Tải bản đầy đủ (.pdf) (59 trang)

So sánh phong tục cưới xin giữa người h’mông ở sa pa (lào cai) và người h’mông ở mù cang chải (yên bái)

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.54 MB, 59 trang )

TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN

NGUYỄN THỊ HẢO TRANG

SO SÁNH PHONG TỤC CƯỚI XIN GIỮA NGƯỜI H’MÔNG
Ở SA PA (LÀO CAI) VÀ NGƯỜI H’MÔNG
Ở MÙ CANG CHẢI (YÊN BÁI)

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Cử nhân Việt Nam học

Hà Nội, tháng 5 năm 2019


TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN

NGUYỄN THỊ HẢO TRANG

SO SÁNH PHONG TỤC CƯỚI XIN GIỮA NGƯỜI H’MÔNG
Ở SA PA (LÀO CAI) VÀ NGƯỜI H’MÔNG
Ở MÙ CANG CHẢI (YÊN BÁI)

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Cử nhân Việt Nam học

Người hướng dẫn: TS. Nguyễn Thị Tính

Hà Nội, tháng 5 năm 2019



LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới các thầy cô giáo trong khoa Ngữ văn đã chỉ
dạy và truyền đạt cho tôi những kiến thức chuyên ngành bổ ích trong suốt quá trình
học tập tại trường ĐHSP Hà Nội 2. Đặc biệt tôi xin chân thành cảm ơn sự quan tâm,
giúp đỡ nhiệt tình của cô giáo - TS. Nguyễn Thị Tính đã tận tình hướng dẫn và chỉ
bảo để tôi hoàn thành khóa luận tốt nghiệp.
Do vốn kiến thức và kinh nghiệm nghiên cứu của bản thân còn nhiều hạn
chế nên đề tài không tránh khỏi thiếu sót. Vì vậy, tôi rất mong nhận được sự đóng
góp ý kiến của các thầy, các cô và các bạn để khóa luận được hoàn thiện hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 5 năm 2019
Sinh viên thực hiện

Nguyễn Thị Hảo Trang


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng bản thân tôi dưới
sự hướng dẫn khoa học của TS. Nguyễn Thị Tính. Các nội dung nghiên cứu trong
đề tài này là hoàn toàn trung thực và chưa được công bố dưới bất kì hình thức nào.
Nếu phát hiện có bất kì gian lận nào trong khóa luận, tôi xin hoàn toàn chịu trách
nhiệm.

Hà Nội, tháng 5 năm 2019
Sinh viên thực hiện

Nguyễn Thị Hảo Trang



MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU ........................................................................................................1
PHẦN NỘI DUNG ....................................................................................................5
CHƢƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ NGƢỜI H’MÔNG ..............................................5
1.1. Nguồn gốc lịch sử và tên gọi ............................................................................5
1.1.1. Nguồn gốc lịch sử.......................................................................................5
1.1.2. Tên gọi ........................................................................................................5
1.2. Địa vực cư trú ...................................................................................................7
1.3. Số lượng dân số và các nhóm người Mông ở Việt Nam ..................................9
1.4. Đặc điểm kinh tế .............................................................................................11
1.4.1. Trồng trọt ..................................................................................................11
1.4.2. Các loại cây ăn quả và cây công nghiệp...................................................12
1.4.3. Công cụ sản xuất ......................................................................................13
1.4.4. Những ngành nghề khác trong gia đình ...................................................14
1.5. Tổ chức cộng đồng .........................................................................................15
CHƢƠNG 2: PHONG TỤC CƢỚI XIN CỦA NGƢỜI H’MÔNG Ở SA PA VÀ
NGƢỜI H’MÔNG Ở MÙ CANG CHẢI - NHỮNG ĐIỂM TƢƠNG ĐỒNG ...21
2.1. Quan niệm cưới xin của người H’Mông .........................................................21
2.2. Các nghi thức trong cưới xin ..........................................................................23
2.2.1. Tục “kéo vợ” của người Mông .................................................................23
2.2.2. Lễ dạm hỏi và so tuổi ...............................................................................25
2.2.3. Lễ cưới ......................................................................................................26
2.3. Trang phục của cô dâu, chú rể trong ngày cưới..............................................27
CHƢƠNG 3: PHONG TỤC CƢỚI XIN CỦA NGƢỜI H’MÔNG Ở SA PA VÀ
NGƢỜI H’MÔNG Ở MÙ CANG CHẢI - NHỮNG ĐIỂM KHÁC BIỆT ........31
3.1. Quan niệm trong cưới xin ...............................................................................31


3.2. Các nghi thức trong cưới xin ..........................................................................35
3.3. Trang phục của cô dâu, chú rể trong ngày cưới..............................................38

3.4. Những kiêng kị trong đám cưới ......................................................................40
3.5. Những hủ tục trong cưới xin ...........................................................................42
KẾT LUẬN ..............................................................................................................45
TÀI LIỆU THAM KHẢO
MỘT SỐ HÌNH ẢNH VỀ PHONG TỤC CƢỚI HỎI


PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Việt Nam là một quốc gia có hình chữ S nằm ở rìa phía đông của bán đảo
Đông Dương thuộc Đông Nam Á, với số dân ước tính 93,7 triệu dân vào năm 2018.
54 dân tộc anh em trên đất nước Việt Nam cùng nhau sinh sống với nhiều nét văn
hóa, phong tục tập quán khác nhau.
Bản sắc văn hóa dân tộc thể hiện rõ nét qua sinh hoạt văn hóa cộng đồng và
các hoạt động kinh tế như cưới xin, ma chay, văn hóa, văn nghệ,…
Lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta gắn với xu thế hội nhập văn
hóa, các tộc người đã góp phần tạo nên văn hóa Việt Nam “đa dạng trong thống
nhất”. Trong số các dân tộc tạo nên nét “đa dạng trong thống nhất”, dân tộc
H’Mông là một trong những dân tộc có đóng góp to lớn tạo nên bản sắc văn hóa
Việt Nam, đặc biệt là dân tộc H’Mông ở hai tỉnh Lào Cai và Yên Bái nói chung, của
hai huyện Sa Pa và Mù Cang Chải nói riêng.
Trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đặc biệt là ngành công
nghiệp 4.0 hiện nay, văn hóa các dân tộc đã phần nào mất đi những bản sắc vốn có
của mình. Là sinh viên ngành Việt Nam học, chúng tôi muốn đi sâu nghiên cứu về
văn hóa của các dân tộc trên đất nước mình, muốn đóng góp phần nào cho những
thế hệ sau được biết về những nét văn hóa đặc trưng của các dân tộc đã bị mai một,
đặc biệt là phong tục cưới xin của người H’Mông ở tỉnh Lào Cai và tỉnh Yên Bái,
cụ thể hơn là hai huyện Sa Pa và Mù Cang Chải, bởi đây là hai nơi tập trung đa số
người H’Mông sinh sống. Để khai thác rõ nét nhất về phong tục cưới xin của người
H’Mông nơi đây, tôi đã chọn chủ đề “So sánh phong tục cƣới xin giữa ngƣời

H’Mông ở Sa Pa (Lào Cai) và ngƣời H’Mông ở Mù Cang Chải (Yên Bái)”.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Phong tục cưới xin của dân tộc H’Mông là một trong những nét sinh hoạt
văn hóa độc đáo trong phong tục của 54 dân tộc Việt Nam. Đây là vấn đề thu hút
được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu.
Có thể kể đến một số bài viết về nguồn gốc của dân tộc H’Mông như Tìm
hiểu dân tộc Mông của tác giả Hoàng Việt Quân; Dân tộc Mông ở Việt Nam của tác
giả Cư Hòa Vần. Cả hai cuốn sách đều bàn về sự ra đời của dân tộc Mông tại Việt
Nam cũng như địa vực cư trú, đời sống kinh tế, đời sống văn hóa, phong tục tập
quán của người H’Mông nói chung. Giúp người đọc phần nào hiểu được đời sống

1


của một trong số những dân tộc miền núi phía Bắc Việt Nam. Dường như, cả hai tác
giả có rất nhiều điểm chung khi nói về cuộc sống của dân tộc H’Mông, đặc biệt là
tục “kéo vợ” đặc sắc trong phong tục cưới xin của người Mông, cho dù người
H’Mông có sinh sống rải rác ở nhiều tỉnh thành khác nhau thì tục “kéo vợ” vẫn là
một nghi lễ không thể thiếu tạo nên bản sắc riêng biệt của mỗi dân tộc thiểu số
miền núi phía Bắc. Trai gái H’Mông còn tìm hiểu nhau qua những phiên chợ tình,
những ngày tết nhất, hay các dịp hội xuân. Họ thổ lộ tình cảm qua ánh mắt, qua cử
chỉ, giọng nói, đặc biệt hơn là qua những tiếng khèn, tiếng sáo thánh thót. “Một
ngày họp chợ Đồng Văn, Lũng Phìn (Hà Giang) có biết bao nhiêu thanh niên kết
hợp đi chợ để làm quen với nhau. Ngoài cách thổ lộ tình cảm bằng tiếng nói mộc
mạc, bằng các câu ca trữ tình, nam nữa thanh niên còn có cách tỏ tình qua tiếng sáo
trúc, tiếng đàn môi” (Dân tộc Mông ở Việt Nam - Cư Hòa Vần) [13-tr.134].
Trên trang điện tử baoyenbai.vn tác giả Hà Anh có bài viết Đặc sắc đám
cưới người Mông. Bài viết là nét khái quát về các nghi thức trong cưới hỏi của đồng
bào Mông ở Mù Cang Chải, trong đó cũng có những nét riêng biệt trong quan niệm
cưới xin mà chỉ riêng dân tộc Mông ở Mù Cang Chải mới có như “cô dâu không

được ăn cơm cùng gia đình mà phải vào trong buồng ngồi, chỉ có chú rể ra tiếp
khách. Mẹ chồng hoặc em chồng sẽ là người mang cơm vào buồng cho cô dâu”.
Phong tục cưới xin là một trong những nét văn hóa độc đáo của người
H’Mông, có thể kể đến công trình Đám cưới của người H’Mông Lềnh (H’Mông
Hoa) ở Lào Cai của tác giả Trần Hữu Sơn. Đây là một công trình nghiên cứu công
phu và tỉ mỉ về các nghi thức trong cưới hỏi của người H’Mông, đặc biệt là người
H’Mông Lềnh sinh sống chủ yếu ở Mù Cang Chải. Tác giả có viết “Lễ cưới của
người H’Mông Lềnh là một nghi lễ được tổ chức theo phong tục truyền thống của
người H’Mông. Nghi lễ cưới truyền thống của người H’Mông được tiến hành qua
các bước sau: Lễ so tuổi, Lễ dạm ngõ, Lễ ăn hỏi, Lễ cưới, Lễ lại mặt. Các nghi lễ
này được tiến hành lần lượt theo từng bước khác nhau trong những khoảng thời gian
nhất định” [10-tr.9].
Đề cập đến phong tục cưới xin của dân tộc H’Mông – một trong những
phong tục độc đáo của người H’Mông còn có nhiều bài viết nữa. Đó là bài viết của
Lãnh Thị Bích Hòa: Phong tục tập quán trong đời sống xã hội tộc người Mông ở
một số tỉnh miền núi phía Bắc. Nhà nghiên cứu Phạm Hổ Đấu: Đời sống văn hóa
dân tộc Mông. Nhà nghiên cứu Hà Thị Thu Thủy trong công trình Các dân tộc
Mông Dao cũng đã dành một nửa cuốn sách để viết về những nét đặc sắc trong
phong tục tập quán của người H’Mông.

2


Tất cả những nghiên cứu của các tác giả đều đề cập và phân tích các nghi lễ
cũng như phong tục trong cưới xin của dân tộc H’Mông nói chung. Như Dân tộc
Mông ở Việt Nam của tác giả Cư Hòa Vần nói chủ yếu về dân tộc Mông ở Sapa, còn
Đám cưới của người H’Mông Lềnh (H’Mông Hoa) ở Lào Cai của tác giả Trần Hữu
Sơn lại đề cập đến phong tục cưới xin của người H’Mông Lềnh sinh sống chủ yếu ở
Mù Cang Chải. Tuy nhiên, chưa có nghiên cứu nào so sánh về phong tục cưới xin
giữa dân tộc H’Mông ở Sapa và dân tộc H’Mông ở Mù Cang Chải. Chưa có bài viết

nào đi sâu khai thác những nét đặc sắc trong phong tục cưới xin giữa các tỉnh có
người H’Mông sinh sống. Sự khác nhau giữa phong tục tập quán của người
H’Mông giữa các tỉnh với nhau là không nhiều nhưng phần nào vẫn có những nét
đặc sắc riêng để phân biệt giữa họ. Vì vậy, dựa trên những tài liệu kế thừa từ các tác
phẩm của các nhà nghiên cứu đi trước tôi tiếp tục đi sâu nghiên cứu và phân tích
những nét đặc sắc trong phong tục cưới xin của người H’Mông trên phương diện
đưa ra những điểm tương đồng và so sánh những điểm khác biệt của dân tộc
H’Mông ở các tỉnh nói chung, hai tỉnh Lào Cai và Yên Bái nói riêng, đặc biệt là
phong tục cưới xin của dân tộc Mông ở hai huyện Sa Pa và Mù Cang Chải. Từ đó
giúp người đọc tăng thêm vốn hiểu biết và nhận biết được đó là phong tục cưới xin
của người Mông ở tỉnh nào, huyện nào.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
+ Mục đích nghiên cứu:
Thấy được những nét văn hóa nổi bật và riêng biệt trong phong tục cưới hỏi
của người H’Mông, đặc biệt là người H’Mông ở hai huyện Sa Pa và Mù Cang Chải.
Góp phần quảng bá hình ảnh, du lịch của vùng trung du và miền núi phía Bắc tới
độc giả, du khách trong và ngoài nước.
+ Nhiệm vụ nghiên cứu:
Làm rõ đặc điểm, những biểu hiện văn hóa đặc sắc và chỉ ra nét giống, khác
nhau nổi bật trong phong tục cưới hỏi của người H’Mông ở hai huyện Sa Pa và Mù
Cang Chải.
4. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu
+ Đối tượng nghiên cứu:
Phong tục cưới hỏi của người H’Mông ở hai huyện Sa Pa và Mù Cang Chải
với những nét giống và khác nhau nổi bật.

3


+ Phạm vi nghiên cứu:

Phong tục cưới hỏi của người H’Mông ở hai huyện Sa Pa và Mù Cang Chải.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
- Phương pháp phân tích, tổng hợp
- Phương pháp so sánh
- Phương pháp liên ngành
- Phương pháp thực địa
6. Cấu trúc khóa luận
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Nội dung của khóa luận
gồm 3 chương:
Chương 1: Khái quát về người H’Mông.
Chương 2: Phong tục cưới xin của người H’Mông ở Sa Pa và người H’Mông
ở Mù Cang Chải - những điểm tương đồng.
Chương 3: Phong tục cưới xin của người H’Mông ở Sa Pa và người H’Mông
ở Mù Cang Chải - những điểm khác biệt.

4


PHẦN NỘI DUNG
CHƢƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ NGƢỜI H’MÔNG

1.1. Nguồn gốc lịch sử và tên gọi
Về nguồn gốc lịch sử và tên gọi của dân tộc H’Mông, hiện nay đang tồn tại
nhiều ý kiến khác nhau.
1.1.1. Nguồn gốc lịch sử
Dân tộc H’Mông là một trong những dân tộc sinh sống sớm nhất và lâu nhất
ở vùng núi cao của miền Bắc Việt Nam. Lịch sử thiên di của người H’Mông vào
Việt Nam gắn liền với quá trình đi tìm nơi sinh sống ổn định, tự do và ấm no.
Trong tác phẩm Dân tộc Mông ở Việt Nam tác giả Cư Hòa Vần đã nghiên
cứu rất kĩ về nguồn gốc lịch sử và tên gọi của dân tộc H’Mông khi thiên di vào Việt

Nam. Tác giả đã dành 7 trang từ trang 10 đến trang 17 để viết về nguồn gốc lịch sử
của người H’Mông.
“Người Mông thiên di vào Việt Nam theo ba đợt lớn khác nhau.
Đợt đầu, người Mông vào Việt Nam cách đây khoảng 14 - 15 đời. Khoảng
80 gia đình người Mông họ Vù và họ Dàng từ Quý Châu thiên di đến Đồng Văn
(Hà Giang).
Đợt thiên di lớn thứ hai đến Việt Nam cách đây khoảng 9 - 10 đời. Đợt thiên
di này đi theo hai đường: đến Đồng Văn (Hà Giang), ước chừng 100 gia đình bao
gồm các họ: Vàng, Lý; đến Simacai (Lào Cai) ước chừng 80 gia đình, gồm các họ:
Vàng, Lù, Chấu, Sùng,Vù, Mùa.
Đợt thiên di lớn thứ ba của người Mông đến Việt Nam là đợt thiên di đồng
hơn cả và đi theo các đường vào Hà Giang, Lào Cai và trực tiếp đến Tây Bắc nước
ta” [13-tr.17].
1.1.2. Tên gọi
Dân tộc H’Mông là một dân tộc có số dân tương đối đông ở nước ta, hơn 80
vạn người. Hiện nay vẫn tồn tại nhiều tên gọi và viết khác nhau trên sách báo và các
văn bản của cơ quan Nhà nước như: Mèo, HMông, Mông, HMôngZ, Miêu,....
Nhưng người H’Mông từ xưa đến nay và bất cứ ở đâu đều tự gọi tên dân tộc mình
theo tiếng Mông là người Mông. Không bao giờ họ tự gọi mình là Mèo hay Miêu,
lại càng không họi là Hơ Mông.

5


“Người Trung Quốc gọi người H’Mông là Miêu Tử hay Miêu Dân. Xét theo
cấu tạo của chữ Miêu Trung Quốc ta thấy, trên là bộ thảo, dưới là chữ điền, từ đó
sau này nhiều học giả suy đoán rằng, tên gọi này có thể do người Hán đặt để chỉ
một dân tộc đã biết làm ruộng. Và sau này Miêu đã trở thành tên dân tộc” (Dân tộc
Mông ở Việt Nam - Cư Hòa Vần).
Tác giả Cư Hòa Vần cũng có bài viết Tên gọi của dân tộc Mông trên trang

bàn về các tên gọi của dân tộc H’Mông như sau:
“Vậy tên gọi của dân tộc H’Mông, gọi và viết thế nào mới đúng? Tại sao có
tình trạng như trên?
- Mèo: Là tên mà các dân tộc khác gọi người H’Mông, từ năm 1979 trở về
trước, sở dĩ có tên đó là xuất sứ từ ở bên Trung Quốc, người Hán gọi dân tộc này là
Mèo. Nhưng người H’Mông bao giờ và ở bất cứ đâu cũng vẫn tự gọi tên dân tộc
mình là H’Mông. Ở khu bốn cũ thì đọc theo tên địa phương ( phương ngữ ) từ Mèo
thành Mẹo. Từ năm 1978, tại Hội nghị cốt cán dân tộc H’Mông đã chính thức và
được thừa nhận, bắt đầu từ đó tên gọi dân tộc theo dân tộc đó tự gọi là H’Mông.
- HMôngZ: Là tên viết bằng chữ H’Mông trong phương án chữ Mèo đã được
Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà thông qua ngày 27/11/1961, gồm có 48 nguyên
âm và phụ âm. HM là một chữ cái đọc gần như chữ M của tiếng Việt, nhưng khi đọc
hơi ra mũi nhiều. Do đó chữ dân tộc H’Mông viết về dân tộc mình là HMôngZ.
HMôngZ đọc giống như chữ H’Mông của tiếng Việt nhưng hơi ra mũi nhiều.
- HMông: Là tên được ghi trong danh mục thành phần dân tộc để phục vụ điều
tra dân số tại Quyết định số 121-TLTK/PPCĐ ngày 2/3/1979 của Tổng cục thống
kê, chữ HMông thực ra là chữ HMôngZ, nhưng khi đưa vào danh mục này đã bỏ
quên dấu Z ở sau cùng.
- H' Mông: Là do không biết đọc chữ H’Mông, đáng lẽ viết bằng chữ phổ
thông phải viết và đọc là H’Mông thì lại viết sai và đọc thành Hơ Mông là viết và
đọc sai hoàn toàn ( sai một ly đi một dặm - một thành hai ).
- Hơ Mông: Là do đọc và viết sai từ H’Mông vì người đọc thấy có chữ
H’Mông không biết đọc thế nào nên đọc luôn là Hơ Mông.
- Mông là chuyển từ chữ HMôngZ trong phương án chữ Mèo “HMôngZ” sang
tiếng Việt, xuất phát từ quan điểm không chuyển nguyên dạng chữ dân tộc thiểu số
sang chữ phổ thông; nếu chuyển nguyên dạng chữ dân tộc thiểu số sang tiếng Việt
sẽ phá vỡ nguyên tắc chính tả của tiếng Việt, không những chỉ có chữ Mông mà còn
6



nhiều dân tộc anh em khác cũng có chữ, thậm chí không phải là chữ La tinh. Nhiều
người không thể biết hết chữ của các dân tộc thiểu số trong nước, nên đã xảy ra đọc
chệch từ HMông đáng lẽ đọc Mông thì lại đọc là Hơ Mông là sai hoàn toàn. Hoặc
như chữ ÊĐê viết tên huyện Cư Mgar viết nguyên chữ đó vào tiếng phổ thông chắc
chắn sẽ đọc là Cư-mờ-ga, nếu đọc như thế là sai, mà phải đọc là Chư-mờ-ga, vì chữ
C của EĐê là chữ Ch của tiếng phổ thông.
- Do đó các văn kiện của Đảng và Nhà nước đã viết là dân tộc H’Mông:
 Tại Thông báo số 02/TB ngày 3/1/1992 của Văn phòng Hội đồng Bộ trưởng
(nay là Văn phòng Chính phủ) về kết luận của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (Thủ
tướng) tại Hội nghị vùng cao và dân tộc H’mông đã dùng là dân tộc H’mông.
 Tại chỉ thị số 41 ngày 23/9/1994 của Ban Bí thư Trung ương Đảng khoá VII
đã ghi rõ “Chỉ thị về một số công tác ở vùng dân tộc H’Mông”.
 Báo nhân dân đã có một bài nói về tên dân tộc H’Mông và từ đó trên báo
Nhân dân đều viết là dân tộc H’Mông.
 Bài diễn văn đọc trong ngày lễ kỷ niệm 70 năm ngày thành lập MTTQ Việt
Nam ngày 15/11/2000 đồng chí Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu cũng đã viết là dân tộc
H’Mông (đã đăng trên báo nhân dân).
Vì vậy, đọc và viết tên dân tộc H’Mông bằng tiếng phổ thông là ngôn ngữ
Quốc gia thì viết là dân tộc H’Mông. Nếu viết bằng chữ H’Mông thì viết và đọc là
HMôngZ.
Tên gọi của một dân tộc là rất quan trọng, đó là văn hoá, là truyền thống,
lịch sử của một dân tộc, là mối quan hệ giữa các dân tộc theo nguyên tắc “Đoàn kết,
bình đẳng, giúp đỡ nhau cùng phát triển”. Do đó, trong các văn kiện của Đảng và
Nhà nước, trên sách báo và mọi người cần thống nhất dùng chữ H’Mông để gọi tên
dân tộc H’Mông”.
1.2. Địa vực cƣ trú
“Nằm trong một quốc gia đa dân tộc, dân tộc H'Mông được coi là một thành
viên quan trọng trong cộng đồng các dân tộc ở Việt Nam. Dân tộc H'Mông cư trú
thường ở độ cao từ 800 đến 1500 m so với mực nước biển gồm hầu hết các tỉnh
miền núi phía Bắc trong một địa bàn khá rộng lớn, dọc theo biên giới Việt - Trung

và Việt - Lào từ Lạng Sơn đến Nghệ An, trong đó tập trung chủ yếu ở các tỉnh
thuộc Đông và Tây bắc Việt Nam như: Hà Giang, Lào Cai, Lai Châu, Sơn La... Do

7


tập quán du mục nên một số người H'Mông trong những năm 1980, 1990 đã di dân
vào tận Tây Nguyên, sống rải rác ở một số nơi thuộc Gia Lai và Kon Tum”
[14;Người H’Mông ở Việt Nam]. Trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam dân tộc
Mông đứng thứ tám sau dân tộc Kinh, Thái, Hoa, Khơ Me, Nùng, Mường, Tày và
chiếm tỷ lệ gần 1% dân số cả nước.
Dân tộc Mông sống ở các vùng núi cao. Như các tỉnh Hà Giang, Tuyên
Quang, Sơn La, Lai Châu toàn bộ là miền núi. Có những tỉnh có phần đất là đồng
bằng nhưng dân tộc H’Mông cũng chỉ sống ở các vùng núi cao nguyên như huyện
Quan Hoa (Thanh Hóa), huyện Mai Châu (Hòa Bình), huyện Kỳ Sơn (Nghệ An). Ở
những nơi có dân tộc H’Mông sinh sống, khí hậu đặc biệt mát mẻ, nhiệt độ giữa
ngày và đêm chện lệch nhau khoảng từ 50C đến 70C. Ở các tỉnh Sơn La, Lai Châu,
Lào Cai,… Vào mùa đông rét hơn nhiều so với ở đồng bằng, nhiệt độ trung bình từ
80C đến 140C. Sương muối, sương giá, mây mù là hiện tượng phổ biến. Mùa rét kéo
dài khoảng 6 tháng. Vào mùa hè, nhiệt độ dao động khoảng từ 170C đến 250C, thời
tiết ban ngày mát mẻ, song ban đêm nhiệt độ hạ thấp nhiều, vì vậy mọi người phải
dùng chăn bông đắp vào ban đêm và sáng sớm. Mùa hè ở các vùng dân tộc H’Mông
cũng là mùa mưa, nhiều nhất là vào tháng sáu và tháng bảy. Mùa đông là mùa khô,
tháng mười một và tháng mười hai là hai tháng có lượng mưa ít nhất. Lượng mưa
trung bình khoảng 5mm đến 10mm.
Vì là miền núi nên đi lại rất khó khăn, từ huyện xuống tỉnh thậm chí tính
bằng ngày đường. Nguồn nước khan hiếm và phân bố không đồng đều. Những nơi
có nguồn nước dồi dào như các tỉnh Lai Châu, Sơn La; những nơi khan hiếm nước
như các huyện Đồng Văn, Mèo Vạc (Hà Giang), vào mùa khô đồng bào ở đây phải
đi lấy nước xa hàng cây số. Sông chính ở Tây Bắc là dòng sông Đà, chảy qua các

tỉnh Lai Châu, Sơn La, Hòa Bình, mang theo lưu lượng nước lớn, là nguồn thủy
năng quan trọng của đất nước ta. Dân tộc H’Mông ở Hà Giang, Lào Cai không có
sông lớn mà chỉ có sông nhỏ là sông Nho Quan chảy qua huyện Đồng Văn, Mèo
Vạc (Hà Giang).
Tuy sống trên các vùng núi cao nhưng những nơi có dân tộc H’Mông sinh
sống lại có những cánh đồng lòng chảo rộng đến hàng nghìn hecta. Đồng bào Tây
Bắc có câu miêu tả về những cánh đồng đó là:
“Nhất Thanh,
Nhì Lò,

8


Tam Tấc,
Tứ Than
Nhất Thanh là Mường Thanh, nay là xã Điện Biên Phủ tỉnh Lai Châu. Nhì
Lò là Mường Lò, nay là thị trấn Nghĩa Lộ, tỉnh Yên Bái. Tam Tấc là Mường Tấc,
nay là huyện lỵ Phù Yên, tỉnh Sơn La. Tứ Than là Mường Than, nay là huyện lỵ
Than Uyên, tỉnh Lào Cai” [13-tr.9].
Những người H’Mông phần lớn chỉ ở trên núi cao nên định hướng sản xuất
theo hướng hàng hóa và chăn nuôi gia súc gặp nhiều khó khăn. Tuy vậy, tài nguyên
khoáng sản lại vô cùng phong phú, hứa hẹn nhiều khả năng phát triển về kinh tế và
cung cấp cho nước nhà những nguồn nguyên liệu quan trọng.
1.3. Số lƣợng dân số và các nhóm ngƣời Mông ở Việt Nam
- Theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, người H’Mông ở Việt Nam
có dân số 1.068.189 người, đứng hàng thứ 6 trong bảng danh sách các dân tộc ở
Việt Nam, cư trú tại 62 trên tổng số 63 tỉnh, thành phố.
- Người H’Mông cư trú tập trung tại các tỉnh:
 Hà Giang (231.464 người, chiếm 31,9% dân số toàn tỉnh và 21,7% tổng số
người H’Mông tại Việt Nam)

 Điện Biên (170.648 người, chiếm 34,8% dân số toàn tỉnh và 16,0% tổng số
người H’Mông tại Việt Nam)
 Sơn La (157.253 người, chiếm 14,6% dân số toàn tỉnh và 14,7% tổng số
người H’Mông tại Việt Nam)
 Lào Cai (146.147 người, chiếm 23,8% dân số toàn tỉnh và 13,7% tổng số
người H’Mông tại Việt Nam
 Lai Châu (83.324 người)
 Yên Bái (81.921 người)
 Cao Bằng (51.373 người)
 Nghệ An (28.992 người)
 Đăk Lăk (22.760 người)
 Đăk Nông (21.952 người)

9


 Bắc Kạn (17.470 người)
 Tuyên Quang (16.974 người)
 Thanh Hóa (14.799 người)
Theo tên tự gọi, người H’Mông có những nhóm chính sau:
H’Mông đấu – Mông trắng
H’Mông Lềnh (mống sí) – Mông hoa (Mông đỏ)
H’Mông đú – Mông đen
H’Mông súa – Mông Hán
Các tên tự gọi này, chủ yếu dựa vào sự khác nhau của y phục và tiếng nói để
phân biệt.
H’Mông “đấu” sống tập trung ở cá huyện Bảo Lạc (Cao Bằng), Đồng Văn,
Mèo Vạc, Quản Bạ (Hà Giang). Ở các tỉnh Tây Bắc, người Mông sống rải rác ở các
huyện Yên Châu (Sơn La), huyện Sông Mã, Phong Thổ, Mù Cang Chải, Trạm Tấu
(Yên Bái), Tủa Chùa (Lai Châu). Với người phụ nữa H’Mông đấu từ già đến trẻ, họ

mặc toàn bộ váy lanh trắng do mình tự thiết kế và sản xuất, váy lanh trắng càng giặt
nước tro càng trắng. Ngày nay, một số người mặc quần đen để dễ dàng hoạt động
trong những ngày bình thường, nhưng khi chết họ bắt buộc phải mặc váy lanh trắng
và họ tự nhận mình là người H’Mông trắng.
Người H’Mông “Lềnh” sống tập trung ơ các huyện Mùa Cang Chải (Yên
Bái), Trạm Tấu, Mộc Châu (Sơn La), Sín Mần (Hà Giang), Tảu Chuàn, Điện Biên,
Tuần Giáo (Lai Châu), SaPa, Bắc Hà, Simacai, Mường Khương (Lào Cai), Hoàng
Su Phì. Người phụ nữ H’Mông Lềnh mặc váy hoa, có hai loại váy chủ đạo. Loại
phổ biến hơn cả là váy thêu hoa phần dưới, người phụ nữa dùng chỉ thêu hoặc ghép
vải màu thay cho hoa thêu vào phần dưới của váy. Màu sắc chủ đạp của hoa thêu là
màu đỏ, vì vậy người H’Mông Lềnh còn được gọi là H’Mông đỏ (H’Mông sí). Loại
thứ hai là dung sáp ong để vẽ lên nền váy trắng sau đó nhuộm chàm cả váy. Nước
chàm sẽ ăn vào những chỗ không có hình vẽ. Nhuộm xong nhúng vào nước nóng,
sáp ong sẽ tan ra để lại hình vẽ trắng trên nền váy màu chàm. Nhóm H’Mông mặc
váy hoa văn tự gọi mình là H’Mông hoa.
H’Mông “đú” sống tập trung ở các huyện Phong Thổ, Tủa Chùa (Lai Châu),
Trạm Tấu (Yên Bái) và một số sống rải rác ở các huyện Lào Cai, Sơn La, Hòa Bình.

10


Họ thuộc nhóm H’Mông Đen vì trang phục của họ chủ yếu là màu đen. Ngoài ra có
một số nhóm sống ở Tràng Định (Lạng Sơn), Thạch An (Cao Bằng), Định Hóa (Bắc
Thái) tự nhận mình là H’Mông Đú.
H’Mông “súa” tập trung ở xã Sính Phình (huyện Tủa Chùa, tỉnh Lai Châu),
một số ở xã Lùng Phình (huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai). Người phụ nữa H’Mông Súa
thường mặc quần áo bằng vải bông, đặc biệt hơn so với những nhóm H’Mông khác
vì nhóm H’Mông này thiên di vào nước ta muộn hơn.
1.4. Đặc điểm kinh tế
1.4.1. Trồng trọt

Trồng trọt, làm nương là nguồn sống chính của đồng bào H’Mông. Kinh tế
của người H’Mông chia làm hai vùng khác nhau: vùng Việt Bắc và vùng Tây Bắc.
Ở Việt Bắc, đồng bào H’Mông trồng ngô là chính, họ làm nương trên các thửa
ruộng bậc thang, các nơi có mật độ dân số cao như Bắc Hà (Lào Cai), Đồng Văn,
Mèo Vạc (Hà Giang); ở vùng Tây Bắc , trồng lúa nương là chính, đời sống không
ổn định.
Đồng bào H’Mông sống trên các triền núi cao, đất đai là đất đồi nên nơi này
đặc biệt phù hợp để phát triển lâm nghiệp, ngũ cốc là loại lương thực thích hợp hơn
cả. Vì vậy, làm nương trở thành nghề làm ăn chính của đồng bào H’Mông từ Việt
Bắc sang Tây Bắc vào đến tận Nghệ An.
Họ trồng cây lương thực trên các sườn đồi theo các bước theo các bước chặt
chẽ, đầu tiên họ phải chọn những bãi có rừng cây rậm rạp, cây cối tươi tốt và phát
triển, những khu đất đó đất mới tốt, mới màu mỡ; sau đó họ phát cây, đốt cây để lấy
khoảng đất trống trồng cây; cuối cũng họ mang những cây giống, hạt giống để trồng
trên những khu đất đó. Những bãi đất càng rộng, có độ dốc ít càng được ưu tiên, vì
ít sói mòn và đi lại làm nương dễ dàng.
Đồng bào H’Mông thường trồng cây lương thực vào mùa xuân, vì vậy họ
phát nương vào mùa khô sau khi vụ chính kết thúc để chuẩn bị cho vụ mùa sau. Nơi
có đồng bào H’Mông sinh sống thường có khi hậu á nhiệt đới nên họ chỉ trồng cây
lương thực vào mùa hè thu như ngô, lúa. Trước đây, người H’Mông còn trồng cây
thuốc phiện, trên nương trồng những cây chính họ thường xen kẽ cây lương thực và
hoa màu như đậu rang ngựa, đậu Hà Lan, dong riềng,… vừa đề chống mưa lũ làm
xói mòn, rửa trôi đất canh tác, vừa cung cấp thêm lương thực cho gia đình.

11


Đồng bào H’Mông có ba phương thức canh tác chính: gieo trồng theo đường
cây, gieo trồng theo hốc dung để cuốc bổ và gieo trồng theo lỗ dung gậy chọc.
Cây lương thực chính của người H’Mông là lúa nương và cây ngô.

Cây lúa nương được trông nhiều ở Tây Bắc, đây là cây lương thực chính của
đồng bào. Có nhiều loại giống lúa như: giống lúa sớm, giống lúa muộn, giống lúa
có râu, giống lúa không râu. Gạo lúa nương hạt rất trắng và dài giống như gạo dẻo
của dân tộc kinh, nấu lên thành cơm ăn rất dẻo, thơm, ngon.
Cây ngô được trồng nhiều ở Việt Bắc vùng Đồng Văn, Mèo Vạc, nơi đây rất
thích hợp để trồng ngô, họ có thể trồng trong các hốc đá và đâu đâu cũng đều thu hoạch
được tốt, vì vậy đối với nhóm người H’Mông ở đây ngô là cây lương thực chính.
Ruộng bậc thang là một tác phẩm nghệ thuật đặc sắc mà do chính những người
dân tộc H’Mông tạo nên. Họ chăm sóc, cày bừa từng thửa ruộng rất kĩ, mỗi thửa rất
hẹp chỉ hai đường bừa là hết. Do điều kiện khí hậu khắc nghiệt cùng với địa hình đồi
núi dốc cao khó khăn trong việc canh tác nên người H’Mông có nhiều kinh nghiệm
làm ruộng bậc thang để có thể sinh sống, làm ăn và buôn bán phục vụ sinh hoạt cho
người dân. Họ thành thạo trong quá trình làm ruộng nước từ khâu chọn địa hình cho
đến khâu thu hoạch đều rất tỉ mỉ. Đặc biệt là khâu bón phân cho ruộng lúa bởi phân
bón là nguồn sống chính của lúa, quyết định một vụ mùa hạt gạo có chất lượng hay
không. Vì vậy, để có đầy đủ phân cho từng thửa ruộng, những thửa ruộng thấp họ
thường tự tay chăm bón và đi đến từng thửa một, còn những thửa ruộng cao họ làm
luôn một chuồng trâu bên cạnh để khi cần có phân thì không phải vất vả gánh.
1.4.2. Các loại cây ăn quả và cây công nghiệp
Vùng đồng bào H’Mông thường có các loại cây công nghiệp như cây lanh,
cây chè, cây dâu tằm, cây đậu tương, cây thuốc lá.
Cây lanh là loại cây được trồng phổ biến nhất ở các vùng có dân tộc
H’Mông sinh sống, bởi hầu hết người phụ nữ H’Mông đều dung sợi lanh dệt vải để
may váy, may quần áo, thậm chí các túi xách hay những đồ dùng đi kèm theo người
cũng được làm từ sợi lanh. Họ trồng lanh vào tháng hai, tháng ba và thu hoạch vào
tháng năm, tháng sáu. Tất cả những kĩ thuật tốt nhất được đồng bào H’Mông áp
dụng vào việc trồng lanh, bởi cây lanh gắn liền với đời sống sinh hoạt hàng ngày
của mỗi người dân. Từ công đoạn xới đất làm cho đất tơi, sau đó nhặt thật sạch cỏ,
làm luống tỉ mỉ, bón phân lót đều mặt ruộng sau đó mới đến công đoạn rắc hạt lanh.
Hạt giống phải được rải đều và dày vì như thế cây lanh mới phát triển và sợi lanh

mới cứng, mới tốt.

12


Cây chè là một loại cây sẵn có ở các vùng núi cao nguyên, nơi có nhiều
người H’Mông sinh sống, chè nơi đây phát triển rất tốt vì thế chất lượng chè cao,
chỉ cần hái búp mang về sao lên là đã có một bình chè thơm nức. Có những cây chè
mọc tự nhiên to đến vài người ôm không hết, nhiều người chèo lên hái mà không
gãy, chứng tỏ đất nơi đây rất thích hợp cho sự phát triển của cây chè. Những vùng
trồng nhiều chè nổi tiếng như chè Suối Giàng (Văn Chấn, Yên Bái), chè Lũng Phìn
(Đồng Văn, Hà Giang), chè Bắc Hà (Lào Cai).
Cây dâu tằm cũng rất phổ biến ở đồng bào dân tộc H’Mông bởi quần áo, váy
vóc của họ đa số đều thêu hoa văn. Chừng nào váy còn có hoa văn thì chừng đó
nghề trồng dâu tằm vẫn được duy trì.
Cây đậu tương chiếm một vị trí quan trọng và trở thành nguồn kinh tế chính
của đồng bào dân tộc H’Mông. Đậu tương có thể xay làm ớt bột, gừng, đậu xị. Vì
vậy, hàng năm người dân tộc H’Mông thu hoạch một khối đậu tương khá lớn. Đậu
tương nấu với rau, cho ít canh chua vào ăn với “máu của” (ngô xay thành bột rồi đồ
xôi) ăn rất ngon và bổ. Đậu tương không chỉ làm thức ăn mà còn để bán, vì vậy đậu
tương được trồng ở mọi nơi. Nơi trồng nhiều nhất là vùng dân tộc H’Mông ở
Mường Khương, Bắc Hà, Simacai, Lào Cai.
Cuối cùng cây thuốc lá là một loại cây công nghiệp không thể thiếu ở những
vùng đồng bào H’Mông sinh sống, bởi thuốc lá không chỉ phục vụ nhu cầu của
người dân mà còn là một sính lễ không thể thiếu trong ngày cưới của những chàng
trai H’Mông, người ta quen gọi là lá H’Mông. Cây thuốc lá được trồng ở hầu hết
các vùng, không giống như cây thuốc lá bình thường, lá H’Mông có lá to, dài và
dày bản. Đồng bào H’Mông chặt cả cây thuốc lá đem về nhà phơi khô sau đó ngắt
lấy lá bó lại cất đi dùng quanh năm. Thuốc lá người H’Mông hút nặng hơn rất nhiều
so với các loại thuốc lá khác.

Một số cây ăn quả ôn đới mà vùng thấp không có như táo, lê, mận, đào. Mận
của dân tộc H’Mông nổi tiếng là ngon, giòn, đặc biệt khi chín đỏ rất ngọt và thơm,
khác hẳn với mận vùng đồng bằng. Nổi tiếng nhất vẫn là mận Bắc Hà (Tam Hoa)
được trồng phổ biến ở huyện Bắc Hà và dần lan sang các vùng lân cận.
1.4.3. Công cụ sản xuất
Công cụ sản xuất của đồng bào H’Mông là do tích lũy kinh nghiệm qua
hàng ngàn năm lao động gian khổ mới có được, công cụ sản xuất thể hiện trình độ
phát triển kĩ thuật sản xuất của đồng bào H’Mông. Là một vật dụng quan trọng phục
vụ cho nhu cầu và đời sống của con người

13


Công cụ sản xuất chính của đồng bào H’Mông bao gồm: cày, bừa, cuốc
bướm, cào cỏ, liềm, dao,…
Cuốc bướm là một công cụ lao động không thể thiếu trong mỗi gia đình
người H’Mông, trong nhà có bao nhiêu lao động thì có bấy nhiêu cái cuốc bướm.
Lưỡi cuốc được người dân tự rèn rất tốt, có độ cứng vừa phải mà lại vừa có độ dẻo
để không bị quăn trong điều kiện đất đá. Kĩ thuật rèn sắt của dân tộc H’Mông đã đạt
đến trình độ điêu luyện.
1.4.4. Những ngành nghề khác trong gia đình
Đồng bào H’Mông chăn nuôi một số loại gia súc gia cầm như: trâu, bò, lợn,
ngựa. Trâu, bò chủ yếu nuôi là để cày bừa, cúng ma và ăn thịt. Ngựa được nuôi chủ
yếu để thồ hàng và tải lúa, ngô về vào mỗi vụ mùa. Những nơi nuôi nhiều là đồng
bào H’Mông ở Tây Bắc, mỗi gia đình nuôi đến năm, bảy con trâu, bò và nuôi rất
nhiều ngựa để lấy sức kéo. Còn ở vùng Đồng Văn, Mèo Vạc (Hà Giang) do địa hình
nhiều đồi đá trọc, ít nơi có cỏ nên chăn nuôi tương đối ít, mỗi gia đình chỉ nuôi từ
một đến hai con bò hoặc trâu để có thể cắt cỏ cho chúng.
Ngoài việc chăn nuôi để tư lợi về kinh tế thì việc nuôi để thưởng thức cái
đẹp của những chú trâu, chú ngựa cũng là thú vui của đồng bào dân tộc H’Mông. Vì

vậy, mỗi dịp phiên chợ ở các nới như Đồng Văn, Mèo Vạc, Bắc Hà (Mường
Khương, Lào Cai), Lũng Phìn (Hà Giang), đồng bào dắt rất nhiều ngựa đến để cùng
ngắm và bình phẩm về vẻ đẹp của chúng. Theo quan niệm của người dân, ngựa đẹp
là những con ngựa khỏe mạnh, nhanh nhẹn, hoạt bát, cân đối, có sắc lông đẹp. Con
ngựa nào được khen càng nhiều thì người chủ càng phấn khởi.
Ngựa là một con vật có sức lao động chính ở các vùng dân tộc H’Mông,
dùng để thồ hàng mỗi khi ô tô không vào được trong bản, sau đó là để cưỡi. Vì thế
chuồng của gia súc được làm không kém gì nhà ở của người. Đặc biệt ở Đồng Văn,
Mèo Vạc (Hà Giang) nền chuồng được lát ván, có máng đựng thức ăn cho gia súc
ăn vào ban đêm. Hàng ngày đi làm ngựa phải thồ phân tro, giống má ra đồng, đến
vụ thu hoạch ngựa được dùng để tải lúa, ngô về nhà. Đồng bào cũng dùng ngựa để
chở hàng hóa từ nhà ra chợ bán.
Thủ công nghiệp cũng là một phần quan trọng trong kinh tế tự cung tự cấp
của đồng bào dân tộc H’Mông, đặc biệt là nghề dệt và nghề rèn.
Trang phục chính của người H’Mông là những bộ quần áo váy được dệt từ
chính những sợi lanh mà họ trồng nên. Vì vậy, nghề dệt được hình thành để thỏa
14


mãn nhu cầu may mặc của người dân, đồng thời tăng thêm kinh tế cho gia đình. Ở
người H’Mông nghề dệt phát triển từ xa xưa, thế nên trong mỗi gia đình đều có
khung cửi, trước hết là để tự phục vụ nhu cầu của chính bản thân từ đồ mặc đến
những chiếc gối, chăn, màn đều từ dệt thủ công mà ra. Để tạo nên được một sản
phẩm thủ công từ chính những sợi lanh phải tốn rất nhiều công sức, thì giờ. Bởi
vậy, nghề dệt không chỉ có ý nhĩa về kinh tế, còn có ý nghĩa về mặt xã hội. Sự chăm
chỉ, khéo léo trong từng đường kim mũi chỉ, từng đường dệt thể hiện sự đảm đang
của người phụ nữ, là một trong những tiêu chí đánh giá quan trọng việc lựa chọn vợ
của các chàng trai. Những cô gái nào khéo tay, thêu thùa giỏi sẽ là một trong những
ứng cử viên sáng giá đầu tiên. Vì vậy những chị em phụ nữ đến tuổi lập gia đình
thường rất bận rộn trong việc thêu thùa may vá để thể hiện phẩm chất của mình.

Nghề rèn cũng là một nghề thủ công nổi tiếng ở đồng bào các dân tộc
H’Mông. Đặc biệt kĩ thuật tôi, khoan đã đạt đến trình độ đỉnh cao. Nghề rèn cung cấp
những công cụ lao động thường ngày cho người dân, họ tự làm những cái cuốc, cái
liềm, làm súng kíp, đúc lưỡi cày, đến cả những đồ trang sức của phụ nữ. Không chỉ
cung cấp công cụ lao động trong bản mà nghề rèn của người H’Mông còn cung cấp
cho cả các dân tộc khác như Thái, Dao, Khơ Mú, Kháng, Cờ Lao, Pu Péo. Nhưng
không phải gia đình nào cũng làm được nghề rèn, người dân tộc H’Mông quan niệm,
muốn có nghề phải có bí quyết phù phép xin thần thánh phù hộ. Không có bí quyết
thì không thể làm nghề được. Vì vậy, bí quyết chỉ được truyền cho những người con
trai trong gia đình. Thực chất bí quyết là ở kĩ thuật tôi. Tôi non thì bị quăn, tôi già thì
công cụ bị mẻ. Kĩ thuật cao hơn của nghề rèn là kĩ thuật khoan. Họ mua các loại nòng
súng của các dân tộc khác hoặc mua các vòng tay lái xe con bị hỏng về tôi lại sau đó
khoan cho đúng yêu cầu kĩ thuật. Tất cả những kĩ thuật này đều do quá trình làm
nghề mà thành, chính quá trình tiếp xúc và phụ việc của những người con trong gia
đình đã dần dần học được những bí quyết của anh, của cha để lại.
Ngoài ra nghề nghề mộc, nghề đan lát cũng rất phát triển ở những nới có
đồng bào H’Mông sinh sống. Những nghề này được hình thành chủ yếu để cung cấp
công cụ lao động trong gia đình là chính.
1.5. Tổ chức cộng đồng
Những gia đình cùng họ thường có xu thế ở gần nhau. Việc cư trú xen kẽ
giữa các họ đến nay là phổ biến, vì thế làng mang tính chất láng giềng nổi trội. Mỗi
làng bao gồm vài chục nóc nhà, quây quần bên nhau cùng quay về một hướng. Có

15


khi phân bố thành từng cụm mấy nhà trên một khu vực nhất định hoặc vài ba nóc
nhà ở rải rác ven sườn núi, sườn đồi.
Làng của người H’Mông quần tụ chủ yếu theo dòng họ , một làng trung bình
có từ hai - ba họ, làng lớn có sáu - bảy họ. Tuy sống chung trong một làng nhưng

các dòng họ cư trú thành từng cụm riêng, mỗi cụm là một dòng họ. Kiểu cư trú này
phổ biến ở khắp các vùng người H’Mông, điều đó thể hiện sự gắn bó giữa những
người cùng dòng họ với nhau. Hiện nay đã bắt đầu xuất hiện sự cư trú đan xen giữa
các dòng họ ở một số làng mới thành lập và cư trú hỗn hợp dân tộc trong cùng một
làng. Mặc dù vậy, người H’Mông vẫn tách thành từng khu vực riêng, họ quan niệm
đó mới là làng của mình. Điều này phản ánh truyền thống khép kín, tính cố kết tộc
người của dân tộc H’Mông.
Nơi được chọn lập làng phải là nơi có nguồn nước sinh hoạt cho người và
gia súc. Bên cạnh nơi cư trú, từng làng phải có đất đai để canh tác và khai thác riêng
với những quy định cụ thể cho từng khu vực của đất làng như:
 Rừng đầu nguồn - nơi phải đảm bảo sự vệ sinh và không được khai thác.
 Rừng cấm của bản: đây là khu nghĩa địa cũng nghiêm cấm việc khai thác.
 Rừng thiêng: đây là khu rừng thờ vị thần rừng bảo hộ cho cả bản. Dân bản
không được làm nhà, lấy củi, chém dao vào cây đa, cây si – theo họ, là nơi các thần
linh cư ngụ.
 Rừng sử dụng: có thể khai thác.
 Tất cả tập hợp lại tạo nên một không gian sinh tồn chung cho cả cộng đồng.
Làng của người H’Mông dù là mới thành lập hay đã định cư từ lâu đời đều
có ranh giới qua thỏa thuận (bằng miệng) giữa những người có uy tín của các làng
lân cận trước sự chứng kiến của chính quyền xã. Có hai cách đánh dấu ranh giới
làng (phụ thuộc vào địa hình của từng khu vực). Cách thứ nhất lấy đỉnh đồi, núi làm
chuẩn. Cách thứ hai là dựa vào dòng chảy của các con sông con suối để phân định
ranh giới. Mặc dù chỉ mang tính ước lệ, nhưng đường ranh giới đó luôn được mọi
người tôn trọng và duy trì, hiếm khi có người nào vi phạm.
Dân bản này không thể tự ý sang đất bản khác để khai phá đất rừng để làm
nương. Muốn khai phá đất bản khác phải xin phép chủ nhân sở tại - nếu đất đã có
chủ, hoặc xin trưởng bản - nếu đất đó đang thuộc quyền sử dụng chung của bản.
Những đám đất, những lâm sản trong rừng nếu đã được đánh dấu xác định quyền

16



chiếm hữu thì người khác không được khai thác. Các thành viên trong bản phải tôn
trọng và tuân thủ luật tục, ai vi phạm sẽ bị xử phạt.
Theo quan niệm của người H’Mông, mỗi làng bản đều có chung một vị thần
bảo vệ cho cộng đồng mình. Thần chi phối đời sống của cộng đồng bản, làm cho
dân bản được khỏe mạnh, mùa màng được bội thu, gia súc - gia cầm được đầy
đàn,… Ngược lại gia súc - gia cầm bị dịch bệnh. Người gặp tai nạn đều là do có
hành động vô lễ với các vị thần (như chặt cây trong rùng cấm, phá phách nơi thần
trú ngụ hay làm điều gì ảnh hưởng đến các vị thần. Vì vậy, hàng năm cứ ăn tết
xong, đại diện các gia đình trong làng lại đến khu rừng thiêng làm lễ cúng thần. Tại
lễ này các thành viên trong làng sẽ tập trung bàn bạc thống nhất quy ước. Nội dung
quy ước bao gồm những điều cụ thể liên quan đến việc chăn thả gia súc, bảo vệ mùa
màng, bảo vệ trị an, phòng chống trộm cướp, bảo vệ rừng trồng rừng, giúp đỡ các
gia đình nghèo khó, hoạn nạn trong làng. Mọi người bàn bạc đi đến thống nhất rồi
lần lượt uống một bát rượu thề để thực hiện đúng quy ước. Các đại diện gia đình
bầu ra một người trưởng làng và phó trưởng làng mới giúp việc cho năm tới. Những
người này có nhiệm vụ giám sát mọi người trong làng thực hiện đúng quy ước,
đồng thời xử phạt những ai vi phạm.
Trong xã hội truyền thống của người H’Mông tồn tại khá rõ ràng một loại
hình tổ chức xã hội dựa trên quan hệ huyết thống, đó là dòng họ. Trước đây hầu như
mỗi vùng đều có một dòng họ vừa đông đúc vừa có thế lực nhất, ngày nay hầu hết
các dòng họ người H’Mông đều sống xen kẽ với nhau và một làng thường có ít nhất
hai - ba dòng họ.
Có hai phạm trù cố kết trong dòng họ H’Mông đều sống xen kẽ với nhau và
một làng thường có ít nhất hai - ba dòng họ.
Có hai phạm trù cố kết trong dòng họ:
 Ở phạm trù rộng gồm tất cả những ngừi cùng một họ cư trú ở khắp nơi.
Người H’Mông hay nhận nhau để biết có cùng dòng máu hay không, dấu hiệu nhận
họ là cùng họ và cùng ma (tổ tiên chung). Những người chỉ cùng họ mà không cùng

ma thì không được sinh, không được chết ở nhà nhau, mặc dù có những kiêng kị
như nhau.
 Ở phạm vi hẹp, dòng họ là một tập thể con cháu ba đời bao gồm một vài
chục gia đình có chung một ông tổ. Đó là một đơn vị cố kết cộng đồng huyết thông
theo hệ cha. Thành viên các dòng họ là những người nam giới cùng vợ con của họ.

17


Đây là những người “cùng họ, cùng ma”. Ở người H’Mông, khi muốn nhận anh em
cùng tổ tiên, người ta hỏi kỹ lưỡng về những điều kiêng kị, cách thức cúng ma, đặc
biệt là nghi thức làm ma chay cho người chết như: ma khô, ma bò,… Mỗi họ đều
kiêng ăn một số các con vật hoặc bộ phận con vật như: họ Giàng kiêng ăn tim, họ
Lý kiêng ăn lá lách, họ Thào kiêng ăn dưa chuột… Cách cúng ma thường khác nhau
về số lượng bát cúng, cách bày bát, chia thịt, chỗ cúng: họ Vàng cúng 33 bát, họ
Sùng bầy 13 bát, họ Mùa 19 bát… Mỗi họ có tên gọi riêng liên quan đến một số con
vật, loại cây, đồ vật, màu sắc như: Sùng (gấu), Mã (ngựa), Giàng (dê), Hờ (khỉ), Cư
(trống), Thào (đào), Lù (xanh)… Các họ người H’Mông có rất nhiều như: Thào,
Giàng, Vàng, Háng, Vừ, Lầu, Lý, Sồng, Hờ, Và, Cư, Mã, Phàng, Mùa,…
Đứng đầu dòng họ là trưởng tộc: hơ pâu (cái gốc) hay uô thâu (cái đầu) ông
là người có đạo đức, uy tín, luôn quan tâm đến đời sống các thành viên. Đồng thời
ông cũng là người có nhiều kinh nghiệm trong sản xuất, giỏi tổ chức săn bắn, thạo
nghề rèn, am hiểu các lễ nghi, kiêng kỵ riêng của dòng họ, nắm chắc phong tục tập
quán của người H’Mông. Người trưởng tộc có trách nhiệm trực tiếp tổ chức khai
hoang giải quyết các vụ xích mích trong dòng họ, hướng dẫn các gia đình có ma
chay, cưới xin. Ông cũng là người thay mặt dòng họ giao thiệp với chính quyền và
các dòng họ khác, thậm chí còn là người tổ chức các vụ kiện, đi đòi nợ máu xưa kia.
Có tộc trưởng do các thành viên dòng họ bầu ra, nhưng cũng có nơi lại do người tộc
trưởng cũ tìm chọn và đào tạo. Đặc biệt ở một số nơi, người tộc trưởng được hình
thành một cách rất tự phát: tộc trưởng cũ mất đi. Từ đó người có uy tín luôn được

các thành viên hỏi ý kiến thì dần dần trở thành tộc trưởng
Những bậc cha, chú sẽ là người giám sát việc làm của trưởng họ. Nếu ông ta
không hoàn thành nhiệm vụ thì sẽ bị bãi miễn. Ý kiến trưởng họ có trọng lượng
nhưng không thể đi ngược lại quyền lợi chung của dòng họ. Trưởng họ không được
hưởng quyền lợi gì ngoài sự kính trọng của các thành viên. Ngoài trưởng họ còn có
các bà cô (chị hoặc em gái của bố) cũng là người có vai trò quan trọng. Tuy đã
thành “ma” nhà khác nhưng bà cô vẫn có trách nhiệm với dòng họ mình, góp ý kiến
trong việc cưới gả các cháu gái, quyết định đồ sính lễ, thách cưới. Khi bố mẹ cháu
mất, bà cô thay mặt gia đình bàn bạc với các bậc cha chú trong dòng họ để làm ma.
Nếu nghi thức thành ma muốn thay đổi chút ít phải được sự đồng ý của các bà cô.
Cưới xin, làm nhà mới là công ciệc của từng gia đình nhưng toàn thể các
thành viên trong dòng họ đều có nghĩa vụ giúp đỡ. Ở các vùng cư trú lâu đời, hàng
năm người trưởng tộc phải bàn bạc với các chủ gia đình quyết định việc làm nhà

18


cho đình nào, xem xét kỹ số nguyên vật liệu chuẩn bị đến đâu, thiếu thứ gì cần phân
bổ cho các thành viên khác lo liệu. Riêng cột cái chính - nơi sau này hồn ma trú ngụ
thì đích thân ông trưởng tộc chọn giúp. Trường hợp ông ta bận thì phải chọn một
người khỏe mạnh, đông con cái đi vào rừng chọn lấy về.
Trường hợp một gia đình có đám tang thì cả dòng họ đứng ra lo liệu. Gia
đình đó quá nghèo không làm nổi đám ma, cả dòng họ có nghĩa vụ đóng góp rượu,
thịt, gạo… để mọi việc được chu toàn. Người chủ ma tuy không nhất thiết là trưởng
tộc nhưng cũng phải là thành viên am hiểu lễ tục của dân tộc mình. Ông này có
quyền quyết định mọi công việc của đám ma. Sự thống nhất về xã hội và tư tưởng
trong dòng họ của người H’Mông phản ánh khá rõ nét qua lễ làm “ma bò”. Tất cả
các thành viên trong dòng họ phải có mặt trong lễ này, kể cả phụ nữ đã đi lấy
chồng, lễ do trưởng họ chủ trì. Đây là lễ của con cháu cúng báo hiếu ông bà, cha
mẹ. Sự gắn kết về tinh thần còn được thể hiện ở lễ đuổi tà ma, cầu yên cho dòng họ.

Mỗi họ tổ chức vào những ngày nhất định trong năm, luân phiên từ gia đình này đến
gia đình khác trong dòng họ.
Sự thống nhất tư tưởng của dòng họ biểu hiện tập trung về ký ức đối với ông
tổ chung. Người H’Mông không có chữ viết nên trừ những gia đình chức dịch biết
chữ Hán còn hầu hết đều không có gia phả, nhưng mọi thành viên của dòng họ luôn
nhứ kỹ về lịch sử ông tổ, lịch sử di cư của dòng họ mình. Trong các lễ cúng “ma
bò”, lễ giải hạn, người tộc trưởng phải có nghĩa vụ nhắc lại sự nghiệp của tổ tiên
cùng các ký hiệu quy định của dòng họ cho con cháu nhớ.
Cộng đồng dòng họ người H’Mông cũng định ra những luật tục rất nghiêm
khắc, nổi bật là tục cấm kết hôn trong dòng họ, kể cả những anh em “khác ma” song
trùng tên dòng họ; tục không bao giờ để người khác họ chết hay đẻ ở nhà mình.
Luật tục còn quy định cả nghĩa vụ, trách nhiệm của các thành viên trong dòng họ.
Người H’Mông có câu: “Sống là người của dòng họ, chết là ma của dòng họ”. Sống
phải bảo vệ nhau, chết phải chôn cất cho nhau”. Trong cuộc sống người H’Mông
tuân thủ nghiêm ngặt những lễ nghi, kiêng kỵ của dòng họ, những người thân thuộc
phải giúp đỡ nhau, bảo vệ nhau, giúp nhau báo thù, kiện tụng hay giúp trả nợ và đòi
nợ, giúp vì danh dự của dòng họ… Gặp chuyện vui buồn “dốc cao đừng xa” họ
cũng đến chia sẻ với nhau. Mối quan hệ giữa các thành viên cùng sòng họ thường
vượt qua cả danh giới quốc gia. Người dòng họ cư trú tới đâu, luật tục dòng họ thực
hiện tới đó.

19


×