Tải bản đầy đủ (.doc) (53 trang)

Thực trạng chó sốt sữa sau đẻ và ứng dụng phác đồ điều trị

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.12 MB, 53 trang )

LỜI CẢM ƠN
Nhân dịp hoàn thành khóa luận tốt nghiệp, cho phép tôi xin gửi lời cảm
ơn chân thành đến Ban giám đốc Học Viện Nông Nghiệp Việt Nam, khoa Thú y,
Quý thầy, cô giáo Bộ môn Ngoại – Sản, trực tiếp hướng dẫn là TS. Sử Thanh
Long, trưởng bộ môn Ngoại – Sản đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn, giúp đỡ tôi
trong quá trình học tập cũng như trong thời gian báo cáo khóa luận tốt nghiệp.
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn bác sỹ thú y Nguyễn Văn Thanh – giám
đốc phòng khám Thú y Gaia Hà Nội cùng toàn thể đội ngũ y bác sỹ của phòng
khám đã tạo điều kiện về cơ sở vật chất, kỹ thuật để tôi có thể hoàn thành đề tài
được giao.
Tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến gia đình, người thân, bạn
bè và đồng nghiệp đã tạo mọi điều kiện về vật chất và tinh thần, giúp đỡ tôi
vượt qua mọi khó khăn trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu đề tài.
Hà Nội, Ngày 20 tháng 5 năm 2017
Sinh viên

Phạm Thị Giang

i


MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN............................................................................................................................................i
DANH MỤC BẢNG..................................................................................................................................iii
PHẦN III................................................................................................................................................38
ĐỐI TƯỢNG – NỘI DUNG – PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU...............................................................38
PHẦN IV................................................................................................................................................41
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN......................................................................................................................41
PHẦN 5.................................................................................................................................................48
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ......................................................................................................................48


ii


DANH MỤC BẢNG
Bảng 4.1 Tỉ lệ các nhóm bệnh......................Error: Reference source not found
Bảng 4.2 Tỉ lệ ca bệnh chẩn đoán bằng lâm sàng và phi lâm sàng............Error:
Reference source not found
Bảng 4.3 Tỷ lệ chó mắc bệnh sốt sữa theo giống. . .Error: Reference source not
found
Bảng 4.4 Tỉ lệ chó mắc bệnh sốt sữa theo lứa tuổi. Error: Reference source not
found
Bảng 4.5 Tỉ lệ chó mắc bệnh sốt sữa theo lứa đẻ....Error: Reference source not
found
Bảng 4.6 Tỉ lệ chó sốt sữa theo số con trên lứa......Error: Reference source not
found
Bảng 4.7 Tỉ lệ chó sốt sữa theo thời gian sau sinh..Error: Reference source not
found
Bảng 4.8 Tỉ lệ điều trị bệnh sốt sữa trên chó Error: Reference source not found

iii


PHẦN I
MỞ ĐẦU
1.1

Đặt vấn đề
Chó là loài động vật nuôi đầu tiên được con người thuần hóa cách đây

15.000 năm vào cuối Kỷ băng hà, tổ tiên của chúng là chó sói và cáo. Chúng

thường được nuôi dưỡng và huấn luyện nhằm hỗ trợ con người bảo vệ mùa
màng, đàn gia súc, đi săn bởi sự phát triển mạnh về các giác quan như thính
giác, thị giác và khứu giác. Không chỉ có bản năng nhanh nhẹn, mắt tinh tai
thính, tầm vóc lớn nhỏ thích hợp, khôn ngoan và dũng cảm chó còn rất tình
cảm và rất trung thành vì thế chúng luôn là người bạn đồng hành thân thiết
của con người.
Dần dần chó được nuôi ở khắp các quốc gia trên thế giới và có khả
năng thực hiện nhiều công việc phức tạp, khó khăn, nguy hiểm hơn trong các
lĩnh vực như an ninh quốc phòng, y học, thể thao... Điều đó cho thấy chó có
vai trò rất quan trọng đối với loài người.
Ngày nay, cùng với sự phát triển của nền kinh tế, đời sống của con
người ngày càng được nâng cao và nhu cầu vui chơi giải trí tăng lên, vì thế
mà chó còn được nuôi để làm thú cảnh, làm bạn. Chó còn được con người tổ
chức các chương trình khác nhau như thi chạy, hoa hậu chó đẹp .v.v.
Ở Việt Nam việc nuôi chó làm cảnh cũng đang dần trở lên phổ biến,
chủ yếu chúng được nuôi tập trung nhiều hơn ở các thành phố lớn như thành
phố Hồ Chí Minh, Hà Nội bởi đây là nơi tập trung đông dân cư, thu nhập đầu
người cao hơn so với các vùng ngoại thành và là nơi tập trung nhiều các cư
dân từ các quốc gia phát triển định cư.
Khi số lượng chó được nuôi tăng lên thì bệnh tật trên chó cũng diễn
biến phức tạp hơn. Khi chủ chó chưa đủ kiến thức để có thể chăm sóc đúng

1


cách cho chó của mình và xử lý trong những trường hợp khẩn cấp, điều này
có thể gây ra tai nạn không đáng có.
Trên thực tiễn căn bệnh sốt sữa là một bệnh không khó để chữa trị cũng
như chẩn đoán, và điều trị. Tuy nhiên, do người nuôi chó chưa hoàn toàn hiểu
biết về căn bệnh này và xử lý không đúng cách dẫn đến tử vong hoặc để lại

các biến chứng. Trong khi đó mọi người lại ít quan tâm đến căn bệnh. Để có
thể hiểu hơn về căn bệnh sốt sữa tôi quyết định thực hiện đề tài “Thực trạng
chó sốt sữa sau đẻ và ứng dụng phác đồ điều trị”
1.2. Mục đích đề tài
Xây dựng bức tranh tập thể về bệnh sốt sữa ở chó.
Xây dựng phác đồ điều trị.

2


PHẦN II
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Một số tư liệu về loài chó
Xuất phát từ nhu cầu và thị hiếu của người nuôi khuyển cảnh mà có rất
nhiều giống chó được lai tạo hoặc du nhập vào Việt Nam. Mỗi một giống chó
có những đặc điểm khác nhau về hình dạng bên ngoài, màu sắc lông.v.v.
Nguồn gốc loài chó
Dựa trên những thành tựu nghiên cứu về cổ sinh vật học và di truyền
học, các nhà khoa học đã xác định được tổ tiên của loài chó nhà hiện nay là
một số loài chó sói sống hoang dã ở các vùng sinh thái khác nhau trên thế
giới. Cách đây khoảng 15.000 năm con người đã thuần hoá với mục đích phục
vụ cho việc săn bắt, sau đó là giữ nhà và là bạn với con người.
Trung tâm thuần hoá chó cổ nhất có lẽ là vùng Đông Nam Á, sau đó
được du nhập vào châu Úc, lan ra khắp phương Đông và đến châu Mỹ.
Ở Việt Nam, theo các nhà khảo cổ học, chó được nuôi từ trung kỳ đồ đá
mới, khoảng 3000 - 4000 năm trước công nguyên (cách đây 5 - 6 nghìn năm).
Tập hợp những giống chó nhà được nuôi hiên nay trên thế giới có khoảng 400
giống, được gọi chung là loài chó nhà (Canis familiaris), thuộc họ chó
(Canidae), bộ ăn thịt (Carnivora), lớp động vật có vú (Mammilia)
Một số giống chó chính trên thế giới

Bắt đầu từ hàng trăm năm về trước, những nhà nhân giống đã cho phối
những con chó đực và những con chó cái có những đặc điểm, chất lượng tốt.
Với mục đích của họ là muốn những chú chó con có những đặc điểm giống bố
mẹ chúng.
Những con chó dùng để phát triển những đặc điểm này gọi là chó
giống. Có khoảng 150 giống chó và chia thành 7 nhóm: chó thông minh, chó
làm việc, chó thể thao, chó săn, chó chăn giữ gia súc, chó cảnh.

3


- Những chú chó thông minh có bộ lông cứng và mỏng, chúng được
nhân giống để săn bắt cáo và thỏ.
- Chó làm việc có thân hình rất khoẻ mạnh và rất nghe lời, giống chó
này được nhân giống để kéo xe trượt tuyết đại diện gồm: chó Boxer,
Dorberman pinscher, Rottwailer.
- Chó thể thao như Pointers và Golden Retriever chúng được nhân
giống để tha những con vịt và những chim hoang dã mà thợ săn bắt được.
- Giống chó săn có khứu giác rất tốt, chúng giúp thợ săn lần ra được
dấu vết của thỏ và những loài động vật nhỏ bé khác.
- Giống chó chăn giữ gia súc được nhân giống để trông giữ những vật
nuôi trong các nông trại.
- Giống chó cảnh có thân hình đẹp và nhỏ nhắn, chúng được nhân
giống để làm người bạn đối với con người, đại diện của nhóm chó này gồm:
giống chó Chihuahua, Japanese, Pekingese, Boston Terrier....
Một số giống chó nuôi ở Việt Nam
Các giống chó nhập ngoại
Giống chó Bắc Kinh (Pekingese)

4



Giống chó Bắc Kinh tương đối nhỏ có trọng lượng trung bình ở chó cái
là 2,66kg, ở chó đực là 3,58kg, đầu rộng, khoảng cách giữa hai mắt lớn, mũi
ngắn tẹt, trên mõm có nhiều nếp nhăn, mặt gẫy, mắt tròn lồi đen tuyền và long
lanh. Tai hình quả tim cụp xuống hai bên, cổ ngắn và dầy, có một cái bờm nhiều
lông dài và thẳng. Bắc kinh có bộ lông mầu luy pha nhiều lông mầu sẫm ở mặt
lưng, hông và đuôi, đuôi gập dọc theo sống lưng kiểu đuôi sóc.
Giống chó Becgie (German Shepherd dog)

German Shepherd là giống chó có nguồn gốc từ Đức, được phát hiện
đầu tiên ở Berlin (năm 1989) là giống Becgie lông ngắn và tại Hanover (năm
1882) là giống Bergie lông dài.
Ngoại hình: Chó có tầm vóc tương đối lớn so với các giống chó ở nước
ta, dài 110-112 cm; cao 56-65 cm đối với chó đực và 62-66 cm đối với chó
cái; trọng lượng 28-37 kg. Qua quá trình thích nghi với từng môi trường thuần
hoá mà độ dài lông cũng như màu sắc lông thay đổi: nâu đen, đen vàng, đen
xám, đen sẫm ở mõm, đầu, ngực và bốn chân có màu vàng sẫm. Đầu hình
nêm, mũi phân thùy, tai dỏng hướng về phía trước, mắt đen, răng to, khớp
răng cắn khít. Chó đực có thể phối giống khi 24 tháng, chó cái có thể sinh sản
khi 18 - 20 tháng. Mỗi năm chó cái đẻ 2 lứa, mỗi lứa 4 - 8 con.

5


Giống chó này rất thông minh, linh hoạt, dũng cảm, điềm tĩnh, biết
vâng lời và thân thiện với đồng loại, biết đề phòng người lạ. Nhờ những đặc
tính tuyệt vời này mà chó Becgie được dùng trong nhiều lĩnh vực như: tìm
kiếm, cứu hộ, canh gác, trinh sát...German Shepherd thật xứng đáng đứng vào
hàng ngũ những giống chó quy phổ biến thế giới.

Giống chó Pug

Có nguồn gốc từ châu Á khoảng 400 trước Công nguyên, tuy vậy hiện
nay nguồn gốc của Pug vẫn còn là vấn đề tranh cãi. Một số chuyên gia cho
rằng Pug có nguồn gốc từ vùng Viễn Đông, được du nhập bởi các nhà lái
buôn Hà lan. Họ cũng cho rằng có thể đây là một nhánh của giống chó Bắc
Kinh lông ngắn. Tuy vậy, có ý kiến khác cho rằng Pug là kết quả của việc lai
tạo giống chó Bulldog nhỏ.
Chó chuẩn có hình dáng giống quả lê, phần vai rộng hơn phần hông. Bộ
lông ngắn, mềm mại, dễ chải có mầu nâu, trắng, vện và trộn lẫn giữa chúng.
Da chúng mềm mại, tạo cảm giác dễ chịu khi vuốt ve. Chúng có đôi mắt tròn
lồi màu sẫm và hàm dưới hơi trề ra rất ngộ. Đuôi thẳng hoặc xoắn. Chó Pug
được nuôi rộng rãi ở nhiều nước để làm cảnh vì tầm góc nhỏ, ngộ nghĩnh, lại
rất thông minh hiền lành, yêu mến trẻ em.

6


Chó có tầm vóc nhỏ, cao từ 30 - 33cm, dài từ 50 - 55cm, nặng từ 5kg8kg. Bộ lông mịn màu nâu nhạt hoặc vàng sẫm, khoang mắt, mũi, mõm có
màu đen, đầu to thô, mõm ngắn và thô, mũi chia thuỳ, tai cụp, ngực sâu, thân
chắc lẳn, đuôi ngắn và cuốn.
Giống chó Boxer

Còn có tên gọi là chó võ sĩ có nguồn gốc tại Đức, được phát hiện năm
1850, chó Boxer được miêu tả như một con chó đẹp trong cái xấu vì chó có
bộ mặt xấu xí nhưng lại rất ngoan và trung thành. Đầu cân đối với cơ thể, trán
không có nếp nhăn, mặt hơi ngắn hơn sọ, hàm dưới uốn cong lên và hở xa với
hàm trên. Tai mọc ở phần cao của đầu, mũi lớn đen, chân cao khoẻ, vai cao
khoảng 58cm. Đuôi mọc ở phần cao mà thường được cắt ngắn, mầu sắc vàng
hoặc vện.

Boxer là giống chó vui vẻ, thích chơi đùa, tình cảm, tò mò và rất hiếu
động. Rất thông minh, có tính ham học cái mới và học khá nhanh nhưng cũng
có thể khá bướng bỉnh. Đây là giống chó thích hợp cho các cuộc thi tài. Luôn
luôn ở trạng thái vận động, chúng rất quyến luyến và gắn bó với gia chủ.
7


Tuổi thọ trung bình từ 10 đến 12 năm, màu sắc nâu đốm, nâu vàng,
trắng. Cân nặng trung bình 25-29 kg ở chó cái và 27-32 kg ở chó đực.
Giống chó Husky

Có nguồn gốc từ Syberi lạnh giá, Syberi Huskies là loài chó khỏe
mạnh, gọn chắc và xếp trong nhóm chó nghiệp vụ (working dogs). Màu lông
có đủ loại, từ trắng tuyền đến đen, khoang, nâu đen, đỏ, bạc, nâu xám, vàng
ánh cam. Với chiều cao và cân nặng trung bình cái từ: 50–56 cm; 18-23, Đực:
54–60 cm. Bàn chân rộng, có lông mọc ở kẽ ngón chân giúp cho thuận tiện di
chuyển trên tuyết. Tai vểnh dựng đứng, đuôi cong lưỡi liềm, Syberi Huskies
có bộ lông lớp trong dày và có lớp lông phía ngoài mềm mại giúp chúng có
thể chống chọi với nhiệt lạnh giá.
Chó Fox

8


Chó Fox có nguồn gốc từ Đức và đã du nhập vào nước ta đã lâu, fox là
giống chó nhỏ con tầm khoảng từ 1,5kg - 2,5kg ngoại hình nó nhìn như một
con hươu thu nhỏ, ngoại hình như con cheo, nhưng không được mảnh mai
nhỏ nhắn bằng. Đầu nhỏ, tai to mà vểnh, sống mũi hơi gãy, mõm nhỏ mà dài.
Ngực chó Fox nở nang, bụng thon, bốn chân mảnh và cao nên chó chạy rất
nhanh. Bộ lông chó Fox ngắn, có con lông sát như lông bò. Chó fox có nhiều

màu gồm màu vàng bò, đen bốn chân vàng... đôi chỗ có vá nâu hay vàng, có
khi màu đen đặc biệt, phần mặt bao giờ cũng có vá hai bên, giữa sống mũi
kéo dài lên đỉnh đầu là lằn đen hoặc trắng.
Chó Fox có khả năng săn bắt những loài thú nhỏ. Vì vậy, nếu được
huấn luyện ở trường lớp đàng hoàng thì nó có thể trở thành giống chó săn
thực thụ. Chó Fox giữ nhà rất giỏi, tiếng sủa lớn và dai, dám lăn xả vào kẻ thù
mà cắn xé. Đối với chủ nuôi, Fox rất trung tín, mến chủ, gặp là mừng rỡ quấn
quýt bên chân rất dễ thương.
Giống phốc sóc

Phốc sóc (pomeranian) có nguồn gốc từ Đức, Ba lan. Tuổi thọ trung
bình từ 12 đến 16 năm. Có phốc sóc có cỡ nhỏ, có ngoại hình xinh xắn, Với

9


tiếng sủa vang rền, dai dẳng không dứt khả năng cảnh giác cao độ, những con
chó này lại có thể trở thành những vật canh giữ cửa tốt. Những ưu điểm khác
của giống chó này như trông nhà, rất lanh lợi và có thể biểu diễn được những
kĩ xảo nhỏ trong điều kiện được luyện tập.
Giống chó Dachshund

Còn có tên gọi khác là nạp xưởng, là giống chó có nguồn gốc từ Đức,
từ hàng trăm năm trước được lai tạo để săn các loài động vật nhỏ trong hang.
Có 3 loại chính gồm: lông ngắn, lông vừa và lông dài, mỗi loại chia
làm 3 kích thước khác nhau. Dachshund là giống chó thân dài, ngực nở, bụng
hóp, hoạt bát, rắn chắc với 4 chân ngắn lùn, đầu thuôn dài, mắt hơi lồi, mõm
dài với bộ hàm khỏe mạnh cùng với những chiếc răng sắc nhọn, tai khá
linh hoạt và luôn buông lơ lửng ở 2 bên má. Lông của giống chó lông ngắn
mượt mà, bóng bẩy và đồng nhất. Loài chó đơn sắc thường có màu vàng

hoặc nâu đỏ. Loại 2 màu thường có màu đen sẫm, nâu hoặc xám điểm lẫn
màu hạt dẻ sáng.
Sống động và tình cảm, kiêu hãnh và bạo dạn, hơi có phần hấp tấp. Có
thể bướng bỉnh và nhắng nhít. Dachshund rất thông minh, trung thành, quyến
luyến với gia chủ. Thích đào bới, cư xử tốt với các loài động vật khác, đôi khi
tỏ ra rất ích kỷ, bướng bỉnh và cắn rất nhanh.

10


Giống chó Rottweiler

Có nguồn từ con Mastiff Italia. Nó được tạo giống ở Đức tại thị trấn
Rottweiler bang Wurttemberg. Xuất hiện lần đầu tiên vào năm 1800, giống
chó mới này dần dần trở nên nổi tiếng vào những năm giữa thể kỷ 20 nhờ có
công lao của các nhà lai tạo giống ở Stuttgart.
Chó Rottweiler có cơ thể mạnh mẽ và rất vạm vỡ đầu hình cầu khoảng
cách giữa 2 vai rất rộng mặt dài gần bằng sọ hơi gãy, mõm phát triển. Mắt
màu nâu đen với dáng vẻ trung thành. Tai hình tam giác và cụp về phía trước.
Lưng phẳng, cổ và lưng tạo thành một đường thẳng, cấu trúc cơ thể có dạng
hình vuông, chân trước khá cao, vai trung bình 69,5 cm. Bộ lông ngắn cứng
và rậm rạp. Màu lông đen với một ít đốm vàng ở gần 2 mắt, trên má, mõm,
ngực và thân. Con đực cao 61 – 69 cm, nặng 43 – 59 kg, con cái cao 56 – 63
cm, nặng 38 – 52 kg. Chó Rottweiler điềm tĩnh, dễ dạy bảo, can đảm và tận
tụy hết lòng với chủ nhân.Với bản năng bảo vệ cộng với chí thông minh tuyệt
vời mà Rottweiler thường được sử dụng trong các ngành: công an, quân đội,
hải quan.v.v.

11



Giống chó poodle

Chó poodle còn được gọi là chó săn vịt vì từ xa xưa chúng đã được
dùng để săn các loài thủy cầm. Ngày nay giống chó này được lai tạo để trở
thành dòng chó cảnh với hình tượng là là những quý cô xinh xắn, yêu kiều.
Tuổi thọ trung bình của chúng là từ 12 đến 15 năm. Poodle có nhiều
màu khác nhau như: đen trắng, đỏ, bạc, blue, nâu, xám, vàng ánh cam. Poodle
có nhiều giống với những đặc điểm khác nhau nhưng cùng chung một đặc
điểm đó là có bộ lông xoăn, bơi lội giỏi, tính tình linh hoạt, nhanh nhẹn.
Chúng được coi là một trong những giống chó dễ dạy dỗ nhất. Poodle
hiền hòa, vui vẻ và hoạt bát, và quan tâm tới mọi người. Huấn luyện chúng dễ
dàng và tuyệt đối không nên quá chiều chuộng chúng. Với lớp lông dày xoăn
của là đối tượng thi tài nghệ thuật của con người với những kiểu cắt tỉa khiến
những poodle trông đỏng đảnh và đáng yêu.

12


Các giống chó địa phương
Giống chó Phú Quốc

Chó Phú Quốc là một loại chó riêng của đảo Phú Quốc, Việt Nam, nó
có đặc trưng giống loài và đặc điểm để phân biệt là các xoáy lông khá kỳ lạ
chạy ở trên sống lưng và chân có màng như chân vịt. Loài chó này có chiều
cao trung bình khoảng 55 cm, nặng khoảng 18 kg, đầu dài, mũi đen, lỗ mũi
hơi rộng, mắt màu hung, tai dựng đứng, eo thon, màu lông thường thấy là
vàng lửa (lông ở dải lưng mọc ngược sậm màu hơn). Chúng có khả năng đi
săn rất tốt.Chó Phú Quốc có thể săn được thú lớn hơn chúng rất nhiều như
nai, thậm chí là các loài thú hung tợn như lợn rừng và rắn độc. Nhiều con chó

Phú Quốc đã liều mình cứu chủ thoát khỏi rắn độc cắn. Ngày nay người ta sử
dụng chúng vào việc săn bắn, trông nhà, canh gác và báo động.
Giống chó Vàng

13


Chó Vàng là giống chó nuôi phổ biến nhất, được người dân đem về
nuôi dưỡng và thuần hóa cách đây khoảng 3000 – 4000 năm trước công
nguyên. Chó có tầm vóc trung bình, cao 50 - 55cm, nặng 12 - 15kg, chó cái
nhỏ hơn chó đực. Đây là giống chó nhanh nhẹn, hoạt bát, có sự thích ứng tốt
với điều kiện ngoại cảnh, ít bị ốm, dễ ăn uống và bơi lội giỏi nên thường được
nuôi với mục đích giữ nhà, săn thú.
Chó phối giống được ở độ tuổi 15 - 18 tháng. Chó cái sinh sản được ở
độ tuổi 12 - 14 tháng. Mỗi lứa chó cái đẻ 4 - 7 con, trung bình 5 con.
Giống chó H’Mông

Giống chó của người H’Mông cộc đuôi là giống chó gắn liền với lịch
sử phát triển của người H’Mông. Chó thích nghi tốt với cuộc sống ở miền núi
cao. Chúng có tầm vóc lớn hơn chó vàng, cao 55 – 60 cm, nặng 18 – 20 kg,
có màu lông đen và đặc biệt là đuôi cộc từ khi sinh.Chó đực thành thục sinh
dục khi 14 – 18 tháng tuổi, chó cái sinh sản khi 12 – 15 tháng tuổi, chó cái
mỗi lứa đẻ từ 5 – 8 con, trung bình là 6 con. Giống chó này thường được sử
dụng để giữ nhà và săn thú.

14


Giống chó Lào


Thường thấy ở trung du và miền núi, lông xồm màu hung có 2 vệt trắng
trên mí mắt, có tầm vóc lớn hơn. Cao 60 – 65 cm, nặng 18 – 25 kg. Chó đực
có thể phối giống ở độ tuổi 16 - 18 tháng. Chó cái sinh sản ở độ tuổi 13 - 15
tháng. Mỗi lứa đẻ 5 - 8 con, trung bình 6 con.
2.2 Một số đặc điểm sinh lý của chó
Thân nhiệt (0C)
Nhiệt độ của cơ thể là chỉ số tương đối của hai quá trình sinh nhiệt và
thải nhiệt. Sự hằng định tương đối của thân nhiệt gia súc là nhờ có trung tâm
điều tiết nhiệt nằm ở hành não.
Thân nhiệt của gia súc được đo qua trực tràng trong lúc con vật yên
tĩnh. Ở trạng thái sinh lý bình thường, thân nhiệt của chó là 37,5 oC - 39 oC.
Trong tình trạng bệnh lý thân nhiệt có sự thay đổi tuỳ vào tính chất và
mức độ bệnh.
Nhiệt độ của cơ thể chó bình thường còn thay đổi bởi các yếu tố: tuổi
(con non có thân nhiệt cao hơn con trưởng thành), giới tính (con cái có thân
nhiệt cao hơn con đực). Sự vận động cũng ảnh hưởng đến thân nhiệt của chó,
khi vận động nhiều thân nhiệt của chó thường cao hơn bình thường. Thân
15


nhiệt của chó vào lúc sáng sớm thường thấp hơn buổi chiều và chênh lệch từ
0,2oC - 0,5oC.
-Ý nghĩa chẩn đoán: thông qua việc kiểm tra nhiệt độ chó, ta có thể xác
định được con vật có bị sốt hay không. Nếu tăng 1-2 oC con vật sốt vừa, tăng
2-3oC sốt rất nặng. Qua đó, sơ bộ xác định được nguyên nhân gây bệnh, tính
chất, mức độ tiên lượng của bệnh, đánh giá được hiệu quả điều trị tốt - xấu.
Sự giảm thân nhiệt thường do mất máu, bị nhiễm lạnh do một số hóa
chất tác dụng, do giảm quá trình sinh nhiệt, sốc hoặc sau cơn kịch phát của
bệnh nhiễm khuẩn làm hạ huyết áp, trụy tim mạch, gặp trong các bệnh thần
kinh bị ức chế nặng như thủy thũng não.

Sự tăng nhiệt độ thường gặp khi nhiệt độ môi trường quá cao, gặp trong
bệnh cảm nắng, cảm nóng các bệnh truyền nhiễm do vi khuẩn, virus, bệnh ký
sinh trùng... gây nên trạng thái sốt cao.
Tần số hô hấp (số lần thở/phút)
Tần số hô hấp là số lần thở trong 1 phút, tần số hô hấp phụ thuộc vào
cường độ trao đổi chất, tuổi, tầm vóc, trạng thái dinh dưỡng, trạng thái làm
việc, trạng thái sinh lý, thời tiết, khí hậu và tình trạng bệnh lý.
Ở trạng thái sinh lý bình thường, chó con có tần số hô hấp từ 18 - 20
lần/phút. Chó trưởng thành: giống chó to có tần số hô hấp từ 10 - 20 lần/phút,
chó nhỏ có tần số hô hấp 20 - 30 lần/phút.
Chó thở thể ngực và tấn số hô hấp còn phụ thuộc vào các yếu tố sau:
Nhiệt độ bên ngoài môi trường: khi thời tiết quá nóng nên chó phải thở
nhanh để thải nhiệt, ở chó nhịp thở có thể lên tới 100 - 160 lần/phút.
Thời gian trong ngày: ban đêm và sáng sớm chó thở chậm hơn, buổi
trưa và buổi chiều chó thở nhanh hơn.
Tuổi: con vật càng lớn tuổi thì tần số hô hấp càng chậm.
Những con mang thai, sự sợ hãi cũng làm cho tần số hô hấp tăng lên.

16


Thông qua hoạt động hô hấp mà cơ thể lấy oxy và các chất dinh dưỡng
trực tiếp từ môi trường, thải CO2 và các sản phẩm dị hoá ra môi trường đồng
thời giữ vai trò điều tiết nhiệt. Tần số hô hấp hay nhịp thở là số lần thở ra hay
hít vào trong một phút. Ở mỗi loài gia súc đều có tần hô hấp nhất định. Tuy
nhiên, ở trạng thái bình thường tần số hô hấp có thể thay đổi do tác động của
cường độ trao đổi chất, lứa tuổi, tầm vóc, trạng thái sinh lý, nhiệt độ môi
trường, khí hậu.v.v.
Ở trạng thái bệnh lý, tần số hô hấp thay đổi gọi là hô hấp bệnh lý. Tăng
tần số hô hấp gặp trong các bệnh gây hẹp diện tích về thể tích của phổi, những

bệnh gây sốt cao nhất là những bệnh truyền nhiễm cấp tính, bệnh ký sinh trùng.
Tần số hô hấp giảm trong những bệnh: hẹp thanh khí quản, chảy máu não, hôn
mê, bại liệt sau đẻ, các trường hợp sắp chết. Mỗi giai đoạn sẽ có một kiểu thở
khác nhau: Biot, Kusman, nhanh nông.v.v.
Tần số tim mạch (lần/phút)
Tần số tim mạch là số lần co bóp của tim trong một phút (lần/phút).
Khi tim đập thì mỏm tim hoặc thân tim chạm vào thành ngực, vì vậy mà ta có
thể dùng tay, áp tai hoặc dùng tai nghe áp vào thành ngực vùng tim để nghe
được tiếng tim. Khi tim co bóp sẽ đẩy một lượng máu vào động mạch làm
mạch quản mở rộng, thành mạch quản căng cứng. Sau đó nhờ vào tính đàn
hồi, mạch quản tự co bóp lại cho đến thời kỳ co tiếp theo tạo nên hiện tượng
động mạch đập. Dựa vào tính chất này ta có thể tính được nhịp độ mạch sẽ
tương đương với mạch tim đập. Mỗi loài gia súc khác nhau thì tần số tim
mạch cũng khác nhau. Sự khác nhau này cũng biểu hiện ở từng lứa tuổi trong
một loài động vật, tính biệt, thời điểm. Nhịp độ mạch đập tương ứng với nhịp
tim. Tuy vậy, tần số tim mạch của động vật chỉ dao động trong một phạm vi
nhất định.

17


Ở trạng thái sinh lý bình thường:
Chó
Tần số (lần/phút)

Non
200 – 220

Trưởng thành
70 – 120


Già
70 – 80

Ở chó, mèo vị trí tim đập động là khoảng sườn 3-4 phía bên trái. Tần số
tim thể hiện tần số trao đổi chất, trạng thái sinh lý, bệnh lý của tim cũng như
của cơ thể. Tần số tim phụ thuộc vào tầm vóc của gia súc, độ béo gầy, lứa
tuổi, giống loài. Ở trạng thái sinh lý bình thường, có hai cơ chế điều hoà tim
mạch bằng thần kinh và thể dịch. Gia súc non có tần số tim đập lớn hơn gia
súc già, gia súc hoạt động nhiều thì tần số tim mạch đập tăng lên. Khi cơ thể
bị một số bệnh về máu (thiếu máu, mất máu, suy tim, viêm cơ tim, viêm ao
tim) cũng làm tăng tần số tim mạch.
Ý nghĩa chẩn đoán: Qua việc bắt mạch có thể khám tim và tình trạng
toàn thân của cơ thể.
Tần số mạch tăng do các bệnh truyền nhiễm cấp tính, viêm cấp tính, các
trường hợp thiếu máu, hạ huyết áp và các bệnh làm tăng áp lực xoang bụng.
Tần số mạch giảm trong trường hợp bệnh làm tăng áp lực sọ não, huyết
áp tăng hay do trúng độc.
2.3 Một số dẫn liệu về sinh lý máu
Hồng cầu
Các tế bào hồng cầu được biệt hóa từ nguyên bào máu của tủy xương
và phát triển kế tiếp nhau là kết quả của một quá trình phân bào phức tạp.
Hồng cầu hình đĩa, lõm hai mặt, không có nhân để tăng diện tích tiếp xúc với
các chất khí. Số lượng hồng cầu thay đổi tùy loài gia súc, giống, tuổi, giới
tính, chế độ dinh dưỡng, tính chất bệnh lý…Đời sống hồng cầu trung bình là
120 ngày. Cơ thể bình thường có khả năng điều chỉnh thăng bằng giữa 2 quá
trình tiêu hủy và tái sinh hồng cầu để duy trì số lượng hồng cầu bình thường ở
phạm vi nhất định.
18



Số lượng hồng cầu thay đổi theo giống, tuổi, giới tính, chế độ dinh
dưỡng, trạng thái cơ thể và sinh lí. Trong trạng thái sinh lí bình thường thì số
lượng hồng cầu của loài chó là 6 – 8 triệu/ mm3 máu
Hiện tượng tăng hồng cầu
Theo Tạ Thị Vịnh và cs, 2003, chứng tăng sinh hồng cầu thường gặp
trong các trường hợp sau:
- Thiếu oxy kéo dài trong các bệnh tim, phổi mạn tính, cơ thể thích nghi
bằng cách tăng sinh hồng cầu. Khi vận chuyển gia súc từ vùng thấp lên vùng
cao cũng có hiện tượng tăng sinh hồng cầu kiểu thích nghi như vậy.
- Do ngộ độc trường diễn các chất như nitrit, sulfamid, thạch tín,
coban… Khi đó, hemoglobin bị biến thành methemoglobin làm ức chế khả
năng vận chuyển oxy của hồng cầu.
- Do kích thích vào hệ thần kinh, ảnh hưởng đến hệ thần kinh nội tiết
chi phối quá trình tạo hồng cầu, hormone sinh dục đực kích thích tăng hồng
cầu, hormone sinh dục cái ức chế quá trình tạo hồng cầu.
Hiện tượng giảm số lượng hồng cầu
- Do chảy máu: Đây là tình trạng cấp tính thường gặp trong trường hợp
vật nuôi phải phẫu thuật, bị vết thương. Nếu mất máu ít thì cơ thể thích nghi
bằng co mạch ngoại vi, tăng tần số tim, tần số hô hấp. Trường hợp mất máu
nhiều dẫn tới trạng thái sốc và có thể gây tử vong nhanh.
- Do dung huyết: Gặp trong trường hợp vật nuôi mắc kí sinh trùng
đường máu, vi khuẩn gây dung huyết, ngộ độc sulfamit, phenol, chì, nọc
rắn…Ngoài ra có thể do truyền máu khác loại và các nguyên nhân bất thường
trong cấu trúc gen.
- Do rối loạn chức năng tạo máu: thiếu sắt, protein, vitamin B12 có thể
dẫn tới thiếu máu. Ngoài ra còn do nguyên nhân làm ức chế hoạt động của tủy
xương như xương bị cốt hóa, u ác tính di căn vào tủy xương, ngộ độc chì…

19



Huyết sắc tố - Hemoglobin (Hb)
Huyết sắc tố là một đại phân tử chứa trong hồng cầu có chức năng vận
chuyển oxy đến các mô, vận chuyển chất dinh dưỡng, điều hòa PH của máu,
khi hồng cầu bị phân hủy thì hemoglobin được dùng để tổng hợp sắc tố mật.
Trong hồng cầu hemoglobin chiếm 90% vật chất khô và khoảng 400 triệu
phân tử. Một phân tử hemoglobin gồm một phân tử globin (96%) và 4 phân tử
hem (4%). Hàm lượng hemonglobin trong máu của các loài gia súc rất khác
nhau: ở chó khoảng 12 – 18 mg%. Trong cùng một giống, hàm lượng
hemoglobin cũng dao động lớn, phụ thuộc vào nhiều yếu tố như lứa tuổi, tình
trạng bệnh lý, môi trường sống, cơ địa, điều kiện thời tiết. Khi điều kiện thời
tiết nóng ẩm hemoglobin cũng tăng lên. Sự biến đổi hàm lượng hemoglobin
liên quan chặt chẽ tới số lượng hồng cầu trong máu. Hàm lượng hemoglobin
thấp chứng tỏ có sự xuất huyết, thiếu máu, thiếu sắt.
Bạch cầu
Bạch cầu là loại tế bào máu có nhân, tương bào, có khả năng di động
theo kiểu amip, không có sắc tố với số lượng ít ổn định và phụ thuộc vào
trạng thái sinh lý của cơ thể. Bạch cầu được tạo ra trong hệ thống nội mô và
bị phá hủy ở gan và lách. Chức năng của bạch cầu là bảo vệ cơ thể chống
nhiễm trùng và ngộ độc trong hệ thống phòng vệ chung của cơ thể, chức năng
này được thực hiện thông qua hiện tượng thực bào và miễn dịch dịch thể.
Bạch cầu được chia làm 2 loại: bạch cầu có hạt và bạch cầu không hạt.
Bạch cầu có hạt
Trong bào tương có nhiều hạt, căn cứ vào đặc điểm bắt màu của các hạt
trong bào tương chia làm 3 loại.
- Bạch cầu ái toan: Là loại bạch cầu trong bào tương có hạt to trong bắt
màu đỏ, nhân cũng được chia làm ba loại ấu, gậy, đốt, nhưng thường chia
nhiều múi nối với nhau.


20


- Bạch cầu ái kiềm: Là loại bạch cầu trong bào tương có hạt bắt màu
xanh, nhân có dạng chữ “S” hoặc hình lá.
- Bạch cầu trung tính: Là loại bạch cầu mà trong bào tương có các hạt
nhỏ, mịn, bắt màu hồng nhạt hoặc tím hoa cà. Nhân có hai dạng, khi còn non
nhân có hình ấu và hình gậy, khi trưởng thành nhân chia làm 3 – 5 đốt. Bạch
cầu trung tính di động kiểu amip và có thể trườn trên các sợi tơ loại như tơ
huyết. Chức năng chính của bạch cầu đa nhân trung tính là thực bào.
Bạch cầu không hạt gồm hai loại là:
- Lâm ba cầu (lymphocyte): Có vòng sáng xung quanh nhân, nhân hình
gần tròn, hoặc hình bầu dục chiếm hầu hết tế bào. Ở gia súc lâm ba cầu tăng
mạnh trong các bệnh sốt truyền nhiễm.
- Bạch cầu đơn nhân lớn: Là loại bạch cầu to nhất, nhân hình móng
ngựa chiếm gần hết bào tương. Bào tương không hạt nhuộm màu xám tro.
Chúng có khả năng thực bào và ẩm bào các dị vật và các vi sinh vật, do đó
đóng vai trò quan trọng trong cơ thể tạo sức kháng ban đầu cũng như trong cơ
chế đáp ứng miễn dịch của cơ thể.
Chức năng sinh lý của bạch cầu đó là: thực bào, miễn dịch dịch thể và
miễn dịch tế bào.
Thực bào: là khả năng ăn những chất lạ hoặc vi khuẩn xâm nhập vào cơ
thể tạo cho cơ thể sức đề kháng tự nhiên dẫn đến hình thành miễn dịch bẩm
sinh.
- Bạch cầu trung tính, bạch cầu đơn nhân lớn: là hai loại bạch cầu có
khả năng thực bào rất mạnh, đặc biệt là bạch cầu trung tính, nhưng toàn diện
nhất lại là bạch cầu đơn nhân lớn. Bạch cầu trung tính và bạch cầu đơn nhân
lớn giảm nhanh khi chó bị viêm ruột ỉa chảy nhất là trong trường hợp chó mắc
hội chứng viêm ruột ỉa chảy cấp tính.
- Bạch cầu ái toan: có vai trò trung hòa chất histamine và vận chuyển

serotonin, có hoạt động thực bào nhưng không quan trọng, vai trò sinh lý của
21


bạch cầu ái toan không rõ ràng. Chúng tham gia vào những phản ứng bảo vệ
cơ thể trong tình huống dị ứng miễn dịch. Bạch cầu ái toan giảm khi chó bị
viêm ruột, tăng trong các bệnh dị ứng, hen suyễn, thời kỳ phục hồi của bệnh
- Bạch cầu ái kiềm: Trong bạch cầu ái kiềm có một số men, histamine
bất hoạt, chúng chỉ hoạt động được khi được giải phóng ra ngoài. Chúng có
khả năng gắn kết các IgE trên màng tế bào có phản ứng kháng nguyên.
- Tế bào lympho thực hiện phản ứng miễn dịch dịch thể nhờ 2 dạng tế
bào lympho B và lympho T của cơ thể.
Sự biến đổi số lượng bạch cầu và ý nghĩa trong chẩn đoán
Số lượng bạch cầu thường ít ổn định và phụ thuộc vào trạng thái sinh lí
của cơ thể. Trong trường hợp sinh lí, số lượng bạch cầu thường tăng sau khi
ăn, khi đang vận động, khi con vật có thai, và giảm khi tuổi tăng lên.
Hiện tượng tăng bạch cầu
Tăng bạch cầu trung tính gặp trong các tình trạng nhiễm khuẩn, có các
viêm mủ khi tiêm vacxin.
Tăng bạch cầu ái toan gặp trong trường hợp dị ứng, nhiễm kí sinh trùng
đường tiêu hóa, bệnh ngoài da, tăng sinh tủy xương sau nhiễm xạ.
Tăng bạch cầu ái kiềm gặp trong các bệnh bạch cầu ác tính dòng bạch
cầu có hạt, dị sản tủy xương.
Tăng bạch cầu lymphocyte trong nhiễm virus, nhiễm khuẩn mạn tính,
viêm gan.
Tăng monocyte khi cơ thể nhiễm khuẩn mạn tính, lao.
Hiện tượng giảm số lượng bạch cầu
Thường gặp trong các trường hợp ngộ độc asen, sulfamit, trong các
bệnh dịch tả lợn, phó thương hàn, viêm phổi…
Giảm bạch cầu trung tính gặp trong nhiễm trùng huyết, xảy thai, truyền

nhiễm, nhiễm xạ, trúng độc bezen, thủy ngân…

22


×