TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
======
NGUYỄN THỊ THANH
PHÁT NGÔN CÓ VỊ TỪ DỜI CHUYỂN
TRONG TIẾNG VIỆT
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Ngôn ngữ học
HÀ NỘI - 2019
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
======
NGUYỄN THỊ THANH
PHÁT NGÔN CÓ VỊ TỪ DỜI CHUYỂN
TRONG TIẾNG VIỆT
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Ngôn ngữ học
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học
TS. Đỗ Thị Hiên
HÀ NỘI - 2019
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn TS. Đỗ Thị Hiên đã tận tình hướng dẫn tôi
trong suốt quá trình tìm hiểu, học tập, nghiên cứu để hoàn thành khóa luận
này một cách tốt nhất.
Tôi cũng xin cảm ơn các thầy cô giáo trong khoa Ngữ văn – Trường
Đại học Sư phạm Hà Nội 2 đã tạo mọi điều kiện thuận lợi về mặt thời gian và
nguồn tài liệu tham khảo để tôi hoàn thành khóa luận này.
Cuối cùng tôi xin cảm ơn gia đình và bạn bè đã quan tâm, động viên,
khích lệ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu đề tài.
Hà Nội, ngày 16 tháng 05 năm 2019
Sinh viên
NGUYỄN THỊ THANH
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan khóa luận tốt nghiệp với đề tài Phát ngôn có vị từ dời
chuyển trong tiếng Việt là đề tài nghiên cứu riêng của tôi dưới sự hướng dẫn
của TS. Đỗ Thị Hiên.
Phần ngữ liệu nêu trong khóa luận hoàn toàn là xác thực có căn cứ rõ
ràng. Kết quả của khóa luận này không giống với bất cứ kết quả nghiên cứu
của các tác giả nào khác. Nếu trùng tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm.
Hà Nội, ngày 16 tháng 05 năm 2019
Sinh viên
NGUYỄN THỊ THANH
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ........................................................................................................... 1
1.Lí do chọn đề tài ............................................................................................. 1
2. Lịch sử vấn đề ............................................................................................... 1
3. Mục đích nghiên cứu ..................................................................................... 4
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu................................................................. 4
5. Nhiệm vụ nghiên cứu .................................................................................... 4
6. Phương pháp nghiên cứu............................................................................... 5
7. Đóng góp của khóa luận................................................................................ 5
8. Bố cục của khóa luận .................................................................................... 5
NỘI DUNG ....................................................................................................... 7
Chương I. CƠ SỞ LÍ LUẬN ............................................................................. 7
1.1. Lí thuyết ba bình diện nghiên cứu câu ....................................................... 7
1.1.1. Bình diện kết học .................................................................................... 7
1.1.1.1. Thành phần câu .................................................................................... 7
1.1.1.2. Cấu tạo ngữ pháp của câu .................................................................... 9
1.1.2. Bình diện nghĩa học .............................................................................. 11
1.1.2.1. Nghĩa biểu hiện của câu ..................................................................... 11
1.1.2.2. Nghĩa tình thái .................................................................................... 15
1.1.3. Bình diện dụng học ............................................................................... 15
1.1.3.1. Cấu trúc đề - thuyết ............................................................................ 16
1.1.3.2. Cấu trúc thông tin ............................................................................... 17
1.2. Câu và phát ngôn ...................................................................................... 18
1.3. Tiểu kết..................................................................................................... 19
Chương 2: KHÁI QUÁT VỀ VỊ TỪ DỜI CHUYỂN VÀ PHÁT NGÔN CÓ
VỊ TỪ DỜI CHUYỂN TRONG TIẾNG VIỆT .............................................. 20
2.1. Khái quát về vị từ dời chuyển .................................................................. 20
2.1.1. Khái niệm .............................................................................................. 20
2.1.2. Đặc trưng ............................................................................................... 20
2.1.3. Phân loại ................................................................................................ 23
2.2. Khái quát về phát ngôn có vị từ dời chuyển ............................................ 24
2.2.1. Khái niệm .............................................................................................. 24
2.2.2. Cấu trúc ngữ pháp ................................................................................. 25
2.2.3. Cấu trúc ngữ nghĩa ................................................................................ 29
2.2.3.1. Cấu trúc ngữ nghĩa cơ sở của phát ngôn có vị từ dời chuyển ............ 29
2.2.3.2. Vai nghĩa của các diễn tố ................................................................... 30
2.3. Tiểu kết..................................................................................................... 31
Chương 3: SỰ HIỆN THỰC HÓA CẤU TRÚC NGỮ PHÁP VÀ NGỮ
NGHĨA CỦA VỊ TỪ DỜI CHUYỂN TRONG PHÁT NGÔN TIẾNG VIỆT
......................................................................................................................... 33
3.1. Khả năng hiện diện của các thành tố........................................................ 34
3.1.1. Khả năng hiện diện đầy đủ .................................................................... 34
3.1.2. Khả năng hiện diện không đầy đủ......................................................... 35
3.1.2.1. Vắng diễn tố 1 .................................................................................... 35
3.1.2.2. Vắng diễn tố 2 .................................................................................... 38
3.1.2.3. Vắng diễn tố 3 .................................................................................... 39
3.2. Khả năng hiện thực hóa của các thành tố trong vai trò chức vụ cú pháp 41
3.2.1. Chu tố .................................................................................................... 41
3.2.2. Diễn tố ................................................................................................... 43
3.2.2.1. Diễn tố 1 ............................................................................................. 43
3.2.2.2. Diễn tố 2 ............................................................................................. 44
3.2.2.3. Diễn tố 3 ............................................................................................. 45
3.2.3. Vị từ trung tâm ...................................................................................... 46
3.3. Tiểu kết..................................................................................................... 47
KẾT LUẬN ..................................................................................................... 48
TÀI LIỆU THAM KHẢO
MỞ ĐẦU
1.Lí do chọn đề tài
Lí thuyết ba bình diện nghiên cứu câu ra đời đã đem đến cho các
nhà nghiên cứu ngôn ngữ một cách tiếp cận, xem xét, nghiên cứu câu mới hơn
toàn diện hơn. Vì vậy, từ những năm cuối thế kỉ XIX cho đến nay, khi nghiên
cứu về ngôn ngữ người ta nhìn nhận các đơn vị của ngôn ngữ ở cả ba phương
diện: ngữ pháp, ngữ nghĩa và ngữ dụng. Để bắt kịp sự thay đổi đó chúng tôi
nghiên cứu phát ngôn có vị từ dời chuyển cũng xem xét đầy đủ ở cả ba bình
diện trên.
Vị từ dời chuyển là vị từ xuất hiện nhiều trong giao tiếp hằng
ngày, đây là một trong những vị từ có ba diễn tố đi kèm. Các vị từ ba diễn tố
thì đều phức tạp bởi chúng có nhiều yếu tố xoay quanh. Do vậy, khi đi vào
phát ngôn chúng có sự biến đổi phức tạp do sự tác động của các yếu tố ngữ
dụng.
Trước đây, trong quá trình nghiên cứu phát ngôn có vị từ dời
chuyển, các nhà ngôn ngữ thường chỉ quan tâm nghiên cứu ở góc độ từ và đặc
điểm ngữ pháp của câu. Chưa hề có công trình nghiên cứu nào về câu có chứa
vị từ dời chuyển trên ba bình diện. Cho nên, chúng tôi nhận thấy nghiên cứu
phát ngôn có vị từ dời chuyển trong tiếng Việt là một vấn đề sẽ mang đến
nhiều điều hay và bổ ích.
Với những lí do trên, chúng tôi chọn vấn đề: Phát ngôn có vị từ
dời chuyển trong tiếng Việt làm đề tài nghiên cứu cho khóa luận này.
2. Lịch sử vấn đề
2.1. Lịch sử nghiên cứu câu trên ba bình diện
Như ta biết, câu là một trong những đơn vị cơ bản và vô cùng
quan trọng của ngôn ngữ. Vì vậy, có thể thấy từ khi ngôn ngữ phát triển thành
một hệ thống thì đã có nhiều công trình nghiên cứu về nó với những cách thức
và khuynh hướng khác nhau. Người đặt nền móng đầu tiên là Aristotle với
các công trình nghiên cứu cách thời đại chúng ta 2000 năm về trước. Đặc biệt,
từ những năm cuối của thế kỉ XX đến nay, có nhiều sự thay đổi trong lĩnh vực
1
nghiên cứu câu với những cách nhìn nhận khác nhau. Câu là đơn vị ngôn ngữ
nhỏ nhất mang đầy đủ ba phương diện của ngôn ngữ đó là: ngữ pháp, ngữ
nghĩa và ngữ dụng. Đồng thời câu cũng có một vị trí quan trọng trong đời
sống giao tiếp của con người. Khi đó, nó không chỉ được quan tâm ở phương
diện ngữ pháp (hình thức) như truyền thống mà nó cần được xem xét kĩ ở cả
phương diện ngữ nghĩa (nội dung) và thực tế sử dụng câu trong đời sống hằng
ngày (ngữ dụng).
2.2. Lịch sử nghiên cứu vị từ
* Lịch sử nghiên cứu vị từ trên thế giới
Người đầu tiên quan niệm cấu trúc câu bao gồm vị từ và các diễn
tố là L.Tesniere. Ông là người mở đầu cho ngữ nghĩa cú pháp học với cuốn
sách “Các yếu tố của cấu trúc cú pháp (1969)”. Quan điểm của ông thì vị từ
là yếu tố trung tâm còn các diễn tố (bao gồm cả chủ ngữ - thành phần được
coi là nòng cốt của câu) làm bổ ngữ.
Người thứ hai nghiên cứu mối quan hệ giữa vị từ và tham tố trong
cấu trúc câu là nhà ngôn ngữ học C.J.Fillmore. Với bài viết “Tác dụng của
cách (1968)”, C.J.Fillmore cho rằng vị từ và các tham thể đi kèm của nó sẽ
biểu hiện cốt lõi của sự tình. Vị từ là cốt lõi trung tâm còn các tham thể sẽ
xoay quanh làm rõ sự tình của câu. Ông chỉ ra các vai nghĩa mà các tham tố
có thể đảm nhiệm gồm: tác thể, đối thể, công cụ…Về sau này thì các nhà
ngôn ngữ học cũng dần hoàn thiện danh sách vai nghĩa mà ông đã khởi
xướng.
Sau L.Tesniere và C.J.Fillmore thì nhà ngôn ngữ học S.C.Dik
cũng đưa ra quan điểm của mình về vai trò trung tâm của vị từ trong cấu trúc
của câu. Trong cấu trúc cú pháp thì vị từ là trung tâm còn chủ ngữ và bổ ngữ
là những vai nghĩa được gán cho các tham thể của vị từ. Về cấu trúc ngữ
nghĩa thì gồm có kết cấu vị ngữ mở rộng và kết cấu vị ngữ hạt nhân. Kết cấu
vị ngữ hạt nhân là nòng cốt của câu. Còn kết cấu vị ngữ mở rộng được cấu tạo
từ kết cấu vị ngữ hạt nhân cộng thêm các chu tố đi kèm.
Một tiêu biểu nữa về nghiên cứu vị từ là nhà ngôn ngữ học
M.A.K.Halliday. Với cuối sách “Dẫn luận ngữ pháp chức năng”, ông có
2
quan niệm câu biểu thị là một quá trình đang diễn ra. Trong mỗi quá trình
gồm có ba thành phần chính, đó là: thành phần quá trình, các tham thể của
quá trình và các chu cảnh liên quan đến quá trình; tương đương với vị từ,
tham thể, chu tố trong đó thì vị từ đóng vai trò trung tâm.
* Lịch sử nghiên cứu vị từ ở Việt Nam
Tại Việt Nam vị từ được xem xét theo hai quan điểm: vị từ thuộc
phạm trù từ loại và vị từ thuộc phạm trù chức năng.
Đại diện cho quan điểm coi vị từ thuộc phạm trù từ loại là Nguyễn
Kim Thản và Lê Văn Lý. Họ cho rằng vị từ bao gồm động từ và tính từ, bởi
động từ và tính từ có nhiều đặc điểm giống nhau và phân biệt với danh từ.
Tiêu biểu cho quan điểm cho rằng vị từ thuộc phạm trù chức năng là
Cao Xuân Hạo và Nguyễn Thị Quy, họ xem xét vị từ dưới phương diện chức
năng, đó là chức năng tự mình làm thành một vị ngữ hoặc làm trung tâm ngữ
pháp.
2.3. Lịch sử nghiên cứu vị từ dời chuyển
Vị từ dời chuyển là một trong số những nhóm từ vựng cơ bản và phổ
biến của tiếng Việt. Chúng thuộc vào nhóm vị từ có ba diễn tố đi kèm để thể
hiện rõ sự tình diễn ra. Nhóm vị từ dời chuyển có số lượng tương đối lớn
trong tiếng Việt.
Vị từ dời chuyển đã xuất hiện trong một số công trình nghiên cứu
chung về nhóm vị từ ba diễn tố của các tác giả: Hoàng Trọng Phiến, Trần Văn
Thư, Nguyễn Kim Thản, Nguyễn Đức Tồn, Nguyễn Thị Quy, Cao Xuân
Hạo… Mới đây, trong luận án TS.Đỗ Thị Hiên, với công trình “Phát ngôn có
vị từ ba diễn tố trong tiếng Việt” đã tìm hiểu và đưa ra 8 loại vị từ trong tiếng
Việt và vị từ dời chuyển nằm trong một số nhóm vị từ đó.
Nhìn chung, vị từ dời chuyển trong tiếng Việt có được các nhà ngôn
ngữ đề cập đến trong công trình nghiên cứu tổng hợp về vị từ ba diễn tố,
nhưng chưa có công trình nào nghiên cứu chuyên sâu và toàn diện về tiểu loại
vị từ dời chuyển và đặc biệt là chưa có công trình nào nghiên cứu về Phát
ngôn có vị từ dời chuyển trong tiếng Việt trên cả ba bình diện: kết học, nghĩa
3
học và dụng học. Cũng giống như các công trình nghiên cứu khoa học khác,
đề tài của chúng tôi cũng cần dựa vào các tiền đề lí thuyết của các nhà nghiên
cứu đi trước. Các công trình được công bố trước đã giúp chúng tôi rất nhiều
về mặt lí thuyết để chúng tôi có thể hoàn thành được đề tài: Phát ngôn có vị
từ dời chuyển trong tiếng Việt.
3. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu Phát ngôn có vị từ dời chuyển trong tiếng Việt, chúng tôi
hướng đến mục đích là làm rõ những đặc điểm của chúng trên ba phương diện
của ngôn ngữ là: hình thức (bình diện kết học), nội dung (bình diện nghĩa
học) và cách sử dụng (bình diện dụng học). Qua đó giúp chúng ta hiểu rõ hơn,
cụ thể hơn về lí thuyết ba bình diện trên câu.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tƣợng
Đối tượng nghiên cứu của khóa luận này là Phát ngôn có chứa vị từ
dời chuyển trong tiếng Việt.
4.2. Phạm vi
Để tìm ra các ngữ liệu, các dẫn chứng nhằm giải quyết vấn đề
được đặt ra, chúng tôi tiến hành nghiên cứu trên phạm vi tư liệu thuộc thể loại
truyện ngắn, tiểu thuyết, phóng sự, bút kí Việt Nam hiện đại của các tác gia
giai đoạn 1930-1975. Những tác phẩm này sẽ cho khóa luận nguồn dẫn chứng
phong phú để chứng minh vấn đề.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu đề tài Phát ngôn có vị từ dời chuyển trong tiếng Việt,
chúng tôi phải thực hiện các nhiệm vụ sau:
- Nghiên cứu lí thuyết về ba bình diện nghiên cứu câu (kết học,
nghĩa học và dụng học) và lí thuyết về câu và phát ngôn để làm cơ sở lí luận
cho đề tài.
- Nghiên cứu lí thuyết về các vị từ dời chuyển và phát ngôn có vị
từ dời chuyển để xác định và hiểu rõ hơn về đối tượng nghiên cứu.
4
- Nghiên cứu sự hiện thực hóa cấu trúc ngữ pháp và ngữ nghĩa của
vị từ dời chuyển trong phát ngôn tiếng Việt.
6. Phƣơng pháp nghiên cứu
Để nghiên cứu đề tài này, chúng tôi sử dụng các phương pháp
nghiên cứu như sau:
- Phương pháp phân tích - miêu tả: phương pháp này được sử
dụng để phân tích những ngữ liệu đã được thống kê để có thể hiểu hơn về vấn
đề được nghiên cứu, sau đó tổng hợp chỉ ra các đặc trưng của phát ngôn có vị
từ dời chuyển trong tiếng Việt.
- Phương pháp phân tích cú pháp: dùng để phân tích ngữ liệu.
- Thủ pháp thống kê, phân loại: thông kê cụ thể các phát ngôn có vị
từ dời chuyển trong tiếng Việt dựa theo mục đích nghiên cứu và phân loại
chúng theo những tiêu chí nhất định.
- Thủ pháp so sánh, đối chiếu: So sánh các phát ngôn có đầy đủ
thành tố và không đầy đủ thành tố.
7. Đóng góp của khóa luận
Kết quả của việc nghiên cứu đề tài này, chúng tôi hy vọng:
- Về mặt lí luận: đề tài này đã làm rõ được các lí thuyết về ba bình
diện nghiên cứu câu, lí thuyết về câu và phát ngôn; lí thuyết về vị từ dời
chuyển và phát ngôn có vị từ dời chuyển trong tiếng Việt. Bên cạch đó đề tài
còn chỉ ra được khả năng xuất hiện của các thành tố và khả năng hiện thực
hoá của các thành tố trong vai trò chức vụ cú pháp.
- Về thực tiễn: hiểu sắc đáng và cụ thể hơn về phát ngôn có vị từ
dời chuyển trong tiếng Việt; có thể vận dụng chúng trong cuộc sống hàng
ngày; cung cấp ngữ liệu để dạy về nghĩa của câu ở trường phổ thông.
8. Bố cục của khóa luận
Bố cục nội dung của khóa luận được trình bày trong ba chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận
5
Chương đầu tiên của khóa luận chúng tôi trình bày lí thuyết về ba
bình diện nghiên cứu câu (kết học, nghĩa học và dụng học), và lí thuyết khái
quát về câu và phát ngôn.
Chương 2: Khái quát về vị từ dời chuyển và phát ngôn có vị từ dời
chuyển trong tiếng Việt
Chương 2, chúng tôi trình bày lí thuyết về vị từ dời chuyển và phát
ngôn có vị từ dời chuyển một cách khái quát nhất, giúp người đọc có thể nắm
được sơ lược về vị từ dời chuyển và phát ngôn có vị từ dời chuyển trong tiếng
Việt. Về vị từ dời chuyển chúng tôi trình bày khái niệm, đặc trưng và cách
phân loại. Về phát ngôn có vị từ dời chuyển, chúng tôi trình bày khái niệm,
cấu trúc ngữ pháp và cấu trúc ngữ nghĩa.
Chương 3: Sự hiện thực hóa cấu trúc ngữ pháp và ngữ nghĩa của vị
từ dời chuyển trong tiếng Việt
Ở chương này dựa trên cơ sở của chương 1 và chương 2 chúng tôi
đi vào phân tích những dẫn chứng, những ngữ liệu cụ thể, sau đó sẽ khái quát
khả năng hiện diện đầy đủ hay không đầy đủ các thành tố. Tiếp theo chúng tôi
trình bày khả năng hiện thực hóa của các thành tố trong vai trò chúc vụ ngữ
pháp (chu tố, diễn tố, vị từ trung tâm). Trên cơ sở đó chúng tôi sẽ đưa ra
những kết luận hoàn toàn có căn cứ về vấn đề này.
Ngoài những nội dung chính trên thì khóa luận còn có phần mở đầu,
kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục.
6
NỘI DUNG
Chƣơng I. CƠ SỞ LÍ LUẬN
1.1. Lí thuyết ba bình diện nghiên cứu câu
Đối tượng nghiên cứu của ngữ pháp hình thức là phương diện
hình thức bao gồm tất cả các mặt hình thức của các đơn vị ngôn ngữ trong đó
có câu. Câu trong ngữ pháp giúp con người trao đổi thông tin với nhau nhưng
nó không chỉ dừng lại ở mặt lí thuyết mà nó còn được sử dụng hằng ngày
trong cuộc sống. Đó cũng là một trong những hạn chế nhất định của ngữ pháp
hình thức, vì vậy mà ngữ pháp chức năng ra đời đã quan tâm nghiên cứu câu
trên cả ba bình diện đó là phương diện hình thức, phương diện ngữ nghĩa, và
đặc biệt là phương diện thực tế sử dụng.
Khi nghiên cứu tín hiệu, Charles Morri đã phân xuất ba chiều hay
ba bình diện:
- Bình diện kết học: là quan hệ hình thức giữa tín hiệu và tín hiệu.
- Bình diện nghĩa học: là quan hệ giữa tín hiệu và sự vật mà tín hiệu
biểu hiện.
- Bình diện dụng học: là quan hệ giữa tín hiệu và người sử dụng.
1.1.1. Bình diện kết học
1.1.1.1. Thành phần câu
Việc phân tích thành phần câu (nêu tên, khái niệm, tiêu chí phân
loại) được các nhà ngôn ngữ nghiên cứu và đưa ra nhiều quan điểm khác nhau
đến nay vẫn chưa có sự nhất quán.
Theo quan niệm truyền thồng, các thành phần trong câu được chia ra
làm ba loại: các thành phần chính (gồm có chủ ngữ và vị ngữ), các thành phần
phụ, thứ yếu (bao gồm: trạng ngữ, khởi ngữ, bổ ngữ, định ngữ) và các thành
phần biệt lập (chú ngữ, hô ngữ, tình tháu ngữ, cảm thán ngữ)
Tuy nhiên, có quan niệm chia thành phần câu thành bốn loại, đây là
loại phổ biến được nhiều người đồng tình và sử dụng để phân tích câu. Trong
7
khóa luận này thì chúng tôi đồng tình với quan niệm này để phân tích câu
trong các ví dụ cụ thể. Thành phần câu được chia thành bốn loại như sau:
- Thành phần chính của câu (thành phần nòng cốt câu): đây là những
thành phần bắt buộc phải có mặt trong câu, nếu thiếu chúng thì câu
không được hoàn chỉnh cả về nội dung ý nghĩa và hình thức cấu tạo
câu. Thành phần chính của câu gồm: chủ ngữ và vị ngữ.
Ví dụ (1): Tôi xin lỗi bác. [5-tr.160]
Ví dụ này gồm chủ ngữ là tôi và vị ngữ là xin lỗi bác.
- Thành phần phụ của câu: thành phần này chỉ làm bổ ngữ cho câu (có
thể thiếu vắng trong câu mà câu vẫn trọn vẹn về cả nội dung và hình
thức) bao gồm: trạng ngữ, vị ngữ phụ và khởi ngữ.
Ví dụ (2): Hai mươi năm về trước, bà lão lòa này còn là người có của
trong làng. [5-tr.26]
Ví dụ (2) có trạng ngữ chỉ thời gian hai mươi năm về trước là thành
phần phụ của câu, bổ sung ý nghĩa về mặt thời gian.
- Thành phần phụ của từ là thành phần bổ sung ý nghĩ cho các từ (danh
từ, động từ, tính từ) bao gồm bổ ngữ và định ngữ.
Ví dụ:
(3) Nó hí hửng khoe với tôi món tiền, rồi vừa xếp quần áo vào khăn
gói, vừa pha trò. [3-tr.353]
Trong ví dụ này hí hửng là thành phần phụ của từ khoe, nó bổ sung ý
nghĩa cho động từ khoe.
- Thành phần biệt lập là thành phần không tham gia vào việc diễn đạt
nghĩa sự việc của câu gồm có: hô ngữ, liên ngữ, tình thái từ, phụ chú
ngữ.
Ví dụ (4): Ồ! Thế thì Văn Minh tôi xin ký cả hai tay. [5-tr.250]
Thành phần biết lập ở ví dụ (4) là tình thái từ ồ!
8
1.1.1.2. Cấu tạo ngữ pháp của câu
Cấu trúc ngữ pháp của câu cũng là một trong những đối tượng nghiên
cứu của bình diện kết học. Dựa vào số lượng các cụm chủ - vị (C – V), số
lượng kết cấu C – V mà các nhà ngôn ngữ học phân thành ba loại câu là: câu
đơn, câu ghép và câu phức.
Câu đơn là câu chỉ có một cụm chủ-vị. Trong câu đơn thì có 2 tiểu loại
là câu đơn bình thường và câu đơn đặc biệt.
Ví dụ:
(5) Người tài xế xuống mở cửa xe. [5-tr.263]
Ví dụ (5) là câu đơn bình thường có chủ ngữ là người tài xế và vị ngữ
là xuống mở cửa xe
(6) Ối giời ơi anh Viên!
Ví dụ (6) là câu đơn đặc biệt dùng để bài tỏ cảm xúc.
Câu ghép là câu có ít nhất hai cụm chủ - vị (có thể nhiều hơn 2), trong
đó thì các cấu trúc chủ - vị tương đối độc lập với nhau, chúng không phải là
thành tố cấu tạo nên nhau, mặc dù chúng vẫn có ý nghĩa với nhau. Trong câu
ghép thì có các tiểu loại là câu ghép đẳng lập và câu ghép chính phụ.
Ví dụ:
(7) Lúc ấy, thằng nhỏ nhà ấy đang lúi húi thắp nắm hương, tao cúi
ngay xuống, nhặt lên, bỏ tọt vào túi. [3-tr.108]
Ví dụ (7) là câu ghép đẳng lập với 2 cụm C – V:
Cụm C – V 1: Thằng nhỏ nhà ấy đang lúi húi thắp nắm hương
Cụm C – V 2: tao cúi xuống nhặt lên, bỏ tọt vào túi.
(8) Con vẫn lướt mướt khóc, chó vẫn ý ẳng kêu, chị nhất định giả câm
giả điếc mong cho chóng đến nhà cụ Nghị. [6-tr.117]
Ví dụ (8) là câu ghép đẳng lập với 3 cụm chủ vị:
Cụm C – V 1: Con vẫn lướt mướt khóc
Cụm C – V 2: chó vẫn ý ẳng kêu
9
Cụm C – V 3: chị nhất định giả câm giả điếc mong cho chóng đến nhà
cụ Nghị.
(9) Ông bố thương con quá khóc nức lên, lũ trẻ nhỏ không biết gì cũng
khóc theo. [4-tr.258]
Ví dụ (9) là câu ghép chính phụ, mệnh đề phụ bổ nghĩa nguyên nhân
cho mệnh đề chính.
Câu phức cũng giống như câu ghép là có từ hai cụm chủ - vị trở lên,
nhưng nó khác câu ghép ở chỗ các cấu trúc chủ - vị có mối quan hệ với nhau
nó bao hàm lẫn nhau, không tách biệt độc lập với nhau. Nói cách khác câu
phức là câu có từ hai kếu cấu chủ - vị trở lên, trong đó có một kết cấu chủ - vị
làm nòng cốt, các kết cấu chủ - vị còn lại bị bao hàm trong kết cấu chủ - vị
làm nòng cốt đó.
Ví dụ:
(10) Một thiếu niên nhỏ, mặt hốc hác như những nhà thi sĩ có tên tuổi,
đôi mắt lờ đờ, cái thân thể ốm o lẩn trong bộ Âu phục quần chân voi, cứ đăm
đăm chiêu chiêu nhìn cô Tuyết. [5-tr.341]
Ví dụ (10) là câu phức thành phần vị ngữ vì vị ngữ của câu được cấu
tạo từ nhiều cụm chủ - vị:
Cụm C – V 1: mặt hốc hác như những nhà thi sĩ có tên tuổi
Cụm C – V 2: đôi mắt lờ đờ
Cụm C – V 3: cái thân thể ốm o lẩn trong bộ Âu phục quần chân voi
(11): Con chó cái nằm ở gậm phản bỗng chốc vẫy đuôi rối rít, tỏ ra
dáng bộ vui mừng. [6-tr.102]
Ví dụ (11) là câu phức thành phần chủ ngữ vì chủ ngữ của câu được
cấu tạo bởi một cụm C – V: Con chó cái nằm ở gậm phản, vị ngữ của câu là
(bỗng chốc) vẫy đuôi rối rít, tỏ ra dáng bộ vui mừng.
Tóm lại, bình diện kết học của câu nghiên cứu về mặt hình thức trừu
tượng của câu (thành phần câu và cấu tạo ngữ pháp của câu) nên nó mang tính
khuôn mẫu, có cấu trúc tổng quát. Còn sự phân chia các kiểu cấu trúc cú pháp
10
của câu trên đây chỉ là kiểu phân chia của đông đảo các nhà ngôn ngữ học
chấp nhận, chứ chưa phải kiểu mẫu, kiểu kết luận.
1.1.2. Bình diện nghĩa học
Bình diện nghĩa học (ngữ nghĩa) tập trung xem xét ý nghĩa của câu,
vì vậy đối tượng nghiên cứu của bình diện này là câu và cái biểu đạt của câu.
Trong đó có hai phương diện chính là: nghĩa biểu hiện của câu và nghĩa tình
thái của câu
1.1.2.1. Nghĩa biểu hiện của câu
Nghĩa biểu hiện (hay là nghĩa miêu tả, nghĩa kinh nghiệm, nghĩa sự
việc, nghĩa mệnh đề) của câu là phần nghĩa phản ánh sự vật, sự việc, hiện
tượng trong thực tế đời sống qua cái nhìn chủ quan của người nói, người viết.
Nghĩa biểu hiện của được thể hiện bởi hai thành tố, đó là: vị từ và
các tham thể, trong đó vị từ thể hiện cốt lõi của sự tình, còn tham thể tham gia
bổ sung cho vị từ làm hoàn chỉnh nghĩa sự việc của câu. Cấu trúc nghĩa được
thể hiện qua cấu trúc vị từ - tham thể.
Do đó, phân tích tìm hiểu nghĩa biểu hiện của câu là tìm hiểu:
- Các loại vị từ và các loại tham thể.
- Mối quan hệ giữa các cấu trúc vị từ - tham thể với cấu trúc ngữ pháp
của câu - cũng tức là mối quan hệ giữa các vai nghĩa với các thành phần câu:
chủ ngữ, vị ngữ, khởi ngữ, bổ ngữ, trạng ngữ.
Ví dụ:
(12) Thằng xe lại chạy ra vườn. [5-tr.119] (vị từ là động từ)
(13) Cái áo dài vải thâm ngắn cẫng, đỏ kệch, may từ năm lên mười.
[4- tr.100] (vị từ là tính từ)
(14) Thế vị chi là bốn mươi nhăm đồng cả thảy. [4-tr.101] (vị từ là từ
chỉ quan hệ)
Vị từ là thành phần nòng cốt của câu, (nó nêu đặc trưng hay quan hệ
trong sự việc), bởi chúng giữ vai trò chủ đạo chi phối trực tiếp về số lượng và
vai trò về nghĩa của các tham thể. Để xác định vị từ chúng ta cần trả lời các
11
câu hỏi như: hành động của đối tượng được phản ánh là gì? Có trạng thái như
thế nào? Có tính chất gì? Có quan hệ như thế nào với đối tượng có liên quan?
Phương tiện ngôn ngữ được dùng để thể hiện vị từ là động từ, tính từ, các từ
chỉ quan hệ đôi khi cả danh từ.
Trong các ví dụ đã dẫn, phương tiện ngôn ngữ được sử dụng là động từ
“chạy” ở (12), tính từ “ngắn cẫng, đỏ kệch” ở (13) và từ quan hệ “là” ở
(14).
Thành phần thứ hai là các tham tố (tham thể), tham thể là các thực thể
tham gia vào cấu trúc vị từ - tham thể của sự tình. Phương tiện ngôn ngữ được
sử dụng để thể hiện các tham thể thường là danh từ, cụm danh từ. Ở ví dụ
(12), (13), (14) có các tham thể sau: thằng xe (chủ thể dời chuyển), vườn (đích
đến), cái áo dài (thể mang tính chất)…
Như đã nói ở trên, vị từ và tham thể có quan hệ chi phối nhau trong cấu
trúc của câu, vị từ là trung tâm nên nó sẽ quyết định số lượng và vai trò về
nghĩa của các tham thể đi kèm với nó. Tham thể trong cấu trúc vị từ - tham
thể thì có hai loại: tham thể bắt buộc (diễn tố) và tham thể mở rộng (chu tố).
Tham thể bắt buộc là tham thể phải có mặt trong cấu trúc để làm rõ sự
tình được phản ánh, nếu thiếu tham thể bắt buộc thì sự tình không được hoàn
chỉnh. Dựa vào sự chi phối của vị từ đối với các tham thể thì tham thể bắt
buộc thì vị từ được chia ra làm các loại sau:
- Loại vị từ đòi hỏi một tham thể bắt buộc biểu thị nghĩa về trạng thái
tâm lí, trạng thái sinh lí, chỉ đặc điểm, tính chất…
Ví dụ:
(15) Bà dễ chịu lắm. [3-tr.382]
Ví dụ (15) có vị từ chỉ trạng thái sinh lí là: dễ chịu còn bà là tham thể ở
trạng thái dễ chịu.
(16) Sinh căm tức lạ lùng. [3-tr.389]
(căm tức: vị từ chỉ trạng thái tâm lí; Sinh: chủ thể mang trạng thái căm
tức)
12
(17) Gió hiu hiu. [3-tr.438]
(hiu hiu: vị từ chỉ trạng thái tính chất; gió: thể mang tính chất, trạng
thái: hiu hiu)
- Loại vị từ yêu cầu hai tham thể bắt buộc đi kèm: đó là các vị từ tác
động làm vật dời chuyển, làm thay đổi trạng thái vật lí của vật, làm vật
bị biến hóa, hủy diệt, các vị từ tạo tác, vị từ cảm nghĩ.
Ví dụ:
(18) Ông ta nhìn vào quyển sổ, rồi nói nhỏ với người lính… [6-tr.262]
Ở ví dụ (18) có hai tham thể đi kèm vị từ nhìn là Ông ta: chủ thể hành
động, quyển sổ: đối tượng của hành động
(19) Bà đoán ràng họ khoảnh ăn. [1-tr.161]
Ví dụ (19) vị từ cảm nghĩ đoán có hai tham thể đi kèm là bà: chủ thể
cảm nghĩ, họ khoảnh ăn: đối tượng cảm nghĩ
- Loại vị từ phải có ba tham thể bắt buộc đi kèm:
+ Vị từ trao nhận đòi hỏi: chủ thể thực hiện hành động, tiếp thể chỉ
người nhận, đối thể chỉ vật được trao nhận
(20) Cụ đưa luôn cho anh đầy tớ năm đồng. [1-tr.37]
Ví dụ (20) vị từ trao nhận đưa có ba tham thể đi kèm là Cụ: chủ thể
hành động, anh đầy tớ: đối tượng trao nhận, năm đồng: vật trao nhận
+ Vị từ cầu khiến đòi hỏi: chủ thể cầu khiến, đối thể chỉ người được
cầu khiến và nội dung cầu khiến.
(21) Người ta mời Thư uống nước. [1-tr.161]
Ở ví dụ (21) vị từ cầu khiến mời có ba tham thể đi kèm là người ta: chủ
thể cầu khiến, Thư: đối tượng cầu khiến, uống nước: nội dung cầu khiến
+ Vị từ dời chuyển vật tới một vị trí khác đòi hỏi ba tham thể: chủ thể
dời chuyển, đối thể được di chuyển, đích/nguồn chuyển tới.
(22) Bước đến sàn điếm, Lý trưởng quăng tạch cuốn sổ xuống bàn, giơ
tay chỉ vào mắt mấy tên đàn em. [6-tr.96]
13
Vị từ dời chuyển quăng ở ví dụ (22) có ba tham thể đi kèm Lý trưởng:
chủ thể dời chuyển, cuốn sổ: vật dời chuyển, bàn: đích chuyển tới.
Một số vị từ không đòi hỏi tham thể đi kèm, đó là trường hợp của một
số câu đặc biệt. Ví dụ:
(23) Thôi! Đúng chết rồi… [1-tr.114]
(24) Mẹ khiếp! [1-tr.137]
Tham thể mở rộng hay còn gọi là chu tố, chúng xuất hiện nhằm bổ sung
thêm một phương diện nghĩa nào đó cho cấu trúc nghĩa vị từ - tham thể.
Chúng không do vị từ quy định mà do các yếu tố ngoài sự tình quy định,
chúng có thể có mặt ở nhiều (hay tất cả) các loại vị từ (sự tình). Tham thể mở
rộng thường bổ sung ý nghĩa cho cấu trúc đặc trưng – tham thể về các phương
diện sau: không gian, địa điểm, thời gian, cách thức, mục đích, phương tiện,
nguyên nhân.
Ví dụ:
(25) Bên ngoài, ánh nắng rọi xuống mặt sân sáng lóa, có mấy tiếng gà
trưa cất lên eo óc. [4-tr.216] (tham thể chỉ nơi chốn)
(26) Mãi khuya, bà Hai mới chống gối đứng dậy. [4-tr.221] (tham thể
chỉ thời gian)
(27) Hắn tự hỏi rồi lại tự trả lời: vì có ai nấu cho ăn đâu? [1-tr.53]
(tham thể chỉ nguyên nhân)
Tham thể mở rộng không chịu sự chi phối của vị từ nhưng không có
nghĩa là nó không liên quan đến vị từ. Các tham thể mở rộng (chu tố) khi
tham gia vào sự tình phải có sự phù hợp về mặt ý nghĩa với vị từ.
Giữa tham thể bắt buộc và tham thể mở rộng có sự khác biệt là ở sự chi
phối hoặc không chi phối của vị từ đối với các tham thể. Từ đó quyết định
chức vụ cú pháp mà các tham thể có thể đảm nhiệm. Nếu tham thể bắt buộc
thường làm chủ ngữ, bổ ngữ... thì tham thể mở rộng thường đóng vai trò làm
trạng ngữ, khởi ngữ, đề ngữ, vị ngữ phụ... Tuy nhiên, trong thực tế sử dụng, ở
những trường hợp cụ thể, cùng là một tham thể đó nhưng khi đi với vị từ này
14
thì là tham thể bắt buộc còn đi với vị từ khác thì lại là tham thể mở rộng. Điều
này chúng tôi sẽ trình bày chi tiết hơn ở chương 3 của khóa luận.
1.1.2.2. Nghĩa tình thái
Nghĩa tình thái là một phần nghĩa không thể thiếu của câu, tuy nhiên so
với nghĩa miêu tả thì nghĩa tình thái của câu rộng, phức tạp, tinh tế và trừu
tượng hơn nên nó khó nắm bắt. Hiểu khái quát có thể hiểu rằng, nghĩa tình
thái là một bộ phận nghĩa của câu thể hiện thái độ hay quan hệ giữa người nói
với người nghe, giữa người nói với hiện thực (sự tình) được phản ánh trong
câu, giữa nội dung được phản ánh trong câu với hiện thực ngoài thực tế khách
quan.
Nghĩa tình thái phong phú, đa dạng, các nét nghĩa lại đan xen lẫn nhau
nên khó phân loại rõ ràng, rành mạch. Sau đây, chúng tôi xin đưa ra các loại
hình thái dễ nhận biết và hay được sử dụng:
- Tình thái của hành động phát ngôn như: kể, hỏi, cầu khiến, cảm
than… nhằm chỉ mục đích của phát ngôn, nó sẽ tương ứng với các kiểu câu:
câu trần thuật, câu cảm thán, câu cầu khiến, câu nghi vấn.
- Tình thái liên cá nhân thể hiện thái độ, tình cảm, quan hệ giữa người
nói với người nghe. Nó thường được thể hiện qua cách dùng các đại từ nhân
xưng, cách dùng các động từ, thán từ hô gọi, cách dùng các tiểu từ tình thái.
- Tình thái chủ quan thể hiện thái độ, cách đánh giá của người nói đối
với sự việc nêu ở trong câu.
- Tình thái khách quan nêu nhận xét, đánh giá về sự việc được phản ánh
trong câu nhưng ở góc độ khách quan, dùng để kiểm tra tính đúng/sai của sự
đánh giá.
Trên đây là sự trình bày của chúng tôi về hai vấn đề là nghĩa biểu hiện
và nghĩa tình thái của bình diện ngữ nghĩa. Chúng sẽ có nhiều ảnh hưởng tới
kết quả của khóa luận này.
1.1.3. Bình diện dụng học
Bình diện dụng học (ngữ dụng) nghiên cứu của mối quan hệ của câu
với các nhân tố như: với các nhân vật giao tiếp, với ngữ cảnh, với mục đích
15
giao tiếp, nhiệm vụ và hệ quả giao tiếp… Ở bình diện này, câu không chỉ
được xem xét ở trạng thái tĩnh như ở bình diện kết học và bình diện nghĩa học
mà nó được nhìn nhận ở trạng thái động bởi nó gắn liền với thực tế sự dụng.
Bình diện dụng học nghiên cứu nhiều khía cạnh của câu như: cấu trúc
đề - thuyết, cấu trúc lập luận, cấu trúc thông tin, các thành phần ngữ dụng của
câu, các hiện tượng tiêu điểm hóa, sự hiện thực hóa cấu trúc cú pháp của câu
trong phát ngôn… Nhưng ở khóa luận này chúng tôi chỉ trình bày cấu trúc đề
- thuyết và cấu trúc thông tin vì đó là những cơ sở lý thuyết giúp chúng tôi
đưa ra những kết luận ở chương 3 của khóa luận này.
1.1.3.1. Cấu trúc đề - thuyết
Hầu hết các nhà ngôn ngữ học cho rằng cấu trúc đề - thuyết là cấu trúc
thông báo của câu. Nếu phần đề là phần xuất phát của câu nói thì phần thuyết
là phần diễn giải của phần đề. Cấu trúc đề - thuyết thuộc cùng tồn tại song
song với cấu trúc chủ - vị thuộc bình diện ngữ pháp.
Các thành phần của cấu trúc đề - thuyết bao gồm: phần đề, phần thuyết,
phần khung đề, phần minh xác ngữ. Trong đó thì phần đề và phần thuyết là
các thành phần cốt lõi của cấu trúc.
Phần đề là những sự vật, hiện tượng đã được nhắc đến trong câu cũng
có nghĩa là người đọc người nghe đã nắm bắt được thông tin. Phần đề có thể
lược bỏ trong câu.
Phần thuyết là sự diễn giải, phát triển của phần đề, nó thường là một
nội dung thông báo mới. Một câu hoàn chỉnh không thể không có phần
thuyết.
Phần khung đề thường biếu thị thời gian, ngữ cảnh, thường đứng ở đầu
câu, tương tự như thành phần trạng ngữ trong cấu trúc chủ - vị.
Phần minh xác ngữ thường ứng với vị ngữ phụ trong cấu trúc chủ - vị,
nó bổ sung ý nghĩa cho các sự kiện ở nòng cốt câu.
Để xác định thành phần đề - thuyết thì chúng ta có thể dựa vào các tiêu
chí sau đây:
16
- Về phương tiện ngôn ngữ: có xuất hiện các từ “thì, là, mà”, trước các
từ đó là phần đề, sau là phần thuyết.
- Về nội dung: phần đề nêu ra đối tượng, phần thuyết nêu ra nội dung
của đối tượng đó.
- Về vị trí: phần đề đứng trước phần thuyết.
- Về từ loại: phần đề thường được cấu tạo từ danh từ, cụm danh từ, đại
từ, còn phần thuyết thường được cấu tạo từ động từ/cụm động từ, tính từ/cụm
tính từ.
- Về khả năng lược bỏ: phần đề có khả năng lược bỏ, phần thuyết thì
không thể lược bỏ.
1.1.3.2. Cấu trúc thông tin
Ngoài cấu trúc đề - thuyết ở bình diện ngữ dụng câu còn có cấu trúc tin.
Khác với cấu trúc ngữ pháp và cấu trúc ngữ nghĩ, cấu trúc thông tin luôn luôn
phải gắn với hoàn cảnh giao tiếp. Phải đặt câu trong hoàn cảnh giao tiếp cụ
thể thì ta mới xác định được cấu trúc thông tin của câu. Cấu trúc thông tin của
mỗi câu thường gồm hai phần: phần tin cũ và phần tin mới hay ngắn gọn hơn
là tin cũ - tin mới.
Tin cũ là cái có sẵn mà những người tham gia giao tiếp đều đã biết
trong quá trình giao tiếp. Nó là phần tin mà trước khi câu đó được nói ra,
người nói lẫn người nghe đều có thể liên tưởng, suy ra từ những tin đã được
nhắc đến. Tuy nhiên, tin cũ có thể được lược bỏ vì nó không phải là nòng cốt
của thông tin.
Tin mới là phần tin chưa được nhắc đến cả người nói và người nghe
đều không được biết trước khi câu nói đó xuất hiện, câu nói đó là lần đầu tiên
được đưa vào trong giao tiếp. Đây là phần trung tâm không thể lược bỏ được
như tin cũ.
Muốn xác định được cấu trúc tin ta cần phải căn cứ vào tình huống giao
tiếp hoặc vị trí của câu và quan hệ của câu đó đối với các câu khác, nhất là
câu đi trước.
17
Về phương tiện ngôn ngữ thì tin cũ thường được biểu hiện bằng đại từ
thay thế (nó, chúng nó, hắn…), các từ lặp lại… còn tin mới thường được thể
hiện bằng nhấn giọng khi nói, hoặc hư từ đánh dấu: chính, đích, cả, ngay… có
thể phối hợp cả hai phương tiện đó.
Ví dụ:
(28): Thì ra cậu Vàng cậu ấy ăn khỏe hơn cả tôi, ông giáo ạ. [1-tr.186]
Ví dụ (28) thì tin cũ là cậu ấy (đại từ thay thế); ăn khỏe hơn cả tôi là tin
mới
(29): Chí Phèo đấy hở? Lè bè vừa thôi chứ, tôi không phải cái kho. [1tr.59]
Ví dụ (29) có tin cũ là Chí Phèo; tin mới là tôi không phải cái kho
Như vậy, với bình diện ngữ dụng thì câu được quan tâm sử dụng thực
tế trong hoạt động giao tiếp với các thông tin chứa đựng những nội dung giao
tiếp để đạt hiệu quả trong quá tình giao tiếp. Do đó mà bình diện ngữ dụng
quan tâm nhiều đến cấu trúc đề - thuyết và cấu trúc thông tin.
1.2. Câu và phát ngôn
Câu là đơn vị cơ bản trong hệ thông ngôn ngữ và nó có vai trò vô cùng
quan trọng trong hoạt động giao tiếp của con người. Trước khi lí thuyết ba
bình diện nghiên cứu câu ra đời, các nhà ngôn ngữ học khi nghiên cứu câu chỉ
quan tâm đến cấu trúc trừu tượng, quan tâm đến các mối quan hệ và chức
năng ngữ pháp của câu mà xem nhẹ vấn đề thực tế sử dụng của câu. Tuy
nhiên từ những năm cuối thế kỉ XX cho đến nay, nghiên cứu ngôn ngữ đã
xem xét câu trên cả ba bình diện kết học, nghĩa học và dụng học. Đặc biệt là
vấn đề dụng học của câu được quan tâm và xem xét kĩ lưỡng. Mà nói đến
bình diện dụng học là nói đến việc câu được sử dụng như thế nào trong thực
tiễn cuộc sống. Câu đi vào thực tế cuộc sống sẽ có những biến thể trong lời
nói thì đó được gọi là phát ngôn. Nói cách khác, phát ngôn là sự hiện thực hóa
của câu trong thực tế sử dụng.
Câu và phát ngôn có cùng cấp độ với nhau nhưng chúng được nhìn
nhận từ các phương diện khác nhau. Nếu câu được nhìn nhận từ phương diện
18