn Thông (Tạp
5
chí Ngôn ngữ 17 – 2004); “Vẻ đẹp của ngôn ngữ văn chương qua tác phẩm
Chí Phèo - Nam Cao” của Trần Thị Thanh (Tạp chí Ngôn ngữ 12 - 2001) và
nhiều bài viết khác như “Tiểu từ tình thái trong tác phẩm của Nam Cao từ
góc nhìn ngôn ngữ học”; “Hành vi ngôn ngữ chào hỏi trong truyện ngắn của
Nam Cao”; “Đại từ nhân xưng trong truyện ngắn Nam Cao”…vv.
Các bài viết và các đề tài này đã đi vào nghiên cứu một số vấn đề cụ thể
của tính lịch sự trong giao tiếp ngôn ngữ nhưng chưa có một công trình nào tìm
hiểu về biểu hiện ngôn ngữ của chiến lược lịch sự âm tính khi thực hiện hành
vi đe dọa thể diện trong truyện ngắn Nam Cao.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu biểu hiện ngôn ngữ của chiến lược lịch sự âm tính
khi thực hiện hành vi đe dọa thể diện trong truyện ngắn Nam Cao.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Những biểu hiện ngôn ngữ của chiến lược lịch sự âm tính khi thực hiện
hành vi đe dọa thể diện được P.Brown và S.Levinson gọi là các biện pháp dịu
hóa. Đây là các biện pháp làm giảm hiệu lực đe dọa thể diện người nghe.
Chúng bao gồm:
- Các biện pháp thay thế cho các hành vi đe dọa thể diện
- Các biện pháp đi kèm các hành vi đe dọa thể diện
Do đó phạm vi nghiên cứu của đề tài này là tìm hiểu những biểu hiện
ngôn ngữ cụ thể của các biện pháp thay thế cho các hành vi đe dọa thể diện
và các biện pháp đi kèm các hành vi đe dọa thể diện.
Các ngữ liệu khảo sát và trình bày trong luận văn này được thu thập từ
“Tuyển tập truyện ngắn Nam Cao - Tập 1, 2”, NXB Văn học, Hà Nội, 1999.
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
4.1. Mục đích nghiên cứu
Tính lịch sự hay chiến lược lịch sự đang trở thành mối quan tâm lớn
của ngôn ngữ học nói chung và ngữ dụng học nói riêng. Việc nghiên cứu
6
phép lịch sự khi thực hiện hành vi đe dọa thể diện trong một tác phẩm văn học
đang thu hút sự chú ý quan tâm nghiên cứu của nhiều nhà nghiên cứu ngôn
ngữ. Mục đích của luận văn này là ứng dụng lí thuyết giao tiếp vào xem xét
biểu hiện ngôn ngữ của chiến lược lịch sự âm tính khi thực hiện hành vi đe
dọa thể diện trong truyện ngắn Nam Cao nhằm nghiên cứu nghệ thuật giao
tiếp của các nhân vật trong truyện ngắn Nam Cao. Từ đó tác giả tìm hiểu sâu
hơn về lí thuyết giao tiếp nói chung, qua đó hiểu thêm về đặc điểm phong
cách của nhà văn Nam Cao trên lĩnh vực truyện ngắn nói riêng.
4.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích trên, đề tài cần giải quyết các nhiệm vụ sau:
- Tìm hiểu những vấn đề lí luận có liên quan đến đề tài.
- Tìm hiểu các biện pháp thay thế hành vi đe dọa thể diện trong truyện
ngắn Nam Cao.
- Tìm hiểu các biện pháp đi kèm hành vi đe dọa thể diện trong truyện
ngắn Nam Cao.
5. Phương pháp nghiên cứu
Để giải quyết được các nhiệm vụ trên, đề tài sẽ sử dụng các phương
pháp và thủ pháp sau:
Phương pháp phân tích diễn ngôn: Luận văn sử dụng phương pháp
phân tích diễn ngôn để phân tích làm rõ các biểu hiện ngôn ngữ của chiến
lược lịch sự âm tính khi thực hiện hành vi đe dọa thể diện trong truyện ngắn
Nam Cao.
Phương pháp miêu tả: Luận văn sử dụng phương pháp miêu tả để
phân tích, miêu tả các biện pháp thay thế hành vi đe dọa thể diện, các biện
pháp đi kèm hành vi đe dọa thể diện.
Thủ pháp cải biến: Luận văn sử dụng thủ pháp cải biến trong trường
hợp tìm hiểu các biểu hiện ngôn ngữ của phép lịch sự âm tính khi thực hiện
hành vi đe dọa thể diện.
7
Thủ pháp thống kê, phân loại: Luận văn sử dụng thủ pháp thống kê,
phân loại để thống kê, phân loại tần suất xuất hiện của các hành động ngôn
ngữ gián tiếp, các phương tiện tu từ, các phép phủ định lịch sự cũng như các
công thức đi kèm trong các hành động ngôn ngữ, kiểu tiền dẫn nhập một hành
động bằng các câu hỏi và một số biện pháp khác. Đó là những biểu hiện ngôn
ngữ cụ thể của chiến lược lịch sự âm tính khi thực hiện hành vi đe dọa thể
diện. Từ đó có cơ sở nền tảng đánh giá những biểu hiện ngôn ngữ của chiến
lược lịch sự âm tính trong truyện ngắn Nam Cao.
Thủ pháp so sánh, đối chiếu: Luận văn sử dụng thủ pháp so sánh đối
chiếu để so sánh đối chiếu tần suất xuất hiện của các biện pháp thay thế và
các biện pháp đi kèm hành vi đe dọa thể diện của phép lịch sự âm tính trong
truyện ngắn Nam Cao.
6. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phần phụ lục, Nội
dung luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lí luận liên quan đến đề tài.
Chương 2: Các biện pháp thay thế hành vi đe dọa thể diện trong truyện
ngắn Nam Cao.
Chương 3: Các biện pháp đi kèm hành vi đe dọa thể diện trong truyện
ngắn Nam Cao.
8
Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
1.1. Lịch sự trong giao tiếp ngôn ngữ
1.1.1. Khái niệm lịch sự
Lịch sự (politeness) là một nhân tố quan trọng trong giao tiếp xã hội. Vì
thế khái niệm này đã có mặt từ rất lâu trong nhiều ngôn ngữ khác nhau trên
thế giới và sử dụng ngôn ngữ một cách lịch sự cũng không phải xa lạ với các
nền văn hóa. Trong hội thoại, ngoài quan hệ trao đổi thông tin (miêu tả, trần
thuật những thông tin được đánh giá theo tiêu chí đúng sai logic) còn có quan
hệ liên cá nhân (quan hệ giữa các vai trong giao tiếp). Liên quan trực tiếp đến
quan hệ liên cá nhân là vấn đề lịch sự trong giao tiếp. Sau đây là một số cách
hiểu về lịch sự:
- Theo Thomas, “… phép lịch sự được xem là một (hay một loạt chiến
lược) được người nói dùng đề hoàn thành một số mục đích như thiết lập hoặc
duy trì những quan hệ hài hòa.” [4, tr.256]
- Theo Lakoff, “… lịch sự như là một phương thức để giảm thiểu sự
xung đột trong diễn ngôn (...); Những chiến lược lịch sự có nhiệm vụ đặc biệt
là làm cho cuộc tương tác được thuận lợi.” [4, tr.256]
- Theo Leech, “Phép lịch sự liên quan tới quan hệ giữa hai người tham
gia mà chúng ta có thể gọi là ta và người.” [4, tr.256]
Cụ thể hơn, phép lịch sự có chức năng: “Gìn giữ sự cân bằng xã hội và
quan hệ bạn bè, những quan hệ này khiến chúng ta có thể tin rằng người đối
thoại với chúng ta tỏ ra trước hết là cộng tác với chúng ta.” [4, tr.256] “Phép
lịch sự là hệ thống những phương thức mà người nói đưa vào hoạt động
nhằm điều hòa và gia tăng giá trị của đối tác của mình.” [4, tr.280]
9
Tóm lại, lịch sự trong giao tiếp là vấn đề ứng xử giữa người nói và
người nghe, nhờ đó mà quan hệ liên cá nhân được tạo lập và duy trì, qua cách
sử dụng ngôn ngữ khôn khéo nhằm bảo toàn được thể diện của cả hai phía.
Hiểu một cách chung nhất phép lịch sự là một biểu hiện qua mối quan hệ liên
nhân trong tương tác, làm cho cuộc tương tác xã hội được hài hòa, các cá
nhân tham dự cảm thấy dễ chịu, thoải mái và góp phần đưa cuộc tương tác
đến thành công.
Lịch sự là một vấn đề được nhiều nhà nghiên cứu ngôn ngữ quan tâm
và tìm hiểu ở nhiều góc độ khác nhau.
1.1.2. Các phương châm lịch sự
Để hoạt động giao tiếp đạt hiệu quả, những người tham gia vào quá
trình giao tiếp cần phải tuân thủ những nguyên tắc nhất định. Đó là “giảm tới
mức tối thiểu những cách nói không lịch sự và tăng tới mức tối đa những cách
nói lịch sự”. (G.Leech) [4, tr.260]
- Như vậy, để có một phát ngôn lịch sự, người nói cần điều chỉnh mức
lợi - thiệt nhằm đảm bảo sự cân bằng trong quan hệ liên cá nhân giữa người
nói và người nghe. Dựa trên bốn phương châm hội thoại của P.Grice (phương
châm về lượng, phương châm về chất, phương châm quan hệ, phương châm
cách thức) G.Leech đã cụ thể hóa nguyên tắc trên thành sáu phương châm lịch
sự như sau:
< 1> Phương châm khéo léo:
- Giảm đến mức tối thiểu những điều thiệt cho người.
- Tăng tối đa những điều lợi cho người.
< 2> Phương châm hào hiệp (rộng rãi):
- Giảm đến mức tối thiểu những điều lợi cho ta.
- Tăng tối đa những điều thiệt cho ta.
<3> Phương châm tán thưởng:
- Giảm đến mức tối thiểu những lời chê đối với người.
- Tăng tối đa những lời khen cho người.
10
<4> Phương châm khiêm tốn:
- Giảm tối thiểu việc khen ta.
- Tăng tối đa việc chê ta.
<5> Phương châm tán đồng:
- Giảm đến mức tối thiểu sự bất đồng giữa ta và người.
- Tăng tối đa sự đồng ý giữa ta và người.
<6> Phương châm cảm thông (thiện cảm):
- Giảm đến mức tối thiểu ác cảm giữa ta và người.
- Tăng tối đa thiện cảm giữa ta và người.
Phương châm khéo léo và phương châm hào hiệp được sử dụng khi
thực hiện hành động thỉnh cầu hay cam kết còn phương châm tán thưởng
thường được sử dụng trong hành vi biểu cảm.
Điểm chung giữa các phương châm khiêm tốn, tán đồng, cảm thông là
sự tương phản giảm - tăng về việc khen - chê, bất đồng - tán đồng, không
thiện cảm - thiện cảm hướng về người nói và người nghe.
Trong thực tế, nhiều tình huống mà người tham gia giao tiếp khó có thể
tuân thủ trọn vẹn tất cả các phương châm này. Trong trường hợp ấy, họ sẽ sử
dụng các chiến lược lịch sự dương tính và lịch sự âm tính để đảm bảo cho
cuộc thoại thành công.
1.1.3. Thể diện
1.1.3.1. Khái niệm thể diện
P.Brown và S.Levinson xây dựng lý thuyết của mình trên khái niệm thể
diện mượn của Goffman. Thể diện được P.Brown và S.Levinson định nghĩa là
“hình ảnh về ta công cộng mà mỗi thành viên (trong xã hội) muốn mình có
được”. [4, tr.264]
1.1.3.2. Thể diện âm tính
Theo tác giả G.Yule thì thể diện âm tính là “nhu cầu được độc lập, tự
do trong hành động, không bị người khác áp đặt”. [4, tr.264]
1.1.3.3. Hành vi đe dọa thể diện
11
Trong giao tiếp người nói luôn có ý thức “giữ thể diện” cho người
khác. Thế nhưng phần lớn các hành vi ngôn ngữ đều tiềm ẩn khả năng làm
thương tổn đến thể diện người khác. P.Brown & S.Levinson gọi chúng là
những hành vi đe dọa thể diện (Face threatening acts). Các tác giả này đã
phân chia hành vi đe dọa thể diện thành bốn loại sau:
- Hành vi đe dọa thể diện âm tính của người thực hiện nó như: tặng,
biếu, hứa hẹn.
- Hành vi đe dọa thể diện dương tính của người thực hiện như xin lỗi,
thú nhận, cám ơn, tự phê bình…
- Hành vi đe dọa thể diện âm tính của người tiếp nhận như ra lệnh, chỉ
bảo, khuyên răn, dọa nạt, dặn dò…
- Hành vi đe dọa thể diện dương tính của người tiếp nhận như phê bình,
chê bai, chửi bới, chế giễu…
Khi một hành vi đe dọa thể diện được thực hiện thì nó có thể đồng thời
đe dọa tất cả các khía cạnh của thể diện đã nêu.
1.1.4. Chiến lược lịch sự âm tính
1.1.4.1. Khái niệm lịch sự âm tính
Là những phương châm, cách thức sử dụng hành vi ngôn ngữ nhằm bày
tỏ sự tôn trọng, nhấn mạnh tầm quan trọng, chú ý đến những điều người khác
quan tâm.
1.1.4.2. Các chiến lược lịch sự âm tính
<1> Dùng lối nói gián tiếp đã thành quy ước.
<2> Dùng các yếu tố rào đón hay tình thái hóa.
<3> Hãy tỏ ra bi quan
<4> Giảm thiểu sự áp đặt.
<5> Tỏ ra kính trọng.
<6> Xin lỗi.
<7> Phi cá nhân hóa Sp1 và Sp2, tức là dùng những diễn ngôn phiếm
chỉ, không có chủ đề rõ ràng.
12
<8> Trình bày hành vi đe dọa thể diện như một quy tắc chung.
<9> Định danh hóa.
<10> Bày tỏ lối nói trắng rằng mình mang ơn Sp2 hoặc Sp2 không phải
chịu ơn mình.
1.1.5. Những biểu hiện ngôn ngữ của phép lịch sự âm tính
Mục đích của phần này là tìm ra các biểu hiện ngôn ngữ nhằm thực hiện
chiến lược lịch sự âm tính khi thực hiện các FTA đã trình bày ở trên. Các biểu
hiện ngôn ngữ của siêu chiến lược lịch sự âm tính khi thực hiện các hành vi
đe dọa thể diện được P.Brown và S.Levinson gọi là các biện pháp dịu hóa.
Labov và Fanshel gọi là các biện pháp mềm hóa; Keller gọi là các yếu tố pha
loãng; Fillmore gọi là các yếu tố bôi trơn.
Các biện pháp dịu hóa là biện pháp làm giảm hiệu lực đe dọa thể diện
của người nghe. Chúng bao gồm: các biện pháp thay thế cho các hành vi đe
dọa thể diện và các biện pháp đi kèm. Sau đây là nội dung cụ thể.
1.1.5.1. Các biện pháp thay thế cho các hành vi đe dọa thể diện
Các biện pháp thay thế cho các hành vi đe dọa thể diện gồm:
a. Các hành vi ngôn ngữ gián tiếp. Ví dụ, thay vì nói toạc: Cho mượn
quyển sách, lại nói: Bạn có thể cho mình mượn quyển sách được không?
b. Các phương tiện tu từ như nói giảm, nói vòng,…
c. Các phép phủ định lịch sự như: Không sớm lắm đâu, không lấy gì
làm, không phải là thông minh cho lắm,…
1.1.5.2. Các biện pháp đi kèm
Các biện pháp đi kèm gồm:
a. Các công thức đi kèm thường dùng trong câu cầu khiến như: Làm ơn,
phiền cậu (ông, bà, anh, chị,…) giúp cho, hộ, hộ cho, cảm phiền,…
b. Dùng biện pháp giảm xốc một hành vi đe dọa thể diện gây ra cho
người tiếp nhận là dùng cách báo trước hành vi đó bằng các kiểu tiền dẫn
nhập. Ví dụ: Tiền dẫn nhập một thỉnh cầu: Cậu (ông, bà,…) có thể giúp tôi
(mình, cháu,…) một việc không? Tiền dẫn nhập một hành động hỏi bằng một
13
câu hỏi như: Tôi có thể hỏi bạn được không? Tiền dẫn nhập một lời đánh giá,
nhận xét, phê bình cũng bằng câu hỏi kiểu như: Mình có thể nhận xét một
chút không? Hoặc bằng hành động xin phép Cho mình góp ý nhé!
c. Có thể giảm nhẹ hiệu lực đe dọa thể diện bằng lời xin lỗi, bằng cách
nêu lí do để thanh minh,…
d. Giảm thiểu hiệu quả xấu bằng cách nói: Một ít, một chút, một lát,
một tí tì ti thôi, chút xíu thôi, chẳng là bao đâu,…
đ. Tình thái hóa như: Tôi nghĩ rằng, tôi thấy rằng, có lẽ là, theo tôi
nghĩ… Những công thức tình thái hóa này thường dùng trong các hành động
xác tín, khẳng định, đánh giá.
e. Biện pháp “tháo ngòi nổ”. Khi dự đoán rằng hành động sắp thực
hiện có thể gây hiệu quả xấu cho người nghe thì người nói có thể tháo ngòi nổ
cho người nghe bằng cách nói trước cái hiệu quả xấu đó ra như:
Tôi rất băn khoăn phải phiền anh, nhưng…
Mình biết cậu không muốn rời mắt khỏi màn hình một phút, nhưng…
f. Những yếu tố vuốt ve làm cho người nghe nuốt trôi những viên
thuốc đắng. Đây là cách nói nêu ra ưu điểm của người nhận trước khi nêu ra
hành vi đe dọa thể diện. Ví dụ: Cô bạn thủ khoa văn ơi, giảng hộ mình đề văn
này với.
Vì các hành động nói hoặc chính thức có, hoặc đều tiềm ẩn khả năng đe
dọa thể diện cho nên các biện pháp ngôn ngữ để biểu hiện chúng có số lượng
không thể kể xiết trong tất cả các ngôn ngữ.
Những biểu hiện ngôn ngữ của phép lịch sự âm tính trên đây sẽ là cơ sở
để chúng tôi khảo sát biểu hiện ngôn ngữ của chiến lược lịch sự âm tính khi
thực hiện hành vi đe dọa thể diện trong truyện ngắn Nam Cao.
1.2. Vai giao tiếp
1.2.1. Một số quan điểm về vai giao tiếp
Con người trong giao tiếp ngôn ngữ không chỉ là người nói hoặc người
nghe mà là các thành viên của hệ thống giao tiếp xã hội cụ thể... Mỗi cá nhân
14
có thể tham gia đồng thời nhiều hệ thống và nhiều nhóm xã hội khác nhau.
Không có cá nhân đứng ngoài nhóm. Nói cách khác, mỗi cá nhân bao giờ
cũng ứng với một tọa độ xã hội nhất định trong hệ phân tầng vi mô và vĩ mô
của xã hội. Tọa độ xã hội của cá nhân sẽ được quy định bởi các mối quan hệ
xã hội của cá nhân đó với các thành viên trong nhóm, trong tập đoàn và trong
toàn xã hội, vốn nằm ngoài ý chí của cá nhân. Đến lượt mình, tọa độ xã hội ấy
lại quy định các thuộc tính xã hội, tâm lí, nhân cách, lối sống, ứng xử xã hội
và ứng xử ngôn ngữ của cá nhân trong nhóm và trong tập đoàn...
Điều này có nghĩa là một con người cụ thể luôn đảm nhiệm nhiều vai,
tùy theo các mối quan hệ xã hội của cá nhân nhiều hay ít sẽ quy định số vai
mà cá nhân đó đảm nhiệm. Nói cách khác, các mối quan hệ của cá nhân càng
rộng, càng đa hướng thì số vai của anh ta càng phong phú.
Mỗi con người bao giờ cũng có một “bộ vai xã hội” theo từng cặp đối
xứng phản ánh quan hệ ứng xử xã hội của cá nhân đó. Khi cá nhân chuyển từ
vai nọ sang vai kia thì bắt buộc phải chuyển mã giao tiếp cho phù hợp với
quan hệ vai mới.
Tác giả Đỗ Hữu Châu [4, tr.205] quan niệm trong một cuộc giao tiếp
luôn có sự phân vai. Ông dùng kí hiệu Sp để chỉ người tham gia vào hội thoại.
Sp1 là vai người nói, Sp2 là vai người nghe. Cuộc đối thoại thông thường là
sự luân chuyển giữa hai vai với nhau. (Sp1 <--> Sp2). Trong đó Sp1 và Sp2 có
thể tồn tại ở hai dạng. Sp1 gồm chủ ngôn, thuyết ngôn và Sp2 gồm đích ngôn,
tiếp ngôn. Đôi khi người nói trực tiếp không phải là người nói thực sự và người
nghe trực tiếp cũng không phải người tiếp nhận thông tin thực sự. Nhưng dù thế
nào đi chăng nữa, Sp1 và Sp2 đều phải cùng hướng vào mục đích giao tiếp
chung và có niềm tin vào chính cuộc giao tiếp đó. Thông qua hình ảnh tinh thần
về người đối thoại mà cá nhân có thể hình thành vai giao tiếp cho phù hợp với vị
thế của người cùng tham gia giao tiếp.
Nhìn từ góc độ ngôn ngữ học xã hội, tác giả Nguyễn Văn Khang cho
rằng để có thể giao tiếp được với nhau, giữa những người tham gia giao tiếp
15
phải xác định “vai” cho mình dựa trên mối quan hệ qua lại nhất định nào đó.
Quan hệ giao tiếp này được xây dựng trên cơ sở hệ thống các mối quan hệ xã
hội chung, trên cơ sở cấu trúc của xã hội đó. “Mỗi ngôn ngữ nói chung và
trong một ngôn ngữ nói riêng đều chịu sự chi phối của nhiều nhân tố như
truyền thống dân tộc, cấu trúc xã hội, ý thức cộng đồng và tương ứng với
khoảng cách về nhân thân cũng như mức độ thân sơ giữa những người giao
tiếp”. [19, tr.201-202]
Bất kì một sự kiện nói năng nào, người nói và người nghe phải lựa
chọn câu hỏi và câu trả lời phù hợp với vị thế xã hội của mình. Muốn có sự
lựa chọn đúng đắn thì bắt buộc người tham gia giao tiếp phải tính đến mối
quan hệ giữa bản thân với đối tượng giao tiếp.
Như vậy vai giao tiếp là một thuật ngữ dùng để biểu thị vị thế xã hội
của các nhân vật tham gia hội thoại.
Con người trong giao tiếp ngôn ngữ không chỉ bó hẹp trong vai người
nói (Sp1) hoặc người nghe (Sp2) mà là các thành viên của hệ thống giao tiếp
xã hội cụ thể.
Vị thế xã hội của con người luôn chi phối tới vai giao tiếp. Ở vị thế xã
hội này thì cá nhân đóng vai này, ở vị thế khác lại chuyển vai giao tiếp khác.
Mỗi lần chuyển vai là thực hiện chuyển mã ngôn ngữ cho phù hợp với địa vị
mới.
Tóm lại, dù hiểu theo cách nào đi nữa, ta vẫn có thể thấy rằng các quan
điểm trên đều có sự nhất quán ở chỗ vai giao tiếp được hình thành dựa trên
các mối quan hệ xã hội và con người là “một thực thể đa chức năng” nên mỗi
người có nhiều vai khác nhau. Tùy theo từng hoàn cảnh nói năng mà một vai
cụ thể được thiết lập.
1.2.2. Các phương tiện thể hiện vai giao tiếp
Vai giao tiếp được hình thành từ quan hệ liên nhân và thể hiện thông
quan các phương tiện sau:
16
1.2.2.1. Phương tiện phi ngôn ngữ
Yếu tố phi ngôn ngữ bao gồm: các cử chỉ, điệu bộ, khoảng cách không
gian, tiếp xúc cơ thể, tư thế cơ thể, vẻ mặt, ánh mắt... Tùy thuộc vào mối quan
hệ với đối tượng giao tiếp mà người nói có thể chọn cho mình tư thế giao tiếp
phù hợp với vai đảm nhiệm. Chẳng hạn, khi giao tiếp với bề trên, người dưới
có tư thế cúi đầu, khoanh tay... nhằm thể hiện sự lễ phép, còn khi nói chuyện
với bạn bè cùng trang lứa thường có những cử chỉ đi kèm như: khoác vai, bá
cổ, bắt tay... tạo sự thân thiện.
Thông qua phương tiện phi ngôn ngữ mà thái độ, tình cảm của người
tham gia giao tiếp được bộc lộ.
1.2.2.2. Phương tiện ngôn ngữ
a. Yếu tố kèm lời
Trong cuộc thoại, ngoài yếu tố phi ngôn ngữ và các yếu tố ngôn ngữ,
người ta còn sử dụng những yếu tố kèm lời để làm phương tiện biểu thị vai
giao tiếp.
Yếu tố kèm lời là các yếu tố mặc dầu không có đoạn tính nhưng đi kèm
với các yếu tố đoạn tính như âm vị và âm tiết. Không một yếu tố đoạn tính
nào được phát âm ra mà không có yếu tố kèm lời đi theo. Được kể vào các
yếu tố kèm lời là những yếu tố như ngữ điệu, trọng âm, cường độ, độ dài,
đỉnh giọng. Các yếu tố này được cụ thể hóa bằng một thuật ngữ mang tính
chất thông dụng - giọng điệu.
Mỗi cá nhân khi thực hiện vai giao tiếp của mình đều có yếu tố giọng
điệu đi kèm để biểu thị ý nghĩa lời nói. Chúng là yếu tố gắn chặt với hành
động lời nói của nhân vật.
Trong đối thoại, không phải mọi lúc, mọi nơi người ta đều có một
giọng điệu giống nhau mà có khi nhỏ nhẹ, trầm ấm, cũng có khi gắt gỏng, rin
rít... Tùy theo từng đối tượng giao tiếp khác nhau mà giọng điệu có sự thay
đổi cho phù hợp.
17
b. Yếu tố ngôn ngữ
Nếu như yếu tố phi ngôn ngữ và yếu tố kèm lời được coi là những yếu
tố phụ lời thì yếu tố ngôn ngữ được coi là hạt nhân của lới nói. Khi nghiên
cứu vai giao tiếp, chúng tôi thấy nó được bộc lộ chủ yếu qua các nhân tố sau
đây:
- Từ ngữ xưng hô
- Hành vi ngôn ngữ
- Các tiểu từ tình thái
1.3. Vị thế xã hội
“Vị thế xã hội là địa vị tư thế của người này so với người khác trong xã
hội”. (22, tr.52)
Vị thế xã hội được tạo thành bởi các nhân tố: nghề nghiệp, chức vụ,
tuổi tác, quan hệ huyết thống.
1.4. Vị thế giao tiếp
“Vị thế giao tiếp là địa vị, tư thế của một người nào đó trong bối cảnh
cụ thể của cuộc giao tiếp mà người đó tham gia”. (22, tr.52)
Vị thế giao tiếp được tạo thành bởi các nhân tố: vị thế xã hội + mục
đích phát ngôn.
Vị thế giao tiếp có khi trùng với vị thế xã hội nhưng có khi không trùng
vói vị thế xã hội.
Ví dụ 1: Tôi cấm anh không được sử dụng máy tính của tôi.
Ví dụ 2: Mẹ xin con cố gắng ăn thêm bát nữa cho lại sức.
Ở ví dụ 1, người nói có vị thế xã hội cao hơn người nghe vì anh ta có
quyền ra lệnh cho người nghe “không được sử dụng máy tính”. Xét về vị thế
giao tiếp, người nói cũng ở vị thế giao tiếp cao hơn người nghe căn cứ vào
mục đích phát ngôn ra lệnh mà người nói thể hiện qua động từ ngôn hành cầu
khiến “cấm” cho nên vị thế giao tiếp trùng với vị thế xã hội.
18
Ở ví dụ 2, người mẹ luôn có vị thế xã hội cao hơn con (căn cứ vào tuổi
tác, quan hệ huyết thống, vai trò của người mẹ trong gia đình theo thang độ
đánh giá của xã hội). Nhưng vị thế giao tiếp của người mẹ trong hoàn cảnh cụ
thể này (có thể là đứa con đang ốm) lại thấp hơn con do mục đích là nài xin
người nghe thực hiện hành động “ăn thêm bát nữa” nên phải dùng hành động
ngôn trung có sắc thái cầu. Vì thế vị thế xã hội và vị thế giao tiếp ở ví dụ này
không trùng nhau.
Như vậy vị thế xã hội có ảnh hưởng đến vị thế giao tiếp nhưng không
phải nhân tố liên quan trực tiếp đến hội thoại. Nhân tố liên quan trực tiếp đến
hội thoại phải là vị thế giao tiếp. Thông thường vị thế xã hội chi phối vị thế
giao tiếp. Mối quan hệ giữa vị thế xã hội và vị thế giao tiếp có thể có các khả
năng sau:
Vị thế xã hội cao Vị thế giao tiếp cao
Vị thế xã hội cao Vị thế giao tiếp ngang bằng
Vị thế xã hội cao Vị thế giao tiếp thấp
Vị thế xã hội thấp Vị thế giao tiếp thấp
Vị thế xã hội thấp Vị thế giao ngang bằng
Ít xảy ra trường hợp vị thế xã hội thấp mà vị thế giao tiếp cao vì đặc
điểm ứng xử của người Việt thể hiện qua ngôn ngữ thường là xưng - khiêm,
hô - tôn (tự xưng thì khiêm tốn, hô gọi thì tôn trọng). Do vậy, khi gặp trường
hợp người nói sử dụng ngôn từ không phù hợp với vị thế xã hội và vị thế giao
tiếp của mình, người nghe sẽ phản bác ngay.
Ví dụ:
- Lấy cho con cái bút, mẹ! (1)
- Mày ra lệnh cho tao đấy à?
- Đâu có, con nhờ mẹ đấy chứ.
Câu (1) có hành động ngôn trung là ra lệnh được biểu thị bằng hành
động cầu khiến nguyên cấp: cấu trúc đề - thuyết có danh từ mẹ ở ngôi thứ hai
và cũng là chủ thể hành động “lấy” và vị từ “lấy + cho” chính là phương tiện