Tải bản đầy đủ (.doc) (86 trang)

Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp của xã thụy duyên huyện thái thụy tỉnh thái bình

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (586.65 KB, 86 trang )

LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành đề tài nghiên cứu này tôi đã nhận được sự giúp đỡ
rất nhiệt tình và quý báu của các đồng chí lãnh đạo xã Thụy Duyên, của
các thầy cô giáo trong khoa Tài nguyên Môi trường, và của bạn bè, gia
đình.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc và kính trọng đến sự giúp đỡ nhiệt
tình của thầy giáo Ths. Luyện Hữu Cử, người đã trực tiếp hướng dẫn tôi
thực hiện đề tài này.
Tôi xin chân thành cảm ơn những ý kiến đóng góp quý báu của các
thầy, cô giáo trong khoa Tài nguyên và Môi trường.
Tôi xin chân thành cảm ơn các đồng chí lãnh đạo UBND xã Thụy
Duyên, các đồng chí cán bộ địa chính, cán bộ thống kê và nhân dân
trong xã đã tạo điều kiện về thời gian và cung cấp số liệu giúp tôi thực
hiện đề tài này.
Cảm ơn sự cổ vũ, động viên và giúp đỡ của gia đình, bạn bè trong
quá trình học tập và thực hiện luận văn.
Hà Nội, ngày 30 tháng 04 năm 2013
Sinh viên

Trần Thị Nhung

i


MỤC LỤC

ii


DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Từ viết tắt


UBND
NTTS
FAO
TTN
TCP
TNT
CLĐGĐ
CLĐ
GTNCLĐ
TSLN
Trđ
TNHH
ATLT
MĐĐG
CGKHKT
ĐHSDĐTQH
PC
GO
LUT
LUU
Pr

Giải nghĩa
Ủy ban nhân dâu
Nuôi trồng thủy sản
Tổ chức nông lương thế giới
Tổng thu nhập
Tổng chi phí
Thu nhập thuần
Công lao động gia đình

Công lao động
Giá trị ngày công lao động
Tỷ suất lợi nhuận
Triệu đồng
Thu nhập hỗn hợp
An toàn lương thực
Mức độ đánh giá
Chuyển giao khoa học kỹ thuật
Định hướng sử dụng đất theo quy hoạch
Phân chuồng
Giá trị sản xuất hoặc tổng thu nhập
Loại hình sử dụng đất
Kiểu sử dụng đất
Thu nhập thuần

DANH MỤC CÁC BẢNG

iii


DANH MỤC CÁC HÌNH
Sơ đồ 2.1: Các bước trong đánh giá đất của FAO...Error: Reference source not
found
Hình 4.1: Kiểu sử dụng đất đậu tương-khoai tây-ngô đông.....Error: Reference
source not found
Hình 4.2: Kiểu sử dụng đất Lạc xuân - đậu tương – ngô đông Error: Reference
source not found
Hình 4.3: Kiểu sử dụng đất lúa xuân – lúa mùa – khoai lang. .Error: Reference
source not found
Hình 4.4: Kiểu sử dụng đất lúa xuân – lúa mùa......Error: Reference source not

found

iv


PHẦN 1: ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là
nguồn nội lực, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa
bàn phân bố khu dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh
và quốc phòng, có ý nghĩa kinh tế, xã hội sâu sắc trong sự nghiệ xây dựng và
bảo vệ tổ quốc. Đất là vật thể chịu tác động của các yếu tố ngoại cảnh trong
đó có tác động của con người. Sự phì nhiêu của đất, sự phân bổ không đồng
nhất, đất tốt lên hay xấu đi, được sử dụng có hiệu quả cao hay thấp tùy thuộc
vào sự quản lý nhà nước, kế hoạch và các biện pháp khai thác, quản lý và sử
dụng đất.
Xã hội phát triển, dân số tăng nhanh kéo theo những đòi hỏi ngày càng
tăng về lương thực, thực phẩm, chỗ ở cũng như các nhu cầu về văn hóa xã
hội. Và con người đã tìm mọi cách để khai thác đất đai nhằm thỏa mãn những
nhu cầu ngày càng tăng đó. Chính vì thế đã tạo nên áp lực ngày càng lớn cho
đất đai. Đặc biệt là quỹ đất nông nghiệp có hạn về diện tích nhưng lại luôn có
nguy cơ bị suy thoái dưới tác động của thiên nhiên và sự thiếu ý thức của con
người trong quá trình sản xuất. Đó còn chưa kể đến sự suy giảm về diện tích
đất nông nghiệp do quá trình đô thị hóa đang diễn ra mạnh mẽ, trong khi khả
năng khai hoang đất mới lại rất hạn chế. Do vậy việc đánh giá hiệu quả để sử
dụng đất hợp lý theo quan điểm sinh thái và phát triển bền vững đang trở
thành vấn đề mang tính chất toàn cầu đang được các nhà khoa học trên thế
giới quan tâm. Đối với một nước có nền kinh tế nông nghiệp chủ yếu như ở
Việt Nam thì nghiên cứu, đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp càng trở
nên cần thiết hơn bao giờ hết.

Xã Thụy Duyên, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình là một xã đồng bằng
ven biển nằm ở phía Tây của huyện Thái Thụy. Là một xã có quỹ đất dồi dào
cho sản xuất nông nghiệp, những năm gần đây việc chuyển đổi cơ cấu cây
1


trồng vật nuôi hợp lý đã không ngừng nâng cao được năng suất và sản lượng
các sản phẩm nông nghiệp. Để phát triển kinh tế, xã hội xã đã chủ trương tăng
tỷ trọng ngành tiểu thủ công nghiệp - xây dựng - dịch vụ thương mại, giảm tỷ
trọng ngành nông nghiệp trong cơ cấu sản xuất. Vì vậy, vấn đề nâng cao hiệu
quả sử dụng đất nông nghiệp đang được quan tâm hơn, đánh giá hiệu quả sử
dụng để có phương án sử dụng đất tốt nhất, đảm bảo cho phát triển bền vững là
mục tiêu đang được hướng tới.
Xuất phát từ tình hình thực tế, được sự phân công của khoa Tài nguyên
và Môi trường - Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội, được sự đồng ý của
UBND xã Thụy Duyên, dưới sự hướng dẫn và giúp đỡ tận tình của thầy giáo Th.S Luyện Hữu Cử - giảng viên bộ môn Khoa học đất đã giúp tôi thực hiện
đề tài: “Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp của xã Thụy Duyên Huyện Thái Thụy - Tỉnh Thái Bình”.
1.2. Mục đích nghiên cứu
- Đánh giá hiệu quả các loại hình sử dụng đất trên địa bàn xã Thụy
Duyên, từ đó đề xuất các loại hình sử dụng đất nhằm phát triển kinh tế xã hội
của xã.
- Đề xuất các biện pháp hợp lý nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất sản
xuất nông nghiệp trong xã.
1.3. Yêu cầu nghiên cứu
- Quán triệt quy trình, nguyên tắc và phương pháp đánh giá đất theo
FAO, áp dụng vào điều kiện thực tế của xã Thụy Duyên để đánh giá hiệu quả
của các loại hình sử dụng đất nông nghiệp của xã.
- Những đề xuất, kiến nghị phải mang tính khả thi và phù hợp với các
điều kiện của xã.
- Đánh giá đúng, khách quan, khoa học và phù hợp với tình hình thực

tiễn ở địa phương.
PHẦN 2: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2


2.1. Tổng quan về đánh giá đất
2.1.1. Một số khái niệm cơ bản
+ Đất đai: Một vạt đất được xác định về mặt địa lý là một diện tích bề
mặt của trái đất với những thuộc tính tương đối ổn định hoặc thay đổi có tính
chu kỳ có thể dự đoán được của các điều kiện sinh thái bên trên và những
thay đổi bên trong nó như: không khí, đất (soil), điều kiện địa chất, thủy văn,
thực vật và những hoạt động hiện trạng của con người có ảnh hưởng tới việc
sử dụng đất trong hiện tại và tương lai [8].
Như vậy đất phải được xem xét trên phạm vi rất rộng bao gồm cả không
gian, thời gian với các thuộc tính tổng hợp của các yếu tố tự nhiên, kinh tế - xã
hội và môi trường. Đặc điểm của đất trong nghiên cứu đánh giá đất là những
thuộc tính của đất mà chúng ta có thể đo lường hoặc ước lượng được.
+ Sử dụng đất
Đất đai là nguồn tài nguyên cơ bản cho nhiều kiểu sử dụng:
- Sử dụng trên cơ sở sản xuất trực tiếp (cây trồng, đồng cỏ và trồng rừng).
- Sử dụng cơ sở sản xuất thứ yếu/gián tiếp (chăn nuôi).
- Sử dụng vì mục đích bảo vệ (chống suy thoái đất, bảo tồn đa dạng hóa
loài sinh vật, bảo vệ các loài quý hiếm).
- Sử dụng đất theo các chức năng đặc biệt như đường sá, dân cư, công
nghiệp, an dưỡng,...
Loại hình sử dụng đất là bức tranh mô tả thực trạng sử dụng đất của
một vùng đất với những phương thức quản lý sản xuất trong các điều kiện
kinh tế - xã hội và kỹ thuật được xác định.
Những loại hình sử dụng đất này có thể hiểu nghĩa rộng là các loại hình
sử dụng đất chính (Major type of land use), hoặc có thể được mô tả chi tiết

hơn với khái niệm là các loại hình sử dụng đất (Land use type - LUT) và các
kiểu sử dụng đất.
+ Hệ thống nông nghiệp: là sự biểu hiện không gian của sự phối hợp
3


các ngành sản xuất và kỹ thuật để thực hiện thoả mãn các nhu cầu cho một xã
hội. Nó biểu hiện sự tác động qua lại giữa các hệ thống sinh học - sinh thái và
môi trường tự nhiên, là đại diện của hệ thống văn hoá - xã hội, qua các hành
động xuất phát từ những thành quả kỹ thuật [13].
+ Hệ thống canh tác: là một tổ hợp cây trồng được bố trí trong không
gian và thời gian của một vùng khí hậu, thổ nhưỡng đặc thù trong một điều
kiện kinh tế - xã hội nhất định [4].
+ Hệ thống cây trồng (cơ cấu cây trồng): là thành phần các giống cây
trồng và loài cây được bố trí theo không gian và thời gian trong một hệ thống
sinh thái nông nghiệp, nhằm tận dụng hợp lý nguồn lợi tự nhiên - kinh tế - xã
hội sẵn có [21].
+ Loại hình sử dụng đất (LUT): là bức tranh mô tả hiện trạng sử dụng
đất của một vùng đất với những phương thức quản lý sản xuất trong các điều
kiện kinh tế - xã hội và kỹ thuật xác định [17].
+ Loại hình sử dụng đất chính: là sự phân nhỏ của sử dụng đất trong
khu vực hoặc vùng nông - lâm nghiệp, các loại hình sử dụng đất chính được
xác định chủ yếu dựa trên cơ sở sản xuất các cây trồng hàng năm, lâu năm,
lúa, đồng cỏ, rừng, khu giải trí nghỉ ngơi, động vật hoang dã... [17].
+ Đánh giá đất: đánh giá đất đai là quá trình so sánh, đối chiếu những
tính chất vốn có của vạt/khoanh đất cần đánh giá với những tính chất đất đai
mà loại yêu cầu sử dụng đất cần phải có [17].
2.1.2. Các phương pháp đánh giá đất
Đánh giá đất đai đã được nhiều nhà khoa học, nhiều cơ quan nghiên
cứu thuộc tổ chức quốc tế và các nước trên thế giới quan tâm tiến hành nghiên

cứu. Do đó đã đạt được nhiều thành tựu, áp dụng rộng rãi nhất là trong sản
xuất nông nghiệp.
Tuy nhiên, tùy theo mục đích sử dụng và điều kiện cụ thể của mỗi quốc
gia, các nước đã đề ra nội dung phương pháp đánh giá đất riêng của mình.
4


Hiện nay có nhiều phương pháp đánh giá đất khác nhau, nhưng nhìn
chung có hai khuynh hướng chủ yếu:
- Đánh giá đất đai theo điều kiện tự nhiên có xem xét điều kiện kinh tế
xã hội.
- Đánh giá đất đai theo kinh tế có xem xét tới điều kiện tự nhiên.
Có nhiều trường phái và quan điểm đánh đánh giá đất khác nhau trên
thế giới, trong đó điển hình một số trường phái sau:
2.1.2.1. Đánh giá đất ở Liên Xô (cũ)
Đánh giá đất dựa trên các đặc tính khí hậu, địa hình, địa mạo, thổ
nhưỡng, nước ngầm và thực vật. Phương pháp đánh giá được hình thành vào
những năm 1950 và sau đó đã được phát triển, hoàn thiện vào năm 1986 để
tiến hành đánh giá và thống kê chất lượng tài nguyên đất đai nhằm phục vụ
cho mục đích xây dựng chiến lược quản lý và sử dụng cho các đơn vị hành
chính và sản xuất trên lãnh thổ thuộc liên bang Xô Viết. Nguyên tắc đánh giá
mức độ sử dụng đất thích hợp là phân chia khả năng sử dụng đất đai trên toàn
lãnh thổ theo các nhóm và các lớp thích hợp.
Đánh giá đất đai theo Liên Xô gồm 3 bước:
+ Đánh giá lớp phủ thổ nhưỡng (so sánh các loại thổ nhưỡng theo tính
chất tự nhiên).
+ Đánh giá khả năng sản xuất của đất đai (yếu tố được xem xét kết hợp
với khí hậu, độ ẩm, địa hình).
+ Đánh giá kinh tế đất (chủ yếu đánh giá khả năng sản xuất hiện tại của
đất đai).

Phương pháp này có một số hạn chế như quá đề cao khả năng tự nhiên
của đất mà chưa xem xét đầy đủ đến khía cạnh kinh tế - xã hội của việc sử
dụng đất. Mặt khác, phương pháp đánh giá đất đai cho điểm cụ thể chỉ đánh
giá được đất đai hiện trạng mà không đánh giá được đất đai trong tương lai.
Phương pháp này có tính linh động kém vì các chỉ tiêu đánh giá đất đai ở các
5


vùng cây trồng khác nhau do đó không thể chuyển đổi việc đánh giá đất đai
giữa các vùng khác nhau [15].
2.1.2.2. Đánh giá đất ở Mỹ
Ở Mỹ ứng dụng rộng rãi theo hai phương pháp đánh giá:
- Phương pháp tổng hợp: Lấy năng suất cây trồng trong nhiều năm làm
tiêu chuẩn và chú ý vào phân hạng đất đai cho từng loại cây trồng chính
(trong đó chọn cây lúa mì là cây trồng chính), từ đó xác định mối tương quan
giữa đất đai và cây trồng trên đất để đưa ra các biện pháp kỹ thuật làm tăng
năng suất cây trồng.
- Phương pháp yếu tố: Bằng cách thống kê các yếu tố tự nhiên và kinh
tế để so sánh, lấy lợi nhuận tối đa là 100 điểm hoặc 100% để làm mốc so sánh
lợi nhuận ở các loại đất khác nhau.
Như vậy, việc phân hạng thích hợp đất đai theo phương pháp đánh giá
đất của Mỹ mới chỉ tập trung vào các cây trồng chính mà chưa đưa ra được những
yêu cầu củ các loại hình sử dụng đất nào đang được ứng dụng trong sản xuất. Tuy
nhiên phương pháp này rất quan tâm đến những yếu tố hạn chế trong quản lý và
sử dụng đất có tính đến các vấn đề môi trường, đây cũng chính là điểm mạnh của
phương pháp nhằm mục đích duy trì và sử dụng đất bền vững.
2.1.2.3. Đánh giá đất đai ở một số các nước Châu Âu khác
Ở Bungari, việc phân hạng dựa trên cơ sở các yếu tố đất đai được chọn
để đánh giá là các yếu tố có ảnh hưởng trực tiếp đến độ phì nhiêu và sự sinh
trưởng và phát triển của từng loại cây trồng như: Thành phần cơ giới, mức độ

mùn, độ dày tầng đất, các tính chất lý hóa học của đất. Qua đó hệ thống lại
thành các nhóm và chia thành các hạng đất, được phân chia rất chi tiết với 10
hạng (với mức chênh lệch 10 điểm) thuộc 5 nhóm: rất tốt, tốt, trung bình, xấu,
và không sử dụng được.
Ở Anh có hai phương pháp đánh giá đất là dựa vào sức sản xuất tiềm
năng của đất hoặc dựa vào sức sản xuất thực tế của đất.
6


- Phương pháp đánh giá đất dựa vào thống kê sức sản xuất thực tế của
đất: Cơ sở của phương pháp này là dựa vào năng suất bình quân nhiều năm so
với năng suất thực tế trên đất lấy làm chuẩn.
- Phương pháp đánh giá đất đai dựa vào thống kê sức sản xuất tiềm tàng
của đất: Phương pháp này chia ra làm các hạng, mô tả mỗi hạng trong quan hệ
bị ảnh hưởng bởi những yếu tố hạn chế của đất đối với việc sử dụng trong sản
xuất nông nghiệp.
2.1.2.4. Đánh giá đất theo FAO
a. Khái quát chung về đánh giá đất đai theo FAO
Đứng trước tình hình suy thoái đất đai đang diễn ra mạnh mẽ và ngày
càng gia tăng, ngay từ những năm đầu của thập kỷ 70 nhiều quốc gia thuộc
các nước đang phát triển đã không ngừng hoàn thiện các hệ thống đánh giá
đất đai của mình. Vì đánh giá đất đai sử dụng thích hợp là cơ sở cần thiết cho
quy hoạch sử dụng đất và phát triển sản xuất nông nghiệp.
Trong hoàn cảnh đó, tổ chức Nông - Lương của Liên hợp quốc - FAO
đã tập hợp các nhà khoa học đất và chuyên gia đầu ngành về nông nghiệp để
tổng hợp các kinh nghiệm và kết quả đánh giá đất của các nước, xây dựng nên
tài liệu “Đề cương đánh giá đất đai” (FAO - 1976). Tài liệu này được nhiều
nước trên thế giới quan tâm, thử nghiệm và vận dụng vào công tác đánh giá
đất đai ở nước mình và được công nhận là phương tiện tốt nhất để đánh giá
đất sản xuất nông lâm nghiệp.

+ Đến năm 1983 và những năm tiếp theo, đề cương này được bổ sung,
chỉnh sửa cùng với hàng loạt các tài liệu hướng dẫn đánh giá đất chi tiết cho
các vùng sản xuất khác nhau:
• Đánh giá đất cho nông nghiệp nước trời – 1983
• Đánh giá đất cho vùng đất rừng – 1984
• Đánh giá đất cho nông nghiệp được tưới – 1985
• Đánh giá đất cho đồng cỏ chăn thả - 1989
7


• Đánh giá đất và phân tích hệ thống canh tác cho quy hoạch sử dụng
đất - 1992.
+ Theo FAO Đánh giá đất đai là quá trình so sánh, đối chiếu những tính
chất vốn có của vạt đất/ khoanh đất cần đánh giá với những tính chất đất đai
mà loại yêu cầu sử dụng đất cần phải có.
+ Đề cương đánh giá đất của FAO cũng như các tài liệu hướng dẫn
đánh giá đất cụ thể cho các đối tượng sản xuất nông lâm nghiệp đều có 3 mức
độ đánh giá đất: sơ lược, bán chi tiết và chi tiết, tùy thuộc vào điều kiện cụ thể
của vùng, khu vực nghiên cứu.
+ Mục đích của các tài liệu FAO xuất bản về đánh giá đất nhằm tăng
cường nhận thức và hiểu biết phương pháp đánh giá đất đai trong khuôn khổ
quy hoạch sử dụng đất trên quan điểm tăng cường lương thực cho một số
nước trên thế giới và giữ gìn nguồn tài nguyên đất không bị thoái hóa, sử
dụng đất được lâu bền.
+ Yêu cầu chính trong đánh giá đất của FAO là gắn liền đánh giá đất và
quy hoạch sử dụng đất, coi đánh giá đất là một phần của quá trình quy hoạch
sử dụng đất. Vì vậy yêu cầu phải đạt được là:
• Thu thập được những thông tin phù hợp về tự nhiên, kinh tế - xã hội
của khu vực nghiên cứu.
• Đánh giá được sự thích hợp của vùng đất với các mục tiêu sử dụng

khác nhau theo mục đích và nhu cầu của con người.
• Phải xác định được mức độ chi tiết đánh giá đất theo quy mô và phạm
vi quy hoạch là toàn quốc, tỉnh, huyện hoặc cơ sở sản xuất.
• Mức độ thực hiện đánh giá đất phụ thuộc vào cấp tỷ lệ bản đồ.
+ Nội dung chính của đánh giá đất đai bao gồm 4 vấn đề :
• Xác định các chỉ tiêu và quy trình xây dựng bản đồ đơn vị đất đai.
• Xác định, mô tả các loại hình sử dụng đất và yêu cầu sử dụng đất.
• Hệ thống cấu trúc phân hạng đất đai.
8


• Phân hạng thích hợp đất đai.
b. Quy trình đánh giá đất đai
Quy trình đánh giá đất đai của FAO được xuất bản năm 1976 và tiếp tục
hoàn thiện vào các năm 1983, 1984, 1985, 1991, 1994. Theo tài liệu “Đánh
giá đất vì sự nghiệp phát triển” của FAO thì đánh giá đất được tiến hành theo
quy trình 7 bước sau:
- Dựa vào mục tiêu và quy mô của từng dự án đánh giá đất, thu thập các
tài liệu, thông tin có sẵn về tự nhiên, kinh tế và xã hội của vùng dự án.
- Xây dựng bản đồ đơn vị đất đai, mô tả các đơn vị bản đồ đất đai
(Land Mapping Unit - LMU) dựa trên kết quả điều tra tài nguyên đất đai
trong vùng.
- Chuyển đổi các đặc tính của mỗi LMU thành các tính chất đất đai có
tác động trực tiếp đến sự hình thành hệ thống sử dụng đất hay nói cách khác
đó là sự kết hợp của LUT được chọn với các LMU.
- Xác định và mô tả các loại hình sử dụng đất LUT.
- Quyết định các yêu cầu sử dụng đất (chủ yếu về tự nhiên và sinh học)
cho mỗi loại hình sử dụng đất được lựa chọn.
- Đối chiếu xếp hạng các LUT trên cơ sở so sánh các yêu cầu sử dụng
đất của các LUT với các tính chất đất đai của các LMU nhằm xác định mức

độ phù hợp của các tính chất đất đai của mỗi LMU cho mỗi LUT.
- Đề xuất các hệ thống sử dụng đất tối ưu và các giải pháp thích hợp
phục vụ quy hoạch sử dụng đất và tăng cường công tác quản lý, bảo vệ tài
nguyên đất đai trong vùng.

9


1
Xác
định
mục
tiêu

2
Thu
thập tài
liệu
liên
quan

3
Xác định các
loại hình sử
dụng đất

Xác định các
đơn vị đất đai

5

Đánh
giá khả
năng
thích
hợp về
tự
nhiên

6
Đánh
giá
hiệu
quả
KT,
XH,
MT

7
Xác
định
các
LUT
thích
hợp
nhất

8
Quy
hoạch
sử

dụng
đất

9
Áp
dụng
của
việc
đánh
giá

4

Sơ đồ 2.1: Các bước trong đánh giá đất của FAO
c. Những nguyên tắc đánh giá đất đai của FAO
- Mức độ thích hợp của đất đai được đánh giá, phân hạng cho các loại
sử dụng đất (LUT) cụ thể.
- Việc đánh giá đòi hỏi có sự so sánh giữa lợi nhuận thu được và
đầu tư cần thiết trên các loại đất khác nhau (phân bón, lao động, thuốc trừ
sâu, máy móc,...)
- Yêu cầu phải có quan điểm tổng hợp, nghĩa là phải có sự phối hợp và
tham gia đầy đủ của các nhà nông học, lâm học, kinh tế và xã hội học.
- Việc đánh giá đất phải phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội
của khu vực nghiên cứu.
- Khả năng thích hợp đưa vào sử dụng phải dựa trên cơ sở bền vững,
các nhân tố sinh thái trong sử dụng đất phải được dùng để quyết định.
- Đánh giá đất tập trung so sánh nhiều loại sử dụng đất khác nhau từ đó
có cơ sở lựa chọn ra được những loại hình sử dụng đất bền vững.
2.1.2.5. Đánh giá đất ở Việt Nam
Từ thời kỳ phong kiến, các triều đại vua chúa nước ta đã thực hiện đạc

điền, phân hạng đất theo kinh nghiệm nhằm quản lý đất đai cả về số lượng và
chất lượng. Năm 1092, nhà Lý lần đầu tiên đã tiến hành đạc điền, lập điền bạ
10


đánh thuế ruộng đất. Thời nhà Lê vào thế kỷ XV, ruộng đất đã được phân chia ra
tứ hạng điền (nhất đẳng điền, nhị đẳng điền, tam đẳng điền và tứ đẳng điền)
nhằm phục vụ cho chính sách quản điền và tô thuế. Năm 1802, Nhà Nguyễn đã
tiến hành lập địa bạ thống nhất cho các xã, thôn, phân đẳng định hạng ruộng đất
thành tứ hạng điền đối với ruộng trồng lúa, lục hạng thổ đối với ruộng trồng
màu, làm cơ sở cho chính sách tổ chức mua bán và quân cấp ruộng đất.
Trong thời kỳ thống trị của thực dân Pháp, dân Pháp đã bắt đầu các nghiên
cứu về đất nhằm phục vụ công cuộc khai thác tài nguyên tại nước thuộc địa.
Trên toàn lãnh thổ Đông Dương, Viện nghiên cứu Nông - Lâm nghiệp (Intitute
of Research on Agriculture and Foresty in Indochina) đã thực hiện một số nghiên
cứu tổng quát về đất Đông Dương trong đó tập trung vào các vùng đất mới nhằm
thiết lập được các đồn điền trồng cây ngắn ngày và dài ngày.
Năm 1954 hoà bình lập lại, ở miền Bắc Vụ Quản lý ruộng đất và Viện
Thổ nhưỡng Nông hoá, sau đó là Viện Quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp đã
nghiên cứu phân hạng đất vùng sản xuất nông nghiệp. Nhiều tỉnh đã xây dựng
được các bản đồ phân hạng đất đai đến cấp xã, góp phần đáng kể cho công tác
quản lý đất đai trong giai đoạn kế hoạch hoá sản xuất.
Phương pháp đánh giá của FAO bắt đầu nghiên cứu ứng dụng ở Việt
Nam vào những năm cuối của thập kỷ 80. Năm 1989 Vũ Cao Thái [12] đã lần
đầu tiên thử nghiệm đánh giá sử dụng đất thích hợp cho một số cây trồng như
cà phê, cao su, chè, dâu tằm ở Tây Nguyên. Tiếp đó phương pháp đánh giá đất
đai của FAO đã lần lượt được nghiên cứu và ứng dụng rộng rãi trên các phạm
vi đánh giá khác nhau:
- Đánh giá đất thích hợp theo FAO trên phạm vi toàn quốc.
- Đánh giá sử dụng đất thích hợp theo FAO ở phạm vi vùng sinh thái

các tỉnh.
- Đánh giá sử dụng đất thích hợp trong phạm vi vùng chuyên canh hẹp
và phạm vi cấp huyện.
11


2.2. Hiệu quả sử dụng đất
2.2.1. Khái quát về hiệu quả sử dụng đất
Hiệu quả sử dụng đất được các nhà xã hội học đưa ra nhiều quan điểm
khác nhau tuỳ thuộc vào điều kiện lịch sử, góc độ nghiên cứu từ nhiều khía
cạnh khác nhau.
Khái niệm về hiệu quả ngày nay được sử dụng rất rộng rãi, nói đến hiệu
quả được hiểu là công việc đạt kết quả tốt. Hay hiệu quả là kết quả mong
muốn, cái sinh ra kết quả mà con người mong đợi và hướng tới. Trong sản
xuất, hiệu quả có nghĩa hiệu suất, năng suất. Với lĩnh vực kinh doanh thì hiệu
quả là lãi suất, lợi nhuận. Trong lao động thì hiệu quả là năng suất lao động
được đánh giá bằng số lượng thời gian hao phí để sản xuất ra một đơn vị sản
phẩm hoặc bằng số lượng sản phẩm được sản xuất trong một đơn vị thời gian.
Còn trong xã hội, hiệu quả xã hội là có tác dụng tích cực đối với một lĩnh vực xã
hội nào đó.
Đánh giá chất lượng của hoạt động sản xuất là nội dung đánh giá hiệu quả.
Sử dụng đất nông nghiệp có hiệu quả cao thông qua việc bố trí cơ cấu cây
trồng, vật nuôi phù hợp là một trong những vấn đề bức xúc hiện nay của hầu
hết các nước trên thế giới [22]. Nó không chỉ thu hút sự quan tâm của các nhà
khoa học, các nhà hoạch định chính sách, các nhà kinh doanh nông nghiệp mà
còn là sự mong muốn của nông dân, những người trực tiếp tham gia vào quá
trình sản xuất nông nghiệp.
Hiệu quả sử dụng đất có ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất nông - lâm
nghiệp, đến môi trường sinh thái, đến đời sống người nông dân. Vì vậy, đánh
giá hiệu quả sử dụng đất bền vững hướng vào ba tiêu chuẩn chung là bền

vững về mặt kinh tế, xã hội và môi trường (FAO, 1994).
Khái niệm hiệu quả sử dụng đất phải xuất phát từ luận điểm triết học của
Mác và những nhận thức lí luận của lí thuyết hệ thống, hiệu quả phải được xem
xét trên 3 mặt: hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội, hiệu quả môi trường [18].
12


* Hiệu quả kinh tế
Theo Các Mác thì quy luật kinh tế đầu tiên trên cơ sở sản xuất tổng thể là
quy luật tiết kiệm thời gian và phân phối một cách có kế hoạch thời gian lao
động theo các ngành sản xuất khác nhau [2].
Dẫn theo Vũ Thị Phương Thụy: Theo các nhà khoa học Đức (Stenien,
Hanau, Rusteruyer, Simmerman-1995) thì hiệu quả kinh tế là chỉ tiêu so sánh
mức độ tiết kiệm chi phí trong một đơn vị kết quả hữu ích và mức tăng kết
quả hữu ích của hoạt động sản xuất vật chất trong một thời kỳ, góp phần làm
tăng thêm lợi ích của xã hội [18].
* Hiệu quả xã hội
Hiệu quả xã hội nó phản ánh mối quan hệ giữa kết quả sản xuất và các
lợi ích xã hội do sản xuất mang lại, thông qua các chỉ tiêu như: giải quyết
công ăn việc làm, giảm thiểu tai tệ nạn xã hội, an sinh lương thực, trao đổi
hàng hóa và ngoại tệ, chống lạm phát do nhập siêu, đảm bảo an ninh xã hội...
Hiệu quả xã hội trong sử dụng đất hiện nay là phải tạo ra được nhiều sản
phẩm, thu hút được nhiều lao động, đảm bảo đời sống nhân dân, đảm bảo an
ninh lương thực, góp phần thúc đẩy xã hội phát triển, nội lực và nguồn lực
của địa phương được phát huy; đáp ứng nhu cầu của hộ nông dân về ăn, mặc,
và nhu cầu sống khác; phải tạo ra được sự ổn định và phong phú về thị trường
tiêu thụ. Sử dụng đất phù hợp với tập quán, nền văn hoá của địa phương thì
việc sử dụng đó bền vững hơn, ngược lại sẽ không được người dân ủng hộ. Vì
vậy, hiệu quả xã hội là mối tương quan so sánh giữa kết quả xét về mặt xã hội và
tổng chi phí bỏ ra, theo Nguyễn Thị Vòng và các cộng sự (2001) [23].

Hiệu quả về mặt xã hội sử dụng đất nông nghiệp chủ yếu được xác định
bằng khả năng tạo việc làm trên một diện tích đất nông nghiệp [11].
Hiện nay số dân nước ta chủ yếu sống bằng nghề nông nghiệp, do vậy
hiệu quả của nó có tác động mạnh mẽ đến hiệu quả xã hội, nhất là người nông
dân khi đến tuổi lao động không tìm được việc làm khác thì chính vấn đề
13


ruộng đất nông nghiệp là công cụ, là tư liệu để sản xuất ra sản phẩm đảm bảo
cuộc sống.
Thực trạng diện tích đất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp lại, do đó
năng xuất được nâng lên cao là giải pháp tốt nhất để ổn định cuộc sống cho
người nông dân, người nông dân sẽ coi đây như một công việc được xã hội
phân công, làm ra của cải vật chất để phục vụ cho chính đời sống của họ, khi
nhu cầu tối thiểu đã đảm bảo thì sản phẩm nông nghiệp dư thừa sẽ được chế
biến, xuất khẩu, thương mại hóa sản phẩm để chuyển đổi sang hàng hóa khác,
trao đổi hàng hóa , trao đổi ngoại tệ...
Từ những thực trạng trên đây của các cho ta thấy giữa hiệu quả kinh tế và hiệu
quả xã hội có mối quan hệ mật thiết với nhau, chúng là tiền đề của nhau và là một
phạm trù thống nhất, phản ánh mối quan hệ giữa kết quả sản xuất và các lợi ích xã
hội mang lại. Trong giai đoạn hiện nay việc đánh giá hiệu quả xã hội của các loại
hình sử dụng đất nông nghiệp là nội dung được nhiều nhà khoa học quan tâm.
* Hiệu quả môi trường
Hiệu quả môi trường là một vấn đề không thể bỏ qua khi xem xét và
đánh giá hiệu quả trong sản xuất nông nghiệp. Theo quan điểm này khi xem
xét và đánh giá hiệu quả của một biện pháp khoa học kỹ thuật, một giải pháp
quản lý, chúng ta phải chú ý đến hiệu quả của môi trường sinh thái. Phải đảm
bảo giữ gìn môi trường sinh thái, xây dựng một nền nông nghiệp sạch, đáp
ứng sự phát triển lâu bền của mỗi quốc gia cũng như cả cộng đồng quốc tế.
Hiệu quả môi trường là vấn đề cấp thiết nhất hiện nay, đã và đang được

nhiều ngành, nhà quản lý và nhà khoa học quan tâm. Hoạt động sản xuất được
coi là hiệu quả thì không gây ảnh hưởng xấu đến môi trường. Nếu chỉ quan
tâm đến hiệu quả kinh tế mà không quan tâm đến hiệu quả môi trường thì có
thể sẽ gây ra những tổn thất lớn hơn nhiều so với hiệu quả kinh tế đạt được,
bên cạnh đó việc khắc phục rất khó khăn và tốn nhiều chi phí do hiệu quả môi
trường được phân tích bằng các tiêu chí như: Bảo vệ sự đa dạng sinh học, tạo
14


sự cân bằng sinh thái, hạn chế xói mòn đất, làm giảm độ nóng lên của bề mặt
khí quyển, hạn chế lũ lụt, tăng cường độ che phủ đất...
Hiệu quả môi trường được thể hiện ở chỗ: Loại hình sử dụng đất phải
bảo vệ được độ màu mỡ của đất đai, ngăn chặn được sự thoái hoá đất bảo vệ
môi trường sinh thái. Độ che phủ tối thiểu phải đạt ngưỡng an toàn sinh thái
(>35%) đa dạng sinh học [7].
Hiệu quả môi trường được phân ra theo nguyên nhân gây nên, gồm:
hiệu quả hoá học, hiệu quả vật lý và hiệu quả sinh học môi trường [26].
Trong sản xuất nông nghiệp, hiệu quả hoá học môi trường được đánh
giá thông qua mức độ sử dụng và tác động của các hóa chất trong nông
nghiệp. Đó là việc sử dụng phân bón và thuốc bảo vệ thực vật trong quá trình
sản xuất đảm bảo cho cây trồng sinh trưởng và phát triển tốt, cho năng suất
cao và không gây ô nhiễm môi trường.
Hiệu quả sinh học môi trường được thể hiện qua mối tác động qua lại
giữa cây trồng với đất, giữa cây trồng trong mối tương tác với các đối tượng
sinh học có lợi và có hại khác nhằm đảm bảo tính đa dạng mà vẫn đạt được
yêu cầu đặt ra.
Hiệu quả vật lý môi trường được thể hiện thông qua việc lợi dụng tốt
nhất tài nguyên khí hậu như ánh sáng, nhiệt độ, nước mưa của các kiểu sử
dụng đất để đạt được sản lượng cao và tiết kiệm chi phí năng lượng đầu vào.
2.2.2. Nguyên tắc sử dụng đất nông nghiệp

* Quy định chung về đất đai:
- Đất đai được sử dụng đúng quy hoạch, kế hoạch và mục đích sử dụng.
- Sử dụng tiết kiệm, có hiệu quả cao và bảo vệ môi trường, không làm
tổn hại đến lợi ích người sử dụng đất xung quanh.
- Người sử dụng đất thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình trong
thời hạn giao đất, sử dụng đất theo quy định của luật và các quy định khác có
liên quan.
15


*Đối với đất Nông nghiệp :
Phải đựợc dùng đúng mục đích trong nông nghiệp, được cải tạo, bồi bổ
nâng cao độ phì nhiêu cho đất, luôn tăng năng xuất cây trồng, vật nuôi và khi
chuyển mục đích sử dụng sang mục đích khác phải được cấp có thẩm quyền
phê duyệt.
Đất đai là nguồn tài nguyên có hạn trong khi đó nhu cầu của con người
được lấy từ đất ngày càng tăng, mặt khác đất nông nghiệp ngày càng bị thu
hẹp do bị trưng dụng sang các mục đích khác. Vì vậy, sử dụng đất nông
nghiệp ở nước ta với mục tiêu nâng cao hiệu quả kinh tế xã hội trên cơ sở bảo
đảm an ninh lương thực, thực phẩm, bảo vệ, khôi phục và phát triển rừng,
tăng cường nguyên liệu cho công nghiệp, đảm bảo khả năng phòng hộ môi
trường, bảo vệ tính đa dạng sinh học, bảo vệ hệ động thực vật quí hiếm của
rừng, phát triển công nghiệp chế biến vừa và nhỏ với thiết bị công nghệ tiên
tiến; khai thác tiềm năng lao động, giải quyết công ăn việc làm góp phần xóa
đói giảm nghèo, thu hút các nguồn lực đầu tư, nâng cao vai trò và giá trị đóng
góp của ngành nông - lâm nghiệp vào phát triển kinh tế quốc dân [1]. Sản
xuất nông nghiệp trên cơ sở cân nhắc những mục tiêu phát triển kinh tế xã
hội, tận dụng được tối đa lợi thế so sánh về điều kiện sinh thái và không làm
ảnh hưởng xấu đến môi trường là những nguyên tắc cơ bản và cần thiết để
đảm bảo cho khai thác và sử dụng bền vững tài nguyên đất. Do đó, đất nông

nghiệp cần được sử dụng theo nguyên tắc "đầy đủ, hợp lý và hiệu quả".
- Đầy đủ: Đây là nguyên tắc quan trọng, đảm bảo diện tích đất canh tác
luôn đáp ứng được nhu cầu về an toàn lương thực, diện tích đất nông nghiệp
đáp ứng được tiêu chuẩn môi trường sinh thái được bền vững cũng như nhu
cầu sinh hoạt của con người.
- Hợp lý: Đây là nguyên tắc giúp cho việc khai thác, sử dụng đất đạt
hiệu quả cao nhưng vẫn đảm bảo được tính an toàn và hiệu quả.

16


- Hiệu quả: Trong khai thác và quản lý sử dụng đất tính hiệu quả cao
nhất cả về kinh tế, xã hội và môi trường. Mặt khác phải có những quan điểm
đúng đắn theo xu hướng tiến bộ phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh cụ thể, làm
cơ sở thực hiện sử dụng đất có hiệu quả kinh tế xã hội cao.
2.2.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
* Nhóm yếu tố về điều kiện tự nhiên
Điều kiện tự nhiên (đất, nước, khí hậu, thời tiết...) có ảnh hưởng trực tiếp
đến sản xuất nông nghiệp (Nguyễn Đình Hợi, 1993) [10], (Vũ Thị Phương
Thuỵ 2000) [18], (Nguyễn Duy Tính, 1995) [19], (Vũ Thị Ngọc Trân, 1996)
[20]. Bởi vì, các yếu tố của điều kiện tự nhiên là tài nguyên để sinh vật tạo nên
sinh khối. Do vậy, cần đánh giá đúng điều kiện tự nhiên để trên cơ sở đó xác
định cây trồng vật nuôi chủ lực phù hợp và định hướng đầu tư thâm canh đúng.
Theo C.Mác, điều kiện tự nhiên là cơ sở hình thành địa tô chênh lệch I.
Theo N. Borlang - Người được giải Nobel về giải quyết lương thực cho các
nước phát triển cho rằng yếu tố duy nhất quan trọng hạn chế năng suất cây
trồng ở tầm cỡ thế giới trong các nước đang phát triển, đặc biệt đối với nông
dân thiếu vốn là độ phì đất [18].
* Nhóm các yếu tố kinh tế, kỹ thuật canh tác
Biện pháp kỹ thuật canh tác là các tác động của con người vào đất đai,

cây trồng, vật nuôi nhằm tạo nên sự hài hoà giữa các yếu tố của quá trình sản
xuất để hình thành, phân bố và tích luỹ năng suất kinh tế. Đây là những tác
động thể hiện sự hiểu biết sâu sắc về đối tượng sản xuất, về thời tiết, về điều
kiện môi trường và thể hiện sự dự báo thông minh và sắc sảo [3]. Lựa chọn
các tác động kỹ thuật, lựa chọn chủng loại và cách sử dụng các yếu tố đầu vào
phù hợp với các quy luật tự nhiên của sinh vật nhằm đạt được các mục tiêu đề
ra. Ở các nước phát triển, khi có tác động tích cực của kỹ thuật, giống mới,
thuỷ lợi, phân bón tới hiệu quả thì cũng đặt ra các yêu cầu mới đối với việc sử
dụng đất. Có nghĩa là ứng dụng công nghệ sản xuất tiến bộ là một đảm bảo
17


vật chất cho kinh tế nông nghiệp tăng trưởng nhanh. Cho đến giữa thế kỷ
XXI, trong nông nghiệp nước ta, quy trình kỹ thuật có thể góp phần đến 30%
của năng suất kinh tế [3]. Như vậy, nhóm các yếu tố kỹ thuật đặc biệt có ý
nghĩa quan trọng trong quá trình khai thác đất theo chiều sâu và nâng cao hiệu
quả sử dụng đất nông nghiệp.
* Nhóm các yếu tố kinh tế tổ chức bao gồm:
- Công tác quy hoạch và bố trí sản xuất: Thực hiện phân vùng sinh thái
nông nghiệp dựa vào điều kiện tự nhiên, dựa trên cơ sở phân tích, dự báo và
đánh giá nhu cầu của thị trường, gắn với quy hoạch phát triển công nghiệp
chế biến, kết cấu hạ tầng, phát triển nguồn nhân lực và các thể chế pháp luật
về bảo vệ tài nguyên, môi trường [18],[19]. Đó là cơ sở để phát triển hệ thống
cây trồng, vật nuôi và khai thác đất một cách đầy đủ, hợp lý. Đồng thời tạo
điều kiện thuận lợi để đầu tư thâm canh và tiến hành tập trung hoá, chuyên
môn hoá, hiện đại hoá nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp và
phát triển sản xuất hàng hoá.
- Hình thức tổ chức sản xuất: Các hình thức tổ chức sản xuất có ảnh
hưởng trực tiếp đến việc tổ chức khai thác và nâng cao hiệu quả sử dụng đất
nông nghiệp. Vì thế, phát huy thế mạnh của các loại hình tổ chức sử dụng đất

trong từng cơ sở sản xuất là rất cần thiết. Muốn vậy cần phải thực hiện đa dạng
hoá các hình thức hợp tác trong nông nghiệp, xác lập một hệ thống tổ chức sản
xuất phù hợp và giải quyết tốt mối quan hệ giữa các hình thức đó [9].
* Nhóm các yếu tố xã hội
Nhóm các yếu tố này bao gồm:
- Hệ thống thị trường và sự hình thành của thị trường đất nông nghiệp,
thị trường nông sản phẩm. Theo Nguyễn Duy Tính (1995) [19] thì ba yếu tố
chủ yếu ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp là: năng suất cây
trồng, hệ số quay vòng đất, thị trường cung cấp đầu vào và tiêu thụ sản phẩm
đầu ra.
18


- Hệ thống chính sách (chính sách đất đai, chính sách điều chỉnh cơ cấu
đầu tư, chính sách hỗ trợ...)
- Sự ổn định chính trị - xã hội và các chính sách khuyến khích đầu tư
phát triển nông nghiệp của Nhà nước.
- Những kinh nghiệm, tập quán sản xuất nông nghiệp, trình độ năng lực
của các chủ thể kinh doanh, trình độ đầu tư.
Theo Douglas C.North, sự thay đổi công nghệ và sự thay đổi hợp lý các
thể chế là những yếu tố then chốt cho sự tiến triển của kinh tế xã hội [19].
2.2.4. Quan điểm sử dụng đất bền vững
2.2.4.1 Quan điểm sử dụng đất bền vững
Từ khi biết sử dụng đất đai vào mục đích sinh tồn, đất đai đã trở thành
cơ sở cần thiết cho sự sống và cho tương lai phát triển của loài người.
Trước đây, khi dân số còn ít để đáp ứng yêu cầu của con người việc
khai thác từ đất khá dễ dàng và chưa có những ảnh hưởng lớn đến tài nguyên
đất. Nhưng ngày nay, mật độ dân số ngày càng tăng, đặc biệt là ở các nước đang
phát triển thì vấn đề đảm bảo lương thực cho sự gia tăng dân số đã trở thành sức
ép ngày càng mạnh mẽ lên đất đai. Diện tích đất thích hợp cho sản xuất nông

nghiệp ngày càng cạn kiệt, con người phải mở rộng thêm diện tích canh tác trên
các vùng đất không thích hợp cho sản xuất, hậu quả đã gây ra quá trình thoái hóa
đất một cách nghiêm trọng [27].
Tác động của con người tới đất đã làm cho độ phì nhiêu của đất ngày
càng suy giảm và dẫn đến thoái hóa đất, lúc đó rất khó có khả năng phục hồi
độ phì nhiêu của đất hoặc phải chi phí rất tốn kém mới có khả năng phục hồi
được. Đất với 5 chức năng chính là ''Duy trì vòng tuần hoàn sinh học và địa
hóa học, phân phối nước, tích trữ và phân phối vật chất, mang tính đệm và
phân phối năng lượng" [24], là những trợ giúp cần thiết cho các hệ sinh thái.
Mục đích của sản xuất là tạo ra lợi nhuận luôn chi phối các tác động của con
người lên đất đai và môi trường tự nhiên, những giải pháp sử dụng và quản lý
19


đất không thích hợp chính là nguyên nhân dẫn đến sự mất cân bằng lớn trong
đất, sẽ làm cho đất bị thoái hóa.
Sử dụng đất một cách có hiệu quả và bền vững luôn là mong muốn cho
sự tồn tại và tương lai phát triển của loài người, bởi vậy việc tìm kiếm các giải
pháp sử dụng đất thích hợp, bền vững đã được nhiều nhà khoa học đất và các
tổ chức quốc tế quan tâm. Thuật ngữ “Sử dụng đất bền vững” (Suitainable
land use) đã trở thành thông dụng trên thế giới hiện nay.
Nội dung sử dụng đất bền vững bao hàm ở một vùng trên bề mặt trái
đất với tất cả các đặc trưng: Khí hậu, địa hình, thổ nhưỡng, chế độ thủy văn,
động vật - thực vật và cả những hoạt động cải thiện việc sử dụng và quản lý
đất đai như: hệ thống tưới tiêu, xây dựng đồng ruộng... Do đó thông qua hoạt
động thực tiễn sử dụng đất chúng ta phải xác định được những vấn đề liên
quan đến các yếu tố tác động đến khả năng bền vững đất đai trên phạm vi cụ
thể của từng vùng để tránh những sai lầm trong sử dụng đất, đồng thời hạn
chế được những tác hại đối với môi trường sinh thái [6].
Theo Fetry [25], sự phát triển bền vững trong lĩnh vực nông nghiệp

chính là sự bảo tồn đất, nước, các nguồn động và thực vật, không bị suy thoái
môi trường, kỹ thuật thích hợp, sinh lợi kinh tế và chấp nhận được về mặt xã
hội. FAO đã đưa ra các chỉ tiêu cụ thể cho nông nghiệp bền vững là.
- Thỏa mãn nhu cầu dinh dưỡng cơ bản của các thế hệ hiện tại và tương
lai về số lượng, chất lượng và các sản phẩm nông nghiệp khác.
- Cung cấp lâu dài việc làm, đủ thu thập và các điều kiện sống, làm việc
tốt cho mọi người trực tiếp làm nông nghiệp.
- Duy trì và có thể tăng cường khả năng sản xuất của các cơ sở tài
nguyên thiên nhiên, khả năng tái sản xuất của các nguồn tài nguyên tái tạo
được mà không phá vỡ chức năng của các chu trình sinh thái cơ sở, cân bằng
tự nhiên không phá vỡ bản sắc văn hóa - xã hội của các cộng đồng sống ở
nông thôn hoặc không gây ô nhiễm môi trường.
20


- Giảm thiểu khả năng bị tổn thương trong nông nghiệp, củng cố lòng
tin trong nông dân [14].
2.2.4.2. Tiêu chí đánh giá tính bền vững
Vào năm 1991, ở Nairobi đã tổ chức Hội thảo về “Khung đánh giá quản
lý đất bền vững” đã đưa ra định nghĩa: “Quản lý bền vững đất đai bao gồm tổ
hợp các công nghệ, chính sách và hoạt động nhằm liên hợp các nguyên lý
kinh tế xã hội với các quan tâm môi trường để đồng thời:
- Duy trì, nâng cao sản lượng (hiệu quả sản xuất).
- Giảm rủi ro sản xuất (an toàn).
- Bảo vệ tiềm năng nguồn lực tự nhiên và ngăn ngừa thoái hoá đất và
nước (bảo vệ).
- Có hiệu quả lâu dài (lâu bền).
- Được xã hội chấp nhận (tính chấp nhận) [8].
Năm nguyên tắc trên được coi là trụ cột của sử dụng đất đai bền vững
và là những mục tiêu cần phải đạt được, nếu thực tế diễn ra đồng bộ, so với

các mục tiêu cần phải đạt được. Nếu chỉ đạt một hay một vài mục tiêu mà
không phải tất cả thì khả năng bền vững chỉ mang tính bộ phận.
Để đánh giá tính bền vững trong sử dụng đất cần dựa vào 3 tiêu chí sau đây:
* Bền vững về kinh tế
Ở là đây cây trồng cho hiệu quả kinh tế cao, được thị trường chấp nhận.
Hệ thống sử dụng đất phải có mức năng suất sinh học cao trên mức
bình quân vùng có cùng điều kiện đất đai. Năng suất sinh học bao gồm các
sản phẩm chính và phụ (đối với cây trồng là gỗ, hạt, củ, quả... và tàn dư để
lại). Một hệ bền vững phải có năng suất trên mức bình quân vùng, nếu không
sẽ không cạnh tranh được trong cơ chế thị trường.
Về chất lượng: sản phẩm phải đạt tiêu chuẩn tiêu thụ tại địa phương,
trong nước và xuất khẩu, tùy mục tiêu của từng vùng.

21


×