Tải bản đầy đủ (.pdf) (96 trang)

Thiết kế trò chơi trong dạy học phương trình và hệ phương trình

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (6.96 MB, 96 trang )

e

TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA TOÁN
======

ĐINH THỊ DIỆU LINH

THIẾT KẾ TRÕ CHƠI TRONG DẠY HỌC
PHƢƠNG TRÌNH VÀ HỆ PHƢƠNG TRÌNH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phƣơng pháp dạy học môn Toán

HÀ NỘI, 2019


TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA TOÁN
======

ĐINH THỊ DIỆU LINH

THIẾT KẾ TRÕ CHƠI TRONG DẠY HỌC
PHƢƠNG TRÌNH VÀ HỆ PHƢƠNG TRÌNH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phƣơng pháp dạy học môn Toán

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học

TS. Đào Thị Hoa


HÀ NỘI, 2019


LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện khóa luận này, ngoài sự cố gắng nỗ lực của bản
thân em nhận đƣợc sự động viên, giúp đỡ của gia đình, thầy cô và bạn bè.
Trƣớc tiên em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất đến Tiến sĩ
Đào Thị Hoa - Trƣờng Đại học Sƣ phạm Hà Nội 2 cô giáo đã tận tình hƣớng dẫn và
chỉ bảo cho em, giúp em rất nhiều để hoàn thành đề tài khóa luận này.
Em xin gửi lời cảm ơn đến Ban giám hiệu, Quý thầy cô khoa Toán đã tạo
điều kiện tốt nhất cho em trong thời gian em thực hiện đề tài.
Em xin cảm ơn thầy giáo Nguyễn Tử Phúc – Trƣờng Trung học phổ thông
Hoa Lƣ A đã hƣớng dẫn em thực nghiệm đề tài của mình.
Cuối cùng, em xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè đã luôn ủng hộ và
đồng hành cùng em trong suốt quá trình học tập và làm khóa luận.
Do điều kiện chủ quan và khách quan, Khóa luận không tránh khỏi nhiều sai
sót. Em mong nhận đƣợc các ý kiến đóng góp để hoàn thiện, nâng cao hơn chất
lƣợng đề tài nghiên cứu.

Hà Nội, ngày 07 tháng 5 năm 2019
Tác giả

Đinh Thị Diệu Linh


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các tài liệu và
kết quả nghiên cứu nêu trong khóa luận là trung thực, chƣa đƣợc công bố trong bất
kỳ công tình nghiên cứu nào khác. Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm trƣớc nhà trƣờng
vì sự cam đoan này.


Hà Nội, ngày 07 tháng 5 năm 2019
Tác giả

Đinh Thị Diệu Linh


MỤC LỤC

MỞ ĐẦU .....................................................................................................................1
NỘI DUNG .................................................................................................................4
Chƣơng 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN .........................................................4
1.1. Một số vấn đề về hoạt động trải nghiệm trong dạy học ...................................4
1.2. Trò chơi học tập ................................................................................................6
1.3. Quy trình thiết kế và tổ chức trò chơi học tập ................................................13
1.4. Thực trạng sử dụng trò chơi trong dạy học Toán ...........................................17
Kết luận chƣơng 1 .....................................................................................................21
NỘI DUNG ...............................................................................................................22
Chƣơng 2. THIẾT KẾ TRÒ CHƠI TRONG DẠY HỌC PHƢƠNG TRÌNH VÀ HỆ
PHƢƠNG TRÌNH ..............................................................................................22
2.1. Mục tiêu và nội dung chủ đề phƣơng trình và hệ phƣơng trình .....................22
2.2. Mục tiêu thiết kế trò chơi trong dạy học phƣơng trình và hệ phƣơng trình ...26
2.3. Thiết kế trò chơi ..............................................................................................27
2.4. Một số lƣu ý khi sử dụng trò chơi ..................................................................71
Kết luận chƣơng 2 .....................................................................................................72
Chƣơng 3: THỰC NGHIỆM SƢ PHẠM ..................................................................73
3.1. Mục tiêu thực nghiệm .....................................................................................73
3.2. Nội dung thực nghiệm ....................................................................................73
3.3. Phƣơng pháp thực nghiệm ..............................................................................73
3.4. Đánh giá kết quả thực nghiệm ........................................................................74

Kết luận chƣơng 3 .....................................................................................................76
KẾT LUẬN CHUNG ................................................................................................77
TÀI LIỆU THAM KHẢO .........................................................................................78


MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Nƣớc ta đang trong quá trình hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng; sự phát
triển nhanh chóng của khoa học và công nghệ, khoa học giáo dục và sự cạnh tranh
quyết liệt trên nhiều lĩnh vực giữa các quốc gia đòi hỏi giáo dục phải đổi mới. Thực
chất cạnh tranh giữa các quốc gia hiện nay là cạnh tranh về nguồn nhân lực và về
khoa học và công nghệ. Xu thế chung của thế giới khi bƣớc vào thế kỉ XXI là tiến
hành đổi mới mạnh m hay cải cách giáo dục.
Trƣớc thực tế trên, Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 8 khóa XI đã
xác định “Đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục theo hướng chuẩn hoá, hiện đại
hoá, xã hội hoá, dân chủ hoá và hội nhập quốc tế” và “ hát tri n nh nh ngu n
nhân c, nh t à ngu n nhân c ch t ư ng c o, tập trung vào việc đổi mới căn
bản và toàn diện nền giáo dục quốc dân”. [7]
Hoạt động trải nghiệm trong đó có phƣơng pháp trò chơi là một hình thức tổ
chức dạy học hữu ích trong việc đổi mới phƣơng pháp dạy học, từng cá nhân học
sinh đƣợc tham gia trực tiếp vào các hoạt động thực tiễn khác nhau của đời sống gia
đình, nhà trƣờng cũng nhƣ ngoài xã hội với tƣ cách là chủ thể của hoạt động, qua đó
phát triển năng lực thực tiễn, phẩm chất nhân cách và phát huy tiềm năng sáng tạo
của cá nhân mình.
Toán học là một ngành, một môn khoa học đòi hỏi suy luận và trí thông minh
cao, chứa tất cả những gì thách thức đến bộ não của chúng ta. Trong nhà trƣờng phổ
thông, môn Toán đƣợc xem là môn chủ đạo để đánh giá năng lực học tập của học
sinh. Điều đó dễ gây áp lực cho học sinh trong việc học Toán. Nếu ngƣời giáo viên
tổ chức tốt các hoạt động dạy học và lựa chọn phƣơng pháp dạy hoc thích hợp để
phát huy tối đa năng lực học tập của học sinh, phát huy đƣợc tính tích cực của các

em khi học về chủ đề này s giúp cho học sinh nắm vững kiến thức hơn, chủ động
hơn trong học tập, kích thích lòng say mê hứng thú học tập, kịp thời giải quyết tốt
các tình huống thực tế. Vì vậy, việc sử dụng trò chơi là một biện pháp dạy học phù
hợp với xu hƣớng đổi mới dạy học hiện đại. Bản chất của phƣơng pháp sử dụng trò
chơi học tập là thông qua việc tổ chức hoạt động cho học sinh. Dƣới sự hƣớng dẫn
của giáo viên, học sinh hoạt động bằng cách tự chơi trò chơi trong đó mục đích của
trò chơi chuyển tải mục tiêu của bài học. Đa số học sinh đã bộc lộ rõ khả năng của
mình thông qua việc học này.

1


Trong chƣơng trình Toán lớp 10, những kiến thức của chƣơng “Phƣơng trình
và hệ phƣơng trình” chiếm vị trí hết sức quan trọng cả về khối lƣợng kiến thức và
phạm vi ứng dụng của nó, đòi hỏi học sinh phải tƣ duy sáng tạo, nhạy bén và phải
có kĩ năng giải bài tập linh hoạt, vì vậy cần có phƣơng pháp dạy học phù hợp để đạt
hiệu quả tốt nhất .Việc sử dụng trò chơi tạo điều kiện để gây hứng thú học tập cho
các em, làm các em chủ động trong các hoạt động trên lớp, trò chơi làm cho các tiết
học trở nên sinh động hơn, học sinh sôi nổi, hào hứng,... Không ai có thể phủ nhận
đƣợc những mặt tích cực mà việc tổ chức trò chơi học tập đã mang lại sau mỗi tiết
dạy. Song, tổ chức trò chơi vào lúc nào trong mỗi tiết dạy, thiết kế trò chơi phải
đảm bảo những yêu cầu gì và cách tổ chức trò chơi đó ra sao để đạt hiệu quả,… là
một dấu hỏi lớn với những ngƣời làm công tác giáo dục.
Nhìn nhận đƣợc tầm quan trọng trong đổi mới phƣơng pháp dạy học với
những lí do trên tôi mạnh dạn chọn đề tài “Thiết kế trò chơi trong dạy học phương
trình và hệ phương trình” là đề tài khóa luận tốt nghiệp đại học của mình.
2. Mục đích nghiên cứu
Thiết kế các trò chơi trong dạy học “Phƣơng trình và hệ phƣơng trình” nhằm
nâng cao hiệu quả dạy học chủ đề này nói riêng và dạy học môn Toán ở trƣờng phổ
thông nói chung

3. Đối tƣợng nghiên cứu
Các trò chơi dạy học phƣơng trình và hệ phƣơng trình.
4. Phạm vi nghiên cứu
Nội dung kiến thức chƣơng 3 “Phƣơng trình và hệ phƣơng trình” (Đại số 10
Nâng cao).
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1. Nghiên cứu cơ sở lí luận và thực tiễn của việc thiết kế trò chơi trong dạy học
phƣơng trình và hệ phƣơng trình.
5.2. Tìm hiểu thực trạng việc thiết kế và sử dụng trò chơi trong dạy học phƣơng
trình và hệ phƣơng trình.
5.3. Thiết kế các trò chơi trong dạy học nội dung phƣơng trình và hệ phƣơng trình
và nghiên cứu định hƣớng sử dụng hệ thống trò chơi học tập đã thiết kế.

2


5.4. Thực nghiệm sƣ phạm nhằm đánh giá tính khả quan và hiệu quả của đề tài
nghiên cứu.
6. Phƣơng pháp nghiên cứu
6.1. Phƣơng pháp nghiên cứu lí luận
6.2. Phƣơng pháp điều tra, quan sát
6.3. Phƣơng pháp thống kê toán học
6.4. Phƣơng pháp thực nghiệm sƣ phạm.
7. Cấu trúc khóa luận
Ngoài các phần mở đầu, lời cam đoan, lời cảm ơn, mục lục, tài liệu tham khảo, kết
luận thì khóa luận gồm 3 chƣơng.
Chƣơng 1. Cơ sở lí luận và thực tiễn.
Chƣơng 2. Thiết kế trò chơi trong dạy học phƣơng trình và hệ phƣơng trình.
Chƣơng 3. Thực nghiệm sƣ phạm


3


NỘI DUNG
Chƣơng 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1. Một số vấn đề về hoạt động trải nghiệm trong dạy học
1.1.1. Khái niệm về hoạt động trải nghiệm
Theo chƣơng trình giáo dục phổ thông tổng thể 12/2018, hoạt động trải
nghiệm là hoạt động giáo dục trong đó từng học sinh đƣợc trực tiếp hoạt động thực
tiễn trong nhà trƣờng hoặc trong xã hội dƣới sự hƣớng dẫn và tổ chức của nhà giáo
dục, qua đó phát triển tình cảm, đạo đức, các kỹ năng và tích lũy kinh nghiệm riêng
của cá nhân. [4]
Theo PGS.TS. Đinh Thị Kim Thoa, hoạt động trải nghiệm là hoạt động giáo
dục thông qua sự trải nghiệm và sáng tạo của cá nhân trong việc kết nối kinh
nghiệm học đƣợc trong nhà trƣờng với thực tiễn đời sống mà nhờ đó các kinh
nghiệm đƣợc tích lũy thêm và dần chuyển hóa thành năng lực.[3]
Theo ThS. Lê Huy Hoàng, hoạt động trải nghiệm là hoạt động xã hội, thực
tiễn giúp học sinh tự chủ trải nghiệm trong tập thể, qua đó hình thành và thể hiện
phẩm chất năng lực; nhận ra năng khiếu, sở thích, đam mê, bộc lộ và điều chỉnh cá
tính, giá trị, nhận ra chính mình cũng nhƣ khuynh hƣớng phát triển bản thân; bổ trợ
và cùng với các hoạt động dạy học trong chƣơng trình giáo dục thực hiện tốt nhất
mục tiêu giáo dục. Hoạt động này nhấn mạnh sự trải nghiệm, thúc đẩy năng lực
sáng tạo của ngƣời học và đƣợc tổ chức một cách linh hoạt, sáng tạo.[9]
Nhƣ vậy, hoạt động trải nghiệm đƣợc coi là một không gian giáo dục trong
nhà trƣờng phổ thông, trong đó có sự tích hợp nội dung học tập trong nhà trƣờng từ
các môn học gắn với kinh nghiệm của bản thân học sinh trong cuộc sống và năng
lực sở trƣờng của học sinh trong từng lĩnh vực để thích nghi với cuộc sống thực
đang diễn ra bên trong và bên ngoài nhà trƣờng. Đó cũng là không gian để tổ chức
các hoạt động giáo dục định hƣớng nghề nghiệp, các hoạt động giáo dục phát triển
năng lực chuyên biệt, khác với các nhóm học sinh, gắn hoạt động của nhà trƣờng

với cuộc sống, tạo sự liên kết đa dạng giữa các môn học những tình huống thực tiễn,
xây dựng các giá trị cuộc sống cho công dân theo định hƣớng các kỹ năng mềm mà
trong các môn học không thể chuyển tải đƣợc, tổ chức các hoạt động giáo dục định
hƣớng công dân… Đặc biệt không gian của hoạt động trải nghiệm sáng tạo cũng
đƣợc tối ƣu hóa qua việc dạy học bộ môn khi tổ chức các hoạt động khám phá khoa

4


học, phát huy năng lực sáng tạo cần không gian và thời gian lớn vƣợt ngoài khuôn
khổ cho phép của từng môn học riêng lẻ.
1.1.2. Vị trí, vai trò của hoạt động trải nghiệm trong chương trình giáo dục
phổ thông
* Vị trí
Hoạt động trải nghiệm đƣợc xếp vào nội dung bắt buộc dành cho tất cả học
sinh từ lớp 1 đến lớp 12, là hoạt động giúp học sinh vận dụng những tri thức, kiến
thức, kĩ năng, thái độ đã học từ nhà trƣờng và những kinh nghiệm của bản thân vào
thực tiễn cuộc sống một cách sáng tạo.
Hoạt động trải nghiệm đƣợc chia làm hai giai đoạn với hai nhóm mục tiêu nhƣ
sau:
- Ở giai đoạn giáo dục cơ bản, chƣơng trình hoạt động trải nghiệm tập trung
vào việc hình thành các phẩm chất nhân cách, những thói quen, kỹ năng sống...
Thông qua hoạt động trải nghiệm học sinh đƣợc bƣớc vào cuộc sống xã hội, đƣợc
tham gia các đề án, dự án, các hoạt động thiện nguyện, hoạt động lao động... cũng
nhƣ tham gia các loại hình câu lạc bộ khác nhau... Bằng hoạt động trải nghiệm của
bản thân, mỗi học sinh vừa là ngƣời tham gia, vừa là ngƣời kiến thiết và tổ chức các
hoạt động cho chính mình nên học sinh không những biết cách tích cực hóa bản
thân, khám phá bản thân, điều chỉnh bản thân mà còn biết cách tổ chức hoạt động,
tổ chức cuộc sống và biết làm việc có kế hoạch, có trách nhiệm. Đặc biệt, ở giai
đoạn này, mỗi học sinh cũng bắt đầu xác định đƣợc năng lực, sở trƣờng, và chuẩn bị

một số năng lực cơ bản cho ngƣời lao động tƣơng lai và ngƣời công dân có trách
nhiệm.
- Ở giai đoạn giáo dục định hƣớng nghề nghiệp, chƣơng trình hoạt động trải
nghiệm đƣợc tổ chức gắn với nghề nghiệp tƣơng lai chặt ch hơn, hình thức câu lạc
bộ nghề nghiệp phát triển mạnh hơn. Học sinh s đƣợc đánh giá về năng lực, hứng
thú... và đƣợc tƣ vấn để lựa chọn và định hƣớng nghề nghiệp. Ở giai đoạn này,
chƣơng trình có tính phân hóa và tự chọn cao. Học sinh đƣợc trải nghiệm với các
ngành nghề khác nhau dƣới các hình thức khác nhau.
* V i trò
- Là bộ phận quan trọng của chƣơng trình giáo dục
- Con đƣờng quan trọng để gắn học với hành, lý thuyết với thực tiễn

5


- Hình thành, phát triển nhân cách hài hòa và toàn diện cho học sinh
- Điều chỉnh và định hƣớng cho hoạt động dạy-học.
1.1.3. Hình thức tổ chức hoạt động trải nghiệm
Hoạt động trải nghiệm đƣợc tổ chức dƣới nhiều hình thức khác nhau nhƣ:
- Tổ chức các câu lạc bộ

- Giao lƣu

- Tổ chức các trò chơi

- Hoạt động chiến dịch

- Tổ chức thảo luận

- Sân khấu tƣơng tác


- Tổ chức tham quan dã ngoại

- Sinh hoạt tập thể

- Tổ chức các cuộc thi

- Lao động công ích

- Tổ chức sự kiện

- Diễn đàn

- Hoạt động nghiên cứu khoa học

- Hoạt động nhân đạo

Mỗi hình thức tổ chức trên đều có những ƣu, nhƣợc điểm nhất định nhƣng
tựu chung lại đều hƣớng tới mục đích giáo dục không chỉ về kiến thức mà còn cả về
kĩ năng nhằm phát triển năng lực ở ngƣời học. Rèn luyện tính tự tin, tính sáng tạo
và tƣ duy cho học sinh.
1.2. Trò chơi học tập
1.2.1. Khái niệm trò chơi học tập
a. Trò chơi
Trò chơi là một trong những hình thức của hoạt động trải nghiệm.
Có rất nhiều khái niệm về trò chơi nhƣ sau:
Trong từ điển tiếng Việt xuất bản năm 1992, chữ “trò” đƣợc hiểu là một hình
thức mua vui bày ra trƣớc mặt mọi ngƣời, chữ “chơi” là một từ chung để chỉ các
hoạt động lúc nhàn rỗi, ngoài giờ làm việc nhằm mục đích giải trí là chính. Từ đó,
trò chơi đƣợc hiểu là những hoạt động làm thỏa mãn những nhu cầu của con ngƣời,

trƣớc hết là vui chơi, giải trí.[6]
Trong lịch sử phát triển của xã hội loài ngƣời và lịch sử phát triển trò chơi,
các nhà Tâm lí học Xô Viết trƣớc đây cho rằng: “Trò chơi có nguồn gốc từ lao động
và mang bản chất xã hội. Trò chơi đƣợc truyền thụ từ thế hệ này sang thế hệ khác
chủ yếu bằng con đƣờng giáo dục”.[13]

6


Theo N.K.Crupxkalia trong cuốn “Trò chơi của trẻ mẫu giáo, tập 6 – Tuyển
tập sƣ phạm toàn tập” đã chỉ ra: “Trò chơi là phƣơng thức nhận biết thế giới , là con
đƣờng dẫn dắt trẻ đi tìm chân lí”. Trong cuốn “Tâm lí học trẻ em lứa tuổi mầm
non”, theo Đ.V.Enconhin thì “Trò chơi gắn liền với sự phát triển loài ngƣời sự thay
đổi vị trí của đứa trẻ trong sự phát triển của loài ngƣời”.
Theo tác giả Đặng Thanh Hƣng “Trò chơi là thuật ngữ có hai nghĩa khác nhau
tƣơng đối xa: một là một kiểu loại phổ biến của Chơi. Nó chính là chơi có luật ( tập
hợp quy tắc định rõ mục đích, kết quả và yêu cầu hành động) và có tính cạnh tranh
hoặc tính thách thức đối với ngƣời tham gia; hai là những công việc đƣợc tổ chức
và tiến hành dƣới hình thức chơi, nhƣ chơi, bằng chơi, chẳng hạn: học bằng chơi,
giao tiếp bằng chơi,…” [11]
Theo những quan điểm giáo dục, trò chơi vừa là phƣơng tiện phát triển toàn
diện nhân cách vừa là hình thái tổ chức cuộc sống. Đối với trẻ em, trò chơi là hoạt
động giúp trẻ tái tạo các hành động của ngƣời lớn và các quan hệ giữa họ, định
hƣớng nhận thức đồ vật và nhận thức xã hội. Trong trò chơi, nhu cầu và các phẩm
chất của trẻ về thể lực, trí tuệ, đạo đức và ý chí đƣợc hình thành, thỏa mãn, thể hiện
và phát triển. Trẻ em do đƣợc chơi nên phát triển. Do vậy, chơi là hoạt động chủ
đạo trong giáo dục trẻ em.
Qua phân tích các quan niệm, ý kiến về trò chơi, qua xem xét về nội dung và
mục đích của trò chơi hiện nay, có thể hiểu: Trò chơi là một loại hoạt động tạo cho
con ngƣời tham gia đƣợc vui chơi, giải trí, rèn luyện trí tuệ và sức lực, nó mang một

chủ đề, nội dung nhất định, có tổ chức của nhiều ngƣời tham gia và có những quy
định, luật lệ buộc ngƣời chơi phải tuân theo. Đồng thời trò chơi còn là hoạt động rèn
luyện cho ngƣời chơi cả về phẩm chất và lòng kiên trì, sự tự tin, tinh thần đoàn kết,
một số kĩ năng quan trọng nhƣ phát hiện và giải quyết vấn đề, kĩ năng giao tiếp,
thuyết trình trƣớc đám đông,…
b. Trò chơi học tập
Theo nhà sƣ phạm nổi tiếng N.K.Crupxkaia thì “Trò chơi học tập không
những là phƣơng thức nhận biết thế giới, là con đƣờng dẫn dắt trẻ đi tìm chân lí mà
còn giúp trẻ xích lại gần nhau, giáo dục cho trẻ tình yêu quê hƣơng, lòng tự hào dân
tộc. Trẻ em không chỉ học trong lúc học mà còn học trong lúc chơi. Chơi với trẻ
vừa là học, vừa là lao động, vừa là hình thức giáo dục nghiêm túc”. [10]

7


Theo Đặng Thành Hƣng “Trò chơi giáo dục đƣợc lựa chọn và sử dụng trực
tiếp để dạy học, tuân theo mục đích, nội dung, các nguyên tắc và phƣơng pháp dạy
học, có chức năng tổ chức, hƣớng dẫn và động viên trẻ hay học sinh tìm kiếm và
lĩnh hội tri thức, học tập và rèn luyện kĩ năng, tích lũy và phát triển các phƣơng thức
hoạt động và hành vi ứng xử xã hội, văn hóa, đạo đức, thẩm mĩ, pháp luật, khoa
học, ngôn ngữ, cải thiện và phát triển thể chất, tức là tổ chức và hƣớng dẫn quá trình
học tập của học sinh khi họ tham gia trò chơi đƣợc gọi là trò chơi học tập”. [11]
Tác giả Trần Thị Ngọc Trâm cho rằng “Trò chơi học tập là một trong những
phƣơng tiện có hiệu quả để phát triển các năng lực trí tuệ, trong đó có khả năng khái
quát hóa là một năng lực đặc thù của khả năng con ngƣời”. [14]
Có thể thấy, bản chất của phƣơng pháp sử dụng trò chơi học tập là dạy học
thông qua việc tổ chức hoạt động cho học sinh. Dƣới sự hƣớng dẫn của giáo viên,
học sinh đƣợc hoạt động bằng cách tự chơi trò chơi trong đó mục đích của trò
chuyển tải mục tiêu của bài học. Luật chơi (cách chơi) thể hiện nội dung và phƣơng
pháp học, đặc biệt là phƣơng pháp học tập có sự hợp tác và sự đánh giá.

Việc vận dụng trò chơi trong quá trình học tập s nhằm giúp các em tiếp cận
nhanh chóng với kiến thức một cách không gò bó, miễn cƣỡng, bên cạnh đó còn rèn
luyện những kĩ năng hoạt động nhóm, tƣơng tác với ngƣời đối diện, hay phát huy
tối đa sức sáng tạo của mình.
1.2.2. Vai trò của trò chơi trong dạy học Toán
Trong chƣơng trình giáo dục phổ thông hiện nay, môn Toán cùng với các
môn học khác trong nhà trƣờng phổ thông có những vai trò góp phần quan trọng
đào tạo nên những con ngƣời phát triển toàn diện. Toán học là môn khoa học tự
nhiên có tính logic và tính chính xác cao, nó là chìa khóa mở ra sự phát triển cho
các môn học khác. Vì vậy đổi mới trong phƣơng pháp dạy học là một việc cần thiết
và tổ chức trò chơi là một phƣơng pháp điển hình.
a. Trò chơi học tập kích thích hứng thú nhận thức
Trò chơi học tập bên cạnh chức năng giải trí còn giúp học sinh tự củng cố
kiến thức, kĩ thuật, thói quen học tập một cách hứng thú, thói quen làm việc theo
nhiều quy mô (cá nhân, nhóm, lớp). Các tiết học có trò chơi s thu hút mức độ tập
trung của học sinh mà không một phƣơng pháp nào sánh đƣợc. Những kiến thức
khô khan và cứng nhắc s sinh động, hấp dẫn nếu đƣợc tổ chức dƣới hình thức trò
chơi và nhờ đó kết quả học tập của học sinh s tăng lên. Nhƣ vậy, việc sử dụng trò
8


chơi học tập trong dạy học nói chung và trong dạy học môn Toán nói riêng là một
trong những biện pháp tăng cƣờng tích cực hoá hoạt đọng học tập của học sinh.
Hơn thế nữa, mối quan tâm và hoạt động của học sinh thể hiện qua các tiết học có
trò chơi làm tăng thêm cảm tình của các em đối với môn học và thầy cô giáo.
Việc tìm đƣợc phƣơng án giải khác nhau cho một “bài toán” trò chơi giúp các
em hiểu sâu sắc hơn về những tri thức đã học, có thói quen tìm tòi phƣơng án giải
quyết tốt nhất, hay nhất và đơn giản nhất. Và khi đó, các em thể hiện niềm vui,
hứng thú với những thành tích mà mình đạt đƣợc, thể hiện niềm vui do trò chơi
mang lại và cảm thấy vui sƣớng khi đƣợc tham gia vào trò chơi. Từ đó hình thành ở

các em tính tích cực, ý thức tự giác trong học tập, bởi vì “trong giờ ên ớp nào mà
tư duy tích c c đư c kích thích thì cũng sẽ xu t hiện thái độ tích c c đối với học
tập, sẽ hình thành hứng thú nhận thức”. Mặt khác, trong trò chơi, muốn hoàn thành
nhiệm vụ đặt ra và chơi đúng quy tắc thì các em phải chú ý, tích cực lắng nghe sự
hƣớng dẫn của giáo viên. Từ đó, học sinh “dần dần học tập, hành động theo đúng
quy tắc, bắt tính tích c c củ mình phục vụ những nhiệm vụ nào đó, kiên trì ph n
đ u đạt tới những kết quả và những thành t u nh t định” (A, V. Daparogiet - Tâm
lí học). Trò chơi là chiếc cầu nối môn Toán với thực tiễn, bởi vì thông qua trò chơi
các em thấy ứng dụng quan trọng của môn Toán trong thực tiễn. Và nhƣ vậy là đã
phát huy đƣợc tính tích cực nhận thức của các em.
b. Trò chơi học tập là một trong những phương tiện hình thành các năng lực
trí tuệ
Hoạt động vui chơi ảnh hƣởng mạnh tới sự hình thành tính chủ định của quá
trình tâm lí. Trong trò chơi, ở trẻ bắt đầu hình thành sự chú ý có chủ định và ghi nhớ
có chủ định. Khi chơi trẻ tập trung chú ý hơn và ghi nhớ đƣợc nhiều hơn. Bởi vì bản
thân trò chơi đòi hỏi trẻ phải tập trung vào những dữ kiện và đối tƣợng đƣợc đƣa
vào tình huống của trò chơi cũng nhƣ nội dung của trò chơi. Nếu đứa trẻ không chú
ý và nhớ những điều kiện của trò chơi, thì s hành động một cách tự phát và không
đạt đƣợc kết quả chơi. Bởi vậy, để trò chơi đƣợc thành công buộc các em phải tập
trung chú ý và ghi nhớ một cách chủ động.
Trò chơi học tập đẩy mạnh sự phát triển năng lực trí tuệ và phục vụ cho mục
đích ấy. Trong khi tham gia trò chơi, để giành phần thắng, các em phải linh hoạt, tự
chủ, phải độc lập suy nghĩ, phải sáng tạo và có lúc phải tỏ ra quyết đoán. Việc xây
dựng và tổ chức các trò chơi đã giúp các em vận dụng, sáng tạo cách tìm “chiến
lƣợc” giành phần thắng trong trò chơi ban đầu và các tình huống mới, trò chơi mới.
9


Đồng thời những kinh nghiệm đƣợc rút ra từ các mối quan hệ qua lại trong lúc chơi
cho phép đứa trẻ đứng trên quan điểm của những ngƣời khác để phán đoán hành vi

sắp xảy ra của bạn, trên cơ sở đó mà lập kế hoạch hành động và tổ chức hành vi của
bản thân mình sao cho phù hợp. Nhƣ vậy, trò chơi học tập tạo khả năng phát triển
trí tƣởng tƣợng, khả năng linh hoạt độc lập sáng tạo cần thiết cho hoạt động học tập
và lao động sau này của các em.
c. Trò chơi học tập ảnh hưởng tích cực đến sự phát triển ngôn ngữ và trí
tưởng tượng
Vui chơi ảnh hƣởng rất lớn đến sự phát triển ngôn ngữ của học sinh. Tình
huống trò chơi đòi hỏi mỗi học sinh tham gia vào trò chơi phải có một trình độ giao
tiếp bằng ngôn ngữ nhất định. Nếu các em không diễn đạt đƣợc mạch lạc nguyện
vọng và ý kiến của mình đối với trò chơi, nếu không hiểu đƣợc lời chỉ dẫn của thầy
cô hay lời bàn bạc của các bạn cùng chơi, thì không thể nào tham gia vào trò chơi
đƣợc (hoặc tham gia không có kết quả). Để đáp ứng đƣợc những yêu cầu của việc
cùng chơi, học sinh phải phát triển ngôn ngữ một cách rõ ràng, mạch lạc. Trò chơi
chính là điều kiện kích thích các em phát triển ngôn ngữ một cách nhanh chóng.
d. Trò chơi học tập giúp hình thành đức tính trung thực, có kỉ luật, tính độc
lập, tự chủ, có ý thức cao
Khi tham gia trò chơi, học sinh phải tuân thủ theo những quy tắc nhất định
(đã đƣợc nêu trƣớc trò chơi). Việc các em tiếp nhận và tuân theo những quy tắc đó
giúp các em có khả năng tự kiểm tra và kiểm tra lẫn nhau trong trò chơi. Khi tham
gia vào trò chơi, nhập vai quan hệ với các bạn cùng chơi buộc các em phải đem
những hành động của mình phục tùng những yêu cầu nhất định bắt nguồn từ ý đồ
chung của trò chơi. Việc thực hiện quy tắc của trò chơi trở thành một trong những
yếu tố cơ bản của trò chơi, làm cho các thành viên trong nhóm hợp tác chặt ch với
nhau. Để giành phần thắng trong các trò chơi tập thể, các em phải biết cùng chơi,
biết giúp đỡ lẫn nhau, biết dung hoà lợi ích cá nhân với lợi ích tập thể, tức là các em
biết điều tiết hành vi của mình theo chuẩn mực của xã hội.
Bên cạnh đó, dƣới sự tổ chức, điều khiển của giáo viên, để tổ (nhóm) mình
giành phần thắng, các em ở trong tổ thi đua nhau cùng làm bài và giữ gìn trật tự.
Qua đó, có thể giáo dục đức tính trung thực, thật thà, ý thức tổ chức kỉ luật, ý thức
tự giác, tính độc lập, tự chủ và ý thức tôn trọng tập thể của các em. Khi đã xác nhận

rằng vui chơi là một hoạt động cần thiết của học sinh, thì đồng thời cũng cần nhận

10


biết rằng việc tổ chức các trò chơi cho học sinh là cực kì quan trọng và có ý nghĩa
giáo dục to lớn.
1.2.3. Đặc điểm của trò chơi học tập
Trò chơi học tập là một dạng hoạt động vì vậy nó mang trong mình những
đặc điểm chung của các loại hoạt động: có phƣơng hƣớng, có mục đích, có ý thức
và có đặc điểm chung của trò chơi. Đặc điểm của trò chơi nói chung là mang lại
cảm xúc chân thực, mạnh m , đa dạng. Trò chơi bao giờ cũng mang đến cho học
sinh nhiều niềm vui, tạo hứng thú cho các em trong giờ học cũng nhƣ ngoài giờ học.
Chơi mà không có niềm vui thì không còn là chơi nữa. Trò chơi học tập còn có
những đặc điểm sau:
- Trò chơi học tập có luật rõ ràng, do ngƣời thiết kế đặt ra nhằm đạt đƣợc mục
đích giáo dục và dạy học.
- Trò chơi học tập bao giờ cũng có kết quả nhất định. Kết quả đó phải đƣợc
thực hiện trong việc giải quyết nhiệm vụ của trò chơi học tập, đồng thời phải mang
lại niềm vui, sự thỏa mãn cho những ngƣời tham gia trò chơi học tập. Kết quả của
trò chơi học tập thể hiện sự cố gắng trong suy nghĩ, tìm tòi, sáng tạo trong việc nắm
kiến thức và tính hợp tác của học sinh.
- Trong trò chơi học tập, vị trí của mọi thành viên tham gia trò chơi đều nhƣ
nhau và đƣợc xác định bằng luật chơi. Việc thực hiện luật chơi là tiêu chuẩn khách
quan để đánh giá khả năng của học sinh.
- Trong quá trình chơi nếu học sinh không tuân thủ theo luật chơi thì s không
đạt đƣợc mục đích của trò chơi. Vì vậy, trong trò chơi học tập việc kiểm tra lẫn
nhau dễ dàng hơn và có hiệu quả hơn vì luật chơi đƣợc quy định rõ ràng.
1.2.4. Phân loại trò chơi học tập
Về phƣơng diện phát triển các chức năng tâm lí của học sinh, trò chơi học tập

cũng có nhiều loại khác nhau:
- Trò chơi học tập nhằm phát triển các giác quan: rèn luyện sự tinh nhanh của
đôi mắt, đôi tai… Tức là rèn luyện và phát triển hành động nhạy cảm ở các em.
- Trò chơi học tập nhằm phát triển các thao tác tƣ duy: những trò chơi này
giúp học sinh nhìn nhận, phân tích, so sánh, khái quát về sự vật hiện tƣợng theo một
dấu hiệu bề ngoài. Trong quá trình phân loại, học sinh phát hiện những dấu hiệu
giống nhau, khác nhau giữa các đối tƣợng để đi đến sự sắp xếp của sự vật hiện

11


tƣợng theo những dấu hiệu chung. Nhƣ vậy khả năng khái quát của các em đƣợc
hình thành và phát triển.
- Trò chơi học tập nhằm phát triển óc tƣởng tƣợng: đậy là loại trò chơi mà
học sinh sử dụng vốn sống, những biểu tƣợng đã có trong đầu để thực hiện thao tác
chơi, nội dung chơi. Nhờ óc tƣởng tƣợng các em thực hiện đƣợc các thao tác chơi,
nội dung chơi và nhập vai thực sự vào cuộc chơi.
- Trò chơi học tập phát triển trí nhớ là loại trò chơi rèn luyện và phát triển trí
nhớ của học sinh về những tri thức, khái niệm, biểu tƣợng mà các em đã lĩnh hội
đƣợc trƣớc đó. Khả năng ghi nhớ, tái hiện của các em phụ thuộc vào những ấn
tƣợng mạnh yếu của thế giới xung quanh tác động vào giác quan của các em.
- Trò chơi học tập giúp cho sự phát triển, chú ý, ngôn ngữ… của học sinh.
Sự phân loại trên chỉ có tính tƣơng đối, giúp chúng ta dễ nhận ra ý nghĩa vai
trò của trò chơi đối với sự phát triển tâm lí và trí tuệ của học sinh. Trong thực tế trò
chơi học tập có ý nghĩa tổng hợp, nó vừa có ý nghĩa đối với sự phát triển các giác
quan vừa có ý nghĩa đối với sự phát triển các thao tác trí tuệ, óc tƣợng tƣợng, sự chú
ý…
1.2.5. Cấu trúc của trò chơi học tập
- Nhiệm vụ nhận thức
Đây chính là nội dung chơi có tính chất nhƣ một bài toán mà học sinh phải

giải dựa trên các điều kiện đã cho. Nhiệm vụ nhận thức là thành phần cơ bản của trò
chơi học tập, nó kích thích tính tích cực và nguyện vọng chơi của học sinh. Mỗi một
trò chơi học tập có nhiệm vụ nhận thức của mình, chính điều đó làm cho trò chơi
này khác với trò chơi kia.
- Hành động chơi
Là những hành động học sinh phải làm trong lúc chơi và nó cũng là thành
phần quan trọng của trò chơi học tập “các hành động chơi chính là thành phần chính
của trò chơi học tập, thiếu chúng thì không còn là trò chơi nữa. Các hành động chơi
nhƣ là những họa tiết của chủ đề chơi”. Những hành động ấy càng nhiều bao nhiêu
thì trò chơi càng lí thú bấy nhiêu. Hành động chơi càng đa dạng và phong phú thì
học sinh càng tích cực. Điều đó tạo cho giáo viên cơ hội hình thành mối quan hệ
qua lại giữa học sinh với nhau: các em biết hành động theo thứ tự, theo lƣợt phù

12


hợp cới luật chơi, biết tính đến mong muốn của ngƣời khác và biết giúp đỡ bạn bè
trong lúc khó khăn.
- Luật chơi
Trò chơi học tâp bao giờ cũng có luật chơi và luật chơi giữ trò quyết định. Đó
là những quy định có sẵn mà nhất thiết ngƣời chơi phải tuân thủ trong khi chơi.
Luật chơi quyết định trò chơi và nếu phá vỡ chúng thì trò chơi học tập cũng bị phá
vỡ theo. Mỗi trò chơi học tập đều có luật chơi do nôi dung chơi qui định. Có thể
nói, các luật chơi đã tạo nên có thể tự điều khiển hành vi của học sinh và nhờ luật
chơi, giáo viên có thể điều khiển đƣợc hành vi của các em khi chơi.
Trong trò chơi học tập, luật chơi rất đa dạng nhằm:
+ Qui định hành động chơi và trình tự các hành động chơi
+ Điều khiển quan hệ giữa các bạn chơi
+ Giới hạn hoặc cấm một số biểu hiện hành động, nêu các hình thức phạt khi
vi phạm luật chơi.

- Kết quả
Trò chơi học tập luôn có một kết quả nhất định đó là lúc kết thúc trò chơi, học
sinh giải quyết thành công một nhiệm vụ nhận thức nào đó mà trò chơi yêu cầu. Kết
quả của trò chơi học tập thƣờng làm thỏa mãn nhu cầu nhận thức cũng nhƣ nhu cầu
chơi ở học sinh.
1.3. Quy trình thiết kế và tổ chức trò chơi học tập
1.3.1. Nguyên tắc khi thiết kế, tổ chức trò chơi học tập
- Nguyên tắc 1: Đảm bảo cấu trúc trò chơi
Một trong những đặc trƣng của trò chơi học tập là có tên trò chơi, nội dung
chơi, luật chơi cụ thể. Vì vậy, khi xây dựng trò chơi phải đảm bảo trò chơi gồm có
các phần: tên trò chơi, cách chơi, luật chơi. Tên của trò chơi phải phù hợp với nội
dung của trò chơi, hấp dẫn để thu hút đƣợc sự chú ý của học sinh. Nội dung rõ ràng,
cụ thể, ngắn gọn để học sinh dễ dàng nắm bắt đƣợc trò chơi. Khi xây dựng trò chơi
phải dự kiến đƣợc thời gian chơi, thời gian phải phú hợp với học sinh tránh gây
nhàm chán, căng thẳng cho học sinh.
- Nguyên tắc 2: Trò chơi phải có tính thi đua

13


Trò chơi phải có tính thi đua giữa các cá nhân và các nhóm. Để tạo đƣợc tính
thi đua trong khi chơi, trò chơi phải có cách tính điểm rõ ràng, quy định thƣởng phạt
cụ thể cho các đội chơi.
- Nguyên tắc 3: Đảm bảo tính vừa sức
Tùy vào từng đối tƣợng học sinh để xây dựng những trò chơi có độ khó, độ
phức tạp cho phù hợp. Các trò chơi phải có cách chơi vừa phải, không nên quá khó
vì s làm cho học sinh không nắm rõ đƣợc cách chơi, từ đó quá trình chơi s không
đạt hiệu quả.
- Nguyên tắc 4: Trò chơi phù hợp với mục đích, nội dung bài học
Bất cứ bài học nào cũng có mục tiêu đề ra kết hợp với nội dung kiến thức cần

đạt. Tùy vào mục tiêu nội dung của bài mà giáo viên có sự lựa chọn trò chơi cho
phù hợp.
- Nguyên tắc 5: Trò chơi phải đảm bảo tính thực tiễn
Khi tổ chức trò chơi phải căn cứ và điều kiện cơ sở vật chất ở trƣờng, lớp để
lựa chọn trò chơi sao cho phù hợp. Giáo viên phải xem xét tới các đồ dùng, phƣơng
tiện có thể chuẩn bị để phục vụ trò chơi, địa điểm và thời gian chơi.
1.3.2. Quy trình thiết kế trò chơi học tập
Khi xây dựng trò chơi học tập giáo viên cần tuân thủ theo những bƣớc sau:
Bước 1: Tên trò chơi
Tên trò chơi phải đảm bảo hai tiêu chí:
- Về nội dung: tên trò chơi phải liên quan đến luật chơi hay gợi mở cách thức
chơi ( vòng quay bí mật, hái hoa dân chủ,…)
- Về hình thức: tên trò chơi phải ngắn gọn, dễ hiểu, từ ngữ trong sáng.
Bước 2: Mục tiêu trò chơi:
Khi thiết kế trò chơi cụ thể ngƣời thiết kế cần nêu rõ trò chơi nhằm hình
thành kiến thức, luyện tập, củng cố nội dung nào. Dựa vào mục tiêu của trò chơi để
xây dựng trò chơi phù hợp.
Bước 3: - Xác định đối tƣợng: số ngƣời tham gia chơi

14


- Xác định thời gian, địa điểm: nêu rõ thời gian chơi, lƣợt chơi cho
ngƣời chơi nắm đƣợc. Địa điểm chơi là lớp học, sân trƣờng hay sân vận động,…
không gian rộng hay hẹp.
Bước 4: Chuẩn bị của giáo viên và học sinh
Dụng cụ, phƣơng tiện có thể do giáo viên chuẩn bị hoặc học sinh sƣu tầm,
chuẩn bị trƣớc theo sự hƣớng dẫn của giáo viên. Các phƣơng tiện phải đảm bảo và
phục vụ cho cuộc chơi. Giáo viên có thể sử dung công nghệ thông tin để thiết kế
những trò chơi với âm thanh, hình ảnh sinh động.

Bước 5: Luật chơi
Luật chơi gồm có cách thức chơi (chơi nhƣ nào, nhiệm vụ, vai trò của từng
ngƣời trong trò chơi đƣợc quy định rõ ràng, những điều ngƣời chơi phải tuân thủ
trong quá trình chơi, những hành vi nào vi phạm luật chơi, trƣờng hợp nào bị trừ
điểm hay không đƣợc tính điểm,…)
Bước 6: Các hoạt động
- Chuẩn bị
- Tiến hành chơi
- Đánh giá, tổng kết.
Ví dụ quy trình thiết kế trò chơi “Vòng quay may mắn”
Bước 1: Tên trò chơi: Vòng quay may mắn
Bước 2: Mục tiêu
- Qua trò chơi học sinh nhớ đƣợc những nội dung của bài, những câu hỏi
mang tính lí thuyết và bài tập áp dụng định nghĩa để giải quyết. Ở trò chơi này tôi
thiết kế các câu hỏi để luyện tập bài “ Đại cƣơng về phƣơng trình”
- Trò chơi thử mức độ may mắn của học sinh thông qua việc quay vào những
ô điểm, từ đó tạo ra không khí sôi nổi cho lớp học.
Bước 3: Xác định đối tƣợng, thời gian, địa điểm chơi
- Đối tƣợng tham gia: 4 đội chơi
- Thời gian chơi: 15 phút
- Địa điểm: tại lớp học

15


Bước 4: Chuẩn bị
Giáo viên chuẩn bị những câu hỏi mang tính lí thuyết và bài tập cơ bản đƣợc
thiết kế trên powerpoint.
Bước 5: Luật chơi
Mỗi nhóm cử đại diện 1 bạn lên quay và chọn một câu hỏi, sau 30 giây nhóm

đó đƣa ra câu trả lời. Với mỗi câu trả lời đúng nhóm đó đƣợc cộng 10 điểm, nếu sai
bị trừ 5 điểm và quyền trả lời thuộc về 3 đội còn lại. Nhóm nào có tín hiệu xin trả
lời nhanh hơn s đƣợc quyền trả lời trƣớc, trả lời đúng đƣợc cộng 10 điểm, sai trừ 5
điểm và quyền trả lời thuộc về các đội khác. Sau khi kết thúc trò chơi giáo viên tổng
kết số điểm của mỗi đội, đội nào có số điểm cao nhất s giành chiến.
Bƣớc 6: Các hoạt động
- Chuẩn bị
+ Giáo viên chia lớp thành 4 đội (đội 1, đội 2, đội 3 và đội 4). Giáo viên làm
quản trò, điều khiển máy chiếu và quan sát các đội chơi.
+ Giáo viên phổ biến luật chơi.
- Tiến hành chơi
Giáo viên cho 4 đội bốc thăm lƣợt chơi, đội nào chơi trƣớc s đƣợc quay và
chọn ô số trƣớc. Các đội tiếp theo lần lƣợt quay và chọn ô số cho đội mình. Với mỗi
câu hỏi s có 30 giây suy nghĩ, đội chọn câu hỏi s đƣợc quyền trả lời trƣớc. Nếu trả
lời đúng đƣợc 10 điểm, trả lời sai bị trừ 5 điểm và quyền trả lời thuộc về 3 đội còn
lại.
- Đánh giá
+ Thƣởng, phạt: đội có số điểm cao nhất đƣợc nhất một món quà, đội có số
điểm thấp nhất nhảy lò cò quanh lớp 1 vòng.
+ Nhận xét, tổng kết: giáo viên nhận xét thái độ tham gia chơi của các bạn.
1.3.3. Tổ chức trò chơi học tập
Bƣớc 1: Chuẩn bị
- Xác định mục đích sử dụng
- Lựa chọn trò chơi học tập: trò chơi bám sát mục tiêu, nội dung bài học
- Đồ dùng cần thiết cho việc thực hiện chơi
16


- Dự kiến thời gian, địa điểm chơi.
Bƣớc 2: Tiến hành chơi

- Xác định số ngƣời tham gia chơi
- Số đội: tùy vào nội dung trò chơi để lựa chọn số đội
- Cho học sinh chơi thử (nếu cần).
Bƣớc 3: Đánh giá, tổng kết
- Giáo viên công bố kết quả trò chơi, nhận xét mức độ tham gia trò chơi của
các đội một cách công bằng.
- Trao thƣởng cho đội thắng cuộc.

1.4. Thực trạng sử dụng trò chơi trong dạy học Toán
Trong những năm qua các trƣờng trung học phổ thông đã có sự đổi mới nhiều
về phƣơng pháp dạy học, phƣơng pháp tổ chức trò chơi trong dạy học đã đƣợc áp
dụng khá phổ biến. Để tìm hiểu thực trạng của việc tổ chức trò chơi trong dạy học
môn toán, cụ thể là trong dạy học “Phƣơng trình và hệ phƣơng trình” cho học sinh
lớp 10, tôi đã tiến hành điều tra, tìm hiểu thông tin qua 16 thầy cô giáo tổ Toán tại
trƣờng Trung học phổ thông Hoa Lƣ A – huyện Hoa Lƣ - tỉnh Ninh Bình từ
3/12/2018 đến 8/12/2018.
Thứ nhất, tôi điều tra sự hiểu biết của giáo viên về khái niệm hoạt động trải
nghiệm, phƣơng pháp trò chơi (khái niệm, tác dụng, tầm quan trọng, cách tổ chức,
yêu cầu khi thực hiện), mức độ tổ chức trò chơi trong dạy học “Phƣơng trình và hệ
phƣơng trình cho học sinh lớp 10”. Để có đƣợc kết quả khách quan, tôi đã trực tiếp
phỏng vấn kết hợp với việc sử dụng phiếu điều tra các giáo viên trong trƣờng. Kết
quả điều tra đƣợc tổng kết nhƣ sau:

17


Bảng 1.1 Tầm quan trọng của việc tổ chức trò chơi trong dạy học “Phƣơng
trình và hệ phƣơng trình”
Tầm quan trọng của việc tổ chức trò chơi trong dạy học
“Phƣơng trình và hệ phƣơng trình”


Ý
kiến
của
giáo
viên

Rất quan
trọng

Quan trọng

Số

Số

(%)

lƣợng
4

lƣợng

25

8

(%)
50


Không quan
trọng

Bình thƣờng
Số
lƣợng
3

Số

(%)

lƣợng

18,75

1

Không quan
tâm
Số

(%)

lƣợng

6,35

0


(%)
0

Qua bảng trên ta thấy, đa số các giáo viên đều cho rằng: Đây là một hoạt
động giáo dục quan trọng, tồn tại song song với hoạt động dạy học và không thể
thiếu đối với học sinh Trung học phổ thông.
Thứ hai, tôi điều tra việc tổ chức trò chơi trong hoạt động dạy học “ Phƣơng
trình và hệ phƣơng trình”. Kết quả đƣợc thể hiện ở bảng sau:
Bảng 1.2 Mức độ tổ chức hoạt động trải nghiệm cho học sinh
Trung học phổ thông.
Mức độ tổ chức trò chơi trong dạy học
“Phƣơng trình và hệ phƣơng trình”
Ý kiến
của
giáo
viên

Thƣờng xuyên,
liên tục

Số
lƣợng
Kết quả

4

(%)

25


Ít khi

Thỉnh thoảng

Số
lƣợng
7

(%)

43,25

Số
lƣợng
5

Không bao giờ

(%)

31,25

Số
lƣợng
0

(%)

0


Qua bảng trên, ta thấy rằng việc tổ chức trò chơi trong dạy học “Phƣơng trình
và hệ phƣơng trình” của giáo viên hiện nay vẫn còn nhiều hạn chế mặc dù kiến thức

18


về việc tổ chức trò chơi trong dạy học cũng nhƣ tầm quan trọng của nó mà giáo viên
nhận thức đƣợc khá đầy đủ. Nhƣ kết quả cho thấy chỉ có 25% giáo viên tổ chức
thƣờng xuyên, liên tục trò chơi học tập cho học sinh; có 43,25% giáo viên thỉnh
thoảng tổ chức trò chơi và 31,25% là ít khi tổ chức, không có giáo viên nào không
bao giờ tổ chức trò chơi học tập. Qua đây, tôi thấy rằng giáo viên còn ngại thiết kế
các trò chơi và chuẩn bị dụng cụ chơi nên việc tổ chức còn khá hạn chế.
Thứ ba, tôi điều tra về những khó khăn khi tổ chức trò chơi trong dạy học
“Phƣơng trình và hệ phƣơng trình”. Kết quả đƣợc thể hiện ở bảng sau:
Bảng 1.3 Những khó khăn khi tổ chức trò chơi trong dạy
“Phƣơng trình và hệ phƣơng trình”
Những khó khăn khi tổ chức trò chơi trong dạy học
“Phƣơng trình và hệ phƣơng trình”

Ý
kiến
của

Việc thiết kế trò
chơi khá khó
khăn đối với
giáo viên
Số

giáo lƣợng

viên
7

(%)
43,75

Thời gian

Cơ sở vật
chất

Số

Số

lƣợng
4

(%)

lƣợng

25

3

(%)
18,75

Kiến thức

của giáo
viên
Số
lƣợng
0

(%)
0

Sự hợp tác
của học sinh

Số
lƣợng
2

(%)
12,5

Nhìn vào bảng trên, ta thấy những khó khăn khi tổ chức trò chơi trong dạy
thƣờng là về mặt về thời gian, việc thiết kế các trò chơi còn khá khó khăn đối với
giáo viên.
Từ sự trao đổi trực tiếp và sử dụng phiếu điều tra đối với giáo viên Trung học
phổ thông, tôi nhận thấy:
Về phí giáo viên
- Việc sử dụng trò chơi học tập đối với một số giáo viên còn là hình thức hoặc
có sử dụng trò chơi thì cũng ở mức gƣợng ép. Giáo viên chƣa có nhận thức đúng và
đủ về ý nghĩa và vai trò của trò chơi học tập đối với việc dạy học cho học sinh
Trung học phổ thông.


19


- Nhiều khi giáo viên cho rằng sử dụng trò chơi học tập trong giảng dạy s
làm cho lớp ồn ào, dễ ảnh hƣởng đến lớp khác, mất thời gian, ảnh hƣởng đến quỹ
thời gian chung của tiết học.
- Một số giáo viên hầu ngại tìm tòi, sƣu tầm, thiết kế, có ít tài liệu tham khảo
về vấn đề này.
- Việc tổ chức trò chơi học tập đƣợc sử dụng không thƣờng xuyên, chỉ tổ
chức vào các tiết dự giờ, thao giảng, hội giảng.
- Các trò chơi đƣợc tổ chức lỏng lẻo, mang tính chất đối phó, không thực sự
có ý nghĩa phục vụ cho học tập.
- Các trò chơi tkhông phong phú, đơn điệu gay sự nhàm chán cho học sinh.
Về phí học sinh
- Có những học sinh tham gia trò chơi theo kiểu chống đối, không có tinh
thần học hỏi.
- Có những học sinh bộc lộ tính không tốt, chỉ muốn thắng, gây ra sự tranh cãi
giữa các học sinh.

20


×