ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
LÊ TIẾN QUÂN
B¶O VÖ C¸C QUYÒN CñA NG¦êI BÞ BUéC TéI
(NG¦êI BÞ B¾T, NG¦êI BÞ T¹M GI÷, NG¦êI BÞ T¹M GIAM,
BÞ CAN, BÞ C¸O) TRONG LUËT Tè TôNG H×NH Sù VIÖT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2019
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
LÊ TIẾN QUÂN
B¶O VÖ C¸C QUYÒN CñA NG¦êI BÞ BUéC TéI
(NG¦êI BÞ B¾T, NG¦êI BÞ T¹M GI÷, NG¦êI BÞ T¹M GIAM,
BÞ CAN, BÞ C¸O) TRONG LUËT Tè TôNG H×NH Sù VIÖT NAM
Chuyên ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự
Mã số: 8380101.03
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cán bộ hướng dẫn khoa học: GS.TSKH. ĐÀO TRÍ ÚC
HÀ NỘI - 2019
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của
riêng tôi. Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong
bất kỳ công trình nào khác. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong
Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực. Tôi đã
hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ
tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội.
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để
tôi có thể bảo vệ Luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
Lê Tiến Quân
MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các từ viết tắt
Danh mục bảng
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ BẢO VỆ QUYỀN CỦA
NGƯỜI BỊ BUỘC TỘI TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ .............. 9
1.1.
Những vấn đề chung có liên quan đến quyền của người bị
buộc tội và bảo vệ các quyền của người bị buộc tội trong tố
tụng hình sự ...................................................................................... 9
1.1.1.
Khái niệm người bị buộc tội trong tố tụng hình sự ........................... 9
1.1.2.
Khái niệm quyền của người bị buộc tội trong tố tụng hình sự ........ 14
1.1.3.
Khái niệm bảo vệ quyền của người bị buộc tội trong luật tố
tụng hình sự ..................................................................................... 14
1.2.
Cơ sở của việc quy định quyền của người bị buộc tội trong
tố tụng hình sự ............................................................................... 17
1.3.
Ý nghĩa của việc bảo vệ các quyền của người bị buộc tội
trong tố tụng hình sự ..................................................................... 23
1.4.
Bảo vệ các quyền của người bị buộc tội trong pháp luật tố
tụng hình sự quốc tế ...................................................................... 25
Chương 2: BẢO VỆ CÁC QUYỀN CỦA NGƯỜI BỊ BUỘC TỘI
TRONG LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM.................... 33
2.1.
Quá trình phát triển các quy định của pháp luật tố tụng
hình sự Việt Nam liên quan đến bảo vệ các quyền của
người bị buộc tội ............................................................................ 33
2.1.1.
Giai đoạn từ 1945 – 1988 ................................................................ 33
2.1.2.
Theo Bộ luật tố tụng hình sự 1988 .................................................. 36
2.1.3.
Theo Bộ luật tố tụng hình sự 2003 .................................................. 43
2.2.
Quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành về bảo
vệ các quyền của người bị buộc tội .............................................. 45
2.2.1.
Quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 về quyền của
người bị buộc tội .............................................................................. 45
2.2.2.
Quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 về bảo vệ các
quyền của người bị buộc tội thông qua một số nguyên tắc tố tụng ...... 57
2.2.3.
Quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 về bảo vệ các
quyền của người bị buộc tội thông qua quy định về quyền và
nghĩa vụ của người bào chữa ........................................................... 62
2.2.4.
Quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 về bảo vệ các
quyền của người bị buộc tội thông qua quy định về nghĩa vụ
của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng..................................... 64
2.2.5.
Quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 về bảo vệ các
quyền của người bị buộc tội thông qua quy định về khiếu nại,
tố cáo trong tố tụng hình sự ............................................................. 67
2.2.6.
Quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 về bảo vệ các
quyền của người bị buộc tội thông qua quy định về trách
nhiệm bồi thường, trách nhiệm khác ............................................... 68
Chương 3: THỰC TIỄN THI HÀNH PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH
SỰ VIỆT NAM VÀ NHỮNG KIẾN NGHỊ, ĐỀ XUẤT NÂNG
CAO HIỆU QUẢ BẢO VỆ CÁC QUYỀN CỦA NGƯỜI BỊ
BUỘC TỘI ...................................................................................... 76
3.1.
Thực tiễn thi hành pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam về
bảo vệ các quyền của người bị buộc tội ....................................... 76
3.1.1.
Thực trạng bảo vệ các quyền của người bị buộc tội trong hoạt
động tố tụng hình sự ........................................................................ 76
3.1.2.
Nguyên nhân của những bất cập, hạn chế trong việc bảo vệ
quyền của người bị buộc tội trong hoạt động tố tụng hình sự ......... 88
3.2.
Những kiến nghị, đề xuất nâng cao hiệu quả bảo vệ quyền
của người bị buộc tội ..................................................................... 90
3.2.1.
Những yêu cầu của cải cách tư pháp về bảo vệ quyền của
người bị buộc tội .............................................................................. 90
3.2.2.
Hoàn thiện các quy định của bộ luật tố tụng hình sự về bảo vệ
các quyền của người bị buộc tội ...................................................... 94
3.2.3.
Nâng cao nhận thức, trình độ và trách nhiệm của người trực
tiếp tham gia tiến hành tố tụng ........................................................ 98
3.2.4.
Tăng cường hướng dẫn áp dụng Bộ luật tố tụng hình sự .............. 102
KẾT LUẬN .................................................................................................. 105
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................... 107
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BLHS:
Bộ luật hình sự
BLTTHS:
Bộ luật tố tụng hình sự
CQĐT:
Cơ quan điều tra
GCNNBC: Giấy chứng nhận Người bào chữa
LS:
Luật sư
NBC:
Người bào chữa
PLTTHS:
Pháp luật tố tụng hình sự
TGTT:
Tham gia tố tụng
THTT:
Tiến hành tố tụng
TNHS:
Trách nhiệm hình sự
TTHS:
Tố tụng hình sự
VAHS:
Vụ án hình sự
VKS:
Viện kiểm sát
VKSND:
Viện kiểm sát nhân dân
XHCN:
Xã hội chủ nghĩa
DANH MỤC BẢNG
Số hiệu
Tên bảng
Trang
Bảng 3.1
Tình hình bắt tạm giữ
85
Bảng 3.2
Bị can bị khởi tố và bắt tạm giam
86
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm qua, công cuộc đổi mới của đất nước ta đã thu được
những thành tựu rất to lớn: chính trị ổn định, kinh tế tăng trưởng khá, các mặt
khác của đời sống xã hội ngày càng phát triển, vị thế của nước ta trên trường
quốc tế được củng cố và nâng cao. Song bên cạnh đó, tình hình tội phạm lại
có những diễn biến hết sức phức tạp: Số lượng gia tăng ở mức cao, tính chất
ngày càng nghiêm trọng, tác động xấu đến trật tự an toàn xã hội, lợi ích của
Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.
Để đấu tranh phòng, chống tội phạm có hiệu quả, ổn định trật tự an
toàn xã hội, bảo vệ lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ
chức, công dân, bảo vệ pháp chế XHCN, phục vụ công cuộc đổi mới, Nghị
quyết 49-NQ/TW ngày 02-6-2005 của Bộ chính trị về Chiến lược Cải cách tư
pháp đến năm 2020 khẳng định mục tiêu cải cách tư pháp " Xây dựng nền tư
pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh, bảo vệ công lý, từng
bước hiện đại, phục vụ nhân dân, phụng sự Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ
nghĩa; hoạt động tư pháp mà trọng tâm là hoạt động xét xử được tiến hành có
hiệu quả và hiệu lực cao.".
Quán triệt tinh thần này, các văn bản pháp luật đã được ban hành làm
cơ sở pháp lý đảm bảo thực hiện nội dung của Nghị quyết. Thực hiện các văn
bản pháp luật nêu trên, trong thời gian qua, công tác xử lý tội phạm đã đạt
được kết quả nhất định, có những tiến bộ đáng khích lệ. Song do nhiều
nguyên nhân nên vẫn còn những hạn chế như Nghị quyết 49 đã thẳng thắn
thừa nhận: "... Công tác tư pháp còn bộc lộ nhiều hạn chế. Chính sách hình sự
… và pháp luật về tố tụng tư pháp còn nhiều bất cập, chậm được sửa đổi, bổ
sung. Tổ chức bộ máy, chức năng, nhiệm vụ, cơ chế hoạt động của các cơ
1
quan tư pháp còn bất hợp lý. Đội ngũ cán bộ tư pháp, bổ trợ tư pháp còn
thiếu; trình độ nghiệp vụ và bản lĩnh chính trị của một bộ phận cán bộ còn
yếu, thậm chí có một số cán bộ sa sút về phẩm chất, đạo đức và trách nhiệm
nghề nghiệp. Vẫn còn tình trạng oan, sai trong điều tra, bắt, giam giữ, truy
tố, xét xử". Những vụ án oan điển hình đã được phát hiện trong thời gian vừa
qua như vụ ông Nguyễn Thanh Chấn ở Bắc Giang hay vụ “người tù thế kỷ”
Huỳnh Văn Nén, nghi án Hàn Đức Long ở Bắc Giang bị tuyên án tử hình
oan…. là những vụ án xâm phạm đặc biệt nghiêm trọng đến quyền và lợi ích
hợp pháp của công dân... đã làm cho dư luận hết sức bất bình, đặt dấu hỏi vào
chất lượng của hoạt động tố tụng nói riêng, cũng như vào tính công bằng
nghiêm minh của hệ thống pháp luật và đường lối chính sách lãnh đạo của
Đảng nói chung. Các thế lực thù địch tận dụng mọi cơ hội để khai thác thiếu
sót của ta trong những vụ việc này và các vụ tương tự để xuyên tạc, vu cáo ta
vi phạm nhân quyền, gây nên làn sóng bất bình với Việt Nam và tạo sự hiểu
lầm của cộng đồng quốc tế - đặc biệt trong bối cảnh Việt Nam đã thừa nhận
và tham gia hầu hết các công ước quốc tế quan trọng về nhân quyền (Tuyên
ngôn nhân quyền thế giới năm 1948 (UHDR), Công ước quốc tế về các quyền
dân sự, chính trị năm 1966 (ICCPR) – Việt Nam gia nhập năm 1982, Công
ước chống tra tấn, đối xử vô nhân đạo và hạ nhục con người năm 1984 – Việt
Nam gia nhập năm 2015).
Những vụ việc đáng tiếc như trên có các nguyên nhân chủ quan, khách
quan khác nhau; song dưới giác độ tiếp cận quyền theo qui định của luật thì
đều có nguyên nhân từ việc quyền của người bị buộc tội – là những người yếu
thế trong sự đối diện với hệ thống các cơ quan tư pháp – đã không được đảm
bảo theo các qui định như những gì đã có và cần phải có.
Thực tiễn TTHS những năm qua ở Việt Nam đã cho thấy rằng chính nó
đang phải đối diện với một số vấn đề lớn mà trước hết là vấn đề tiếp cận công
2
lý, vấn đề oan sai trong vụ án hình sự. Trong khi đó, Hiến pháp năm 2013 đã
cho thấy rằng, vấn đề bảo đảm quyền con người, mà trọng tâm là bảo đảm các
quyền của người bị buộc tội – trong tố tụng hình sự - có thể được coi là trục
xoay của toàn bộ các hoạt động tố tụng hình sự. Vì lẽ đó, vấn đề bảo vệ quyền
của người bị buộc tội trong TTHS được các nhà nghiên cứu đặc biệt quan
tâm. Tuy rằng đây không phải là một vấn đề mới nhưng cùng với sự phát triển
của xã hội và sự chống phá gia tăng của các thế lực thù địch, phản động thì
vấn đề này mang tính cấp bách và đang trở nên vô cùng quan trọng. Vì vậy,
tôi chọn đề tài: “Bảo vệ các quyền của người bị buộc tội (người bị bắt,
người bị tạm giữ, người bị tạm giam, bị can, bị cáo) trong luật tố tụng hình
sự Việt Nam” làm đề tài luận văn thạc sỹ luật học của mình - với hy vọng có
thể góp phần làm sáng tỏ hơn chế định bảo vệ quyền của người bị buộc tội,
góp phần nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam, đáp
ứng nhu cầu cải cách tư pháp và xây dựng nhà nước pháp quyền trong thời kỳ
đổi mới của đất nước.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Vấn đề bảo vệ các quyền của người bị buộc tội có nội hàm khá rộng,
được thể hiện trong rất nhiều qui định của luật tố tụng hình sự. Trong khoa
học pháp lý, đã có một số công trình nghiên cứu đề cập một phần tới nội dung
khá phức tạp này. Có thể kể đến cuốn sách Về bảo đảm quyền, lợi ích hợp của
người bị tạm giữ, bị can, bị cáo trong tố tụng hình sự, Nxb Chính trị quốc gia,
Hà Nội, 2009 của TS. Trần Quang Tiệp.
Bên cạnh đó, có rất nhiều khía cạnh có liên quan đến quyền của người
bị buộc tội được đề cập đến trong các công trình khoa học khác như: Đề tài
nghiên cứu khoa học Cấp ĐHQG Luật tố tụng hình sự Việt Nam với việc bảo
vệ quyền con người, chủ trì PGS.TS Nguyễn Ngọc Chí, 2011; Luận văn thạc
sĩ luật học Địa vị pháp lý của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo trong tố tụng
3
hình sự của Th.S Đoàn Thị Phương Thảo, 2012; Luận văn Th.S Bảo vệ quyền
con người của bị can bị cáo trong Tố tụng hình sự của Th.S. Phan Thị Hương
Giang, 2014; Luận văn thạc sĩ luật học Quyền và nghĩa vụ pháp lý của người
bị buộc tội trong luật tố tụng hình sự của Th.S. Đinh Hải Ninh, 2017;
Vấn đề quyền của người bị buộc tội còn được đề cập ở các mức độ
khác nhau trong các bài viết của một số tác giả khác như:
Hiến pháp năm 2013 và nguyên tắc tôn trọng, bảo đảm quyền con
người trong tố tụng hình sự của GS.TSKH Đào Trí Úc, Tạp chí khoa học
pháp lý Đại học Luật TP. HCM số 3/2015; Trực tiếp ghi nhận quyền im lặng
cho người bị buộc tội trong Luật Tố tụng hình sự Việt Nam của tác giả Lê
Huỳnh Tấn Duy, Tạp chí Khoa học pháp lý, Số 3/2015; Bảo đảm quyền con
người của người bị buộc tội trong hoạt động chứng minh buộc tội của Viện
Kiểm sát của tác giả Nguyễn Hữu Hậu, Tạp chí Kiểm sát, số 12/2015; v...v…
Tiếp đến, chế định quyền của người bị buộc tội còn được đề cập,
phân tích trong một số Giáo trình và sách tham khảo như: Giáo trình Luật
tố tụng hình sự Việt Nam, Nxb Đại học Quốc gia, 2019 do PGS.TS.
Nguyễn Ngọc Chí chủ biên; Giáo trình Luật tố tụng hình sự Việt Nam, Nxb
Công an nhân dân, 2010 của Trường Đại học Luật Hà Nội do PSG.TS
Hoàng Thị Minh Sơn chủ biên; Giáo trình Luật tố tụng hình sự Việt Nam,
Nxb Học viện cảnh sát nhân dân, 2005 của Bộ môn pháp luật, Học viện
Cảnh sát nhân dân do TS. Khổng Văn Hà chủ biên; Sách chuyên khảo Bảo
đảm quyền con người trong tư pháp hình sự Việt Nam, Nxb. ĐHQG
TP.HCM, 2010 do TS Võ Thị Kim Oanh chủ biên...
Tuy nhiên hiện nay các công trình nghiên cứu chỉ chủ yếu chú trọng
đến vấn đề quyền bào chữa hoặc nghiên cứu quyền và lợi ích hợp pháp của bị
can, bị cáo, địa vị pháp lý của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo mà ít quan tâm
đến toàn bộ người bị buộc tội; đặc biệt là chưa có một công trình nào nghiên
cứu một cách tổng thể đến việc bảo vệ các quyền của người bị buộc tội ở cấp
4
độ luận văn thạc sĩ. Hơn nữa, nhiều vấn đề lý luận – thực tiễn xung quanh chế
định bảo vệ các quyền của người bị buộc tội cũng đòi hỏi cần phải được tiếp
tục nghiên cứu một cách sâu sắc, toàn diện hơn.
3. Mục đích, nhiệm vụ, đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
3.1. Mục đích nghiên cứu của luận văn
Kế thừa một cách có chọn lọc kết quả nghiên cứu của các công trình
khoa học đã được công bố, tác giả hướng tới mục đích muốn làm sâu sắc
thêm những vấn đề lý luận và thực tiễn bảo vệ các quyền của người bị buộc
tội theo BLTTHS hiện hành, nghiên cứu luật thực định, chỉ ra những bất cấp
còn tồn tại khi thực hiện quyền của người bị buộc tội ở nước ta hiện nay. Qua
đó, đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn và
hoàn thiện pháp luật, đảm bảo phát huy tối đa tính dân chủ, chính xác, khách
quan, toàn diện trong hoạt động TTHS, đảm bảo xu hướng bảo vệ quyền của
người bị buộc tội trong luật pháp quốc tế.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
Với mục đích nghiên cứu như trên, tác giả tập trung vào giải quyết
những nhiệm vụ chính sau:
a. Làm rõ khái niệm người bị buộc tội, việc bảo vệ các quyền của người
bị buộc tội theo luật tố tụng hình sự Việt Nam.
b. Nêu và phân tích thực trạng việc thực hiện các quy định của pháp
luật về bảo vệ quyền của người bị buộc tội trong TTHS cũng như nguyên
nhân của những tồn tại, bất cập đã bộc lộ.
c. Đưa ra các kiến nghị và giải pháp nhằm đảm bảo quyền của người bị
buộc tội trong tố tụng hình sự; hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự; nâng cao
hiệu quả hoạt động của các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng.
3.3. Đối tượng nghiên cứu của luận văn
Luận văn nghiên cứu vấn đề lý luận việc bảo vệ các quyền của người bị
buộc tội trong luật tố tụng hình sự Việt Nam. Người bị buộc tội theo tên đề tài
5
luận văn là người bị bắt, người bị tạm giữ, người bị tạm giam, bị can, bị cáo.
Tuy nhiên, theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, người bị tạm giam mặc
nhiên sẽ có tư cách là bị can hoặc bị cáo. Do có sự trùng lặp như vậy nên để
thuận tiện trong nghiên cứu, nội dung luận văn sẽ đề cập người bị buộc tội như
Bộ luật tố tụng hình sự 2015 đã liệt kê tại khoản 1 Điều 4, gồm “người bị bắt,
người bị tạm giữ, bị can, bị cáo”.
Đồng thời, luận văn cũng phân tích, đánh giá các quy định của pháp
luật hiện hành và thực tiễn áp dụng pháp luật TTHS để đưa ra những kiến
nghị, giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả bảo vệ các quyền của người bị buộc
tội trong các giai đoạn tố tụng hình sự (từ điều tra đến xét xử) trong các vụ án
hình sự ở Việt Nam.
3.4. Phạm vi nghiên cứu của luận văn
Luận văn nghiên cứu thực tiễn pháp luật và áp dụng pháp luật về bảo
vệ các quyền của người bị buộc tội trong khoảng thời gian 2014 – 2018.
Luận văn nghiên cứu các quy định của pháp luật tố tụng hình sự trong giai
đoạn từ năm 1945 – 1988, giai đoạn pháp luật tố tụng hình sự năm 1988 –
2003, giai đoạn pháp luật tố tụng hình sự năm 2003 đến nay và pháp luật tố
tụng hình sự năm 2015.
4. Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu của luận văn
Cơ sở phương pháp luận của luận văn là chủ nghĩa duy vật biện chứng
và lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan
điểm của Đảng ta về nhà nước và pháp luật, về xây dựng nhà nước pháp
quyền, về cải cách tư pháp và quyền con người.
Trong quá trình thực hiện đề tài, tác giả đã nghiên cứu hồ sơ một số vụ
án cụ thể để có cơ sở thực tiễn.
Các phương pháp nghiên cứu được sử dụng là: phân tích, tổng hợp, lịch
sử, so sánh, thống kê... Ngoài ra tác giả cũng khảo sát thực tiễn tố tụng và
tham khảo ý kiến chuyên gia để làm rõ các vấn đề nghiên cứu.
6
5. Những điểm mới về mặt khoa học
Đề tài là một công trình nghiên cứu có tính hệ thống về lý luận và thực
tiễn bảo vệ các quyền của người bị buộc tội trong quá trình tố tụng của các vụ
án hình sự ở Việt Nam và có một số điểm mới sau:
- Góp phần làm rõ hơn các vấn đề lý luận về người bị buộc tội, quyền
của người bị buộc tội trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam hiện hành và
qua các giai đoạn.
- Phân tích quyền của người bị buộc tội theo quy định BLTTHS Việt
Nam hiện hành.
- Nêu ra được các vấn đề, những khó khăn, vướng mắc trong việc thực
thi pháp luật bảo vệ quyền của người bị buộc tội trong pháp luật tố tụng hình
sự hiện hành.
- Phân tích những điểm mới của BLTTHS Việt Nam năm 2015 về các
quyền của người bị buộc tội.
- Đưa ra được các kiến nghị và giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật,
nâng cao chất lượng áp dụng các quy định của BLTTHS, góp phần bảo vệ
quyền của người bị buộc tội trong tố tụng hình sự Việt Nam.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Luận văn là công trình nghiên cứu khoa học cấp độ thạc sĩ về quyền
của người bị buộc tội trong tố tụng hình sự. Luận văn đi sâu nghiên cứu các
vấn đề lý luận về quyền của người bị buộc tội; phân tích thực trạng, chỉ ra khó
khăn và đề xuất các giải pháp để nâng cao hiệu quả của việc bảo vệ quyền của
người bị buộc tội.
Luận văn đã đóng góp một phần vào việc giải quyết về mặt khoa học
các khái niệm về người bị buộc tội, quyền của người bị buộc tội. Đồng thời,
luận văn là một tài liệu có giá trị tham khảo cho những người làm công tác
nghiên cứu, trong hoạt động lập pháp cũng như thực tiễn điều tra, truy tố, xét
xử vụ án hình sự.
7
7. Bố cục của Luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục và danh mục tài liệu tham khảo,
nội dung của Luận văn gồm 03 chương:
Chương 1: Một số vấn đề chung về bảo vệ quyền của người bị buộc tội
trong tố tụng hình sự.
Chương 2: Bảo vệ các quyền của người bị buộc tội trong luật Tố tụng
hình sự Việt Nam.
Chương 3: Thực tiễn thi hành pháp luật TTHS Việt Nam và những kiến
nghị, đề xuất nâng cao hiệu quả bảo vệ quyền của người bị buộc tội.
8
Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ BẢO VỆ QUYỀN
CỦA NGƯỜI BỊ BUỘC TỘI TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ
1.1. Những vấn đề chung có liên quan đến quyền của người bị buộc
tội và bảo vệ các quyền của người bị buộc tội trong tố tụng hình sự
1.1.1. Khái niệm người bị buộc tội trong tố tụng hình sự
Trong tố tụng hình sự, người bị buộc tội là những người tham gia tố
tụng có vị trí trung tâm trong quá trình giải quyết vụ án. Họ là người bị cơ
quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng coi là người đã thực hiện hành vi nguy
hiểm cho xã hội được BLHS quy định là tội phạm; tùy theo giai đoạn tố tụng
khác nhau mà tên gọi cũng như địa vị pháp lý (quyền và nghĩa vụ tố tụng hình
sự) của người đó cũng khác nhau.
Pháp luật TTHS Việt Nam hiện nay chưa có khái niệm thống nhất về
người bị buộc tội. Tại khoản 1 Điều 31 Hiến Pháp năm 2013 quy định: “Người
bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng mình theo trình tự
luật định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật”.
Nguyên tắc này của Hiến pháp 2013 đã khẳng định rằng người này chưa có
bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực kết tội nên họ không bị coi là có tội.
Trong TTHS, người bị buộc tội là người mà cơ quan THTT coi là người
đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội. Họ là những người bị tình nghi là
tội phạm, có thể là người bị bắt, tạm giữ, tạm giam, khởi tố, điều tra, truy tố,
xét xử trong quá trình TTHS.
BLTTHS 2003 không nêu khái niệm về người bị buộc tội, chỉ nêu quy
định mang tính chỉ định, liệt kê chủ thể trong từng trường hợp luật định mà có
tên gọi khác nhau. BLTTHS năm 2015 đã thể hiện khái niệm người bị buộc
tội, trong phần giải thích từ ngữ tại điểm đ Điều 4: “Người bị buộc tội gồm
người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo”.
9
Tuy nhiên, quy định này vẫn mang tính liệt kê các chủ thể bị buộc tội
được xác lập địa vị pháp lý theo từng giai đoạn tố tụng khác nhau.
Trong Công ước Châu Âu về quyền con người trong việc bảo đảm
quyền của người bị buộc tội các nước thành viên của Công ước xuất phát từ
việc giải thích khái niệm về “Sự buộc tội” (accusation, criminal charge). Theo
đó, sự buộc tội chỉ xuất hiện khi một người bị cáo buộc là anh ta đã thực hiện
một hành vi mà bộ luật hình sự coi là tội phạm. Tuy nhiên, trong nhiều vụ
việc được quyết định bởi Ủy ban Châu Âu và Tòa án nhân quyền Châu Âu
cho thấy ngay cả trong trường hợp khi cảnh sát đã tiến hành điều tra ban đầu,
thậm chí đã triệu tập người làm chứng thì điều này cũng chưa có nghĩa tồn tại
sự buộc tội.
Qua thực tế xét xử của các thẩm phán Châu Âu, sự buộc tội được coi là
hiện hữu từ thời điểm một người được thông báo chính thức bởi cơ quan có
thẩm quyền về những chứng cứ rõ ràng cho rằng (nghi vấn) anh ta đã thực
hiện hành vi phạm tội (ví dụ: lệnh bắt, lệnh khám xét nhà…). Sự thông báo
này, đôi khi có giá trị ngay cả khi người có liên quan không hiểu hoặc thông
báo không đến được với họ. Và kể từ thời điểm đó, một người bị coi là người
bị buộc tội (accused person) trong vụ án hình sự. Sự buộc tội sẽ tồn tại và kéo
dài trong suốt quá trình tố tụng chứng minh hành vi của người bị cáo buộc là
có tội hay không có tội (guilty or not guilty). Và đương nhiên những quyền và
lợi ích hợp pháp của người bị buộc tội sẽ được bảo vệ bởi nội dung của Điều
6, bên cạnh pháp luật quốc gia.
Theo chúng tôi, khi đưa ra khái niệm về một chủ thể có địa vị pháp lý,
khái niệm đó cần phải thể hiện được phần nào nội dung về các thành tố tạo
nên chủ thể đó. Người bị buộc tội có đầy đủ các yếu tố tạo nên một khái niệm,
do đó không thể chỉ thể hiện dưới hình thức liệt kê họ là các chủ thế tham gia
tố tụng theo luật định. Người bị buộc tội bị tình nghi thực hiện hành vi có dấu
10
hiệu phạm tội được BLHS quy định. Nếu một người thực hiện hành vi nào mà
không có căn cứ cho rằng hành vi đó có dấu hiệu phạm tội cụ thể trong BLHS
thì không thể buộc tội họ. Người bị buộc tội bị các quyết định của cơ quan,
người có thầm quyền xác định là chủ thể của quan hệ pháp luật TTHS.
Các quyết định tố tụng này chỉ rõ các chủ thể bị buộc tội là người bị
bắt, người bị tạm giữ, bị can hay bị cáo, qua đó mỗi chủ thể bị buộc tội khác
nhau có thể có những quyền chung nhưng cũng có các quyền riêng trong quá
trình TTHS. Quá trình TTHS này có hoạt động buộc tội và hoạt động gỡ tội.
Với tư cách là người TGTT, có địa vị pháp lý cụ thể, người bị buộc tội có
quyền được gỡ tội cũng như được đảm bảo các quyền trong hoàn cảnh đặc thù
mà họ phải trải qua trước phía buộc tội, là cơ quan công quyền.
Từ những nội dung đã nêu ở trên chúng tôi đưa ra khái niệm người bị
buộc tội trong TTHS như sau:
Người bị buộc tội trong TTHS là người bị xác định bởi quyết định tố
tụng của cơ quan có thẩm quyền với tư cách là người bị bắt, người bị tạm
giữ, bị can, bị cáo theo quy định của pháp luật khi có căn cứ cho rằng người
đó đã thực hiện hành vi có dấu hiệu phạm tội, hoặc người đã gây ra hành vi
được pháp luật hình sự xác định là tội phạm và những dấu hiệu của hành vi
đó được cơ quan THTT đưa ra theo thủ tục luật định.
Người bị buộc tội bao gồm các chủ thể: người bị bắt, người bị tạm giữ,
bị can, bị cáo. Trong đó:
- Người bị bắt: là người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp; người bị bắt
trong trường hợp phạm tội quả tang và người bị bắt theo quyết định truy nã.
- Người bị tạm giữ là người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, bị bắt
trong trường hợp phạm tội quả tang, bị bắt theo quyết định truy nã hoặc người
phạm tội tự thú, đầu thú và đối với họ đã có quyết định tạm giữ
- Bị can: là người đã bị khởi tố về hình sự
- Bị cáo: là người đã bị tòa án quyết định đưa ra xét xử.
11
Dựa trên việc tìm hiểu người bị buộc tội trong TTHS nêu trên có thể
đưa ra những đặc điểm của người bị buộc tội như sau:
Thứ nhất, người bị buộc tội là người được coi là thực hiện hành vi có
dấu hiệu tội phạm được BLHS quy định.
Đặc điểm thứ nhất này chỉ ra yếu tố là phạm tội của người bị buộc
tội. Nếu một cá nhân không thực hiện hành vi nào mà có căn cứ cho rằng
hành vi đó có dấu hiệu phạm tội cụ thể trong BLHS thì cơ quan điều tra,
người có thẩm quyền không thể buộc tội họ. Chỉ khi nào những hành vi bị
nghi ngờ có dấu hiệu cấu thành tội phạm và người bị tình nghi đủ tuổi chịu
TNHS quy định cho từng tội danh cụ thể trong BLHS, thì người đó mới là
chủ thể bị buộc tội theo PL TTHS. Mặt khác, các hành vi bị nghi ngờ này
phải được người có thẩm quyền chứng minh, làm rõ theo trình tự thủ tục
TTHS thì mới đủ điều kiện để đưa người này vào đối tượng bị buộc tội.
Việc thiếu một trong hai yếu tố này đều không có cơ sở đưa một người vào
tình thế người bị buộc tội.
Điều 31 Hiến pháp 2013 qui định: “Người bị buộc tội được coi là
không có tội cho đến khi được chứng mình theo trình tự luật định và có bản
án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật”. Ở đây, cần phần biệt rằng
người bị buộc tội không phải là người có tội. Họ được xem là có tội khi có
bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
Thứ hai, người bị buộc tội bị các quyết định của cơ quan, người có
thẩm quyền xác định là chủ thể của quan hệ pháp luật TTHS.
Tùy từng chủ thể khác nhau, người bị buộc tội trong tố tụng sở dĩ có
thể xác định được phải dựa trên các quyết định mang tính tố tụng của cơ quan
có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền theo luật định. Chẳng
hạn, đối với bị can phải có quyết định khởi tố bị can; đối với bị cáo thì phải có
quyết định đưa ra xét xử của Tòa án có thẩm quyền. Các quyết định tố tụng
12
này chỉ rõ các chủ thể bị buộc tội là người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can hay
bị cáo, qua đó mỗi chủ thể bị buộc tội khác nhau có thể có những quyền
chung nhưng cũng có các quyền riêng trong TTHS.
Thứ ba, là chủ thể trong quan hệ pháp luật TTHS với tư cách là
người TGTT.
Xuất phát từ việc bị các quyết định TTHS xác định là người bị buộc tội,
họ trở thành chủ thể trong quan hệ pháp luật TTHS với tư cách là những
người TGTT. Đặc điểm này xác định tư cách chủ thể trong TTHS, qua đó
cũng xác định được người bị buộc tội phải có địa vị pháp lý cụ thể, được pháp
luật quy định quyền và nghĩa vụ đối với họ. Người bị buộc tội là đối tượng bị
tình nghi phạm tội, bị các quyết định tố tụng hạn chế một số quyền công dân
bình thường như tạm giữ, tạm giam, cấm đi khởi nơi cư trú,... nên những
người này phải có quyền biết được căn cứ, lý do của việc buộc phải thực hiện
các nghĩa vụ do các quyết định tố tụng đó ban hành. Với tư cách là người
TGTT, có địa vị pháp lý cụ thể, người bị buộc tội sẽ được đảm bảo các quyền
con người có bản trong điều kiện bị giam giữ, quản thúc và bị đặt vào điều
kiện yếu thế trước phía buộc tội là cơ quan công quyền.
Đặc điểm này cũng chỉ ra việc bị buộc tội được hiểu là đang ở trong
tiến trình TTHS, tiến trình này có buộc tội và gỡ tội. Người bị buộc tội tham
gia xuyên suốt và là chủ thể trung tâm của tiến trình TTHS, là giai đoạn đang
đi tìm lời giải cho câu hỏi có tội hay không có tội, tội gì và chịu hình phạt như
thế nào. Người bị buộc tội như vậy khác với người đã bị tuyên là có tội bằng
một bản án có hiệu lực pháp luật của Tòa án. Khi đó, chủ thể bị tuyên là có tội
chuyển sang một giai đoạn khác, giai đoạn thi hành án hình sự không còn nằm
trong tiến trình TTHS qua các giai đoạn như bị bắt, giữ, khởi tố, điều tra, truy
tố, xét xử. Người bị buộc tội tham gia vào tiến trình TTHS này có quyền được
gỡ tội cũng như được đảm bảo các quyền con người cơ bản của họ trong hoàn
cảnh đặc thù mà họ phải trải qua [29, tr.10].
13
1.1.2. Khái niệm quyền của người bị buộc tội trong tố tụng hình sự
Như đã trình bày ở trên, người bị buộc tội là những người bị tình nghi
phạm tội hoặc bị truy cứu TNHS, do đó họ gặp phải các bất lợi vì bị hạn chế
hoặc bị mất một số quyền công dân. Thế nhưng, những người bị buộc tội chưa
phải là người có tội, họ có tội hay không phải do Tòa án quyết định và chỉ khi
có bản án kết tội của Tòa án có hiệu lực pháp luật thì người đó được xem là
có tội. Người bị buộc tội chưa bị coi là có tội, vì vậy họ vẫn được cơ quan
THTT, người THTT đảm bảo và bảo vệ các quyền con người, quyền công
dân. Khi bị buộc tội thì những người bị buộc tội cũng có những quyền được
pháp luật bảo vệ, được phép thực hiện. Vì là trong thời gian bị buộc tội nên họ
là những người TGTT, chịu sự điều chỉnh của pháp luật TTHS trong các quan
hệ pháp luật giữa họ với cơ quan, người THTT và người TGTT khác.
Do vậy, có thể hiểu quyền của người bị buộc tội như sau: Quyền của
người bị buộc tội là những điều mà pháp luật TTHS quy định và đảm bảo
thực hiện đối với những người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo mà
theo đó họ được hưởng, được làm, được hỏi khi tham gia vào các hoạt
động TTHS.
1.1.3. Khái niệm bảo vệ quyền của người bị buộc tội trong luật tố
tụng hình sự
Tố tụng hình sự là cách thức, trình tự tiến hành các hoạt động của các cơ
quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng,
người tham gia tố tụng, của các cơ quan Nhà nước khác và các tổ chức xã hội
để giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự. Hay nói cách
khác, tố tụng hình sự là hoạt động khởi tố, điều tra vụ án hình sự của Cơ quan
điều tra, hoạt động truy tố người phạm tội ra trước tòa án của Viện kiểm sát,
hoạt động xét xử vụ án hình sự của Tòa án và hoạt động thi hành bản án, quyết
định bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án [68, tr.786].
14
Hoạt động tố tụng hình sự là hoạt động của cơ quan có thẩm quyền tiến
hành tố tụng và người có thẩm quyền tiến hành tố tụng như Cơ quan điều tra và
Điều tra viên, Viện kiểm sát và Kiểm sát viên, Tòa án và Thẩm phán, Thư ký,
Hội thẩm; nhưng tham gia vào quá trình tố tụng hình sự còn những người tham
gia tố tụng khác mà quyền và lợi ích của họ có liên quan đến vụ án hoặc đến quá
trình tố tụng như người bị buộc tội, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân
sự, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người làm chứng v.v…
Như vậy, theo chúng tôi, từ góc độ bảo vệ các quyền của người bị buộc
tội, hoạt động tố tụng hình sự có những đặc điểm sau đây:
- Thứ nhất, hoạt động tố tụng hình sự chỉ phát sinh khi có hành vi nguy
hiểm cho xã hội được BLHS quy định là tội phạm được thực hiện. Khi một
hành vi nguy hiểm được thực hiện có dấu hiệu của tội phạm thì vụ án phải
được khởi tố để điều tra. Nếu kết quả điều tra cho thấy không có hành vi
phạm tội, hành vi không cấu thành tội phạm thì vụ án phải được đình chỉ; tức
quá trình tố tụng đối với vụ án không còn cơ sở tiến hành;
- Thứ hai, một người chỉ có thể bị khởi tố bị can khi xác định được rằng
họ đã thực hiện hành vi có đủ dấu hiệu cấu thành tội phạm và hành vi đó chưa
hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự. Xuất phát từ bản chất pháp lý của
hoạt động tố tụng mà căn cứ khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can khác nhau.
Theo quy định của BLTTHS thì căn cứ khởi tố vụ án hình sự là chỉ khi
“có dấu hiệu của tội phạm” (mà không cần đầy đủ); bởi vì quyết định khởi tố
vụ án hình sự chưa hướng sự buộc tội vào người cụ thể nào, mà chỉ tạo cơ sở
pháp lý để tiến hành các biện pháp điều tra theo luật tố tụng hình sự. Còn căn
cứ khởi tố bị can phải là “có đầy đủ dấu hiệu của cấu thành tội phạm”. Bởi vì,
khi người có thẩm quyền tiến hành tố tụng ra quyết định khởi tố bị can là đã
thực hiện việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với một người cụ thể; quyết
định đó ảnh hưởng rất lớn đến quyền, lợi ích của người bị khởi tố;
15
- Thứ ba, tố tụng hình sự là hoạt động phát hiện và xử lý hành vi nguy
hiểm cao cho xã hội mà BLHS quy định là tội phạm nhằm bảo vệ trật tự pháp
luật, lợi ích Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Vì vậy, hoạt
động tố tụng gắn liền chặt chẽ với quyền của người bị buộc tội. Để đạt được
mục đích phát hiện, điều tra, xử lý chính xác, khách quan tội phạm và người
phạm tội, Nhà nước bất đắc dĩ phải ban hành một số quy định hạn chế quyền
con người của công dân nói chung, người tham gia tố tụng nói riêng. Quyền
của người bị buộc tội trong tố tụng hình sự gắn rất chặt chẽ với các biện pháp
cưỡng chế được quy định và áp dụng trong tố tụng hình sự.
Vì vậy, trong tố tụng hình sự, nhiệm vụ không để lọt tội phạm phải đi
liền với không làm oan người không có tội; nhiệm vụ phát hiện xử lý tội
phạm phải đi liền với việc bảo vệ các quyền của người bị buộc tội. Hoạt
động tố tụng hình sự phải được thực hiện trên cơ sở coi trọng các yếu tố đó;
bỏ qua hoặc coi nhẹ yếu tố này hay yếu tố khác nói trên đều ảnh hưởng
nghiêm trọng đến việc đạt được mục đích tố tụng. Nếu muốn chứng minh tội
phạm, xử lý tội phạm bằng bất cứ giá nào thì dễ dẫn đến vi phạm quyền của
người bị buộc tội; ngược lại nếu quá chú ý đến việc bảo vệ quyền của người
bị buộc tội thái quá mà không mạnh dạn áp dụng các biện pháp cưỡng chế tố
tụng để phát hiện, chứng minh tội phạm thì sẽ làm cho hoạt động tố tụng
thiếu hiệu quả, không thể phát hiện, xử lý kịp thời người phạm tội, thậm chí
bỏ lọt tội phạm v.v…
- Thứ tư, việc bảo vệ các quyền của người bị buộc tội trong tố tụng
hình sự được thực hiện thông qua các biện pháp khác nhau, nhưng tập trung ở
biện pháp xây dựng và hoàn thiện các quy định của BLTTHS cũng như thực
hiện nghiêm chỉnh các quy định đó trong thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử vụ
án hình sự và thi hành bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án.
Cùng với việc xây dựng, ban hành đầy đủ, minh bạch, có tính khả thi
16
cao các quy định liên quan, việc thực hiện nghiêm chỉnh các quy định đó cũng
là một trong những mặt quan trọng, quyết định liên quan đến bảo vệ các
quyền của người bị buộc tội trong tố tụng hình sự. Các vi phạm pháp luật tố
tụng trong việc bảo vệ quyền của người bị buộc tội cần được phát hiện xử lý
nghiêm minh theo quy định của pháp luật bằng các chế tài khác nhau: chế tài
tố tụng, chế tài kỷ luật, chế tài hành chính, dân sự hay hình sự.
Quyền của người bị buộc tội cũng như quyền của các chủ thể bất kỳ
nào trong các quan hệ pháp luật đều phải được đảm bảo thực hiện bằng các cơ
chế mang tính pháp lý mới có giá trị thực tiễn. Hệ thống pháp luật TTHS hiện
nay thể hiện quyền của người bị buộc tội được đảm bảo thực hiện thông qua
các cơ chế cụ thể, đó là các nguyên tắc cơ bản của pháp luật TTHS và các quy
định cơ bản về quyền của người bị buộc tội.
Như vậy, có thể hiểu bảo vệ quyền của người buộc tội trong pháp luật
tố tụng hình sự là sự ghi nhận đầy đủ về mặt lập pháp, sự thực thi chính xác
về mặt hành pháp và sự bảo đảm tối đa về mặt tư pháp các quy định của
PLTTHS về người buộc tội; làm cho các quy định đó phù hợp với các nguyên
tắc và các quy phạm tương ứng của PLTTHS Quốc tế trong lĩnh vực TPTTHS
được tuân thủ, chấp hành và áp dụng một cách nghiêm chỉnh, thống nhất và
triệt để bởi các cơ quan bảo vệ pháp luật và tòa án, cũng như những người có
chức vụ của các cơ quan trong thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử.
1.2. Cơ sở của việc quy định quyền của người bị buộc tội trong tố
tụng hình sự
Quyền con người là một phạm trù đa diện, do đó có nhiều định nghĩa
khác nhau. Có thể là một giá trị nhân loại, đồng thời có tính lịch sử hình thành
trong cuộc đấu tranh giai cấp và được bổ sung mới qua các thời đại khác
nhau. Quyền con người được đặt trong mối quan hệ với nghĩa vụ, trách nhiệm
của mỗi cá nhân đối với xã hội và được giải quyết trên cơ sở đảm bảo lợi ích
17