Tải bản đầy đủ (.pdf) (56 trang)

Trào lưu văn hóa hàn quốc (hallyu) giai đoạn 2000 2017

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.06 MB, 56 trang )

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA LỊCH SỬ
*********

TRÀO LƯU VĂN HÓA HÀN QUỐC (HALLYU)
GIAI ĐOẠN (2000 - 2017)

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Lịch sử Thế giới

Sinh viên thực hiện
Chu Thị Hiền

HÀ NỘI – 2018


TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA LỊCH SỬ
*********

Sinh viên thực hiện
Chu Thị Hiền

TRÀO LƯU VĂN HÓA HÀN QUỐC (HALLYU)
GIAI ĐOẠN (2000 - 2017)
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Lịch sử Thế giới

Người hướng dẫn khoa học
Th.S Nguyễn Thị Nga


HÀ NỘI – 2018


LỜI CAM ĐOAN
Em xin cam đoan nội dung và kết quả nghiên cứu trong khóa này là trung thực và
chưa hề được sử dụng ở một công trình nghiên cứu nào và các thông tin trích dẫn
trong khóa luận đã được chỉ rõ nguồn gốc rõ ràng và được phép công bố.
Hà Nội, ngày 07 tháng 05 năm 2018
Sinh viên thực hiện
Chu Thị Hiền


LỜI CẢM ƠN
Em xin gửi lời cảm ơn trân trọng nhất tới các thầy cô giáo trong khoa Lịch sử
trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 đã tạo những điều kiện tốt nhất để em thực hiện
khóa luận tốt nghiệp. Đặc biệt, em xin được bày tỏ lòng biết ơn chân thành nhất đến
Th.s Nguyễn Thị Nga – Người hướng dẫn trực tiếp đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ
em trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành khóa luận.
Em cũng xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè, người thân đã tạo điều kiện
động viên khích lệ em để hoàn thành tốt khóa luận tốt nghiệp.
Hà Nội, ngày 07 tháng 05 năm 2018
Sinh viên thực hiện
Chu Thị Hiền

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
TRÀO LƯU VĂN HÓA HÀN QUỐC (HALLYU) GIAI ĐOẠN 2000-2017


MỤC LỤC


MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
1. Lí do chọn đề tài ........................................................................................ 1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề........................................................................ 2
3. Mục đích, nhiệm vụ, phạm vi nghiên cứu ............................................... 4
4. Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu ............................................ 5
NỘI DUNG....................................................................................................... 7
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ TRÀO LƯU VĂN HÓA HÀN QUỐC
(HALLYU) ....................................................................................................... 7
1.1. Khái niệm Hallyu ................................................................................... 7
1.2. Khái quát về trào lưu văn hóa Hàn Quốc (Hallyu) trước năm 2000 8
1.2.1. Những chính sách phát triển văn hóa của Hàn Quốc ...................... 8
1.2.2. Làn sóng Hallyu ở châu Á ................................................................... 10
1.2.3. Đặc điểm của làn sóng Hallyu trước năm 2000 .............................. 14
Tiểu kết chương 1........................................................................................... 16
Chương 2: LÀN SÓNG HALLYU GIAI ĐOẠN (2000-2017) ..................... 17
2.1. Chính sách phát triển văn hóa của Hàn Quốc .................................... 17
2.2. Làn sóng Hallyu ở châu Á ..................................................................... 19
2.2.1. Âm nhạc ................................................................................................ 19
2.2.2. Truyền hình, điện ảnh ......................................................................... 22
2.2.3. Thời trang ............................................................................................. 25
2.2.4. Ẩm thực................................................................................................. 27
2.3. Làn sóng Hallyu ở các khu vực khác trên thế giới.............................. 29
2.3.1. Âm nhạc ................................................................................................ 29
2.3.2. Truyền hình, điện ảnh ......................................................................... 31
2.3.3. Thời trang ............................................................................................. 33
2.3.4. Ẩm thực................................................................................................. 35


Tiểu kết chương 2........................................................................................... 37
Chương 3: TÁC ĐỘNG CỦA LÀN SÓNG HALLYU GIAI ĐOẠN

(2000-2017) VÀ NHỮNG KINH NGHIỆM VÀ BÀI HỌC CHO VIỆT
NAM ............................................................................................................... 38
3.1. Đặc điểm của làn sóng Hallyu giai đoạn (2000-2017) ......................... 38
3.2. Tác động của làn sóng Hallyu đến xã hội Hàn Quốc .......................... 39
3.2.1. Về kinh tế .............................................................................................. 39
3.2.2. Về Chính trị, ngoại giao....................................................................... 41
3.2.3. Về xã hội ............................................................................................... 43
3.3. Kinh nghiệm và bài học cho Việt Nam................................................. 45
Tiểu kết chương 3........................................................................................... 47
KẾT LUẬN .................................................................................................... 48
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................ 49


MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Hàn Quốc là đất nước nằm ở phần phía Nam của bán đảo Triều Tiên thuộc
khu vực Đông Á, phía Bắc thì giáp với Bắc Triều Tiên, phía Đông giáp với biển
Nhật Bản và phía Tây là Hoàng Hải, với địa hình chủ yếu là đồi núi chiếm tới
khoảng 70% diện tích khiến Hàn Quốc trở thành một trong những quốc gia có địa
hình đồi núi nhiều nhất trên thế giới. Hàn Quốc thuộc đới khí hậu gió mùa Đông Á
nên có khí hậu ôn đới với bốn mùa rõ rệt. Lãnh thổ Hàn Quốc trải rộng 100,032 km
vuông và với dân số 50,76 triệu người (2013), Hàn Quốc được đánh giá là quốc gia
có nền kinh tế phát triển nổi tiếng với các ngành công nghiệp, công nghệ cao, nằm
trong top 10 nước xuất khẩu văn hóa hàng đầu thế giới và đóng vai trò quan trọng
trong việc phát triển công nghệ và kinh tế của khu vực châu Á. Hàn Quốc cũng là
một trong bốn con Rồng kinh tế châu Á và với nền văn hóa có bề dày lịch sử lâu
đời, người dân Hàn Quốc vẫn giữ gìn được những giá trị văn hóa truyền thống tốt
đẹp của dân tộc và phát triển qua hàng ngàn năm lịch sử nên đất nước Hàn Quốc
hiện nay nổi tiếng với cảnh đẹp và văn hóa tuyệt vời, đây cũng là một địa điểm du
lịch rất nổi tiếng của châu Á.

Hiện nay trong thời kì toàn cầu hóa, sức mạnh văn hóa – quyền lực mềm có vai
trò cực kỳ quan trọng để khẳng định vị thế quốc gia trên trường quốc tế, Hàn Quốc
là một trong số những quốc gia điển hình cho sự thành công trong việc sử dụng sức
mạnh văn hóa của mình qua trào lưu văn hóa Hallyu. Chính phủ Hàn Quốc đã có
những chính sách quốc gia để phát triển văn hóa và đã có hẳn một chiến lược tầm
xa để nâng cao sức mạnh của quyền lực mềm nói chung và văn hóa mềm nói riêng.
Chính vì vậy vào những năm cuối thế kỉ XX đầu thế kỉ XXI, văn hóa Hàn Quốc
cùng hình ảnh đất nước và con người Hàn Quốc đã nhanh chóng tràn ngập ở khắp
các quốc gia ở trong khu vực và thế giới cũng như làn sóng Hallyu thu hút được sự
chú ý của đông đảo người dân ở nhiều quốc gia. Làn sóng Hallyu xuất hiện như một
sự kiện mang tính lịch sử đặc biệt, nó không chỉ đánh dấu sự mở đầu của sự phát
triển văn hóa Hàn Quốc ra thế giới mà còn góp phần nâng cao vị thế văn hóa Hàn
Quốc trên trường quốc tế. Trong suốt quá trình lịch sử dài 5000 năm với nền văn

1


hóa truyền thống đậm đà bản sắc dân tộc, chưa bao giờ nền văn hóa Hàn Quốc lại
được đón nhận và ủng hộ nhiệt tình ở nước ngoài như bây giờ, làn sóng Hallyu đã
góp phần không nhỏ trong việc quảng bá tới bạn bè quốc tế hình ảnh về một đất
nước Hàn Quốc trẻ trung, năng động và hấp dẫn với một nền văn hóa kết hợp hài
hòa giữa truyền thống và hiện đại.
Sự thành công của trào lưu văn hóa Hàn Quốc Hallyu đã cho thấy tầm quan
trọng của văn hóa trong việc phát triển đất nước cũng như góp phần quảng bá hình
ảnh quốc gia với những giá trị văn hóa đặc sắc và độc đáo đến với bạn bè quốc tế,
làm gia tăng sức mạnh văn hóa hay sức mạnh mềm nâng cao vị thế quốc gia trên
trường quốc tế. Việc nghiên cứu về trào lưu văn hóa Hàn Quốc Hallyu sẽ góp phần
đi tìm nguyên nhân cho sự thành công của Hàn Quốc nói riêng từ đó các quốc gia
khác có thể học tập và rút ra bài học kinh nghiệm cho đất nước mình trong việc phát
triển văn hóa dân tộc.

Trong xu thế toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế ngày một phát triển như hiện
nay, việc tiếp thu những ảnh hưởng và tinh hoa văn hóa tiên tiến của các quốc gia
trên thế giới là một xu thế tất yếu và hết sức cần thiết, thêm vào đó việc nhìn nhận,
tìm hiểu cách thức mà Hàn Quốc phát triển văn hóa Hàn Quốc nói chung và làn
sóng Hallyu nói riêng rộng rãi ra các nước trong khu vực và trên thế giới sẽ giúp
Việt Nam rút ra được bài học kinh nghiệm trong việc khai thác tiềm năng kinh tế,
xã hội một cách hiệu quả. Chính vì vậy mà việc nghiên cứu về làn sóng Hallyu là
rất cần thiết và có ý nghĩa rất thiết thực, vậy nên tôi chọn đề tài “Trào lưu văn hóa
Hàn Quốc (Hallyu) giai đoạn 2000-2017” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Tại Hàn Quốc và các nước trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng, đã
có rất nhiều công trình nghiên cứu đề cập đến trào lưu văn hóa Hàn Quốc (Hallyu).
Tuy nhiên, các tài liệu tiếng bằng Việt và các tài liệu dịch lại chưa đề cập cụ thể về
vấn đề mà người viết tìm hiểu. Có thể kể ra một số tài liệu liên quan sau:
2.1. Một số nghiên cứu của các học giả Hàn Quốc
Trước hết, phải kể đến tác giả Kim Myeong Hee với đề tài “Hàn lưu giữa ngã
ba đường – hiện trạng và những tồn tại của Hàn lưu” – (khoa Báo chí truyền thông,

2


Đại học Dongui) đăng trên Tạp chí Hàn Quốc số 2/2012 đã khái quát về khái niệm,
tình hình phát triển và những ảnh hưởng của Hàn lưu những vấn đề còn tồn tại của
Hàn lưu.
Hay tác giả Kim Sang Bae với đề tài “Sự hấp dẫn của làn sóng văn hóa Hallyu
và mạng lưới văn hóa Đông Nam Á”, đăng trên tạp chí Hàn Quốc năm 2007 đã đề
cập đến sức hấp dẫn của làn sóng Hallyu và những ảnh hưởng của nó đến khu vực
Đông Nam Á và giải thích lí do khu vực Đông Nam Á lại chịu những ảnh hưởng
của Hàn lưu mạnh mẽ đến như vậy.
Ngoài ra phải kể đến tác giả tác giả Park Nak Jong với nghiên cứu "베트남의

한류현황 소개" (Giới thiệu hiện trạng làn sóng Hàn Quốc ở Việt Nam) đăng trên
Diễn đàn trung tâm Sejong Hàn-ASEAN, Hà Nội, 2014. Trong bài nghiên cứu của
mình, tác giả đề cập đến những vấn đề liên quan đến làn sóng Hàn Quốc Hallyu và
những ảnh hưởng của Hallyu ở Việt Nam và rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt
Nam trong việc hoạch định chính sách phát triển văn hóa của đất nước mình.
2.2. Tình hình nghiên cứu trong nước
Những nghiên cứu về làn sóng Hallyu trong nước phải kể đến một số bài ngôn
luận trên báo chí truyền thông, các nghiên cứu học thuật, các luận văn của du học
sinh Việt Nam học tập tại Hàn Quốc. Tuy nhiên những bài viết và nghiên cứu của
các tác giả ở Việt Nam ở mức độ nhất định cũng đã đề cập đến những khía cạnh
khác nhau về làn sóng văn hóa Hàn Quốc cũng như đưa ra những phân tích, nhận
định về tác động của chúng tới xã hội Việt Nam tiêu biểu như:
Tác giả Lý Xuân Chung với đề tài “Hàn lưu tại một số nước Châu Á”, tạp chí
Nghiên cứu Đông Bắc Á số 7/2013. Hay tác giả Phạm Hồng Thái với đề tài
“Nghiên cứu văn hoá Hàn Quốc tại Việt Nam: Nhìn lại chặng đường hơn hai thập
kỷ” đăng trên tạp chí Nghiên cứu Đông Bắc Á số 11/2014. Cả hai công trình nghiên
cứu chỉ ra quá trình phát triển cũng như những ảnh hưởng mạnh mẽ của Hàn lưu ở
khu vực châu Á trong đó nghiên cứu Hàn lưu ở một số quốc gia cụ thể ở khu vực
châu Á trong đó có Việt Nam.

3


Ngoài ra phải kể đến đề tài khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Võ Hải
Triều, “Tìm hiểu chiến lược phát triển văn hóa Hàn Quốc thông qua trường hợp làn
sóng Hallyu”, 2015 công trình nghiên cứu cụ thể về chính sách cũng như chiến lược
phát triển văn hóa cụ thể của Chính phủ Hàn Quốc thông qua làn sóng Hallyu và
những thành tựu của làn sóng Hàn Quốc cho thấy sự đúng đắn, có hiệu quả của
chiến lược phát triển văn hóa của Chính phủ. Nghiên cứu của tác giả Vũ Thị Thu
với đề tài “Làn sóng điện ảnh Hàn Quốc ở Châu Á trong thế kỉ XXI” đề tài báo cáo

khoa học thuộc Trường ĐHKHXH-NV đã cụ thể hóa làn sóng Hallyu trong lĩnh vực
điện ảnh, những yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển của điện ảnh cũng như những
thành tựu rực rỡ trong lĩnh vực điện ảnh mà đất nước Hàn Quốc đã đạt được.
Tuy nhiên những đề tài nghiên cứu trên chưa đề cập và đi sâu nghiên cứu đặc
điểm cũng như sự phát triển của làn sóng Hallyu tại Hàn Quốc cũng như các nước
trong khu vực và trên thế giới cụ thể trong giai đoạn (2000-2017), chính vì vậy mà
tác giả chọn đề tài “Trào lưu văn hóa Hàn Quốc (Hallyu) giai đoạn 2000-2017” để
đi sâu nghiên cứu và làm rõ.
3. Mục đích, nhiệm vụ, phạm vi nghiên cứu
3.1.Mục đích nghiên cứu
Mục đích của khóa luận là:
Thứ nhất, làm rõ tình hình trào lưu văn hóa Hallyu trong giai đoạn (2000 –
2017).
Thứ hai, làm rõ những tác động của trào lưu văn hóa Hallyu đến sự phát triển
của Hàn Quốc từ đó rút ra bài học kinh nghiệm cho các quốc gia khác trong đó có
Việt Nam.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện mục đích trên, báo cáo có những nhiệm vụ cụ thể sau:
Thứ nhất, làm rõ chính sách của trào lưu văn hóa Hallyu.
Thứ hai, phân tích được tình hình phát triển của làn sóng Hallyu trên các lĩnh
vực như âm nhạc, truyền hình điện ảnh, ẩm thực và thời trang.
Thứ ba, dánh giá được sức lan tỏa của làn sóng Hallyu trên các lĩnh vực của đời
sống xã hội như kinh tế, chính trị ngoại giao và văn hóa xã hội của Hàn Quốc.

4


Thứ tư, nêu ra một số bài học kinh nghiệm cho Việt Nam.
3.3. Phạm vi nghiên cứu
Về không gian là văn hóa của đất nước Hàn Quốc ở các quốc gia trong khu vực

châu Á và trên toàn thế giới.
Về thời gian là từ năm 2000 đến năm 2017 từ khi làn sóng Hallyu bắt đầu phát
triển cho đến thời điểm hiện tại.
4.Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu
4.1. Nguồn tư liệu
Để hoàn thành công trình nghiên cứu cứu của mình, tác giả đã tham khảo
một số nguồn tư liệu như một số luận văn, luận án thạc sĩ, tiến sĩ hay khóa luận tốt
nghiệp cũng như những bài viết được đăng trên các tạp chí Nghiên cứu Đông Bắc
Á, Tạp chí Hàn Quốc hay các diễn đàn liên quan. Những tài liệu này được lưu trữ ở
trong các thư viện ở các trường đại học, cao đẳng và thư viện Quốc gia Việt Nam.
Ngoài những nguồn tài liệu trên, tác giả còn tham tài liệu từ nguồn Internet
đáng tin cậy.
4.2. Phương pháp nghiên cứu
Ngoài việc sử dụng linh hoạt và triệt để phương pháp lịch sử và logic trong
quá trình tiếp cận và phân tích tài liệu để nghiên cứu đề tài, tác giả còn sử dụng các
phương pháp khác như so sánh, thống kê, phân tích…
1. Ý nghĩa khoa học của đề tài
Trước hết, với đề tài này, tác giả đã làm sáng rõ được khái niệm, đặc điểm
cũng như sự phát triển của làn sóng Hallyu, phân tích được sức lan tỏa cũng như
ảnh hưởng của làn sóng Hallyu đến các lĩnh vực trong đời sống như kinh tế, chính
trị ngoại giao, xã hội của đất nước Hàn Quốc cũng như rút ra được bài học kinh
nghiệm cho Việt Nam.
Thông qua phân tích, đánh giá tác động của làn sóng Hallyu, khóa luận giúp
chúng ta hiểu sâu sắc hơn về trào lưu văn hóa Hàn Quốc Hallyu nói riêng cũng như
nền văn hóa Hàn Quốc nói chung.
Khóa luận sẽ là nguồn tư liệu tham khảo đáng tin cậy cho việc học tập
nghiên cứu về văn hóa Hàn Quốc, lịch sử Hàn Quốc.

5



2. Bố cục khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung khóa
luận được trình bày theo ba chương:
Chương 1: Khái quát về trào lưu văn hóa Hàn Quốc (Hallyu)
Chương 2: Làn sóng Hallyu giai đoạn (2000-2017)
Chương 3: Đánh giá về làn sóng Hallyu giai đoạn (2000-2017) và những bài học
kinh nghiệm cho Việt Nam

6


NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ TRÀO LƯU VĂN HÓA HÀN QUỐC
(HALLYU)
1.1. Khái niệm Hallyu
Tác giả Kim Myeong Hye cho rằng: “Thuật ngữ Hàn lưu được tạo ra và sử
dụng để chỉ sự thịnh hành văn hóa Hàn Quốc giống như những năm 80 đã sử dụng
Hongkong Wave để chỉ làn sóng Hồng Kông khi phim Hồng Kông được yêu thích
và trở nên phổ biến, và hiện tượng làn sóng Nhật Bản (Japanese Wave) khi phim
truyền hình, phim hoạt hình, game… của Nhật Bản thịnh hành vào những năm 90.
Về sau, thuật ngữ Hàn lưu bắt đầu được sử dụng để chỉ sự du nhập và sử dụng văn
hóa đại chúng Hàn Quốc trên các phương tiện ngôn luận của Trung Quốc và Hàn
Quốc”[5;18].
Làn sóng Hàn Quốc là một hiện tượng văn hóa diễn ra vào những năm đầu của
thế kỉ XXI nhằm quảng bá hình ảnh về một đất nước Hàn Quốc năng động. Thuật
ngữ làn sóng Hàn Quốc được dịch từ tiếng Hàn là Hallyu, có nghĩa là sự thịnh hành
những giá trị văn hóa của Hàn Quốc ở nhiều quốc gia trên thế giới. Tuy nhiên khái
niệm về làn sóng Hallyu này không phải do người Hàn Quốc đặt ra mà do người
Trung Quốc nêu ra do sự hâm mộ cuồng nhiệt của đông đảo của người dân Trung

Quốc đối với làn sóng Hallyu điển hình trên các lĩnh vực như phim truyền hình,
điện ảnh, thời trang, mỹ phẩm, đồ gia dụng của Hàn Quốc... Hai chữ Hán 韓流
(Hàn lưu) được du nhập vào Hàn Quốc lại có những điểm phù hợp với từ gốc Hán
mà người Hàn Quốc đã sử dụng nên người Hàn dễ dàng tiếp nhận rồi sáng tạo và
biến nó thành một khái niệm mới mà ngày nay vẫn được mọi người sử dụng. Làn
sóng Hàn Quốc Hallyu là một khái niệm để chỉ hiện tượng văn hóa đại chúng của
Hàn Quốc trong nhiều lĩnh vực khác nhau như âm nhạc, phim truyền hình, phim
điện ảnh, thời trang… đã nhận được sự ủng hộ và ưa chuộng của người hâm mộ, đặt
trọng tâm vào tầng lớp thanh niên trẻ tuổi trên khắp thế giới. Làn sóng Hallyu có
ảnh hưởng và tác động rất mạnh mẽ và rộng lớn, từ Đông sang Tây, từ châu Á đến
châu Âu, châu Phi, châu Mỹ, nhưng ảnh hưởng đậm nét nhất vẫn là ở khu vực châu
Á, làn sóng Hallyu hiện nay đã trở thành một hiện tượng mang tính toàn cầu.

7


Khi làn sóng Hallyu mới xuất thiện ở Hàn Quốc thì ngay cả người dân Hàn
Quốc cũng nghĩ rằng đây chỉ là trào lưu và xu thế nhất thời tại thời điểm đó và nó sẽ
biến mất sau một hoặc vài năm. Nhưng trên thực tế thì ngày càng có nhiều bộ phim
truyền hình, điện ảnh và bài hát Kpop được giới thiệu rộng rãi đến khán giả quốc tế,
khiến cho sự quan tâm của thị trường quốc tế dành cho nền văn hóa Hàn Quốc cũng
tăng lên một cách nhanh chóng. Cùng với sự phát triển nhanh chóng của Internet và
truyền thông trực tuyến đã giúp cho làn sóng Hallyu nhanh chóng lan rộng, vượt
qua ranh giới khu vực châu Á, và phát triển mạnh mẽ và trở thành một hiện tượng
mang tính toàn cầu. Hiện nay, làn gió Hallyu đã được phát triển mở rộng với nhiều
nội dung kinh doanh đa dạng phong phú như âm nhạc đại chúng Kpop, phim điện
ảnh, truyền hình, game, thời trang, ẩm thực….và đang tích cực hoạt động hướng ra
toàn thế giới.
1.2. Khái quát về trào lưu văn hóa Hàn Quốc (Hallyu) trước năm 2000
1.2.1. Những chính sách phát triển văn hóa của Hàn Quốc

Chính phủ Hàn Quốc có những chính sách nhằm ủng hộ và quan tâm đến
lĩnh vực xuất khẩu văn hóa rộng rãi ra nước ngoài với mục tiêu “Đưa nền văn hóa
của Hàn Quốc đến gần hơn với nhân dân các quốc gia khác”[5]. Sự đẩy mạnh quá
trình quảng bá nền văn hóa Hàn Quốc rộng rãi ra nhiều quốc gia trên thế giới là cả
một chiến lược mang cỡ tầm quốc gia, là sự thống nhất của cả dân tộc trong nỗ lực
giới thiệu, tuyên truyền và quảng bá những giá trị, tinh hoa văn hóa, phong tục tập
quán của đất nước Hàn Quốc đến rộng rãi các quốc gia trong khu vực và thế giới.
Chính phủ Hàn Quốc đã có nhiều chính sách nhằm tận dụng một cách có hiệu quả
các sản phẩm văn hóa của làn sóng Hallyu như truyền hình, điện ảnh, âm nhạc
Kpop để làm công cụ ngoại giao văn hóa và phát triển thương hiệu để xây dựng,
quảng bá về hình ảnh một đất nước Hàn Quốc năng động, trẻ trung, sáng tạo nhằm
thu hút sự chú ý của cả thế giới. Đã có nhiều bộ phim của Hàn Quốc được xuất khẩu
ra nước ngoài giúp mang theo những giá trị tinh hoa văn hóa Hàn Quốc, hình ảnh về
đất nước, con người, mang theo nền công nghiệp giải trí Hàn Quốc để tạo ra một làn
sóng văn hóa lớn trên thế giới.

8


Trong những năm 1970, theo sau sự phát triển của nền kinh tế đất nước,
Chính phủ Hàn Quốc đã coi văn hóa nghệ thuật là nền tảng cơ bản để tăng cường
hình ảnh quốc gia. Năm 1973 đã diễn ra sự kiện “Ngày văn hóa” do Chính phủ Hàn
Quốc tổ chức với mục đích nhằm kêu gọi mọi tầng lớp nhân dân và giới văn nghệ sĩ
tham gia vào “Kế hoạch năm năm phục hưng văn hóa nghệ” thuật lần thứ nhất.
Trong thời kỳ này do nhận thức chung về nền văn hóa của công chúng còn chưa rõ
ràng, nên “Kế hoạch năm năm phục hưng văn hóa nghệ thuật” lần thứ nhất có thể
được coi là xương sống trong chính sách văn hóa của Chính phủ Hàn Quốc khi đó.
Nội dung kế hoạch này là kêu gọi người dân xây dựng và phát triển một nền tảng
mới của tinh thần dân tộc bằng việc kế thừa, phát huy và gìn giữ di sản truyền thống
quý báu của dân tộc. Các nhà nghiên cứu cho rằng “Kế hoạch tổng thể phát triển

văn hóa năm năm” lần thứ nhất được đánh dấu như là một chính sách văn hóa dài
hạn đầu tiên trong những chiến lược và chính sách văn hóa của Hàn Quốc.
Từ những năm 1980 – 2000, Chính phủ Hàn Quốc đã đề ra nhiều chiến lược
và kế hoạch nhằm phát triển nền văn hóa dân tộc rộng rãi ra toàn khu vực châu Á
nói riêng và trên cả thế giới nói chung như Kế hoạch mới về phát triển văn hóa”,
“Kế hoạch 10 năm phát triển văn hóa”, “Tầm nhìn văn hóa năm 2000”, “Kế hoạch
thúc đẩy thông tin hóa” (1996), “Tuyên ngôn văn hóa của tổng thống” (1998)…
Để thực hiện được những mục tiêu trên, Chính phủ Hàn Quốc đã thực hiện cung cấp
tài chính cho những hoạt động để phát triển văn hóa, theo nghiên cứu về giới thiệu
và tăng cường xuất khẩu văn hóa được đưa ra vào năm 1994 dự đoán rằng các sản
phẩm về văn hóa sẽ có nhiều tác động to lớn và ảnh hưởng tích cực đến sự phát
triển chung của nền kinh tế đất nước trong việc tạo ra 2,8% tổng sản phẩm, 3,2%
việc làm và 2,5% lĩnh vực phụ trợ khác. Ngành công nghiệp văn hóa chiếm 0,9%
toàn bộ nền kinh tế [17].
Ngân sách dành cho các hoạt động văn hóa nghệ thuật của Chính phủ Hàn
Quốc vào năm 1997 là 437,3 tỉ won chiếm 0,62% tổng số chi tiêu ngân sách của nhà
nước, vào năm 1996 thì 45% ngân sách nhà nước được dùng để phân bố cho các dự
án để phát triển văn hóa và 30% tiền trợ cấp được phân bố cho các hoạt động hỗ trợ
phát triển nghệ thuật, âm nhạc, nhà hát, văn học….

9


Ngoài những chính sách trên, Chính phủ Hàn Quốc còn tập trung và đẩy
mạnh phát triển nền văn hóa dân tộc tại nhiều quốc gia trên thế giới và tham gia các
sự kiện văn hóa quốc tế hay các chương trình hợp tác văn hóa với các quốc gia
khác. Trong nỗ lực nhằm nâng cao vị thế quốc gia trên trường quốc tế, Chính phủ
Hàn Quốc đã tiến hành nhiều dự án như dự án sáng tạo hình ảnh văn hóa quốc gia,
thành lập và hỗ trợ hoạt động của các trung tâm văn hóa Hàn Quốc tại nước
ngoài,…Quan hệ hợp tác trên lĩnh vực văn hóa với nhiều quốc gia trong khu vực

được tiến hành với các nước như Nhật Bản, châu Á và châu Đại Dương, châu Mĩ và
khối các nước Bắc Âu. Chiến lược “xuất khẩu văn hóa” được chính phủ Hàn Quốc
đặt ra một cách đúng đắn, hợp lý và có hiệu quả.
Chính sách, chiến lược về phát triển văn hóa của Hàn Quốc được đổi mới, cập
nhật và phát triển liên tục, trong đó thể hiện rõ đường lối chung và các mục tiêu
quốc gia cho từng giai đoạn. Một trong các mục tiêu chính và quan trọng nhất của
chính sách văn hóa hiện nay của Hàn Quốc là thúc đẩy sự hài hòa và gắn kết giữa
phát triển kinh tế và văn hóa của đất nước.
1.2.2. Làn sóng Hallyu ở châu Á
Sự xuất hiện và phát triển của làn sóng Hallyu ở Hàn Quốc đã tạo ra những sản
phẩm văn hóa đặc sắc đã góp phần đưa đất nước Hàn Quốc trở thành quốc gia xuất
khẩu văn hóa thành công ra các nước trong khu vực và trên thế giới. Từ giữa những
năm 1990 trở lại đây, khi Hàn Quốc bắt đầu quảng bá khẩu hiệu “Hàn Quốc năng
động” và quyết định đưa ngành giải trí thành công nghiệp xuất khẩu thì tại châu Á,
mọi người bắt đầu quan tâm chú ý tới nền văn hóa của xứ sở Kim chi. Bằng những
sản phẩm trong lĩnh vực thời trang, âm nhạc, điện ảnh... Hàn Quốc đã góp phần đưa
làn sóng Hàn Quốc Hallyu dậy sóng khắp châu Á và cả trên toàn cầu.
Thứ nhất, trong lĩnh vực truyền hình, điện ảnh, Hàn Quốc đã đạt được một
số thành tựu ban đầu và góp phần đặt nền móng cho làn sóng Hallyu phát triển
mạnh mẽ sau này. Những bộ phim truyền hình đầu tiên nổi tiếng giai đoạn này phải
kể đến bộ phim “Cảm Xúc” (1994), một trong những bộ phim tiên phong trong thời
kỳ phim truyền hình Hàn Quốc và đã gây được ấn tượng mạnh với khán giả hay bộ
phim “Mối tình đầu” – đây được xem là một trong những bộ phim tạo nên cơn sốt

10


Hàn Quốc đầu tiên, bộ phim sở tỉ suất người xem cao nhất trong lịch sử phim truyền
hình với 65,8%, ngoài ra bộ phim “Người mẫu” là một trong những tác phẩm
truyền hình tạo ra trào lưu, xu hướng phong cách thời trang độc đáo ở giới trẻ thời

đó, cảnh quay đẹp, cả diễn viên và trang phục cũng đẹp lung linh khiến khán giả bị
cuốn hút. Ngoài ra còn có các bộ phim như“Ước mơ vươn tới một ngôi sao” (1997);
“Anh em nhà bác sĩ” (1997), “Tình cờ”, “Thành thật với tình yêu, “Tình yêu trong
sáng” (2000), “Trái tim mùa thu”… cũng tạo được tiếng vang lớn không chỉ trong
nước mà còn ở các quốc gia khác trong khu vực.
Bước vào những năm 1990 thì nền điện ảnh Hàn Quốc đã có những bước
tiến vô cùng ấn tượng, phát triển rực rỡ và huy hoàng, một loạt những kỷ lục mới
đã được thiết lập với danh tiếng vang xa cả trong và ngoài nước. Bộ phim “Con
trai của tướng quân” của đạo diễn Im Kwon-taek khởi chiếu vào năm 1990 đã lập
tức gây được tiếng vang không chỉ ở quê hương Hàn Quốc mà còn ở các quốc gia
trong khu vực, bộ phim “Seopyeonje” được công chiếu vào năm 1993 được khen
ngợi là một trong những đỉnh cao nghệ thuật tạo hình trong lịch sử điện ảnh Hàn
Quốc. Ngoài ra còn có các bộ phim Marriage Story, Hai chàng cảnh sát, Người
tình già của tôi, Người mẹ ma, The Contact… đều gây nên tiếng vang lớn. Đặc
biệt bộ phim “Shiri” phát hành năm 1999 giống như một cú hích lớn đã thúc đẩy,
tạo đà phát triển đột phá cho nền công nghiệp điện ảnh Hàn Quốc.
Thứ hai trong lĩnh vực âm nhạc, âm nhạc Hàn Quốc được coi là một trong số
những nền âm nhạc thành công bậc nhất trên thế giới hiện nay. Âm nhạc Kpop
chính thức hình thành sau khi nhóm nhạc huyền thoại Seo Taiji & Boys được thành
lập năm 1992. Seo Taiji & Boys đã trở thành người đại diện cho giới trẻ và tạo ra
những thay đổi lớn cho nền âm nhạc và là nền tảng cho sự xuất hiện của những
nhóm nhạc thần tượng sau này. Từ năm 1997 đến 2000, một loạt các nhóm nhạc bắt
đầu nổi lên như Shinhwa, Sechs Kies, g.o.d, Fly to the Sky, S.E.S … Họ được yêu
mến không chỉ nhờ khả năng ca hát, vũ đạo mà còn nhờ hình ảnh đẹp hoản hảo.
Những năm 90 của thế kỉ XX được coi là thời kỳ hoàng kim của thị trường đĩa nhạc
tại Hàn. Các đĩa nhạc của nam ca sỹ Kim Gun Mo đã phá kỷ lục trước đó với số
lượng đĩa nhạc bán ra 2.500.000 chỉ trong một ngày. Cùng thời gian đó, nhóm Seo

11



Taiji & Boys, Shin Seung Hoon… cũng đột phá với lượng bán 1 triệu đĩa, ngoài ra
trong năm 1990, Kim Wan Sun đã trở thành ca sỹ nữ đầu tiên bán được 1 triệu đĩa
nhạc tại Hàn [18]. Trong khi đó, nhóm Seo Taiji & Boys là nhóm nhạc đã viết nên
lịch sử âm nhạc Kpop trong thời kỳ đầu của làn sóng Hallyu.
Nhạc Pop Hàn Quốc, đặc biệt là âm nhạc kết hợp các điệu nhảy đã được bộ
phận giới trẻ ở Trung Quốc yêu thích sau khi nó được phát sóng từ Bắc Kinh vào
năm 1997 trong một chương trình vô tuyến. Thời khắc quyết định khởi đầu cơn sốt
văn hóa âm nhạc Pop Hàn Quốc ở Trung Quốc là buổi biểu diễn của nhóm nhạc
nam HOT được tổ chức tại Nhà thi đấu công nhân Bắc Kinh vào năm 2000. Hàng
nghìn thanh thiếu niên Trung Quốc đã đổ dồn đi xem và ủng hộ nhiệt tình cho buổi
biểu diễn riêng của nhóm nhạc HOT tại Bắc Kinh. Những người hâm mộ trẻ tuổi đã
cùng nhau hát theo giai điệu của bài hát Hàn Quốc, tạo nên một bầu không khí vô
cùng sôi động. Các bộ phim truyền hình cũng như bài hát của các nhóm nhạc, ca sĩ
thần tượng Hàn Quốc đã làm dấy lên một làn sóng hâm mộ rộng khắp. Trong giai
đoạn này, âm nhạc Hàn Quốc bắt đầu đạt được những thành tựu nhất định tạo nền
móng cơ bản cho việc xây dựng và phát triển mạnh mẽ của Kpop trong giai đoạn
sau này.
Không chỉ tại Trung Quốc mà còn một số quốc gia khác như tại Nhật Bản,
Thái Lan hay các quốc gia ở khu vực Đông Nam Á trong đó có Việt Nam, làn sóng
Hallyu đã từng bước thâm nhập và tạo nên những ảnh hưởng ban đầu của mình tại
những quốc gia này. Làn sóng Hallyu như một luồng gió mới thu hút được đông
đảo sự quan tâm của người hâm mộ cũng như làm phong phú thêm nền văn hóa bản
địa tại mỗi quốc gia. Chúng ta có thể thấy sự lan truyền rộng rãi của những bộ phim
truyền hình tình cảm Hàn Quốc lãng mạn, nhẹ nhàng xuất hiện với tần suất dày đặc
hay những bài hát Kpop sôi động, hay ca sĩ nhóm nhạc với những buổi biểu diễn
thu hút rất nhiều khán giả tham gia cổ vũ. Âm nhạc và truyền hình điện ảnh là hai
lĩnh vực có ảnh hưởng lớn nhất ở châu Á ngoài ra ảnh hưởng trong các lĩnh vực thời
trang, ẩm thực cũng rất rõ nét, chúng ta có thể dễ dàng bắt gặp những bộ trang phục,
mái tóc hay cách trang điểm mang đậm phong cách Hàn Quốc ở ngoài đường phố

hay những chiếc điện thoại di động, đồ gia dụng của Hàn Quốc trong cuộc sống

12


thường ngày. Làn sóng Hallyu đang từng bước xâm nhập và tạo được chỗ đứng của
riêng mình ở khu vực châu Á.
Nếu như ở khu vực châu Á làn sóng Hallyu được ủng hộ nhiệt tình và đang
lan tỏa một cách mạnh mẽ thì tại châu Âu và châu Mĩ, Hàn lưu vẫn chưa thể đặt
chân đến hai châu lục này. Sở dĩ như vậy là do hai châu lục này đều là nền văn hóa
có bề dày lâu đời và có sức mạnh ảnh hưởng lớn trên toàn thế giới với những đặc
trưng văn hóa riêng biệt cùng với sự cách biệt về khoảng cách địa lí nên làn sóng
Hallyu chỉ mới tạo được chỗ đứng của mình ở châu Á còn chưa thể lan tỏa mạnh
mẽ trên toàn thế giới như hiện nay.
Trong một số lĩnh vực khác như thời trang, ẩm thực cũng đạt được những thành
tựu nhất định, nhờ vào thành công của những bộ phim truyền hình và điện ảnh mà
những trào lưu thời trang mới xuất hiện không chỉ tạo nên xu hướng thời trang mới tại
Hàn Quốc mà còn ảnh hưởng rộng khắp các quốc gia trong khu vực và châu lục.
Thông qua ảnh hưởng của lĩnh vực truyền hình và điện ảnh, nền ẩm thực phong phú
với những món ăn cực kì tinh tế và đặc sắc như Kim chi - món ăn đại diện cho thương
hiệu ẩm thực Hàn Quốc như Kimbap, Tteokbokki , Bibimbap - món cơm trộn nổi danh
của Hàn Quốc, kim chi… được đông đảo bạn bè quốc tế biết đến, góp phần quảng bá
thêm về văn hóa cũng như hình ảnh đất nước Hàn Quốc.
Tại các nước châu Á, khắp nơi trong các trung tâm thương mại, cửa hàng, rạp
chiếu phim đều dán tràn ngập các tấm poster in hình các nghệ sĩ nổi tiếng của Hàn
Quốc. Các bộ phim Hàn Quốc trở thành sự lựa chọn hàng đầu tại các rạp chiếu phim
của nhiều quốc gia trong khu vực. Sự thành công của những bộ phim truyền hình và
điện ảnh Hàn Quốc đã đưa đến sự nổi tiếng cho các diễn viên tham gia lúc bấy giờ, đưa
tên tuổi họ vụt sáng không chỉ tại quê hương Hàn Quốc nói riêng mà còn ở cả châu Á
nói chung. Đồng thời những album, đĩa nhạc của các ca sỹ, nhóm nhạc Hàn Quốc cũng

được giới trẻ ở nhiều quốc gia ủng hộ và đón nhận. Chính điều đó đã giúp các sản phẩm
khác của Hàn Quốc như mĩ phẩm, thời trang, đồ gia dụng…. được người tiêu dùng
nước ngoài biết tới nhiều hơn.
Làn sóng Hallyu với những bộ phim truyền hình điện ảnh, những nhóm nhạc
thần tượng đã ngày càng vươn xa khỏi biên giới Hàn Quốc và phủ sóng hầu khắp

13


các quốc gia trong khu vực và đặc biệt là ở châu Á. Lí do quan trọng giúp làn sóng
Hallyu phát triển nhanh chóng và mạnh mẽ ở khu vực châu Á là do sự tương đồng
về vị trí địa lí, điều kiện tự nhiên, đặc trưng văn hóa - lịch sử - con người cùng với
những chính sách xuất khẩu văn hóa có hiệu quả của Chính phủ Hàn Quốc đã tạo
những điều kiện thuận lợi cho làn sóng Hallyu phát triển nhanh chóng và mạnh mẽ
ở khu vực này.
1.2.3. Đặc điểm của làn sóng Hallyu trước năm 2000
Chiến lược phủ sóng của làn sóng Hallyu được chia làm ba giai đoạn: giai
đoạn thứ nhất với những bộ phim truyền hình tâm lý tình cảm nhẹ nhàng sâu lắng,
giai đoạn hai thuộc về nền âm nhạc Kpop và giai đoạn ba là giới thiệu dòng phim
điện ảnh Hàn Quốc. Làn sóng Hallyu trước năm 2000 đang ở trong giai đoạn thứ
nhất với việc sản xuất và truyền bá những bộ phim truyền hình tâm lý tình cảm.
Khoảng đầu những năm 2000, làn sóng Hàn Quốc bắt đầu ghi dấu ấn đậm nét của
mình ở khu vực châu Á thông qua các bộ phim truyền hình nổi tiếng đình đám như
bộ phim "Cảm xúc", "Anh em nhà bác sĩ", "Mối tình đầu", "Ước mơ vươn tới một
ngôi sao", ... gắn liền tên tuổi của các ngôi sao nổi tiếng như Bae Yong Jun, Choi Ji
Woo, Jang Dong Gun, Kim Hee Sun, Ahn Jae Wook. Với các chủ đề quen thuộc về
tình cảm gia đình, học đường, công việc và nội dung kịch bản nhẹ nhàng, sâu lắng
dễ dàng chạm đến trái tim người xem và lấy đi không ít nước mắt của khán giả là
một trong những lí do giúp phim truyền hình Hàn Quốc được đón nhận và ủng hộ
nhiệt tình. Ngoài những bộ phim truyền hình thì sự thành công của một số bộ phim

điện ảnh như “The Contact” của đạo diễn Chang Yoon Hyun hay bộ phim “Shiri”
và“Câu chuyện hôn nhân”… cũng đã làm phong phú thêm cho kho tàng phim ảnh
của đất nước Hàn Quốc. Những bộ phim này góp phần không nhỏ trong việc quảng
bá nền văn hóa Hàn Quốc đặc sắc, kết hợp nhuần nhuyễn những giá trị văn hóa
truyền thống với những nét văn hóa hiện đại, năng động rộng rãi ra các quốc gia
trong khu vực và ở châu Á.
Làn sóng Hallyu trước năm 2000 ảnh hưởng rõ rệt nhất ở khu vực châu Á. Làn
sóng văn hóa Hàn Quốc không chỉ dừng lại ở quê hương Hàn Quốc mà còn vươn ra
các thị trường Trung Quốc, Đài Loan, Hồng Kông và sau đó là các quốc gia trong

14


khu vực Đông Nam Á và ở châu Á, trong đó Việt Nam là một trong những quốc gia
chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của nền văn hóa Hàn Quốc bởi đi đến bất cứ đâu nó cũng
nhận được sự chào đón nồng nhiệt của khán giả và nhanh chóng được yêu thích. Lí
do quan trọng giúp làn sóng Hallyu phát triển nhanh chóng và mạnh mẽ ở khu vực
châu Á là do sự tương đồng về vị trí địa lí, điều kiện tự nhiên, đặc trưng văn hóa lịch sử - con người cùng với những chính sách xuất khẩu văn hóa có hiệu quả của
Chính phủ Hàn Quốc đã tạo những điều kiện thuận lợi cho làn sóng Hallyu phát
triển nhanh chóng và mạnh mẽ ở khu vực này. Thời kì đầu, hiện tượng Hàn lưu lan
rộng một cách nhanh chóng với trung tâm là Trung Quốc sau đó lan rộng ra các
quốc gia khác trong khu vực không chỉ trong lĩnh vực phim truyền hình, điện ảnh,
âm nhạc mà còn tạo ra một xu hướng, trào lưu thời trang mới, phong cách sống, góp
phần thúc đẩy sự phát triển của ngành du lịch góp phần mang hình ảnh của đất nuớc
Hàn Quốc đến với toàn thế giới.
Những thành tựu của làn sóng Hallyu trước năm 2000 đã đặt nền móng những
viên gạch đầu tiên để xây dựng và phát triển Hàn lưu mạnh mẽ giai đoạn sau này,
đưa Hallyu phát triển trên toàn thế giới. Từ năm 1998 đến năm 2002 được coi là
thời kì phát triển rực rỡ nhất của làn sóng Hallyu, chiến lược phủ sóng của Hallyu
chia làm ba giai đoạn và giai đoạn trước năm 2000 là mốc đánh dấu sự hình thành

và bắt đầu phát triển của làn sóng Hallyu ở Hàn Quốc với sự xuất hiện của những
bộ phim truyền hình tâm lý tình cảm nhẹ nhàng, sâu lắng dễ dàng chạm đến trái tim
của khán giả. Những thành tựu trong giai đoạn này trong các lĩnh vực truyền hình,
điện ảnh, thời trang, âm nhạc… đã tạo tiền đề cho sự phát triển nhanh chóng của
Hallyu giai đoạn sau này với sự ra đời của nhiều bộ phim truyền hình kinh điển hay
âm nhạc Kpop với những nhóm nhạc, ca sĩ nổi tiếng. Nhờ vậy mà làn sóng Hallyu
đã có cơ hội vươn mình không chỉ ra các quốc gia trong khu vực và châu Á nói
riêng mà còn tạo ra những xu hướng, trào lưu, cơn sốt của riêng mình trên thế giới
nói chung, lan rộng từ Đông sang Tây, từ châu Á đến châu Âu, châu Phi, châu Mỹ
góp phần quảng bá hình ảnh đất nước Hàn Quốc.

15


Tiểu kết chương 1
Làn sóng Hàn Quốc là khái niệm để chỉ hiện tượng văn hóa đại chúng của Hàn
Quốc trên nhiều lĩnh vực như âm nhạc, phim truyền hình, điện ảnh, thời trang… nhận
được ưa chuộng của người hâm mộ đặc biệt là tầng lớp thanh niên trẻ tuổi trên khắp
thế giới. Làn sóng Hallyu đã lan tỏa mạnh mẽ trên lục địa Châu Á với khởi đầu là
phim truyền hình và làn sóng Hallyu vẫn đang lan tỏa một cách mạnh mẽ trên cả thế
giới. Với nền văn hóa đại chúng vượt qua ranh giới quốc gia, Hàn Quốc đã nổi lên
như một trung tâm mới về các sản phẩm có nội dung văn hóa với nhiều sản phẩm đặc
sắc trong các lĩnh vực như phim truyền hình, điện ảnh, âm nhạc, thời trang, ẩm
thực… góp phần đưa hình ảnh một đất nước Hàn Quốc trẻ trung, năng động với sự
kết hợp hài hòa giữa những giá trị truyền thống lâu đời với những giá trị văn hóa hiện
đại. Những thành tựu của làn sóng Hallyu trước năm 2000 đã đặt nền móng những
viên gạch đầu tiên để xây dựng và phát triển Hàn lưu mạnh mẽ giai đoạn sau này, đưa
Hallyu phát triển trên toàn thế giới tạo nên “cơn sốt Hallyu” trên toàn thế giới. Nhờ
những chính sách phát triển văn hóa đúng đắn và có hiệu quả của chính phủ mà Hàn
Quốc trở thành một trung tâm mới về các sản phẩm có nội dung văn hóa đa dạng

cũng như có tầm ảnh hưởng lớn trong các lĩnh vực như truyền hình, điện ảnh, âm
nhạc, ẩm thực, thời trang… Chính sự thành công vang dội ấy là sự góp nhặt của các
kĩ thuật cao được du nhập từ nước ngoài kết hợp với giá trị văn hóa truyền thống cổ
xưa một cách hài hòa đã tạo nên nét đặc trưng trong các tác phẩm và tạo nên làn sóng
Hallyu phát triển nhanh chóng ra bên ngoài như hiện nay.

16


Chương 2: LÀN SÓNG HALLYU GIAI ĐOẠN (2000-2017)
2.1. Chính sách phát triển văn hóa của Hàn Quốc
Trong giai đoạn từ năm 2000 đến năm 2017, chính sách văn hóa của Hàn
Quốc được cập nhật và phát triển liên tục, trong đó thể hiện rõ đường lối chung và
các mục tiêu quốc gia cụ thể cho từng giai đoạn. Bước vào thế kỉ XXI, với “Chiến
lược Cool Korea”, Hàn Quốc đã thực sự đưa văn hóa trở thành vấn đề cốt yêu trong
chiến lược phát triển quốc gia. Đi kèm theo các kế hoạch và chính sách là việc cho
phép thành lập nhiều cơ quan, tổ chức trực thuộc chính phủ, tất cả những việc làm
trên đều hướng vào mục tiêu phát triển và xuất khẩu văn hóa. Vào năm 2009, Tổng
thống Hàn Quốc đã khẳng định văn hóa sẽ là một trong những nguồn vốn quyết
định kinh sự phát triển của nền kinh tế trong thế kỷ 21. Cần phải xây dựng một hệ
thống giá trị văn hóa mà trong đó, tất cả mọi người dân bất kể đang sống ở đâu và
thuộc tầng lớp xã hội nào cũng có thể được trải nghiệm văn hóa trong đời sống hằng
ngày, một đất nước tiến bộ và phát triển bậc nhất không phải chỉ đơn thuần là có
nguồn thu nhập cao, mà là một đất nước có nền văn hóa phát triển cao và cân bằng
với sự phát triển của nền kinh tế.
Chính phủ Hàn Quốc xác định “mũi nhọn” của xuất khẩu văn hóa Hàn Quốc
chính là phát triển công nghiệp giải trí. Hàn Quốc thực sự trở thành cường quốc về
công nghiệp giải trí. Hàng hóa của Hàn Quốc xuất khẩu ra thị trường nước ngoài
thông qua quyền lực mềm, quyền lực mềm đã giúp Hàn Quốc nâng cao vị thế khả
năng cạnh tranh trong khu vực và trên thế giới, bởi lẽ nhiều lĩnh vực của quyền lực

mềm Hàn Quốc đều có ưu thế khá rõ như âm nhạc, thời trang, phim ảnh.
Thay đổi về cơ chế tài chính. Các chính sách của Chính phủ như “Hàn Quốc
sáng tạo” (2004), “C- Korea 2010” và “Kế hoạch phát triển nghệ thuật trung hạn và
dài hạn”, “Sức mạnh của nghệ thuật” (2004) đều thể hiện tầm nhìn chiến lược về
văn hóa, trong đó văn hóa, du lịch, thể thao và giải trí là động lực chính thúc đẩy và
định hướng cho sự phát triển xã hội của quốc gia và nâng cao chất lượng đời sống
nhân dân. Quan điểm của chính phủ Hàn Quốc là cố gắng đạt được sự cân bằng
giữa “sáng tạo, truyền bá và hưởng thụ” các giá trị văn hóa nghệ thuật. Văn hóa
được coi như một phần không thể thiếu trong cuộc sống và là công cụ hữu ích để

17


nâng cao mức sống của nhân dân Hàn Quốc. Ngân sách quốc gia cho các hoạt động
phát triển văn hóa nghệ thuật tăng đáng kể từ 0,6% năm 1998 đến 1,05% năm 2005.
Trong năm 2005, chỉ tính riêng lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn đã nhận được khoản
ngân sách 168,2 tỉ won [27]. Tuy nhiên hiện nay, chính phủ Hàn Quốc chuyển
hướng tập trung nhiều hơn cho việc hỗ trợ gián tiếp cho các động văn hóa nghệ
thuật, nhà nước cố gắng tạo ra các động lực xã hội để đầu tư và tiêu thụ văn hóa
nghệ thuật như ban hành các qui định, giảm và miễn thuế cho các hoạt động mua
bán các tác phẩm nghệ thuật và doanh thu từ các sự kiện văn hóa nghệ thuật hay
khuyến khích đầu tư, hỗ trợ cho nghệ thuật thông qua các hoạt động tài trợ và từ
thiện, đặc biệt là việc thực hiện trách nhiệm xã hội và hợp tác với các tổ chức văn
hóa nghệ thuật của các doanh nghiệp là một trong những khuynh hướng được ưu
tiên hàng đầu.
Thay đổi về cơ chế quản lý văn hóa. Cơ chế quản lý văn hóa của Hàn Quốc
hiện nay là xu hướng phi tập trung hóa, đây là một trong những thay đổi quan
trọng trong cơ chế. Hiện nay chính phủ Hàn Quốc đang hướng đến việc chuyển
đổi từ việc Chính phủ ra quyết định và quản lý sang việc hợp tác giữa Chính phủ
và các khu vực tư nhân, đây được coi như một “bước ngoặt mang tính quyết định”

trong việc thay đổi cơ chế quản lí văn hóa của Chính phủ. Những chính sách này
đảm bảo cho việc các chính sách văn hóa của chính phủ không phải được áp đặt từ
trên xuống mà những chính sách này phản ánh được nhu cầu của mọi tầng lớp xã
hội, của từng người dân. Đây là hướng chuyển biến tích cực, mang tính dân chủ
sâu sắc trong việc xây dựng và thực hiện chính sách văn hóa ở Hàn Quốc. Trên thế
giới hiện nay thì đây cũng được coi là xu hướng quản lý văn hóa hiện đại của
nhiều nước như Pháp, Thụy Điển, Phần Lan. Cơ chế văn hóa mới này sẽ truyền
cảm hứng và đánh thức sự sáng tạo và tiềm năng của mỗi cá nhân và tổ chức trong
xã hội, tạo cho mỗi cá nhân những cơ hội để đóng góp vào sự phát triển của văn
hóa và nghệ thuật
Thay đổi hợp tác quốc tế về văn hoá. Việc hợp tác quốc tế về văn hoá của
Hàn Quốc đang được tập trung vào việc đẩy mạnh phát triển văn hoá dân tộc tại các
quốc gia trên thế giới và tham gia các sự kiện văn hoá quốc tế hay các chương trình

18


hợp tác văn hoá với các nước khác. Các tổ chức văn hoá quốc tế hay các tổ chức phi
chính phủ cùng kiều bào Hàn Quốc đang sinh sống và làm việc tại nước ngoài cũng
đóng vai trò quan trọng trong các hoạt động hợp tác về văn hoá. Nhiều tổ chức văn
hoá Hàn Quốc đã phối hợp chặt chẽ với các tổ chức quốc tế như UNESCO, IIC,
IFLA, PEN, CISAC, FIT… để thực hiện nhiều hoạt động văn hóa đặc sắc. Chính
phủ Hàn Quốc cũng đã ký kết các hiệp định về văn hoá với tổng số 81 quốc gia trên
thế giới. Quan hệ hợp tác về văn hoá trong khu vực của Hàn Quốc được tiến hành
với nhiều quốc gia như Nhật Bản, Châu Á và Châu Đại Dương, Châu Mỹ và khối
các nước Bắc Âu.
Tựu chung lại, đối với Hàn Quốc, văn hóa đã trở thành ngành công nghiệp
văn hóa - ngành công nghiệp mũi nhọn trong chiến lược phát triển kinh tế quốc gia.
Công nghiệp văn hóa không chỉ xây dựng một xã hội Hàn Quốc nhân văn, văn
minh, đậm đặc bản sắc dân tộc mà còn kết hợp với mục tiêu kinh tế, thu hút ngoại tệ

về mình, vừa nhằm mục tiêu quảng bá văn hóa, quảng bá hình ảnh đất nước và con
người Hàn Quốc ra toàn thế giới. Như vậy thì làn sóng Hallyu có ý nghĩa vô cùng to
lớn đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của Hàn Quốc, đây là nhân tố then chốt của
quyền lực mềm trong chiến lược phát triển đất nước của Hàn Quốc.
2.2. Làn sóng Hallyu ở châu Á
2.2.1. Âm nhạc
Korean Pop hay được được biết đến với cái tên là Kpop có sức hút mạnh
mẽ đối với giới trẻ ở Hàn Quốc nói riêng cũng như ở khắp nơi trên thế giới nói
chung. Nền âm nhạc của Hàn Quốc đang dần lan tỏa mạnh mẽ và được công nhận
không chỉ trên thị trường âm nhạc châu Á mà còn trên toàn thế giới. Sau sự ra đời
của một loạt các nhóm nhạc như Shinhwa, Sechs Kies, g.o.d, Fly to the Sky,
S.E.S, Baby Vox… trong những năm cuối thế kỉ 20 thì đến nay sự xuất hiện của
các nhóm nhạc thần tượng thế hệ thứ hai như Super Junior, Big Bang, FT Island,
2PM, SNSD, 2NE1, Wonder Girls… đã khiến cho những người yêu nhạc, dù
không biết tiếng Hàn, cũng phải say mê nền âm nhạc của đất nước này. Có thể nói
trong thời điểm hiện tại thì làn sóng âm nhạc Kpop đã và đang bùng nổ một cách
mạnh mẽ và lan tỏa ảnh hưởng của mình không chỉ ở đất nước Hàn Quốc và ở

19


×