Tải bản đầy đủ (.pdf) (67 trang)

So sánh truyện tấm cám của người việt với truyện cùng kiểu của một số dân tộc thiểu số miền núi phía bắc

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (643.51 KB, 67 trang )

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN

LÊ THỊ HÒA

SO SÁNH TRUYỆN TẤM CÁM
CỦA NGƯỜI VIỆT VỚI TRUYỆN
CÙNG KIỂU CỦA MỘT SỐ DÂN TỘC
THIỂU SỐ MIỀN NÚI PHÍA BẮC

SO SÁNHLUẬN
TRUYỆNTỐT
TẤM CÁM
CỦA NGƯỜI
VỚI
KHÓA
NGHIỆP
ĐẠIVIỆT
HỌC
TRUYỆN

Chuyên ngành: Văn học Việt Nam

KIỂU CỦA MỘT SỐ DÂN TỘC THIỂU SỐ MIỀN NÚI PHÍA BẮC

HÀ NỘI - 2019


TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN


LÊ THỊ HÒA

SO SÁNH TRUYỆN TẤM CÁM
CỦA NGƯỜI VIỆT VỚI TRUYỆN
CÙNG KIỂU CỦA MỘT SÔ DÂN TỘC
THIỂU SỐ MIỀN NÚI PHÍA BẮC
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Người hướng dẫn khoa học

TS. Nguyễn Thị Ngọc Lan

HÀ NỘI - 2019


LỜI CẢM ƠN
Trước hết, tôi xin được gửi lời cảm ơn sâu sắc, chân thành tới cô giáo
TS. Nguyễn Thị Ngọc Lan - cảm ơn cô đã ch ỉ bảo, hướng dẫn tận tình tôi
trong suốt thời gian tìm hiểu và hoàn thiện khóa luận.
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn các thầy, các cô trong Tổ bộ môn Văn
học Việt Nam, các thầy cô trong khoa Ngữ Văn - Trường Đại học Sư phạm
Hà Nội 2 đã tạo điều kiện, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập và nghiên
cứu khoa học.
Sau cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn tới người thân, bạn bè đã luôn ủng hộ,
tin tưởng và giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu và hoàn thiện khóa luận.
Hà Nội, ngày 15 tháng 4 năm 2019
Sinh viên

Lê Thị Hòa



LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi và nó chưa
từng được trình bày, công bố ở bất cứ công trình nào. Các số liệu trong khóa
luận là trung thực và chính xác vì nóđ ều được tôi tìm hiểu, nghiên cứu ở
những nguồn đáng tin cậy. Nếu những lời cam đoan trên là sai tôi xin được
chịu hoàn toàn trách nhiệm.
Hà Nội, ngày 15 tháng 4 năm 2019
Sinh viên

Lê Thị Hòa


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ........................................................................................................ 1
1. Lí do chọn đề tài .......................................................................................... 1
2. Lịch sử vấn đề ............................................................................................. 2
3. Mục đích nghiên cứu ................................................................................... 5
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu............................................................... 5
5. Phương pháp nghiên cứu............................................................................. 6
6. Đóng góp của khóa luận.............................................................................. 6
7. Cấu trúc khóa luận ...................................................................................... 6
NỘI DUNG..................................................................................................... 7
Chương 1. SO SÁNH NHÂN VẬT .............................................................. 7
1.1. Khái niệm nhân vật .................................................................................. 7
1.2. Hệ thống nhân vật .................................................................................... 7
1.2.1. Sự giống nhau về hệ thống nhân vật ..................................................... 7
1.2.2. Sự khác nhau về hệ thống nhân vật..................................................... 12
1.3. Phương thức xây dựng nhân vật ............................................................ 16
1.3.1. Sự giống nhau về phương thức xây dựng nhân vật ............................ 16

1.3.2. Sự khác nhau về phương thức xây dựng nhân vật .............................. 19
Chương 2. SO SÁNH CỐT TRUYỆN ....................................................... 25
2.1. Khái niệm cốt truyện .............................................................................. 25
2.2. Mô hình cốt truyện ................................................................................. 26
2.2.1. Sự giống nhau về mô hình cốt truyện ................................................. 26
2.2.2. Sự khác nhau về mô hình cốt truyện ................................................... 27
2.3. Cấu tạo cốt truyện .................................................................................. 28
2.3.1. Sự giống nhau về cấu tạo cốt truyện ................................................... 29
2.3.2. Sự khác nhau về cấu tạo cốt truyện..................................................... 30
Chương 3. SO SÁNH MÔ TÍP ................................................................... 34
3.1. Khái niệm mô típ .................................................................................... 34


3.2. Mô típ người con riêng bị hành hạ, bạc đãi ........................................... 35
3.2.1 Sự giống nhau về mô típ người con riêng bị hành hạ, bạc đãi ............ 35
3.2.2. Sự khác nhau về mô típ người con riêng bị hành hạ, bạc đãi ............. 37
3.3. Mô típ người con riêng bị bức hại.......................................................... 38
3.3.1. Sự giống nhau về mô típ người con riêng bị bức hại .......................... 39
3.3.2. Sự khác nhau về mô típ người con riêng bị bức hại ........................... 40
3.4. Mô típ hóa thân ...................................................................................... 43
3.4.1. Sự giống nhau về mô típ hóa thân....................................................... 43
3.4.2. Sự khác nhau về mô típ hóa thân ........................................................ 44
3.5. Mô típ sự trợ giúp thần kì....................................................................... 47
3.5.1. Sự giống nhau về mô típ sự trợ giúp thần kì ....................................... 47
3.5.2. Sự khác nhau về mô típ sự trợ giúp thần kì ........................................ 48
3.6. Mô típ tặng thưởng ................................................................................. 50
3.6.1. Sự giống nhau về mô típ tặng thưởng ................................................. 50
3.6.2. Sự khác nhau về mô típ tặng thưởng .................................................. 51
3.7. Mô típ trừng phạt.................................................................................... 53
3.7.1. Sự giống nhau về mô típ trừng phạt .................................................... 53

3.7.2. Sự khác nhau về mô típ trừng phạt ..................................................... 54
KẾT LUẬN .................................................................................................. 57
DANH MỤC 25 TRUYỆN KHÓA LUẬN KHẢO SÁT
TÀI LIỆU THAM KHẢO


MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Truyện cổ tích là một thể loại quan trọng bậc nhất trong kho tàng văn
học dân gian của mỗi dân tộc. So sánh truyện cổ tích giữa các dân tộc khác
nhau sẽ giúp chúng ta hiểu sâu hơn về giá trị và đặc điểm của thể loại cũng
như quy luật sản sinh, lưu truyền và diễn hóa của nó trong bối cảnh văn hóa
dân tộc nói riêng và văn hóa nhân loại nói chung. Nghiên cứu các vấn đề của
truyện cổ tích qua các kiểu truyện phổ biến như kiểu truyện người em út,
người con riêng, người mồ côi… từ lâu đã được đặt ra trong các chuyên luận,
bài báo… Nhưng cho đến nay, lĩnh vực nghiên cứu so sánh truyện cổ tích của
dân tộc Việt 1 với những dân tộc khác vẫn còn nhiều khoảng trống, chưa được
khai thác một cách triệt để… Vì thế, đối sánh kiểu truyện người con riêng của
người Việt với truyện cùng kiểu của một số dân tộc thiểu số miền núi phía
Bắc là một sự lựa chọn có ý nghĩa khoa học.
Truyện cổ tích được đưa vào dạy ở các cấp học khác nhau từ Tiểu học,
Trung học cơ sở, Trung học phổ thông đến Cao đẳng và Đại học. Sở dĩ,
truyện cổ tích chiếm một số lượng không nhỏ trong chương trình học các cấp
bởi nó đã đem đ ến những giá trị cao cả, đặc biệt là giá trị về việc giáo huấn,
khuyên răn con người, đến với thế giới truyện cổ tích các em có thể được
“vận động, chống chọi, đem cái thiện chí của mình ra đ ối kháng với các ác”
(V.Xukhomlinxki). Còn với kiểu truyện người con riêng: hình tư ợng người
con riêng hiền lành, hiếu thảo, người dì ghẻ tham lam, độc ác sẽ đem lại cho
các em những cảm xúc, tình cảm chân thực giúp các em có thể nhận thức
được cái thiện, cái ác để có những hành động đúng đắn và loại trừ được cái

xấu. Việc so sánh sẽ giúp các nhà nghiên cứu làm rõ bản chất của truyện cổ
tích. Tìm hiểu thực tế, chúng tôi nhận thấy nhiều học sinh sau khi nghe, đọc
truyện cổ tích Tấm Cám đều cho rằng: Tấm là một nhân vật ác, cô Tấm đã
làm hại người khác và đưa người ta đến con đường cùng là cái chết. Đó là
một sự tiếp nhận chủ quan của không ít học sinh, cho nên việc so sánh Tấm
Chúng tôi dùng cách gọi dân tộc Việt (thay thế cho dân tộc Kinh) theo quy ước trong bảng Danh mục các
thành phần dân tộc Việt Nam in trong cuốn Dân tộc học đại cương Lê Sỹ Giáo (chủ biên) (2007), Nxb Giáo
dục, Hà Nội
1

1


Cám của người Việt với truyện cùng kiểu của một số các dân tộc khác sẽ giúp
ta có một cái nhìn cụ thể và khách quan nhất về kiểu truyện này, tránh có
những cái nhìn sai lệch. Kết thúc có hậu, ở cả truyện của người Việt và của
các dân tộc thiểu số là một minh chứng rõ ràng cho quan niệm đạo đức dân
gian. Kết thúc đó đã làm yên lòng trẻ thơ, lấy lại niềm tin đích thực cho các
em vào cuộc sống.
Ngoài ra, chúng tôi lựa chọn đề tài này để nghiên cứu là xuất phát từ
chính sự yêu thích của bản thân với đề tài. Bởi Tấm Cám là một câu chuyện
được coi là quen thuộc nhất không chỉ đối với trẻ thơ mà đối với cả độc giả lớn
tuổi, đem đến những rung cảm đặc biệt, đưa tâm hồn con người đến một thế giới
khác hẳn. Truyện cổ tích đã nuôi dư ỡng những giá trị tinh thần, kết nối con
người lại gần với nhau hơn giữa cuộc đời bộn bề, vất vả. Nó như một vì sao
mang đến cho con người những ánh sáng mới với một niềm tin vào lẽ phải:
chính nghĩa nhất định sẽ thắng gian tà. Cho nên, khi được nghiên cứu những
truyện cổ cùng kiểu với truyện cổ tích Tấm Cám đã tạo nên sự hứng thú và niềm
say mê đặc biệt cho chúng tôi khi tiếp cận đề tài này.
2. Lịch sử vấn đề

Trong vài thập kỉ gần đây, có khá nhiều tác giả bàn về kiểu truyện
người con riêng và so sánh truyện cổ tích Tấm Cám với truyện cùng kiểu của
các dân tộc khác trong các công trình nghiên cứu của mình.
Năm 1968, Đinh Gia Khánh trong cuốn Sơ bộ tìm hiểu những vấn đề về
truyện cổ tích qua truyện Tấm Cám đã tập trung nghiên cứu truyện Tấm Cám
để rút ra được những vấn đề thi pháp của truyện cổ tích và những quy luật
phát triển của văn học dân gian. Chính điều đó là những gợi ý quan trọng và
hữu ích giúp chúng tôi có thêm tư liệu khi tiếp cận đề tài này.
Nguyễn Đổng Chi trong Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam ở phần Đặc
điểm truyện cổ tích Việt Nam được in ở cuối tập 5 đã nêu lên r ằng: “Đối
tượng mà truyện cổ tích ra sức bênh vực là những nhân vật nghèo khổ, bất
hạnh, những kẻ bị áp bức, bóc lột, những người xấu số là đối tượng xung
khắc gia đình: con côi, em út, con vợ trước, ngốc nghếch,…”. Ở đây, Nguyễn
Đổng Chi mới chỉ đề cập đến kiểu nhân vật “ người con riêng” mà chưa đặt ra

2


vấn đề so sánh giữa các truyện cùng kiểu để làm rõ đư ợc sự giống và khác
nhau giữa chúng, giúp người đọc có một cái nhìn toàn diện và đầy đủ hơn về
kiểu truyện này.
Trong cuốn Văn học dân gian Việt Nam trong nhà trường của Nguyễn
Xuân Lạc xuất bản năm 1998, tác giả đã đánh giá sâu sắc về vai trò và chức
năng của truyện cổ tích và có những nhận định khái quát chung nhất về các
kiểu truyện, kiểu nhân vật và mô típ nghệ thuật. Ở đây, khi xác định kiểu
truyện tác giả đã nêu: “Tập hợp những truyện có cùng chủ đề và cốt truyện
tương tự nhau được gọi là kiểu truyện”, cụ thể: Kiểu truyện Tấm Cám ở Việt
Nam gồm có các truyện Tấm Cám của người Việt, truyện cổ Inh và Ính của
người Pu Péo, truyện Mùi Mụi, Mùi Nái của người Dao,… Tác giả gọi kiểu
truyện bằng tên như nhân vật bất hạnh (người em út, người mồ côi, người con

riêng, người xấu xí,…) chứ không chia thành kiểu truyện người con riêng. Vì
vậy, thông qua đề tài này, chúng tôi muốn tìm hiểu chi tiết hơn về kiểu truyện
người con riêng trong kho tàng truyện cổ tích thần kì Việt Nam.
Trong Tạp chí nghiên cứu văn học, số 1/2006, Nguyễn Tấn Đắc có bài
nghiên cứu về Mô típ cái duy nhất. Tác giả không chỉ đưa ra những tri thức về
loại mô típ này mà còn thể hiện được sự diễn hóa mô típ trong truyện cổ tích
thần kì. Bài viết đã có những tri thức hữu ích về vấn đề mô típ, chính nó đã
mang lại sự thuận lợi để chúng tôi nghiên cứu chương 3 về các mô típ đặc
trưng trong khóa luận này.
Chu Xuân Diên là nhà nghiên cứu có cái nhìnđa chi ều về truyện cổ
tích Tấm Cám, tiêu biểu là những bài viết nghiên cứu về phương diện mô típ
của truyện cổ tích thần kì. Trên Tạp chí Văn hóa dân gian - số 2 có bài Về cái
chết của mẹ con Cám, tác giả đã nghiên cứu một số mô típ trong truyện cụ
thể: Tấm Cám, tác giả dùng văn hóa cổ của Việt Nam và thế giới để lí giải về
nguồn gốc của các mô típ đó và khẳng định sự biến đổi của mô típ theo thời
gian và không gian.
Trong khóa luận tốt nghiệp “Tìm hiểu kiểu truyện người con riêng trong
truyện cổ tích thần kì Việt Nam” của Nguyễn Thị Thúy Ngân (5/2007) đã “giới
thuyết chung về kiểu truyện người con riêng, thông qua sự xác định khái niệm

3


“kiểu truyện” trong tương quan với khái niệm “mô típ”, tiến hành nhận diện
một số mô típ phổ biến - hạt nhân tạo dựng cốt truyện và kiểu truyện người con
riêng”. Tuy nhiên, tác giả khóa luận mới chỉ đề cập đến kiểu truyện người con
riêng chứ chưa có sự so sánh, phân tích tìm ra những điểm khác biệt giữa
truyện của người Việt và truyện của các dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc.
Năm 2017, tác giả Nguyễn Thị Huệ đã cho ra luận văn thạc sĩ với đề tài
“Truyện cổ tích Tấm Cám với truyện Nôm Tấm Cám từ góc nhìn so sánh”.

Công trình nghiên cứu này đã so sánhđư ợc sự giống và khác nhau về các
phương diện: nhân vật, cốt truyện và các mô típ đặc trưng giữa truyện cổ tích
và truyện Nôm Tấm Cám. Sự nghiên cứu này đã có những bậc thềm, những ý
tưởng hay để chúng tôi đi vào nghiên cứu và triển khai khóa luận của mình.
Ngoài ra, trong luận án tiến sĩ: “So sánh kiểu truyện người Cô Lọ Lem
của một số dân tộc miền Nam Trung Quốc với kiểu truyện Tấm Cám của Việt
Nam” của tác giả Đường Tiểu Thi đã làm rõ sự giống và khác nhau về phương
diện mô típ truyện Cô Lọ Lem của Trung Quốc và Tấm Cám của Việt Nam.
Nhưng nếu chỉ so sánh về tiêu chí mô típ mà bỏ qua nhân vật và cốt truyện thì
sẽ không thể làm nổi bật được đặc trưng của truyện cổ tích nói chung và kiểu
truyện người con riêng nói riêng.
Trong tạp chí Khoa học và Công nghệ có bài báo cáo với đề tài “Nhân
vật trợ giúp trong truyện cổ tích về người con riêng của một số dân tộc thiểu
số miền núi phía Bắc Việt Nam” của tác giả Nguyễn Thị Thu Minh (Đại học
Sư Phạm Thái Nguyên). Báo cáo tìm hiểu về đặc điểm nhân vật trợ giúp trong
truyện cổ tích về người con riêng của một số dân tộc thiểu số miền núi phía
Bắc. Theo tác giả “Hai dạng xuất hiện độc đáo của loại nhân vật này là:
người mẹ cùng các dạng hóa thân của người mẹ và con hổ. Đặc điểm này thể
hiện sự chi phối mạnh mẽ của tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, vật tổ và tô tem
giáo nguyên thủy đối với những chủ nhân của các truyện”. Bài báo cáo này
chính là những gợi ý đắt giá cho chúng tôi tìm hiểu về phương diện nhân vật
và mô típ trong khóa luận.
Như vậy, trong thời gian khá dài, vấn đề kiểu truyện người con riêng
mặc dù được quan tâm, chú ý nhưng chúng tôi thấy có những vấn đề cần phải

4


khai thác kĩ thêm. Các tác giả đã có những nghiên cứu rất thành công và chính
những thành tựu ấy đã gợi cho chúng tôi rất nhiều ý tư ởng và phần nào định

hình hướng đi trong khóa luận của mình: So sánh truyện Tấm Cám của người
Việt với truyện cùng kiểu của một số dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc. Qua
khảo sát, truyện cổ tích Tấm Cám và một số truyện của các dân tộc khác với
mục đích tiếp tục phát triển ý kiến của tác giả đi trước và cố gắng nghiên cứu
một cách cụ thể hơn để tìm ra sự giống và khác nhau của kiểu truyện này về
các phương diện: nhân vật, cốt truyện và mô típ.
3. Mục đích nghiên cứu
Đã có không ít nhà nghiên cứu so sánh về kiểu truyện người con riêng,
tuy nhiên tất cả chỉ dừng lại ở những nhận định chung chung. Để có cái nhìn
rõ hơn về vấn đề này, chúng tôi tìm hiểu đề tài với mục đích:
So sánh để thấy được sự tương đồng và khác biệt của truyện Tấm Cám
của người Việt với truyện cùng kiểu của một số dân tộc thiểu số miền núi phía
Bắc qua những khía cạnh tiêu biểu như nhân vật, cốt truyện, mô típ giúp
chúng ta có một cái nhìn khái quát nhất về truyện cổ tích thần kì.
Đồng thời, bản thân chúng tôi có điều kiện để nâng cao năng lực nghiên
cứu khoa học, kĩ năng so sánh trong văn học và phục vụ nhiều cho việc giảng
dạy trong nhà trường. Bởi lẽ, trong các đề thi Ngữ văn hiện nay xuất hiện nhiều
câu hỏi về so sánh giữa tác phẩm này với tác phẩm kia, giữa chi tiết này với chi
tiết khác trong những tác phẩm khác nhau. Cho nên việc nghiên cứu đề tài này
là cần thiết và hữu ích.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
So sánh truyện cổ tích Tấm Cám và truyện cùng kiểu của một số dân
tộc thiểu số miền núi phía Bắc.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
4.2.1. Nội dung
Chúng tôi tập trung so sánh truyện Tấm Cám với các truyện cùng kiểu
của một số các dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc qua các phương diện: nhân

5



vật, cốt truyện và mô típ đặc trưng. Bởi các phương diện đó sẽ làm nên sự
khác biệt và phần nào giúp chúng ta hiểu rõ về phong tục văn hóa khác nhau
giữa các dân tộc cùng sinh sống trên dải đất hình chữ S.
4.2.2. Tư liệu
Khi nghiên cứu đề tài, chúng tôi tập hợp được 25 truyện thuộc kiểu
truyện nguời con riêng, trong đó có truyện Tấm Cám (bản kể của tác giả
Nguyễn Đổng Chi) và 24 truyện cùng kiểu của một số dân tộc thiểu số miền
núi phía Bắc. Với số lượng chưa phải là nhiều nhưng nó là cơ sở để chúng tôi
đi vào so sánh được nhất quán và đầy đủ hơn.
5. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp tiếp cận hệ thống.
- Phương pháp tiếp cận thi pháp học.
- Phương pháp so sánh.
- Phương pháp phân tích, tổng hợp.
- Phương pháp nghiên cứu liên ngành.
6. Đóng góp của khóa luận
- Khẳng định tính loại hình của kiểu truyện người con riêng trong kho
tàng truyện cổ tích của người Việt và của đồng bào dân tộc thiểu số, đồng thời
thấy được những biểu hiện đặc sắc của kiểu truyện từ góc nhìn so sánh.
- Khóa luận có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu
và giảng dạy văn học dân gian nói chung, truyện cổ tích nói riêng.
7. Cấu trúc khóa luận
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, phần Nội dung chính
gồm có ba chương:
Chương 1: So sánh nhân vật
Chương 2: So sánh cốt truyện
Chương 3: So sánh mô típ


6


NỘI DUNG
Chương 1. SO SÁNH NHÂN VẬT
1.1. Khái niệm nhân vật
Trong cuốn 150 thuật ngữ văn học, Lại Nguyên Ân xem xét nhân vật
trong mối tương quan với cá tính sáng tạo, phong cách nhà văn và trường phái
văn học: “Nhân vật văn học là một trong những khái niệm trung tâm để xem
xét sáng tác của một nhà văn, một khuynh hướng, trường phái hoặc dòng
phong cách. Nhân vật văn học là hình ư
t ợng nghệ thuật về con người, một
trong những dấu hiệu về sự tồn tại toàn vẹn của con người trong nghệ thuật
ngôn từ. Bên cạnh con người có khi các nhân vật văn học còn là một con vật,
các loài cây, các sinh thể hoang đường được gán những đặc điểm giống con
người” [1-tr.241]. Theo tác giả, nhân vật văn học sẽ là một trong những yếu
tố tạo nên phong cách, tính cá thể hóa của mỗi nhà văn và màu sắc riêng của
một trường phái văn học. Còn nhân vật văn học theo Từ điển thuật ngữ văn
học của Lê Bá Hán - Trần Đình Sử - Nguyễn Khắc Phi (đồng chủ biên) “Nhân
vật văn học là một đơn vị nghệ thuật đầy tính ước lệ, không thể đồng nhất nó
với con người có thật trong đời sống” [5-235]. Con người trong tác phẩm văn
học là tác giả chứng kiến ngoài đời thực rồi dựa vào đó để xây dựng nhân vật
của mình nhưng có những nhân vật được tác giả dùng tài năng, sự liên tưởng
của bản thân để hư cấu, tưởng tượng, tạo nên sự đặc sắc, lôi cuốn cho tác
phẩm. Khi xây dựng nhân vật, người viết còn muốn thể hiện quan niệm nghệ
thuật và lí tưởng thẩm mĩ của mình. Chính chủ đề là nơi kết tinh, chứa đựng
những tình cảm, tư tưởng được tác giả biểu hiện qua nhân vật. Vì thế, nhân
vật được tác giả miêu tả qua những xung đột, biến cố, mẫu thuẫn giữa nhân
vật này với nhân vật khác, giữa nhân vật với hoàn cảnh, giữa tuyến nhân vật
này với tuyến nhân vật khác,…

1.2. Hệ thống nhân vật
1.2.1. Sự giống nhau về hệ thống nhân vật
Nhìn tổng quát, nhân vật trong truyện cổ tích thường phong phú và đa
dạng hơn các thể loại khác. Nhưng trong từng kiểu truyện cụ thể thì số lượng
nhân vật lại không nhiều vì dung ưl ợng của truyện cổ tích nhỏ, “Nó không

7


làm nhiệm vụ bao quát một hiện thực rộng lớn, phức tạp nên không quy tụ
một số lượng nhân vật đông đảo như trong tiểu thuyết trường thiên” [1-tr 69].
Hệ thống nhân vật trong kiểu truyện người con riêng mà chúng tôi khảo sát
thường gồm ba kiểu nhân vật: nhân vật chính (người con riêng), nhân vật đối
thủ (mẹ con dì ghẻ) và nhân vật thần kì. Mỗi nhân vật đều thực hiện một chức
năng nhất định để tô đậm những giá trị tư tưởng mà tác giả gắm qua kiểu
truyện này.
Nhân vật người con riêng được coi là nhân vật chính diện, là nhân vật
biểu hiện cho những cái tốt, cái đẹp. Theo Từ điển thuật ngữ văn học thì
“Nhân vật chính diện là nhân vật thể hiện những giá trị tinh thần, những
phẩm chất đẹp đẽ, những hành vi cao cả của con người được nhà văn miêu
tả, khẳng định, đề cao trong tác phẩm theo quan điểm tư tưởng, một lí tưởng
xã hội - thẩm mĩ ” [5-tr.227]. Trong các thể loại: sử thi, bi kịch, tụng ca,...
thường viết về nhân vật chính diện với sự ca ngợi những người anh hùng luôn
sống vì cộng đồng, hi sinh vì nghĩa l ớn. Nhân vật chính diện trong đề tài mà
chúng tôi nghiên cứu chính là người con riêng. Họ là những con người bình
thường trong cuộc sống hằng ngày, là những con người bất hạnh, bị ghẻ lạnh
trong chính gia đình của mình, bị người dì ghẻ bạc đãi về cả tinh thần lẫn vật
chất, bị tước đoạt quyền sống, quyền được hưởng hạnh phúc. Nhưng họ là
“mồ côi thông minh, chăm chỉ, xinh đẹp, khéo léo và có tấm lòng hiếu thảo, vị
tha, luôn là trung tâm của vẻ đẹp và tính thiện” [4-tr88]. Những người con

riêng trong Tấm Cám, Inh và Ính (dân tộc Pu Péo), Chị em Vùi và Lu (dân tộc
Lô Lô), Tua gia và Tua Nhi (dân tộc Tày),… đều bị người dì ghẻ đẩy vào
hoàn cảnh sống lẻ loi, một mình một chiến tuyến để đối mặt với những âm
mưu độc ác, những hành động bần tiện của người dì ghẻ nhưng họ đã dũng
cảm vượt qua và chiến thắng kẻ xấu. Cụ thể nàng Tấm, nàng Nảo, nàng
Trắng, Gầu Nà,… sau khi mẹ mất phải sống cô độc ngay trong chính gia đình
của mình, tuy còn trẻ người, sức yếu nhưng người con riêng phải nhận sự
hành hạ, bóc lột, hãm hại liên tục từ mụ dì ghẻ độc ác, thâm độc, tàn nhẫn. Và
một sự giống nhau nữa ở nhân vật chính mà chúng tôi nhận thấy khi nghiên
cứu đề tài này là nhân vật chính luôn có kết thúc đẹp. Sự giống nhau này được
lí giải bởi quan niệm “Ở hiền gặp lành, ác giả ác báo” của người xưa. Thật

8


vậy, người Việt Nam từ xưa đã rất coi trong tình nghĩa “Một trăm cái lí không
bằng một tý cái tình”, tình cảm được đặt lên trên đầu, vì vậy, việc đối nhân xử
thế giữa người với người lại càng được quan tâm. Quay trở lại quan niệm đã
nêu ở trên, chúng ta không nên hiểu “ở hiền” nghĩa là nhẫn nhịn, chịu đựng,
làm ngơ trước cái ác cái xấu, hay “hiền” là không làm hại ai cả mà chúng ta
cần hiểu một cách sâu rộng hơn: “ở hiền” là hướng đến điều tốt đẹp, điều hay.
Trong truyện của người Việt, bản chất của Tấm là một cô gái hiền lành, hiếu
thảo, nàng phải gánh lên vai trọng trách của một người lo toan tất cả mọi việc
trong gia đình: nấu cơm, đi chăn trâu,…và Tấm phải chịu nhiều đau khổ trước
sự độc ác của mẹ con Cám. Sự oan ức, đau khổ lên đến đỉnh điểm khi mẹ con
Cám chặt gốc cau và làm Tấm chết, nàng đã nhiều lần hóa thân và trở lại làm
người, trừng trị dì ghẻ và Cám. Hay trong truyện Nàng Màng Ji (dân tộc H’
Mông), trái ngược với người con của dì ghẻ được nuông chiều hết mức thì
Màng Ji phải làm lụng vất vả và chịu nhiều khổ cực, nàng ngày ngày phải ăn
củ rau đắng. Khi gặp nhân vật mụ phù thủy, cuộc sống của nàng không còn

nghèo khổ nữa nhờ viên ngọc mà mụ cho nàng. Cuối cùng, nàng cũng tr ừng
trị được mẹ con mụ dì ghẻ, mang lại sự công bằng cho mình.Vì vậy, hành
động của Tấm hay hành động Inh, Tua Gia, nàng Màng Ji, Mùi Mụi,… không
nên đánh giá là những hành động ác mà đó là sự đấu tranh để giành lại hạnh
phúc, trừng trị kẻ xấu.
Đối lập với nhân vật chính diện là nhân vật phản diện, đây là các nhân
vật được tác giả khắc họa để tô đậm tính cách của nhân vật chính diện. Nhân
vật phản diện là đối thủ của nhân vật người con riêng, đại diện cho cái xấu, cái
ác. Trong thơ văn châm biếm, truyện cười, hài kịch,… kiểu nhân vật này
thường xuyên xuất hiện đã tô đậm được giá trị phê phán của tác phẩm. Nhân
vật phản diện trong truyện cổ tích Tấm Cám chính là mẹ con Cám, đại diện cho
cái ác, sự tham lam và tàn nhẫn. Đầu truyện là sự kiện thưởng yếm đào, Cám
lười biếng, “nhìn thấy giỏ của Tấm đã đầy, Cám lập tức bảo với chị mình là:Chị Tấm ơi chị Tấm! Đầu chị bị lấm, chị hụp cho sâu, kẻo về mẹ mắng.Tấm tin
lời Cám nói là thật nên vội vàng lội xuống dưới ao, đi ra chỗ sâu để tắm rửa
qua bùn đất bám trên người. Cám thừa cơ mà trút hết giỏ tôm tép của Tấm
sang giỏ của mình, sau đó ba chân bốn cẳng chạy về nhà trước tiên”, qua hành

9


động đó, chúng ta thấy được sự lười biếng và mưu mẹo của Cám, cướp công
của người khác một cách trắng trợn và bần tiện. Tiếp đó, Tấm bị mẹ con dì ghẻ
thịt mất cá bống, đây là niềm an ủi cuối cùng của Tấm sau khi bị Cám chơi xỏ
mình. Không lâu sau, nhà vua mở hội mấy ngày liền, Tấm cũng muốn đi nhưng
đã bị mẹ con Cám vùi dập đi, mụ đem một đấu thóc và gạo trộn lẫn rồi bảo:
“- Con ở nhà nhặt cho hết chỗ gạo này, sau đó thích đi đâu th ì đi, nhưng
đừng có mà bỏ dở đấy, dì về mà không có gạo nấu cơm thì dì đánh cho.”
Nhưng đau khổ hơn là Tấm bị tước đi quyền sống bởi những âm mưu
thâm độc của mẹ con Cám. Truyện cùng kiểu với Tấm Cám của các dân tộc
thiểu số miền núi phía Bắc cũng xây dựng nhân vật phản diện là người mẹ kế

hay còn gọi là mụ dì ghẻ. Trong truyện cổ Tua gia Tua Nhi (dân tộc Tày),
người dì ghẻ cho Tua Gia ăn cơm thừa canh cặn, không được no. Mụ dì ghẻ
luôn ghen ghét trước sự xinh đẹp, hạnh phúc của nàng và đã tìm mọi cách đẩy
nàng đến với cái chết: Mụ chặt cây khi Tua Gia trèo lên cây vải, nàng hóa
thành con chim yểng thì mụ bắt chim để thịt, sau đó, nàng biến thành cây tre
rồi lại bị chặt, hóa thành cọc màn rồi lại bị đốt,… Cuộc đời Tua Gia đã nhiều
lần hoá kiếp nhưng đều bị người dì ghẻ diệt trừ. Theo quan niệm của ông cha
ta từ xưa đến nay: “Ở hiền gặp lành, ác giả ác báo” đã là tư tư ởng để dân
gian viết nên cái kết của nhân vật người dì ghẻ. Mẹ con dì ghẻ đều có kết thúc
là sự báo ứng về những hành động đã làm và sự báo ứng đó tất yếu là cái chết.
Cám, Tua Nhi, nàng Đen, Lu, con của người dì ghẻ trong Con Côi (dân tộc
Mường), Gầu Nà (dân tộc H’Mông), Nàng Bjooc Rôm (dân tộc Tày),…đều
nhận cái chết thích đáng bởi bản tính tham lam, độc ác, muốn làm đẹp theo
người con riêng nhưng không thành. Truyện Tấm Cám, mụ dì ghẻ “mụ lập tức
lăn đùng ra chết tươi.”, còn trong các truyện cổ khác, như truyện Người dì
ghẻ độc ác (dân tộc Dao), sau những việc làm ác độc, mụ “Vì quá sợ hãi, mụ
vỡ mật mà chết, hóa thành con dế” hay trong Hai chị em Vùi và Lu (dân tộc
Lô Lô), người mẹ kế thấy “có cái đầu nâu và một cánh tay của con mình. Mụ
hoảng sợ và đau đớn, lăn đùng ra giữa nhà mà chết”. Một đặc điểm mà
chúng tôi nhận ra sau khi đọc các tác phẩm là nhân vật người dì ghẻ thường
không có tên mà chỉ được gọi chung là người dì ghẻ hay mụ dì ghẻ. Bởi vì
những người dì ghẻ thường không ưa con chồng, họ luôn ghét bỏ và ghen tỵ

10


với người con riêng, thể hiện rõ bản chất thâm độc, tàn nhẫn trong con người
họ khi đối xử với con chồng:
“Mấy đời bánh đúc có xương
Mấy đời dì ghẻ mà thương con chồng”.

Trong truyện cổ tích thần kì, nhân vật trung gian là nhân vật thần kì. Đó
là các thế lực siêu nhiên như Bụt, các con vật, người mẹ hóa thân trong các
con vật, Ngọc Hoàng, sét,... Loại nhân vật này đã đóng m ột vai trò rất quan
trọng, là nút thắt cho cốt truyện phát triển, mang lại sự thành công về thể loại
truyện cổ tích. Khi khảo sát 25 truyện, chúng tôi thấy chỉ có truyện Hai chị
em Vùi và Lu (dân tộc Lô Lô) là không xuất hiện kiểu nhân vật này. Ở truyện
Tấm Cám, dân gian đã sáng tạo ra hình ảnh ông Bụt với năng lực siêu nhiên
làm thay đổi cuộc đời của nhân vật trong đời sống mà xã hội không cho phép
họ làm. Vì vậy trong truyện này, mỗi lần cô Tấm òa khóc vì bị ức hiếp, bạc
đãi là mỗi lần Bụt xuất hiện giúp đỡ và an ủi. Bụt ba lần xuất hiện và đều xuất
hiện trong lúc Tấm gặp khó khăn: nàng bị Cám cướp công khi đi bắt tép, bị dì
ghẻ thịt mất cá bống và lần cuối cùng là khi không có quần áo đẹp đi hội.
Trong Mùi Mụi - Mùi Nái (dân tộc Dao) nhân vật người con riêng nhận con
gà nhỏ từ mẹ để làm bạn, được sét cứu trong lần người dì ghẻ âm mưu giết
hại. Hay ở Sằn Nhì (dân tộc Dao), Ngọc Hoàng là nhân vật đã cứu Sằn Nhì
sau lần trèo hái đào để cúng mẹ và dọi lại chồng bò do người mẹ kế dựng lên.
Nhân vật thần kì chính là đi ểm tựa tinh thần, nơi mà người con riêng có thể
than vãn về cuộc đời khổ cực và nhờ sự giúp đỡ từ nhân vật này, chính họ là
người đã giúp ngư ời con riêng vượt qua những khó khăn ban đầu để đi đến
những chặng đường đấu tranh tiếp theo, giành lại sự sống và hạnh phúc chính
đáng của mình.
Nhìn chung, cả truyện Tấm Cám và truyện cùng kiểu của một số dân
tộc thiểu số miền núi phía Bắc, các nhân vật đều hiện lên với đặc điểm tính
cách tương đối thống nhất, mỗi nhân vật thực hiện một chức năng riêng. Cụ
thể như Tấm là nhân vật thiện thực hiện chức năng chống trả, diệt trừ cái ác,
cái xấu. Sự lựa chọn của Tấm chỉ đơn giản là đấu tranh, tiêu diệt tận gốc cái
xấu hoặc là chấp nhận cái chết cho sự thụ động. Nhân vật mụ dì ghẻ đại diện

11



cho cái ác, nhân vật này bao giờ cũng nhận về mình hình phạt đau đớn nhất
cho những việc làm, hành động ác nghiệt mà mụ gây ra cho người con riêng.
Còn Cám là nhân vật chức năng có tính chất công cụ- là phương tiện tiếp tay
cho những âm mưu thâm độc của người dì ghẻ. Nhân vật vua là nhân vật cái
thiện, giúp Tấm có thêm sức mạnh để đấu tranh giành lại hạnh phúc, diệt cái
xấu, cái ác, hoặc trong Mùi Mụi - Mùi Nái (dân tộc Dao) các nhân vật cũng có
chức năng như vậy.
1.2.2. Sự khác nhau về hệ thống nhân vật
Mặc dù có nhiều điểm giống nhau nhưng hệ thống nhân vật trong kiểu
truyện người con riêng mà chúng tôi khảo sát vẫn có nhiều điểm khác nhau.
Điều này chứng tỏ, người Việt và các dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc tuy
sống chung trên cùng một dải đất hình chữ S nhưng quan điểm thẩm mĩ của mỗi
dân tộc lại có sự khác biệt.
Thứ nhất, chúng tôi thấy sự khác nhau là ở nhân vật chính. Trong
truyện của người Việt, Tấm ban đầu rất thụ động, ngây thơ, cả tin, còn trong
một số truyện, sự ngây thơ, cả tin của nhân vật người con riêng giảm đi, thậm
chí có nhân vật sống trong rừng để tìm một cuộc sống mới, thoát khỏi cảnh
sống khổ cực bên người dì ghẻ độc ác. Sự thụ động của Tấm có thể thấy rõ
qua phản ứng của nàng trước hành động độc ác, xảo quyệt của người dì ghẻ
và Cám. Nói về điều này, nhà nghiên cứu Đinh Gia Khánh đã vi ết “Tác giả
dân gian đã miêu t ả cô Tấm như một người con gái có bản chất ngây thơ
chân thật. Vì vậy lúc đầu cô liên tiếp mắc lừa chúng. “Cô đã nghe lời Cám
hụp sâu xuống nước để trút mất giỏ tép; cô đã nghe l ời mụ dì ghẻ đi chăn
trâu ở cánh đồng xa, do đó đã để chúng ở nhà bắt cá bống ăn, cô tin rằng mụ
dì ghẻ gõ gốc cây đuổi kiến hộ cho nên không đề phòng và bị nó chặt đổ cây
và làm cô ngã chết. Mỗi lần bị bóc lột hành hạ… cô chỉ biết ngồi khóc” [7-tr
98]. Lời phân tích của Đinh Gia Khánh đã giúp chúng tôi nhận ra nhiều điều,
đồng thời thấy được sự tinh tế và tế nhị của các tác giả dân gian. Một cô gái
ngây thơ, nghèo khổ, không nơi nương tựa dường như không thể giải quyết

theo hướng khác được. Ngược lại, trong truyện cùng kiểu của các dân tộc
thiểu số miền núi phía Bắc, sự ngây thơ, cả tin đã được tác giả dân gian giảm
đi rất nhiều. Trong truyện Tua Pèng Tua Sẻn (dân tộc Nùng), sau khi bị bố

12


đánh oan do âm mưu xảo quyệt của dì ghẻ, Tua Sẻn đã chạy vào bản để thoát
khỏi cảnh sống dưới mặt, dưới quyền của người mẹ kế. Hay Tua Gia (dân tộc
Tày) khi bị mẹ con Tua Nhi bạc đãi, hành hạ bắt đi chăn vịt thật xa, đến đó
nàng nhận trầu cau của hoàng tử và khi trở về nhà môi nàng đỏ tươi, mụ dì
ghẻ sinh nghi và hỏi duyên cớ. Tua Gia thưa rằng nàng đã bôi phân v ịt lên
môi để cho Tua Nhi làm theo. Tua Nhi bôi lên như nàng nhưng chẳng thấy
môi đỏ hơn mà chỉ thấy “nó vừa thối vừa nồng, mà chẳng thấy môi đỏ lên
được chút nào”. Qua đây, ta thấy nhân vật người con riêng có một bước phát
triển mới về nhận thức, sự yếu đuối, thụ động dường như không còn n ữa mà
họ phần nào đã đứng lên đấu tranh để giành lại quyền sống và hạnh phúc của
mình.
Người dì ghẻ trong 25 truyện mà chúng tôi khảo sát đều có bản tính
giống nhau là ở sự độc ác và tàn nhẫn, luôn tìm đủ mọi cách để hãm hại người
con riêng. Đứa con đẻ của mụ cũng có sự giống mụ nhưng giữa Cám và
những người con của dì ghẻ trong các truyện còn lại lại có sự khác biệt. Nhân
vật Cám trong truyện của người Việt là nhân vật ác, sự bịp bợm và ích kỉ
trong con người Cám được thể hiện rõ hơn các truyện còn lại. Cám là một
người lười biếng, đầy mưu mô khi lừa chị để trút giỏ tép của vào giỏ của
mình, ba chân bốn cảng chạy về nhà lấy yếm đào. Ngay đến cả một chú cá
bống, người bạn duy nhất của Tấm, Cám cũng rình m ò rồi bày mưu để giết
nó. Khi Tấm làm hoàng hậu, Cám ghen tỵ và về bạn bạc với mẹ để giết hại
Tấm không từ một thủ đoạn nào. Sự độc ác của Cám có sự tăng tiến, ban đầu
là bịp bợm, lừa đảo đã đi lên m ức hành hạ và bạc đãi Tấm, sau đó là sự bức

hại Tấm liên tiếp. Tuy nhiên, trong truyện của các dân tộc thiểu số, mức độ
tàn nhẫn của người dì ghẻ rõ nét hơn sự độc ác của con đẻ mụ. Trong một số
truyện người em cùng cha khác mẹ với người con riêng được hiện lên để làm
nổi bật mẫu thuẫn con chồng dì ghẻ - xung đột gia đình th ời bấy giờ. Tuy
nhiên, khi khảo sát chúng tôi thấy có hai truyện hai nhân vật này lại yêu
thương và đoàn kết với nhau để chống lại những thủ đoạn thâm độc của mụ dì
ghẻ, đó là Eng trong truyện Noong và Eng (dân tộc Tày), Văn Lang trong
Người dì ghẻ độc ác (dân tộc Dao). Hai nhân vật này sau khi nghe thấy lời
dặn dò riêng lẻ của mẹ với mình đ ể hại người anh, người chị, họ đã không

13


làm theo lời mẹ, âm thầm đi báo cho anh chị của mình. Đây là những sự khác
biệt, sự sáng tạo của hai dân tộc này, phần nào thể hiện được cái nhìn mới mẻ
về kiểu truyện người con riêng. Nhưng trong các truyện như Tua Gia Tua Nhi
(dân tộc Tày), Nàng Khao nàng Đăm (dân tộc Thái),… thì xungđ ột của
những người cùng thế hệ được thể hiện rõ nhất, làm nên sự khác biệt đối với
nhân vật Cám trong Tấm Cám. Nếu Cám sau khi giết hại Tấm không thành thì
nàng đều về báo mẹ để tìm cách. Và sau khiđư ợc mẹ bày cách cho thì Cám
mới dám hành động. Ngược lại, nhân vật Tua Nhi và nàng Đăm trực tiếp bức
hại người con riêng mà không cần nhờ đến sự trợ giúp của mẹ mình. Sau khi
nàng Khao chết và biến thành con chim cu và được Khun Chương yêu mến
“ngày ngày tha thẩn bên lồng chim, trông chim, nghe chim hót”. Nàng ta thấy
gai mắt, tức giận nên nhân lúc chồng đi vắng đã “vặn cổ chim, vùi xác chim
vào xó vườn”. Chim chết và hóa thành cây tre ngà, “thân xe lắc lư văng vẳng
ra tiếng nhiếc móc người chị cướp chồng” nàng bèn chặt cây tre và đốt thành
tro. Hay hành động bức hại người con riêng của nàng Tua Nhi cũng r ất quyết
liệt, Tua Gia biến thành con chim yểng, nàng bắt chim đem giết đi và vùi vào
gốc tre, Tua Gia biến thành cây tre, cọc màn nàng cũng thẳng tay tiêu diệt một

cách chủ động bởi vì dù biến thành sự vật nào thì Tua Gia vẫn được sự quý
mến từ hoàng tử. Chính điều đó đã khiến cho Tua Nhi ghen ghét, đố kị và có
những hành động thật độc ác và tàn nhẫn.
Về nhân vật thần kì trong truyện Tấm Cám của người Việt và truyện
cùng kiểu của các dân tộc thiểu số cũng có sự khác nhau. Hệ thống nhân vật
hỗ trợ người con riêng trong Tấm Cám là nhân vật thần kì, đó là Bụt, con gà,
chim sẻ,... Nhưng sự xuất hiện quen thuộc nhất là ông Bụt - một người hiền
từ, luôn xuất hiện đúng lúc để cứu giúp những con người nghèo khổ, trong đó
có nhân vật cô Tấm. Nhân vật Bụt có nguồn gốc từ Phật giáo nhưng đó đã là
đức Phật được dân gian hóa. Bụt luôn xuất hiện kịp thời mỗi khi Tấm khóc và
ông giúp Tấm tìm rađư ợc cách giải quyết những khó khăn đang hiện hữu
ngay trước mắt. Còn nhân vật hỗ trợ trong các truyện cùng kiểu ở miền núi
phía Bắc thường là các con vật, các con vật không chỉ làm bạn của người con
riêng mà còn giúp họ tồn tại được trước những âm mưu thâm độc của dì ghẻ.
Tuy nhiên, số nhiều các truyện được tác giả dân gian xây dựng lên nhân vật

14


trợ giúp là người mẹ - nhân vật này chiếm một tần số rất nhiều trong những
truyện mà chúng ta khảo sát. Trong truyện Mùi Mụi - Mùi Nái (dân tộc Dao)
hình ảnh người mẹ xuất hiện khi nàng đi chăn vịt, bà đã đưa cho đứa con của
mình một chú gà nhỏ, động viên tinh thần rồi biến mất. Hay trong Inh và Ính
(dân tộc Pu Péo), Inh phải chịu nhiều khổ cực từ các thành viên trong gia đình
sau khi mẹ mất, bố luôn tìm cách mắng cô, mẹ ghẻ cũng luôn sinh sự để hành
hạ cô, Ính cũng bắt chước bố mẹ bắt nạt chị. Cuộc sống của Inh dường như
chỉ có công việc và nhận sự kinh bỉ từ mẹ con Ính. Cô luôn mơ và gọi tên mẹ
trong những giấc mơ của mình. Hằng ngày cô đi chăn trâu cùng ũl tr ẻ trong
bản và gặp một người đàn bà. Sau khi Inh kể về mẹ hai ác, bà dùng vết sẹo
trên đầu mình để giúp con nhận ra: bà chính là mẹ của inh. Bà động viên Inh

và luôn căn dặn con nhặt lông gà, lông vịt để mẹ may áo mới cho con, hay chỉ
cho con cách làm thế nào để có váy áo mới. Và khi người dì ghẻ biết chuyện,
Inh gặp rắc rối và đi tìm m ẹ của mình, bà đã d ắt con gái vào hang sâu để lựa
chọn một bộ váy ưng ý nhất. Sự xuất hiện kiểu nhân vật này bắt nguồn từ tâm
lí, tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, vật tổ của đồng bào các dân tộc thiểu số. Họ
tin rằng ông bà, cha mẹ khi chết đi đều tìm cách đều phù trợ cho con cháu của
mình, đặc biệt là người mẹ. Ngoài ra, nhân vật thần kì trong Tấm Cám không
có chức năng trừng trị kẻ xấu, ngược lại, trong truyện của một số dân tộc
thiểu số miền núi phía Bắc, nhân vật này lại chính là người trực tiếp trừng trị
và răn đe những kẻ xấu như mẹ con dì ghẻ. Truyện Dì ghẻ con chồng (dân tộc
Tày), nhân vật thần kì tồn tại dưới dạng một con hổ, nhân vật này đã trừng trị
sự lười biếng và tham lam của mẹ con người dì ghẻ bằng cái chết. Con của dì
ghẻ lười biếng, ngu dốt chỉ biết ngồi im một chỗ khi thú rừng đến nên đã b ị
hổ phá nhà vào ăn thịt, còn sự tham lam và độc ác của người mụ bị trả giá
bằng một cái chết đau đớn “Thấy trên gác có một đống gì vàng vàng, mụ lấy
gậy chọc thử. Hổ bị chọc đau quá tỉnh dậy, nhảy xuống cắn mụ chết”. Người
dì ghẻ trong truyện Sằn Nhì (dân tộc) độc ác, tàn nhẫn đã “lên rừng tìm lá độc
về xào nấu món ăn ngon để giết Sằn Nhì”, tuy nhiên sự nham hiểm đó không
thể qua mắt được Ngọc Hoàng, mùi hơi độc xông lên cả thiên đình, Ng ọc
Hoàng đã sai Thiên lôi đi tr ừng trị mụ dì ghẻ gian ác, cuộc đời mụ kết thúc
bằng một tiếng nổ vang trời. Sự trừng trị đó thể hiện được thái độ quyết liệt
của tác giả dân gian với những hành động, việc làm bất nhân, bất nghĩa của kẻ

15


xấu. Đồng thời, dân gian cũng mu ốn xen thêm một nhân vật làm chức năng
công lí, trừng trị kẻ xấu và giữ được nét đẹp về cái thiện ở nhân vật chính,
tránh có những suy nghĩ trái chi ều của bạn đọc về hành động của cô Tấm ở
cuối truyện như của người Việt.

1.3. Phương thức xây dựng nhân vật
Phương thức xây dựng nhân vật có một ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong
việc tái hiện nhân vật và phần nào thể hiện được chủ đề, tư tưởng của tác giả dân
gian trong thể loại truyện cổ tích. Có rất nhiều phương thức xây dựng nhân vật
như: phương thức xây dựng nhân vật chính, phương thức xây dựng nhân vật hư
cấu, phương thức tạo mâu thuẫn, xung đột, phương thức xây dựng nhân vật loại
hình,… Tùy theo đặc điểm nhân vật và nguyên tắc sáng tác mà mỗi dân tộc lại
có những phương thức xây dựng nhân vật khác nhau. Ở Việt Nam, truyện Tấm
Cám của người Việt và truyện cùng kiểu của một số dân tộc thiểu số miền núi
phía Bắc có sự tương đồng trong phương thức xây dựng nhân vật, tuy nhiên giữa
chúng vẫn có sự khác biệt.
1.3.1. Sự tương đồng về phương thức xây dựng nhân vật
Các truyện mà chúng tôi khảo sát đều được xây dựng theo phương thức
loại hình: nhân vật tốt sẽ tốt từ đầu đến cuối, nhân vật xấu sẽ xấu từ đầu đến
cuối. Tác giả dân gian xây dựng hành động, tính cách của nhân vật góp phần
làm rõ nét hơn cho đ ặc trưng của từng loại nhân vật: nhân vật chính diện và
nhân vật phản diện. Đây là phương thức xây dựng nhân vật đặc trưng của
truyện cổ tích nói chung và kiểu truyện người con riêng đương nhiên cũng
được xây dựng theo phương thức đó. Tấm là nhân vật chính diện, tiêu biểu
cho những người con côi bất hạnh, nghèo khổ nhưng tính tình hiền lành, hiếu
thảo, chăm chỉ. Cuộc đời, số phận của kiểu nhân vật này là phải trải qua biết
bao sự đắng cay, bị hành hạ, bức hại nhưng cuối cùng nhân vật sẽ nhận được
một sự đền đáp xứng đáng, như sự tặng thưởng của dân gian đối với tấm lòng
lương thiện và những đức tính tốt đẹp, đáng trân trọng của nhân vật người con
riêng. Ngược lại, mẹ con mụ dì ghẻ là đại diện tiêu biểu cho những kẻ ác,
những việc làm xấu, ăn trên ngồi trốc, chỉ biết hành hạ, bóc lột, âm mưu giết
hại những người lương thiện. Những hành động ác ấy không chỉ có một lần

16



mà hết lần này đến lần khác, nhưng dân gian thật công bằng khi để mẹ con dì
ghẻ nhận sự trừng phạt thích đáng cho những lỗi lầm, việc làm mà chúng gây
ra. Trong truyện của người Việt, Tấm là một cô gái chăm chỉ, tốt bụng, hiếu
thảo nhưng luôn gặp phải sự ghen ghét, đố kị của mẹ con Cám, nàng bị bức
hại, chết đi sống lại nhiều lần. Nhưng “con giun xéo mãi ũcng qu ằn” (Tục
ngữ), Tấm đã đ ứng lên đấu tranh một cách quyết liệt để giành lại hạnh phúc
của mình. Dân gian đã cho Tấm thực hiện điều đó. Tấm đã tự tay trừng trị, đó
là một hình phạt và là một cái kết tất yếu đối với những tội ác của mẹ con
Cám. Các tác giả dân gian trong truyện của các dân tộc thiểu số cũng vậy, họ
xây dựng nên hình ảnh người con riêng với đặc điểm phổ quát xuyên suốt
trong tác phẩm: Mùi Mụi, Inh, Tua Gia, Gầu Nà, nàng Hồ, Văn Linh, nàng
Khao,… là những người con côi phải chịu nhiều đau khổ, chà đạp từ người dì
ghẻ nhưng họ được ban thưởng bằng một cuộc sum vầy với gia đình hoặc có
một cuộc sống giàu có, sung túc. Nàng Khao trong truyện Nàng Khao nàng
Đăm (dân tộc Thái) là một người con gái nết na, chăm chỉ lao động và hiếu
thảo. Khi mẹ mất, “nàng Khao càng khổ sở. Người bố ngày càng tin lời vợ lẽ,
ruồng bỏ con riêng” và nàng bị chính người cha ruột của mình đang tâm
mang con vào rừng cho thú dữ ăn thịt để hài lòng vợ hai. Tuy nhiên, khi vào
chốn rừng thiêng nước độc, tính cách của nàng vẫn nguyên vẹn với sự hiền
hậu thêm chút khéo léo nàng đã lấy lòng được “một con hổ cái rất lớn” và trở
thành vợ, sống hạnh phúc, giàu sang bên chàng Khun Chương. Mặc dù bị cha
ruột hãm hại nhưng nàng vẫn hiếu thảo và yêu thương cha khi cha đến thăm.
Nàng cho cha lên nhà bằng thang vàng thang bạc, ngồi bằng ghế mây và ăn
bằng đũa ngà, đũa ngọc. Sự hiếu thảo của nàng đã thể hiện được cách sống có
tình có nghĩa c ủa nhân dân ta từ trước đến nay, biết tha thứ và sống có tình
nghĩa thì ắt hẳn cuộc sống của con người sẽ giàu ý nghĩa và tràn ngập niềm vui.
Đối lập là hình ảnh mẹ con dì ghẻ độc ác, tàn nhẫn, “ác giả ác báo” họ
phải trả giá cho những việc mình làm bằng cái chết thật đau đớn. Mẹ con Cám
trong truyện Tấm Cám của người Việt là những con người đầy mưu mô xảo

quyệt, luôn tìm cách triệt đường sống của Tấm. Để tranh được chiếc yếm đào
mà mẹ ban thưởng, Cám đã l ừa chị để trút giỏi tép vào giỏ của mình, nhanh
chân chạy về lấy yếm. Nhà vua mở hội cho các nam thanh nữ tú có dịp hẹn hò

17


gặp gỡ nhau thì mẹ con Cám đã tìm cách b ắt Tấm ở nhà “nhặt thóc ra thóc,
gạo ra gạo” rồi mới được đi hội. Không chỉ dừng lại ở đó, nhờ chiếc hài xinh
xắn, Tấm trở thành hoàng hậu và sống hạnh phúc bên nhà vua. Hạnh phúc của
Tấm đã bừng lên sự ghen ghét, đố kị trong lòng mẹ con dì ghẻ. Chúng bày
mưu hết lần này đến lần khác để giết hại Tấm nhằm giành ngôi vị hoàng hậu.
Nhưng “chính nghĩa nhất định sẽ thắng gian tà”, mẹ con Cám phải nhận một
hình phạt hết sức quyết liệt và thích đáng từ dân gian: Cám chết do tắm nước
sôi và mụ dì ghẻ sau khi ăn hết chum mắm thấy đầu nâu của con thì lăn đùng
ra chết. Hay mẹ con dì ghẻ trong truyện Nàng Màng Ji (dân tộc H’ Mông)
cũng bị trừng trị vì thói độc ác và tham lam của chúng. Khi thấy Màng Ji nhờ
viên ngọc quý trở nên giàu có, mẹ con chúng hậm hực và quyết định làm theo
nàng nhưng không thành. Cuối cùng chúng phải nhận một cái chết như nhau
cho những hành động đã làm, cụ thể con của mụ dì ghẻ khi tìm đường về nhà
thì bị rắn cắn chết còn mụ dì ghẻ trên đường đi tìm con thì bị thú dữ cắn.
Thứ hai, sự giống nhau còn thể hiện ở phương thức xây dựng nhân vật
thần kì. Đây là phương thức mà trong truyện cổ tích nào cũng được dân gian
sử dụng, vì đó chính là yếu tố tạo nên sự hấp dẫn, sự khác biệt giữa thể loại
truyện cổ tích với các thể loại khác. Nhân vật thần kì trong kiểu truyện người
con riêng được tác giả sáng tạo nhằm hỗ trợ nhân vật người con riêng vượt
qua khó khăn bằng cách là bày cách hoặc ban cho một vật báu màu nhiệm nào
đó. Về điều này, Đinh Gia Khánh cũng từng nhận xét: “Trong cuộc đấu tranh
chống lại mụ dì ghẻ, cô gái được những thế lực siêu nhiên giúp đỡ. Thế lực
siêu nhiên này cũng tùy theo từng nước mà thay đổi” [7,tr 37]. Nhân vật thần

kì trong Tấm Cám chính là Bụt - thế lực siêu nhiên mang trong mình những
phép màu kì diệu. Bụt đã bày cho Tấm cách tự tìm lấy niềm an ủi, người bạn
cho mình (con cá bống), giúp Tấm có quần áo đẹp để đi dự hội,… Ở đây, Bụt
là một người bạn đồng hành với Tấm khi còn đeo mặt nạ trên mình, chiếc mặt
nạ ấy là sự yếu đuối, sự thụ động của Tấm trước những âm mưu, sự ghen ghét
đố kị của mẹ con Cám. Cũng như vậy, truyện cổ Tua Pèng- Tua Sẻn (dân tộc
Nùng), nhân vật thần kì ở đây là chúa sơn lâm có tên là “Pú chợ”. Bằng sự
hiền lành, đối đáp tử tế và thông minh của nàng, “Pú chợ” không phá loại đi
ruộng nương mà ngược lại còn xua đ ổi thú dữ, chim chuột cho nàng làm cho

18


mùa màng bội thu. Sự giúp đỡ của chúa sơn lâm giúp nàng tồn tại được ở nơi
núi rừng đầy hiểm trở và đặc biệt nhân vật này chính là một ngòi nổ gián tiếp
để trừng trị tội ác của mẹ con Tua Pèng. Bởi vì “Pú chợ” đã ban sự giàu có
cho Tua Sẻn và dẫn đến lòng đố kị, sự tham lam của mẹ con Tua Pèng, tiếp
đó là những hành động làm theo nhưng không thành của Tua Pèng. Tóm lại,
kết quả tất yếu của kẻ ác, kẻ xấu như mẹ con Tua Pèng đó chính là cái chết.
Như chúng ta thấy, hầu như mỗi tác phẩm trong kiểu truyện người con
riêng đều hiện lên những mâu thuẫn, những xung đột giống nhau. Đó là mâu
thuẫn giữa mẹ ghẻ và con chồng, chị em cùng cha khác mẹ,… Tuy nhiên, trong
các tác phẩm mà chúng tôi khảo sát đều xảy ra mâu thuẫn giữa người dì ghẻ và
con chồng. Như trong truyện Tấm Cám, mâu thuẫn ở đây là mâu thuẫn giữa
Tấm và người dì ghẻ, người dì ghẻ luôn tìm cách đ ể hãm hại Tấm, đẩy Tấm
đến con đường cùng là cái chết. Điều này đã thể hiện dụng ý nghệ thuật của tác
giả dân gian trong việc xây dựng nhân vật. Bởi vì trong chế độ phụ quyền,
người đàn ông luôn giữ vai trò quan trọng, có chỗ đứng và tiếng nói trong gia
đình, do đó mâu thuẫn giữa người dì ghẻ và con chồng (là con trai) ít được tác
giả dân gian xây dựng lên. Tuy nhiên, trong một số truyện dân gian lại dựng

lên mâu thuẫn giữa dì ghẻ và con trai của chồng. Chúng ta có thể điểm qua
truyện cổ Người dì ghẻ độc ác (dân tộc Dao) với nhân vật người con riêng là
con trai, tên là Văn Linh. Nhưng ở đây, tác giả xây dựng xung đột không phải
là sự ghen ghét về nhan sắc, về hạnh phúc mà xung đột về tài sản. Bởi lẽ, con
trai thường ít được miêu tả về ngoại hình, nhan sắc mà chủ yếu nói về tài năng
và sự kế thừa gia sản, con trai cả trong gia đình thường được tổ tiên để đất đai,
gia sản nhiều hơn. Hơn nữa, người con gái nhỏ trong gia đình phụ quyền không
có tiếng nói, vị trí và thường rất yếu đuối nên sẽ dễ tạo nên xung đột, dễ bị các
thế lực xấu bắt nạt và đè nén.
1.3.2. Sự khác nhau về phương thức xây dựng nhân vật
Thứ nhất là sự khác nhau trong việc xây dựng nhân vật chính. Trong
truyện Tấm Cám của người Việt, nhân vật chính là Tấm. Khác với những
truyện cùng kiểu khác, Tấm ban đầu là một cô gái thụ động, ngây thơ, cả tin,
là một người con gái mồ côi, vốn hiền lành, chăm chỉ, nhưng luôn bị mẹ con
Cám chà đạp, hãm hại. Đầu tiên là ở việc bắt tép để được người mẹ kế tặng

19


×