Tải bản đầy đủ (.docx) (11 trang)

Bài thu hoạch lớp bồi dưỡng lý luận chính trị cho đối tượng kết nạp Đảng

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (105.59 KB, 11 trang )

ĐẢNG ỦY BỘ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
LỚP BỒI DƯỠNG LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
DÀNH CHO ĐỐI TƯỢNG KẾT NẠP ĐẢNG

BÀI THU HOẠCH

Họ và tên: ……………………………
Nam, Nữ: ……………….
Sinh ngày: ….. tháng ….. năm ………………………………………………..
Nơi sinh: ……………………………………………………………………....
Đối tượng Đảng của Chi bộ:…………. Đảng bộ:……………………………..
Đơn vị công tác:………………………………………………………………..

Hà Nội, tháng 11 năm 2019
--------------------------------


Câu 1: Đồng chí hãy trình bày định hướng về hệ thống chính trị và
vai trị lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam?
Trả lời:
Trong mọi xã hội có giai cấp, quyền lực của giai cấp cầm quyền được
thực hiện bằng một hệ thống thiết chế và tổ chức chính trị nhất định. Đó là hệ
thống chính trị.
Hệ thống chính trị là một chỉnh thể các tổ chức chính trị hợp pháp trong
xã hội, bao gồm các đảng phái chính trị, nhà nước và các tổ chức chính trị - xã
hội được liên kết với nhay trong một hệ thống tổ chức, nhằm tác động vào các
quá trình của đời sống xã hội; củng cố, duy trì và phát triển chế độ chính trị phù
hợp với lợi ích của giai cấp cầm quyền.
Hệ thống chính trị xuất hiện cùng với sự thống trị của giai cấp nhà nước
nhằm thực hiện đường lối chính trị của giai cấp cầm quyền. Do đó, hệ thống
chính trị mang bản chất giai cấp. Trong chủ nghĩa xã hội, giai cấp công nhân và


nhân dân lao động là chủ thể thực sự của quyền lực, tự mình tổ chức và quản lý
xã hội, quyết định nội dung hoạt động của hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa.
Hệ thống chính trị ở nước ta hiện nay bao gồm: Đảng Cộng sản Việt Nam,
Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam,
Đồn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Tổng
Liên đoàn Lao động Việt Nam, Hội Nông dân Việt Nam, Hội Cựu chiến binh
Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội hợp pháp khác được thành lập, hoạt
động trên cơ sở liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nơng dân và đội
ngũ trí thức, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt nam, thực hiện và bảo
đảm đầy đủ quyền làm chủ của nhân dân.
1. Đảng Cộng sản Việt Nam.
Trong tiến trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Ðảng Cộng sản Việt Nam
luôn ý thức sâu sắc vị thế của Ðảng duy nhất cầm quyền. Theo đó, "mỗi đảng
viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm
liêm chính, chí cơng vơ tư. Phải giữ gìn Ðảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng
là người lãnh đạo, là người đày tớ thật trung thành của nhân dân.
Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 đã hiến
định: Ðảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng
thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu
trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc,
lấy chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng,
kim chỉ nam cho hành động, lấy tập trung dân chủ làm nguyên tắc tổ chức cơ
1


bản. Đảng là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội; Ðảng Cộng sản Việt Nam
gắn bó mật thiết với nhân dân, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân
dân, dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng, chịu sự giám sát của nhân dân, chịu
trách nhiệm trước nhân dân về những quyết định của mình; các tổ chức của
Ðảng và đảng viên Ðảng Cộng sản Việt Nam hoạt động trong khuôn khổ Hiến

pháp và pháp luật. Việc khẳng định vai trò lãnh đạo của Ðảng là tư tưởng xun
suốt, nhất qn, là vấn đề có tính nguyên tắc bất di bất dịch của cách mạng Việt
Nam, phù hợp với thể chế chính trị - xã hội mà Việt Nam đã lựa chọn.
Đảng lãnh đạo bằng cương lĩnh, chiến lược, các định hướng về chính sách
và chủ trương lớn; bằng công tác tuyên truyền, thuyết phục, vận động, tổ chức,
kiểm tra, giám sát và bằng hành động gương mẫu của đảng viên.
Đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ, giới
thiệu những đảng viên ưu tú có đủ năng lực và phẩm chất vào hoạt động trong
các cơ quan lãnh đạo của hệ thống chính trị.
Đảng lãnh đạo thơng qua tổ chức đảng và đảng viên hoạt động trong các
tổ chức của hệ thống chính trị, tăng cường chế độ trách nhiệm cá nhân, nhất là
người đứng đầu.
Đảng thường xuyên nâng cao năng lực cầm quyền và hiệu quả lãnh đạo,
đồng thời phát huy mạnh mẽ vai trị, tính chủ động, sáng tạo và trách nhiệm của
các tổ chức khác trong hệ thống chính trị. Đảng lãnh đạo hệ thống chính trị đồng
thời là bộ phận của hệ thống ấy.
Để đảm đương được vai trò lãnh đạo, Đảng phải vững mạnh về chính trị,
tư tưởng, tổ chức và đạo đức; thường xuyên tự đổi mới, tự chỉnh đốn, ra sức
nâng cao trình độ trí tuệ, bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức và năng lực lãnh
đạo. Giữ vững truyền thống đoàn kết thống nhất trong Đảng, tăng cường dân
chủ và kỷ luật trong hoạt động của Đảng. Thường xuyên tự phê bình và phê
bình, đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa cơ hội, tệ quan liêu, tham
nhũng, lãng phí và mọi hành động chia rẽ bè phái. Đảng chăm lo xây dựng đội
ngũ cán bộ đảng viên trong sạch có phẩm chất, năng lực, có sức chiến đấu theo
tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh; quan tâm bồi dưỡng, đào tạo lớp người kế tục
sự nghiệp các mạng của Đảng và dân tộc.
Lịch sử Việt Nam trong những năm 30 của thế kỷ 20 đến nay đã đánh dấu
nhiều mốc son chói lọi, gắn liền với sự lãnh đạo của Ðảng Cộng sản Việt Nam.
Ðó là các sự kiện dân tộc ta đứng lên làm cách mạng giải phóng dân tộc, lật đổ
chế độ thực dân, phong kiến lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là

Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam); vừa kháng chiến vừa kiến quốc, thống
nhất đất nước và nay đang thực hiện công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, vì
mục tiêu "Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh". Sứ mệnh và
2


vai trò của Ðảng Cộng sản Việt Nam đã được khẳng định ngay từ khi mới thành
lập, được chỉ rõ trong Chính cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt.
Nhờ đó, "Ðảng đã lãnh đạo nhân dân giành được những thắng lợi vĩ đại:
Một là, thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 và việc thành lập Nhà
nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa;... Hai là, thắng lợi của các cuộc kháng chiến
oanh liệt để giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc;... Ba là, thắng lợi của sự nghiệp
đổi mới và từng bước đưa đất nước quá độ lên chủ nghĩa xã hội". Những thành
tựu to lớn trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an
ninh, đối ngoại... trong hơn 30 năm đổi mới càng khẳng định tầm vóc to lớn về
vai trị lãnh đạo của Ðảng đối với hệ thống chính trị và trên mọi lĩnh vực của đời
sống xã hội.
2. Nhà nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một nước độc lập, có chủ
quyền, thống nhất và tồn vẹn lãnh thổ, bao gồm đất liền, hải đảo, vùng biển và
vùng trời. Nhà nước ta là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân,
do Nhân dân, vì Nhân dân.
Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Nhân dân làm chủ; tất cả
quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp
công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức, do Đảng Cộng sản Việt
Nam lãnh đạo. Như vậy, Nhà nước xã hội chủ nghĩa vừa là cơ quan quyền lực,
vừa là bộ máy chính trị, hành chính, vừa là tổ chức quản lý kinh tế, văn hoá, xã
hội của nhân dân. Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân cơng, phối hợp,
kiểm sốt giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp,
hành pháp, tư pháp.

Nhà nước ban hành pháp luật; tổ chức, quản lý xã hội bằng pháp luật và
không ngừng tăng cường pháp chế xã hộ chủ nghĩa.
Nhà nước phục vụ Nhân dân, gắn bó mật thiết với Nhân dân, thực hiện
đầy đủ quyền dân chủ của Nhân dân, tôn trọng, lắng nghe ý kiến của Nhân dân
và chịu sự giám sát của Nhân dân; có cơ chế và biện pháp kiểm soát, ngăn ngừa
và trừng trị tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí, vơ trách nhiêm, lạm quyền, xâm
phạm quyền dân chủ của công dân; giữ nghiêm kỷ cương xã hội, nghiêm trị mọi
hành động xâm phạm lợi ích của Tổ quốc và của nhân dân.
Tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước theo nguyên tắc tập trung dân
chủ, có sự phân cơng, phân cấp, đồng thời đảm bảo sự chỉ đạo thống nhất của
Trung ương.
Quốc hội là cơ quan đại diện cao nhất của Nhân dân, cơ quan quyền lực
Nhà nước cao nhất của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Quốc hội do
Nhân dân trực tiếp bầu ra, Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền lập ra Hiến
3


pháp và luật pháp (lập hiến và lập pháp). Quốc hội quyết định những chính sách
cơ bản về đối nội, đối ngoại, nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội, những nguyên
tắc chủ yếu về tổ chức và hoạt động của bộ máy Nhà nước, về quan hệ xã hội và
hoạt động của cơng dân. Với ý nghĩa đó, Quốc hội được gọi là cơ quan lập pháp.
Chính phủ là cơ quan chấp hành của Quốc hội, cơ quan hành chính cao nhất của
nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
3. Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân.
Đây là những tổ chức chính trị - xã hội hợp pháp được tổ chức để tập hợp
rộng rãi các tầng lớp nhân dân theo nguyên tắc tự nguyện, tự quản đại diện cho
lợi ích của Nhân dân, tham gia vào hệ thống chính trị, tuỳ theo tính chất, tơn chỉ,
mục đích của mình nhằm bảo vệ quyền lợi dân chủ của Nhân dân.
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đồn thể Nhân dân có vai trị rất quan
trọng trong sự nghiệp đại đoàn kết toàn dân tộc để xây dựng và bảo vệ đất nước;

phát huy dân chủ, nâng cao trách nhiệm cơng dân của các hội viên, đồn viên,
giữ gìn kỷ cương phép nước, thúc đẩy cơng cuộc đổi mới, thắt chặt mối quan hệ
giữa Nhân dân với Đảng và Nhà nước.
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là tổ chức liên minh chính trị, liên hiệp tự
nguyện của tổ chức chính trị, các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội và các
cá nhân tiêu biểu trong các giai cấp, tầng lớp xã hội, dân tộc, tơn giáo, người
Việt Nam định cư ở nước ngồi.
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể Nhân dân là cơ sở chính trị của
chính quyền Nhân dân, nơi thể hiện ý chí và nguyện vọng; phát huy khả năng
tham gia bầu cử Quốc hội và Hội đồng Nhân dân; tuyên truyền vận động Nhân
dân thực hiện đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước; thực hiện giám sát
của Nhân dân với cán bộ, công chức và giải quyết những mâu thuẫn trong nội bộ
Nhân dân.
Các tổ chức chính trị - xã hội của Nhân dân có nhiệm vụ giáo dục chính
trị tư tưởng, động viên và phát huy tính tích cực xã hội của các tầng lớp Nhân
dân, góp phần thực hiện nhiệm vụ chính trị; chăm lo bảo vệ lợi ích chính đáng
và hợp pháp của Nhân dân; tham gia vào công việc quản lý Nhà nước, quản lý
xã hội, giữ vững và tăng cường mối liên hệ mật thiết giữa Đảng, Nhà nước và
Nhân dân, góp phần thực hiện và thúc đẩy q trình dân chủ hoá và đổi mới xã
hội, thực hiện cơ chế Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ.
Hệ thống chính trị ở nước ta được tổ chức theo một hệ thống từ Trung
ương đến cơ sở. Cơ sở phân cấp theo quản lý hành chính gồm có xã, phường, thị
trấn. Hệ thống chính trị ở cơ sở bao gồm: Tổ chức cơ sở Đảng, Hội đồng Nhân
dân xã, phường; Uỷ ban Nhân dân xã, phường; Mặt trận Tổ quốc xã, phường và
các tổ chức chính trị-xã hội khác như: Đồn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh,
4


Hội Phụ nữ, Hội Nông dân, Hội Cựu chiến binh xã, phường, thị trấn… Tất cả
các tổ chức trên đều có vị trí, vai trị và nhiệm vụ được quy định trong Luật Tổ

chức của hệ thống chính trị ở nước ta.
Hệ thống chính trị ở cơ sở có vai trò rất quan trọng trong việc tổ chức và
vận động Nhân dân thực hiện đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của
Nhà nước, tăng cường đại đoàn kết toàn dân tộc, phát huy quyền làm chủ của
Nhân dân, huy động mọi khả năng phát triển kinh tế-xã hội, tổ chức cuộc sống
của cộng đồng dân cư.
Câu 2: Đồng chí hãy trình bày sự cần thiết của việc học tập và làm
theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh? Liên hệ bản thân?
Trả lời:
Nêu gương là một trong những nội dung rất quan trọng trong tư tưởng,
đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Lúc sinh thời, Người đã nhiều lần khẳng
định, một tấm gương sáng về đạo đức cịn có giá trị gấp trăm ngàn lần bài diễn
thuyết hay, và chính Người là tấm gương sáng chói nhất về sự nêu gương.
Thực tế chứng minh nếu người đứng đầu nghiêm túc, trong sáng về đạo
đức, lối sống và trong thực thi nhiệm vụ, cơng vụ, quyền hạn thì luôn là tấm
gương sáng để cán bộ, quần chúng thật sự học tập, noi theo. Ðây là bài học được
lịch sử phát triển xã hội loài người chứng minh và có giá trị trong mọi thời đại,
mọi chế độ. Ở nước ta, biết bao thế hệ cán bộ, đảng viên suốt đời cống hiến,
chiến đấu và công tác, cả khi nghỉ hưu khơng có dư luận xấu, khơng có một tỳ
vết, khơng có một lời phàn nàn về việc tha hóa đạo đức, lối sống, hay lạm
quyền, lợi dụng chức quyền, địa vị, hoặc vị trí cơng tác để trục lợi cho cá nhân,
gia đình và người thân. Những tấm gương ấy nhận được tình cảm chân thành,
lịng ngưỡng mộ, kính trọng của cán bộ, đảng viên và Nhân dân.
1. Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh và
vấn đề chống suy thối về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong Đảng
và xã hội; tăng cường xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh.
Từ sau đổi mới đến nay, do tác động của nhiều nhân tố khách quan và chủ
quan, tình trạng suy thối về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong một bộ
phận không nhỏ cán bộ, đảng viên diễn biến phức tạp. Hội nghị tồn quốc giữa
nhiệm kỳ khóa VII (tháng 1-1994) Đảng đã chỉ ra những biểu hiện của tình trạng

này; coi đó là một trong bốn nguy cơ tụt hậu cần quan tâm đấu tranh phòng,
chống. Các Đại hội Đảng tiếp theo và nhiều Hội nghị Trung ương Đảng các
khóa đều có đánh giá thực trạng suy thối về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối
sống trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên đồng thời xác định việc
5


ngăn chặn và đẩy lùi tình trạng này là nhiệm vụ vừa cơ bản lâu dài, vừa có ý
nghĩa cấp bách trước mắt.
Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XI nhận định: “Một bộ phận
không nhỏ cán bộ, đảng viên, trong đó có những đảng viên giữ vị trí lãnh đạo,
quản lý, kể cả một số cán bộ cao cấp, suy thối về tư tưởng chính trị, đạo đức,
lối sống với những biểu hiện khác nhau: phai nhạt lý tưởng, sa vào chủ nghĩa cá
nhân ích kỷ, cơ hội, thực dụng, chạy theo danh lợi, tiền tài, kèn cựa địa vị, cục
bộ, tham nhũng, lãng phí, tùy tiện, vơ nguyên tắc...”.
Trong Đảng xuất hiện những vấn đề cấp bách cần tập trung giải quyết.
Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XI “Một số vấn đề cấp bách về xây
dựng Đảng hiện nay” nêu lên ba vấn đề cấp bách trong Đảng là: Một là, Kiên
quyết đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thối về tư tưởng chính trị, đạo
đức, lối sống của một bộ phận khơng nhỏ cán bộ, đảng viên, trước hết là cán bộ
lãnh đạo, quản lý các cấp để nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của
Đảng, củng cố niềm tin của Nhân dân đối với Đảng. Hai là, Xây dựng đội ngũ
cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, nhất là cấp Trung ương đáp ứng yêu cầu của
sự nghiệp cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Ba là, Xác định rõ
thẩm quyền, trách nhiệm các nhân người đứng đầu cấp ủy, chính quyền và mối
quan hệ với tập thể cấp ủy, cơ quan, đơn vị để tiếp tục đổi mới phương thức lãnh
đạo của Đảng ở một trông những khâu quan trọng nhất. Thực trạng đó tiềm ẩn
nhiều nguy cơ, cùng với các nguy cơ khác có thể dẫn đến mất ổn định chính trị xã hội, đến “sự sống còn của Đảng, của chế độ”.
Văn kiện Đại hội XII của Đảng một lần nữa chỉ rõ: “Tình trạng suy thối
về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng

viên chưa bị đẩy lùi; có mặt, có bộ phận còn diễn biến phức tạp hơn”.
Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII với quan điểm ''nhìn thẳng vào sự
thật, nói rõ sự thật, đánh giá đúng sự thật; kết hợp giữa "xây" và "chống"; kiên
quyết, kiên trì thực hiện với quyết tâm chính trị cao, nỗ lực lớn; phát huy sự chủ
động, sáng tạo và sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, của nhân dân,
trong đó cán bộ lãnh đạo, quản lý, trước hết là cán bộ cấp cao, cán bộ chủ chốt,
người đứng đầu các cấp là nòng cốt''... trong đấu tranh chống biểu hiện suy thối
về tư tưởng chính trị, về đạo đức, lối sống và các biểu hiện ''tự diễn biến'', ''tự
chuyển hóa'' trong nội bộ.
Để phịng, chống các biểu hiện suy thối đó, một trong các giải pháp
hàng đầu là đẩy mạnh học tập tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, thực
hiện có hiệu quả Chỉ thị số 05- CT/TW ngày 15/5/2016 của Bộ Chính trị góp
phần thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về xây dựng, chỉnh đốn
Đảng.
6


Thông qua việc học tập nhằm tạo sự chuyển biến mạnh mẽ hơn về nhận
thức và hành động trong cán bộ, đảng viên, cơng chức, viên chức về tính trung
thực, trách nhiệm, gắn bó với nhân dân; đồn kết xây dựng Đảng bộ trong sạch,
vững mạnh theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Tích cực đấu tranh, ngăn
chặn và đẩy lùi những biểu hiện suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối
sống, tình trạng tham nhũng, lãng phí, tiêu cực.
Để nâng cao năng lực và sức chiến đấu của Đảng, giải quyết được các vấn
đề cấp bách nêu trên, việc tổ chức học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong
cách Hồ Chí Minh là một giải pháp rất quan trọng, vừa mang tính cấp bách, vừa
mang tính lâu dài.
2. Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh
trong Đảng và xã hội đã có q trình lịch sử liên tục và lâu dài.
Từ ngày thành lập, Đảng đã dựa trên tư tưởng Hồ Chí Minh để xác định

đường lối cách mạng Việt Nam, thể hiện trong Cương lĩnh chính trị đầu tiên của
Đảng. Thực hiện tư tưởng Hồ Chí Minh, với cao trào giải phóng dân tộc 1941 –
1945, Đảng đã lãnh đạo Nhân dân ta tiến hành Cách mạng Tháng Tám thành
công, thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Đại hội II của Đảng nêu vấn
đề học tập đạo đức, tác phong Chủ tịch Hồ Chí Minh. Khẩu hiệu “Sống, chiến
đấu, lao động và học tập theo gương Bác Hồ vĩ đại” đã trở thành khẩu hiệu hành
động của toàn Đảng, toàn dân. Tại Lễ truy điệu Người, trong Điếu văn Chủ tịch
Hồ Chí Minh do đồng chí Lê Duẩn đọc, đã khẳng định “Suốt đời học tập đạo
đức, tác phong của Người, bồi dưỡng phẩm chất cách mạng, không sợ gian khổ,
không sợ hy sinh, rèn luyện mình thành những chiến sĩ trung thành với Đảng,
với dân, xứng đáng là đồng chí, là học trị của HỒ CHỦ TỊCH”.
Đại hội VI của Đảng đã yêu cầu: “Mỗi người cộng sản chúng ta cần phải
suốt đời học tâp, noi gương đạo đức, tác phong của Bác Hồ, người thầy vĩ đại
của cách mạng Việt Nam, ghi nhớ và làm theo lời dạy của Người, nâng cao đạo
đức cách mạng, chống chủ nghĩa cá nhân, xứng đáng là người lãnh đạo và người
đày tớ thật trung thành của nhân dân”.
Ngày 27-3-2003, Ban Bí thư Trung ương Đảng khóa IX ban hành Chỉ thị
số 23-CT/TW về “Đẩy mạnh nghiên cứu, tuyên truyền, giáo dục tư tưởng Hồ
Chí Minh trong giai đoạn mới”, có xác định mục đích: “Tạo ra phong trào rèn
luyện phẩm chất đạo đức cách mạng theo gương Bác Hồ vĩ đại, đẩy lùi sự suy
thoái đạo đức, lối sống”.
Năm 2005, Bộ Chính trị khóa IX đã quyết định làm điểm việc tổ chức
Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”. Trên cơ
sở kết quả việc làm điểm, ngày 7-11-2006, Bộ Chính trị khóa X ban hành Chỉ thị
7


06-CT/TW về tổ chức Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức
Hồ Chí Minh”.
Đại hội Đảng lần thứ XI yêu cầu đưa việc học tập và làm theo tấm gương

đạo đức Hồ Chí Minh là nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên, lâu dài của cán bộ,
đảng viên, của các chi bộ, tổ chức đảng và các tầng lớp nhân dân. Thực hiện
Nghị quyết Đại hội XI, ngày 14-5-2011, Bộ Chính trị đã ban hành Chỉ thị 03CT/TW về “Tiếp tục đẩy mạnh học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí
Minh”. Sau 5 năm thực hiện, Chỉ thị số 03-CT/TW đã đạt được kết quả bước
đầu, góp phần quan trọng vào việc thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XI
của Đảng và Nghị quyết Trung ương 4 khoá XI “Một số vấn đề cấp bách về xây
dựng Đảng hiện nay”, có những đóng góp đáng khích lệ vào sự phát triển kinh tế
- xã hội, chăm lo đời sống của nhân dân, thực hiện các nhiệm vụ quốc phòng, an
ninh, đối ngoại, xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị.
Đại hội XII của Đảng tiếp tục khẳng định “đẩy mạnh việc học tập và làm
theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; coi đó là cơng việc thường
xun của các tổ chức Đảng, các cấp chính quyền, các tổ chức chính trị - xã hội,
địa phương, đơn vị gắn với chống suy thối về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối
sống và những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ”. Mục
đích, u cầu của việc tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo
đức, phong cách Hồ Chí Minh được xác định cao hơn, phạm vi rộng hơn so với
Chỉ thị 06-CT/TW và Chỉ thị 03-CT/TW. Trong đó, nhấn mạnh, chống suy thối
tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, nhất là về tư tưởng chính trị và các biểu
hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; góp phần xây dựng Đảng
trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức.
Lần đầu tiên trong Văn kiện Đại hội XII của Đảng khẳng định xây dựng
Đảng trong sạch, vững mạnh khơng chỉ về chính trị, tư tưởng, tổ chức, mà còn
nhấn mạnh xây dựng Đảng về đạo đức.
Đây cũng là lần đầu tiên “phong cách Hồ Chí Minh” được nhấn mạnh
chính thức trong văn kiện Đại hội Đảng. Ngày 15-5-2016, Bộ Chính trị khóa XII
đã ban hành Chỉ thị 05 về “Đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo
đức, phong cách Hồ Chí Minh”, với trọng tâm là học tập và làm theo phong
cách, tác phong Hồ Chí Minh về: dân chủ, nêu gương, quần chúng, khoa học,
nói đi đơi với làm.., với mục tiêu tạo động lực mới trong việc đổi mới phong
cách, tác phong công tác của đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu

các cấp, các ngành.
Từ những phân tích nêu trên, có thể khẳng định: triển khai việc học tập và
làm theo tư tưởng, đạo đức, phong các Hồ Chí Minh xuất phát từ ý nghĩa, tầm
quan trọng của tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; nền tảng tư tưởng,
cơ sở lý luận của công cuộc đổi mới; từ thực tiễn và kinh nghiệm của quá trình
8


học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh trong nhiều
năm qua.
3. Những kết quả cụ thể của bản thân trong việc thực hiện và làm theo
tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh:
a. Những kết quả đã làm được:
- Về ý thức rèn luyện, tu dưỡng đạo đức thường xuyên: Để làm người quần
chúng gương mẫu, tôi luôn luôn gương mẫu rèn luyện phẩm chất tư cách, làm
trịn nhiệm vụ được cấp trên giao phó. Sống cần, kiệm, liêm, chính, chí cơng vơ
tư, hồ nhã thân ái với mọi người. Tự trau dồi phẩm chất đạo đức, lối sống, tác
phong để phấn đấu sau khi được kết nạp Đảng trở thành một người đảng viên ưu
tú.
- Về ý thức rèn luyện, tu dưỡng đạo đức thường xuyên: Tôi luôn cập nhật
thông tin trên mọi thông tin đại chúng để chắt lọc, tìm kiếm những tấm gương
đạo đức tốt để học hỏi.
- Thẳng thắn, trung thực bảo vệ công lý, bảo vệ đường lối, quan điểm của
Đảng, bảo vệ người tốt; Chân thành, khiêm tốn, không chạy theo chủ nghĩa
thành tích, khơng bao che, giấu khuyết điểm ….
- Ln có ý thức giữ gìn đồn kết cơ quan đơn vị, giữ gìn kỷ luật.
- Bản thân tơi tự ln đặt mình trong tổ chức, trong tập thể, phải tôn trọng
nguyên tắc, pháp luật, không kéo bè kéo cánh để làm rối loạn gây mất đoàn kết
nội bộ.
- Ln có ý thức coi trọng tự phê bình và phê bình. Ln phê phán những

biểu hiện xuất phát từ những động cơ cá nhân. Luôn động viên những người
thân trong gia đình giữ gìn đạo đức, lối sống, xây dựng gia đình văn hố.
b. Những mặt chưa thực hiện được hoặc còn tồn tại, hạn chế:
- Bên cạnh những ưu điểm, bản thân tơi nhận thấy mình cũng cịn những
nhược điểm như đơi lúc làm việc cịn chưa khoa học, chưa hệ thống. Và tinh
thần làm việc đôi lúc chưa thật sự sâu sát, tỉ mỉ.
c. Phương hướng phấn đấu, rèn luyện tu dưỡng đạo đức lối sống của
bản thân theo gương chủ tịch Hồ Chí Minh:
- Phấn đấu hoàn thành tốt và giữ vững những kết quả đã đạt được. Luôn là
người gương mẫu xứng đáng với niềm tin. Ln gương mẫu trong các hoạt
động, tích cực vận dụng sáng tạo trong giải quyết công việc được giao, phải luôn
nêu gương về mặt đạo đức, giữ vững lập trường.
- Trong thâm tâm của bản thân cũng như trong mọi hành động, tôi luôn
quán triệt tư tưởng sâu sắc trong việc đấu tranh với bản thân để noi theo tấm
gương vĩ đại của Người. Bản thân tôi cũng luôn nâng cao tinh thần cảnh giác,
9


chống những luận điệu xuyên tạc và cơ hội về Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ
đại. Khơng ngừng nâng cao trình độ của bản thân để thích ứng với điều kiện xã
hội mới, áp dụng triệt để và linh hoạt các Nguyên tắc của Người tùy theo vị trí
của mình như: Tập trung dân chủ, Tự phê bình và phê bình, kỷ luật nghiêm minh
tự giác, trong cơ quan cũng như trong cuộc sống cộng đồng.
Nhận xét về lớp học và kiến nghị:
- Nhận xét về lớp học:
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................

.................................................................................................................................
- Kiến nghị với Đảng ủy cấp trên và Ban tổ chức lớp học
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................

Người viết thu hoạch

10



×