TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA LỊCH SỬ
======
MA THỊ SỰ
TƢ SẢN NGƢỜI VIỆT Ở NAM KỲ
GIAI ĐOẠN 1914 - 1930
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Lịch sử Việt Nam
HÀ NỘI - 2018
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA LỊCH SỬ
======
MA THỊ SỰ
TƢ SẢN NGƢỜI VIỆT Ở NAM KỲ
GIAI ĐOẠN 1914 - 1930
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Lịch sử Việt Nam
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học
TS. CHU THỊ THU THỦY
HÀ NỘI - 2018
LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian vừa qua, nhận được sự giúp đỡ của các thầy cô Khoa
Lịch sử trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2, tôi đã hoàn thành khóa luận tốt
nghiệp Đại học với đề tài: Tư sản người Việt ở Nam Kỳ giai đoạn 1914 1930.
Tôi xin bày tỏ lời cảm ơn chân thành, sâu sắc tới cô giáo, Tiến sĩ Chu
Thị Thu Thủy, người đã trực tiếp hướng dẫn tôi hoàn thành khoá luận này.
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong tổ Lịch sử Việt Nam,
cùng các thầy cô giáo Khoa Lịch sử, trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 đã tạo
điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu.
Hà Nội, ngày10 tháng 05 năm 2018
Sinh viên
MA THỊ SỰ
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, đây là kết quả nghiên cứu của riêng tôi, nó
không trùng với công trình nghiên cứu của bất cứ tác giả nào đã được công
bố. Nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm.
Hà Nội, ngày 10 tháng 05 năm 2018
Sinh viên
MA THỊ SỰ
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
1. Lý do chọn đề tài ........................................................................................... 1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề ............................................................................ 2
3. Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu ................................................. 3
4. Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu .................................................. 4
5. Đóng góp của khóa luận................................................................................ 4
6. Bố cục ............................................................................................................ 5
NỘI DUNG....................................................................................................... 6
Chƣơng 1 CÁC YẾU TỐ ẢNH HƢỞNG ĐẾN TƢ SẢN NGƢỜI VIỆT Ở
NAM KỲ GIAI ĐOẠN 1914 - 1930 ............................................................... 6
1.1. CHIẾN TRANH THẾ GIỚI THỨ NHẤT (1914 - 1918) .......................... 6
1.2. CHÍNH SÁCH KHI THÁC THUỘC ĐỊA CỦA THỰC DÂN PHÁP ...... 7
Tiểu kết chương 1............................................................................................ 11
Chƣơng 2 HOẠT ĐỘNG CỦA TƢ SẢN NGƢỜI VIỆT Ở NAM KỲ
GIAI ĐOẠN 1914 - 1930............................................................................... 12
2.1. HOẠT ĐỘNG CỦA TƯ SẢN NGƯỜI VIỆT Ở NAM KỲ TRONG
NHỮNG NĂM CHIẾN TRANH THẾ GIỚI THỨ NHẤT 1914 - 1918 ....... 12
2.1.1. Hoạt động sản xuất và kinh doanh ........................................................ 12
2.1.2. Tham gia phong trào yêu nước ............................................................. 18
2.2. TƯ SẢN NGƯỜI VIỆT Ở NAM KỲ TRONG CUỘC KHAI THÁC
THUỘC ĐỊA LẦN THỨ HAI 1919 - 1929.................................................... 19
2.2.1. Sự trưởng thành của Tư sản người Việt ở Nam Kỳ .............................. 19
2.2.2. Hoạt động sản xuất kinh doanh ............................................................. 22
2.2.3. Tham gia phong trào giải phóng dân tộc .............................................. 35
Chƣơng 3 ĐẶC ĐIỂM, VAI TRÒ CỦA TƢ SẢN NGƢỜI VIỆT Ở NAM
KỲ GIAI ĐOẠN 1914 - 1930. ...................................................................... 40
3.1. ĐẶC ĐIỂM .............................................................................................. 40
3.2. VAI TRÒ .................................................................................................. 49
3.2.1. Vai trò về kinh tế ................................................................................... 49
3.2.2. Về chính trị - xã hội .............................................................................. 53
Tiểu kết chương 3............................................................................................ 57
KẾT LUẬN .................................................................................................... 60
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................... 64
PHỤ LỤC
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Tư sản Việt Nam là một giai cấp trong cơ cấu các giai cấp xã hội Việt
Nam, đại diện cho lực lượng sản xuất tư bản dân tộc, có vai trò nhất định và là
một lực lượng của phong trào dân tộc dân chủ.
Trong đó với những điều kiện chủ quan và khách quan, cùng với tư sản
người Việt cả nước, bộ phận tư sản người Việt ở Nam Kỳ đã dần hình thành,
phát triển, từ một bộ phận nhỏ bé trong xã hội đầu thế kỉ XX trở thành lực
lượng có địa vị nhất định trong xã hội Nam Kỳ từ sau chiến tranh thế giới thứ
nhất (1914 - 1918), phát triển mạnh mẽ trong cuộc khai thác thuộc địa lần thứ
hai của thực dân Pháp (1919 - 1929).
Đã có những công trình nghiên cứu về tư sản Việt Nam ở Bắc Kỳ và
Trung Kỳ, nhưng tư sản người Việt ở Nam Kỳ chưa được khai thác và nghiên
cứu đặc biệt là trong một giai đoạn lịch sử từ 1914 - 1930. Vì vậy, vấn đề cần
thiết đặt ra để nghiên cứu đó là vấn đề về sự trưởng thành từ tầng lớp lên giai
cấp; hoạt động sản xuất và kinh doanh; tham gia phong trào dân tộc dân chủ;
đặc điểm, vai trò của tư sản người Việt ở Nam Kỳ giai đoạn từ 1914 - 1930.
Cũng như trong cuộc cạnh tranh chính trị nhằm giành quyền lãnh đạo phong
trào giải phóng dân tộc với giai cấp vô sản.
Những hiểu biết về hoạt động sản xuất và kinh doanh các ngành kinh tế,
vai trò kinh tế, chính trị - xã hội của tư sản Việt Nam, tư sản người Việt ở
Nam Kỳ, giúp đánh giá khách quan về cuộc cải tạo công thương nghiệp tư
bản trước đây, về việc thực hiện chính sách đối với đội ngũ doanh nhân thời
kỳ đổi mới và cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”
hiện nay.
Thực hiện đề tài giúp cho việc nghiên cứu, giảng dạy lịch sử Việt Nam
thời cận đại và hiện đại.
1
Xuất phát từ những lí do trên, tác giả chọn đề tài “Tư sản người Việt ở
Nam Kỳ giai đoạn 1914 - 1930” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp của mình.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Nhiều vấn đề tư sản Việt Nam đã được các nhà khoa học trong nước và
nước ngoài nghiên cứu, một số công trình đã được công bố, đem lại nguồn tài
liệu quý báu cho độc giả.
Đi đầu trong nghiên cứu về giai cấp tư sản phải kể đến tác giả Nguyễn
Công Bình, với công trình nghiên cứu “Bàn lại mấy quan điểm quanh vấn đề
giai cấp tư sản Việt Nam thời Pháp thuộc”; “Góp phần tìm hiểu quá trình
hình thành giai cấp tư sản Việt Nam”; “Hoạt động kinh doanh của tư sản dân
tộc Việt Nam dưới thời Pháp thuộc”; “Tình hình và đặc tính của giai cấp tư
sản Việt Nam”; “Thử bàn về giai cấp tư sản mại bản Việt Nam”… Các công
trình nghiên cứu về nguồn gốc của tư sản Việt Nam đầu thế kỉ XX, trưởng
thành lên giai cấp sau chiến tranh thế giới thứ nhất; hoạt động của tư sản Việt
Nam trên các lĩnh vực kinh tế, văn hóa - tư tưởng, chính trị xã hội những năm
đầu thế kỉ XX; đặc điểm, vai trò của tư sản Việt Nam trong lịch sử dân tộc.
Cuốn “Chế độ thực dân Pháp trên đất Nam Kỳ 1859 - 1954 tập 1, tập 2”
của nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Tư, Nxb. Tổng hợp T.P. Hồ Chí Minh. Đã
cung cấp những tài liệu về chế độ cai trị của thực dân Pháp trên đất Nam Kỳ
về kinh tế, chính trị và các phong trào đấu tranh của nhân dân Nam Kỳ.
Tiếp đến là cuốn “Vùng đất Nam Bộ từ năm 1859 - 1945” tập V của
PGS. TS. Đoàn Minh Huấn - PGS. TS. Nguyễn Ngọc Hà, Nxb. Chính trị
Quốc gia Sự thật. Nội dung của cuốn sách tập trung cụ thể về sự biến đổi,
phát triển kinh tế Nam Kỳ ở các tỉnh, hoạt động chính trị của các giai cấp,
tầng lớp trong xã hội giai đoạn từ năm 1859 - 1945. Từ đó đưa ra những nhận
xét về sự phát triển về kinh tế và giai tầng trong xã hội. Với những luận chứng
cụ thể, cùng với nguồn tài liệu phong phú, cuốn sách sẽ là nguồn tài liệu tham
2
khảo bổ ích với cán bộ nghiên cứu, giảng dạy, những người đam mê nghiên
cứu lịch sử Nam Kỳ và những độc giả quan tâm đến những vấn đề này.
Và nhiều tác giả tiêu biểu trong nước như Trần Huy Liệu, Trần Văn
Giàu, Đinh Xuân Lâm, Minh Tranh, Nguyễn Kiến Giang, Nguyễn Khắc Đạm,
Đặng Trọng Truyến, Đặng Việt Thanh, Đào Hoài Nam v..v….
Như vậy, chưa có công trình nào nghiên cứu về tư sản người Việt ở Nam Kỳ
trong giai đoạn 1914 - 1930, từ đó đặt ra cho tác giả vấn đề có thể nghiên cứu.
3. Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Đề tài tập trung làm rõ những yếu tố tác động đến tư sản người Việt ở
Nam Kỳ trong chiến tranh thế giới thứ nhất, phát triển trong chiến tranh thế
giới thứ nhất, trưởng thành lên trong cuộc khai thác thuộc địa lần thứ hai của
thực dân Pháp ở Nam Kỳ giai đoạn 1914 - 1930.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Đề tài tập trung làm nổi bật những vấn đề sau:
- Phân tích những điều kiện lịch sử tác động tới tư sản người Việt ở Nam
Kỳ trong chiến tranh thế giới thứ nhất (1914 - 1918)
- Hoạt động của Tư sản Nam Kỳ trong các hoạt động sản xuất, kinh
doanh và tham gia các phong trào yêu nước.
- Bước đầu rút ra những đặc điểm và vai trò lịch sử của tư sản người Việt
ở Nam Kỳ trong những năm đầu thế kỉ XX.
3.3. Phạm vi nghiên cứu
* Về không gian
Khóa luận tập trung nghiên cứu yếu tố tác động, phát triển và trưởng
thành, quá trình hoạt động trong sản xuất và kinh doanh các ngành kinh tế,
tham gia phong trào dân tộc dân chủ của Tư sản Việt Nam ở Nam Kỳ.
Nam kỳ trong giai đoạn đầu thế kỷ XX, gồm 20 tỉnh và 2 thành phố lớn
3
là Sài Gòn và Chợ Lớn. Nam Kỳ là thuộc địa, nằm dưới sự cai trị trực tiếp của
Pháp và dưới quyền Thống đốc Nam Kỳ, người Pháp.
* Về thời gian
Phạm vi thời gian mà khóa luận nghiên cứu là từ 1914 đến 1930.
4. Nguồn tài liệu và phƣơng pháp nghiên cứu
4.1. Nguồn tài liệu
- Tài liệu chuyên khảo có nội dung về bối cảnh ra đời của tầng lớp tư sản
ở Việt Nam, lịch sử và điều kiện kinh tế Nam Kỳ, các phong trào đấu tranh
của nhân dân Nam Kỳ.
- Các luận án, luận văn
- Các bài báo, tạp chí.
4.2. Phương pháp nghiên cứu
- Cơ sở phương pháp luận là chủ nghĩa Mác - Lenin, tư tưởng Hồ Chí
Minh về giai cấp và sự trưởng thành của giai cấp.
- Phương pháp nghiên cứu chủ yếu là phương pháp lịch sử và phương
pháp logic và sự kết hợp giữa hai phương pháp này.
- Ngoài ra, người viết còn sử dụng phương pháp thống kê, so sánh, đối
chiếu,… nhằm nhìn nhận vấn đề một cách xác thực nhất.
5. Đóng góp của khóa luận
5.1. Về phương diện khoa học
Trong quá trình thực hiện nghiên cứu khoa học, người viết đã tập hợp và xử
lý các nguồn tư liệu ít nhiều liên quan đến đề tài nghiên cứu. Hi vọng đây sẽ là
một đóng góp nhỏ về mặt tư liệu cho các nghiên cứu về đặc điểm giai cấp.
5.2. Về phương diện thực tiễn
Qua việc tìm hiểu về tư sản người Việt ở Nam Kỳ người viết đã đưa ra
một số nhận xét khách quan về đặc điểm, vai trò lịch sử của tư sản người Việt
ở Nam Kỳ trong khoảng thời gian từ 1914 - 1930.
4
Đồng thời, nghiên cứu giúp chúng ta có thể tham khảo khi giảng dạy, mở
rộng nội dung kiến thức cho học sinh trong quá trình dạy lịch sử Việt Nam
cận đại và hiện đại.
6. Bố cục
Ngoài phần Mở đầu và phần Kết luận, đề tài được chia làm 3 chương:
Chương 1: Các yếu tố ảnh hưởng đến tư sản người Việt ở Nam Kỳ giai
đoạn 1914 - 1930.
Chương 2: Hoạt động của tư sản người Việt ở Nam Kỳ giai đoạn (1914 1930)
Chương 3: Đặc điểm, vai trò của tư sản người Việt ở Nam Kỳ giai đoạn
1914 - 1930.
5
NỘI DUNG
Chƣơng 1 CÁC YẾU TỐ ẢNH HƢỞNG ĐẾN TƢ SẢN NGƢỜI
VIỆT Ở NAM KỲ GIAI ĐOẠN 1914 - 1930
1.1. CHIẾN TRANH THẾ GIỚI THỨ NHẤT (1914 - 1918)
Ngày 1/8/1914, Chiến tranh thế giới thứ nhất bùng nổ. Ngay từ đầu nước
Pháp đã bị lôi cuốn vào chiến tranh. Nhiệm vụ của chính quyền Pháp ở Đông
Dương là động viên tận lực sức người, sức của của Việt Nam nói riêng và của
Đông Dương nói chung phục vụ cho chính quốc tham chiến, đồng thời tìm
mọi cách cai trị ở đây hoạt động ổn định. Để đạt được mục đích đó Pháp cho
Đông Dương “Gắn chặt với chính quốc”, Pháp điều chỉnh chính sách cai trị
của mình trong quá trình diễn ra chiến tranh.
Ngoài "thuế má” và các thứ thuế khác, nhân dân Việt Nam còn phải mua
phiếu quốc trái và đóng tiền quyên góp các loại với một số lượng khổng lồ
mỗi năm tới 450.000.000 Franc, nhiều nhất so với các thuộc địa khác của
Pháp. Những chiến dịch "săn người" của chính quyền thuộc địa đã bắt hàng
trăm ngàn thanh niên Đông Dương, chủ yếu là Việt Nam, làm bia đỡ đạn cho
lính Pháp trên các chiến trường Châu Âu. Nếu đem so sánh với các thuộc địa
khác của Pháp, riêng số lính thợ Đông Dương phải cung cấp đã chiếm 1/4
tổng số lính thợ trong tất cả các thuộc địa của Pháp là 183.928 người, đứng
đầu các thuộc địa [33, tr.233].
Về chính trị, bên cạnh việc nới rộng quyền hạn của toàn quyền Đông
Dương để ứng phó kịp thời với mọi tình huống xảy ra, thực dân Pháp phần
nào nới rộng quyền hạn cho Nam triều, tiến hành một số cải cách, chấn chỉnh
quan trường nhằm củng cố quan lại ở Nam Kỳ và một vài biện pháp cải lương
hương tục, hương chính nặng nề về hình thức.
6
1.2. CHÍNH SÁCH KHI THÁC THUỘC ĐỊA CỦA THỰC DÂN PHÁP
Tình trạng chiến tranh và chính sách kinh tế thời chiến của thực dân
Pháp đã tác động không nhỏ, tạo ra những biến động đến kinh tế Việt Nam.
Về kinh tế, do kinh tế Việt Nam phụ thuộc lớn vào kinh tế chính quốc
nên khi chiến tranh nổ ra, bản thân kinh tế Pháp cũng gặp nhiều khó khăn,
kinh tế Việt Nam vì vậy không tránh khỏi điêu đứng. Trước tình hình đó, thực
dân Pháp đã có những biện pháp điều chỉnh nhằm duy trì sự ổn định trong tất
cả các ngành kinh tế.
Đối với công nghiệp, do ảnh hưởng của chiến tranh, đầu tư của Pháp
sang Việt Nam cũng giảm sút, việc vận chuyển máy móc thiết bị từ Pháp sang
bị đình trệ. Để phục vụ cuộc chiến ở Châu Âu, trong bốn năm chiến tranh,
thực dân Pháp đã khai thác ở Việt Nam hàng vạn tấn quặng kim loại quý hiếm
như kẽm, chì, thiếc, kẽm, nhôm, 336.000 tấn nông lâm sản các loại.
Công nghiệp thuộc địa phải gánh đỡ cho công nghiệp chính quốc vốn bị
đình đốn do chiến tranh. Các ngành chế biến gỗ, rượu cồn, hóa chất cần cho
việc chế tạo vũ khí, quân nhu đều gia tăng.
Chiến tranh diễn ra, nền nông nghiệp Pháp bị tàn phá bởi chiến tranh,
nhu cầu lương thực, thực phẩm, tăng lên nhiều nên chủ trương của Pháp là
đẩy mạnh nông nghiệp thuộc địa. Nông nghiệp từ chỗ chuyên canh cây lúa
giờ phải chuyển sang giành một phần diện tích trồng các loại cây mới phục vụ
chính quốc. Cây cao su được đặc biệt chú ý khai thác, sản lượng từ 200 tấn
năm 1914 tăng lên 931 tấn năm 1917. Năm 1916, chính quyền Đông Dương
ra lệnh tăng diện tích trồng thầu dầu để mỗi năm có thể xuất cảng sang Pháp
3.000 tấn hạt [19, tr.224]. Chính sách bắt dân phá lúa trồng thầu dầu, trồng
bông, nạn bắt lính, bắt mua công trái, bắt uống rượu do nhà nước thực dân
nấu, nạn quyên góp cho "mẫu quốc" đã khiến cho nông nghiệp Việt Nam
khốn đốn, tiêu điều. Đời sống của nông dân vô cùng bi đát. Trong suốt bốn
7
năm chiến tranh người nông dân bị bần cùng cực khổ, nhiều người phải đi
làm thuê, đi làm công nhân cho các đồn điền của Pháp. Chính điều đó là điều
kiện cho sự ra đời phát triển của tầng lớp tư sản.
Ảnh hưởng sâu sắc nhất của chiến tranh đối với nền kinh tế Việt Nam rõ
nhất là trong thương nghiệp. Khi quân pháp đánh chiếm Nam Kỳ thì chủ
nghĩa tư bản Pháp đã tiến qua giai đoạn đế quốc, đem quân đi đánh chiếm
thuộc địa để khai thác kinh tế, làm giàu cho chính quốc và bọn tư bản thực
dân. Do đó khi chiếm xong tỉnh Gia Định, địa vị chưa vững chắc, người Pháp
đã bắt tay vào khai thác kinh tế để lấy lợi nhuận bù đắp vào quân phí theo
chính sách “lấy chiến tranh nuôi chiến tranh”.
Do chiến tranh nên việc độc chiếm thị trường của Pháp ở Đông Dương
có phần bị hạn chế. Hàng hoá từ Pháp sang Việt Nam giảm sút nghiêm trọng,
từ 58 triệu Franc xuống còn 30 triệu Franc [20, tr.155], trong khi đó hàng hoá
xuất từ Việt Nam sang các nước khác trong khu vực lại có phần tăng lên. Nội
thương và giao thông vận tải có điều kiện phát triển khiến cho tư sản Việt
Nam hoạt động trong các ngành ngày càng có cơ hội để lớn lên, nằm ngoài ý
muốn của thực dân Pháp.
Trước chiến tranh, Pháp độc chiếm thị trường Việt Nam. Khi chiến tranh
xảy ra, vốn đầu tư hạn chế, hàng hóa từ Pháp sang Việt Nam và ngược lại gặp
nhiều khó khăn. Khi chiến tranh nổ ra, ngay từ đầu cuộc chiến tranh đã diễn
ra trên đất Pháp. Nhiều ngành công nghiệp Pháp bị tàn phá. Trước thực trạng
đó, thực dân Pháp buộc phải để nhiều tư sản ngoại quốc khác tăng khối lượng
nhập cảng vào thị trường Việt Nam và có chính sách nới rộng cho các nhà
công thương người Việt mở rộng hoạt động kinh doanh của họ. Tính chất độc
chiếm thị trường của thực dân Pháp vẫn còn nhưng nó đã giảm đi nhiều so với
trước đây. Tư sản ngoại quốc vào cạnh tranh với tư sản Pháp. Các nhà công
thương ở Nam Kỳ do đó đã có thể mở rộng kinh doanh với tư bản nước ngoài.
8
Việc hàng hóa của Pháp và các nước khác vào Việt Nam giảm sút nhanh
chóng trong thời kỳ chiến tranh thế giới thứ nhất là điều kiện khách quan cho
tư sản người Việt đẩy mạnh sản xuất nhằm cung ứng cho nhu cầu thị trường
trong nước. Vì thế một số tư sản người Việt ở Nam Kỳ đã vươn lên nhờ việc
đầu tư. Tuy nhiên, sự lỏng lẻo độc quyền của tư bản Pháp là việc diễn ra ngoài
ý muốn chủ quan của chúng. Trong bối cảnh chiến tranh đang diễn ra trên
chính đất Pháp, để ổn định tình hình thuộc địa, tập trung cho cuộc chiến thực
dân Pháp không thể duy trì những chính sách độc quyền cao như trước đây.
Như vậy, khi chiến tranh nổ ra, thực dân Pháp đã thực hiện một số cải
cách trên phương diện chính trị và điều chỉnh chính sách đối với các ngành
kinh tế. Đồng thời huy động tiềm năng của thuộc địa phục vụ cho chiến tranh
đế quốc, nhưng dù sao chính sách đó tạo điều kiện khách quan cần thiết cho
tư sản người Việt vươn lên.
Chính sách của thực dân Pháp và những biến đổi về kinh tế đã ảnh
hưởng tới xã hội Việt Nam.
Do đó, cơ cấu xã hội Việt Nam trong những năm chiến tranh đã có nhiều
thay đổi. Lực lượng sản xuất ở nông thôn bị giảm sút (do chế độ bắt lính, bắt
phu tàn bạo). Công nhân gia tăng về số lượng (riêng ngành mỏ từ 12.000 năm
1913 tăng lên 17.000 năm 1916) [20, tr.149 -151]. Công nhân làm việc trong
các xí nghiệp tư bản Việt Nam cũng tăng lên. Công ty Bạch Thái Bưởi có lúc
sử dụng tới 1.000 công nhân. Tầng lớp tiểu tư sản thành thị ngày càng đông
đúc cùng với việc xuất hiện ngày càng nhiều trung tâm hành chính, công
thương nghiệp và dịch vụ. Tranh thủ thời gian Pháp nới lỏng độc quyền, tư
sản Việt Nam cố gắng len lỏi vươn lên. Chính sách nới lỏng độc quyền của
Pháp tạo điều kiện cho tư sản Việt Nam có dịp vươn lên, tư sản một số ngành
đã thoát khỏi sự kiềm chế của tư bản Pháp. Một số tư sản ra đời từ trước như
Nguyễn Hữu Thu, Phạm Văn Phi, đẩy mạnh hoạt động. Một số tiểu chủ, tiểu
9
thương vươn lên hàng tư sản như Lê Quang Long ở La Khê (Hà Đông), Bùi
Tường ở Hoà (Hà Đông), Lê Văn Nghị ở Nam Trực (Nam Định). Họ hoạt
động chủ yếu trong công thương nghiệp, giữ được vai trò đáng kể trong một
số ngành kinh doanh. Tuy có sự lớn lên ít nhiều về kinh tế, song nhìn chung,
trong thời gian chiến tranh, tư sản dân tộc Việt Nam lại yếu hơn so với những
năm đầu thế kỷ XX về ý thức dân tộc. Nắm được những nhược điểm của giai
cấp tư sản Việt Nam, thực dân Pháp đã kết hợp nhiều thủ đoạn vừa đe doạ,
vừa dụ dỗ mua chuộc tầng lớp thượng lưu trí thức bản địa. Bằng việc đề ra
một số cải cách lừa bịp, đề cao uy thế của bọn bù nhìn Nam triều, bằng cuộc
vận động cải lương hương chính, bằng các biện pháp phát triển văn hoá giáo
dục nô dịch, mị dân và bằng cả các biện pháp thẳng tay đàn áp các phong trào
yêu nước, thực dân Pháp đã cố gắng khống chế về tinh thần, kết hợp với trấn
áp bằng vũ lực các cuộc nổi dậy của nhân dân Việt Nam.
10
Tiểu kết chƣơng 1
Trong những năm chiến tranh thế giới (1914 - 1918), Pháp một nước
tham chiến, thực hiện ở Việt Nam “Chính sách thời chiến” nhằm huy động tối
đa nhân lực, vật lực, tài lực cho cuộc chiến. Chiến tranh thế giới thứ nhất đã
ảnh hưởng đến kinh tế - xã hội Việt Nam, dẫn đến việc chính quyền thuộc địa
phải điều chỉnh một số chính sách về kinh tế, nhằm ổn định sản xuất, đáp ứng
nhu cầu phục vụ cho cuộc chiến tranh.
Khi tư bản Pháp còn đang bận trong cuộc chiến, với những chính sách
điều chỉnh đó đã đưa đến những thuận lợi cho các giai cấp và tầng lớp ở Việt
Nam, tận dụng cơ hội chiến tranh để vươn lên thoát khỏi sự kìm kẹp, chèn ép
của tư bản nước ngoài. Những thuận lợi đó nằm ngoài ý muốn chủ quan của
thực dân Pháp. Hoạt động sản xuất và kinh doanh của tư sản người Việt ở
Nam Kỳ từng bước phát triển, hoạt động thương mại được mở rộng, xuất hiện
những tư sản giàu có.
11
Chƣơng 2 HOẠT ĐỘNG CỦA TƢ SẢN NGƢỜI VIỆT Ở NAM KỲ
GIAI ĐOẠN 1914 - 1930
2.1. HOẠT ĐỘNG CỦA TƢ SẢN NGƢỜI VIỆT Ở NAM KỲ TRONG
NHỮNG NĂM CHIẾN TRANH THẾ GIỚI THỨ NHẤT 1914 - 1918
2.1.1. Hoạt động sản xuất và kinh doanh
Lĩnh vực hoạt động của tư sản người Việt ở Nam Kỳ khá rộng. Thường
ban đầu cùng với tư sản Pháp, một số tư sản tham gia kinh doanh đồn điền.
Nếu như việc chiếm đoạt ruộng đất đã được thực dân Pháp cơ bản hoàn thành
từ cuối thế kỉ XIX thì việc khẩn hoang nhằm tăng diện tích đất canh tác nông
nghiệp vẫn tiếp tục được đẩy mạnh trong những thập niên đầu thế kỉ XX nhờ
tiềm năng còn rất rộng lớn của vùng đất Nam Kỳ. Trong công tác tổ chức
khẩn hoang, chính quyền Nam Kỳ tiến hành cấp giấy phép, thu tiền chuyển
nhượng và tiền thuế; không tổ chức quản lí từng kế hoạch cụ thể như vốn đầu
tư, phương tiện, việc chiêu mộ công nhân, mà thực hiện chính sách về đất đai
rộng rãi, tạo điều kiện dễ dàng, khuyến khích tư nhân đứng ra thực hiện. Theo
đó quá trình mở rộng diện tích canh tác, việc mua bán chuyển nhượng ruộng
đất diễn ra rất sôi động. Chủ trương khuyến khích chiếm hữu lớn về đất đai
được giới tư bản và điền chủ - chỗ dựa của chính quyền thực dân hết sức ủng
hộ. Tư sản Nam Kỳ trong chiến tranh thế giới thứ nhất nhờ sự nới lỏng về
kinh tế và chính trị nên đã tích lũy được một lượng vốn lớn, để kinh doanh
đồn điền, tiêu biểu như Lê Vĩnh Phát, Nguyễn Hữu Hào (Gia Định và Bà
Rịa), Nguyễn Thị Tâm (Gia Định), Nguyễn Văn Của (Biên Hòa), Trần Văn
Tư (Gia Định). Ngoài ra còn nhiều tư sản có nhiều đồn điền nhỏ dưới 100 ha
[19, tr.269].
Thương mại
Độc quyền thương mại là chính sách nhất quán của thực dân Pháp ở
12
Đông Dương nhằm biến nơi đây thành thị trường độc chiếm và Nam Kỳ cũng
không phải ngoại lệ. Từ những năm đầu thế kỉ XX, việc buôn bán hàng hóa
hai chiều giữa Pháp với Nam Kỳ nói riêng và Đông Dương nói chung tăng lên
nhanh chóng.
Tuy Pháp vẫn giữ độc quyền bằng chính sách bảo hộ thuế quan, nhưng
trong những năm chiến tranh thế giới thứ nhất, hàng hóa của Anh, Trung Hoa
và nhiều nước khác đã có mặt ở Nam Kỳ ngày càng nhiều. Bên cạnh đó tư sản
Pháp vẫn sử dụng lực lượng tư sản mại bản người Hoa làm trợ thủ để lũng
đoạn thị trường nội địa và hoạt động xuất khẩu.
Nhưng do tập trung cho chiến tranh, xuất nhập cảng hàng hóa sang Việt
Nam giảm sút, hàng hóa khan hiếm, một số tư sản người Việt ở Nam Kỳ nhân
cơ hội này mở xưởng kinh doanh trong một số nghề như dệt lụa, làm giấy,
thuộc da…
Có thể thấy đầu thế kỉ XX tư sản người Việt ở Nam Kỳ mới hình thành
và phát triển, sự phát triển còn yếu ớt đã bị tư sản Pháp và Hoa Kiều cạnh
tranh. Nhưng họ vẫn tham gia các ngành sản xuất như chế biến, sản xuất đồ
thủ công,qua đó mở rộng và phát triển các xưởng.
Khi chiến tranh nổ ra, ngay từ đầu cuộc chiến tranh đã diễn ra trên đất
Pháp. Nhiều ngành công nghiệp Pháp bị tàn phá. Trong 5 năm chiến tranh, 10
tỉnh có nền công nghiệp phát triển nhất bị phá hoại hoàn toàn; những xí
nghiệp công nghiệp lớn trước kia sản xuất hàng xuất khẩu giờ chuyển sang
phục vụ chiến tranh. Tính ra trong chiến tranh có 9.322 nhà máy Pháp bị hư
hại, 1.503 xí nghiệp ươm tơ bị đổ nát. Nếu như năm 1913 số xí nghiệp làm
đường có 206, sản lượng đạt 714.000 tấn thì đến năm 1917 chỉ còn 61 xí
nghiệp, với sản lượng 20,260 tấn đường [7, tr.42]. Nông nghiệp cũng bị sa sút
nghiêm trọng. Mặc dù là nước thắng trận, Pháp bị thiệt hại vật chất lên tới 200
tỉ franc. Nước Pháp có hơn 1,4 triệu người bị chết. Hơn nữa, do cách mạng
13
tháng Mười Nga thành công Pháp mất đi nguồn nguyên liệu quan trọng do
Nga cung cấp: 55% sắt, 74,3 % Than; 18,5% Dầu lửa; đồng thời mất 25%
tổng số vốn đầu tư của tư bản Pháp ra nước ngoài, tương đương 13tỉ franc.
Trong đó món nợ mà Pháp phải vay của Mỹ đã vượt quá mức 4 tỉ đô la [29,
tr.89 - 90]. Từ một chủ nợ, Pháp trở thành con nợ.Nhiều thứ hàng hóa tiêu
dùng bán ngay trên đất Pháp cũng chưa đủ, do đó hàng hóa xuất sang Đông
Dương bị giảm sút.
Trước thực trạng đó, thực dân Pháp buộc phải để nhiều tư sản ngoại
quốc khác tăng khối lượng nhập cảng vào thị trường Việt Nam và có chính
sách nới rộng cho các nhà công thương người Việt mở rộng hoạt động kinh
doanh của họ. Tính chất độc chiếm thị trường của thực dân pháp vẫn còn
nhưng nó đã giảm đi nhiều so với trước đây. Tư sản ngoại quốc vào cạnh
tranh với tư sản Pháp. Các nhà công thương ở Nam Kỳ do đó đã có thể mở
rộng kinh doanh với tư bản nước ngoài.
Trong bối cảnh đó, hoạt động thương mại của tư sản người Việt tăng lên.
Điều đó thể hiện ở số lượng thuyền buôn và khối lượng hàng hóa của thương
nhân Việt Nam xuất cảng những năm 1910 – 1916.
Bảng 1: Thống kê số lượng thuyền buôn và khối lượng hàng hóa của
thương nhân Việt Nam xuất cảng năm 1910 – 1916 [12, tr.70]
Năm
Khối lượng hàng
Số thuyền
(chiếc)
(tấn)
1910
135
1.872
1912
198
2.951
1915
440
9.255
1916
523
11.817
Việc hàng hóa của Pháp và các nước khác vào Việt Nam giảm sút nhanh
chóng trong thời kỳ chiến tranh thế giới thứ nhất là điều kiện khách quan cho
14
tư sản người Việt đẩy mạnh sản xuất nhằm cung ứng cho nhu cầu thị trường
trong nước. Vì thế một số tư sản người Việt ở Nam Kỳ đã vươn lên nhờ việc
đầu tư. Tuy nhiên, sự lỏng lẻo độc quyền của tư bản Pháp là việc diễn ra ngoài
ý muốn chủ quan của chúng. Trong bối cảnh chiến tranh đang diễn ra trên
chính đất Pháp, để ổn định tình hình thuộc địa, tập trung cho cuộc chiến thực
dân Pháp không thể duy trì những chính sách độc quyền cao như trước đây.
Như vậy, khi chiến tranh nổ ra, thực dân Pháp đã thực hiện một số cải
cách trên phương diện chính trị và điều chỉnh chính sách đối với các ngành
kinh tế. Đồng thời huy động tiềm năng của thuộc địa phục vụ cho chiến tranh
đế quốc, nhưng dù sao chính sách đó tạo điều kiện khách quan cần thiết cho
tư sản người Việt vươn lên.
Do chiến tranh nên việc độc chiếm thị trường của Pháp ở Đông Dương
có phần bị hạn chế. Hàng hoá từ Pháp sang Việt Nam giảm sút nghiêm trọng,
từ 58 triệu franc xuống còn 30 triệu franc [20, tr.155], trong khi đó hàng hoá
xuất từ Việt Nam sang các nước khác trong khu vực lại có phần tăng lên. Nội
thương và giao thông vận tải có điều kiện phát triển khiến cho tư sản Việt
Nam hoạt động trong các ngành ngày càng có cơ hội để lớn lên, nằm ngoài ý
muốn của thực dân Pháp.
Ngoại thương là ngành chiếm vị trí quan trọng thứ hai sau nông nghiệp
trong cơ cấu kinh tế Nam Kỳ. Đến đầu thế kỉ XX, Sài Gòn thực sự trở thành
một trung tâm buôn bán sầm uất của khu vực. Số tàu buôn nước ngoài tới
cảng Sài Gòn ngày càng tăng. Tới đây buôn bán không chỉ có các bạn hàng
truyền thống như: Trung Quốc, Singapo, Thái Lan mà còn cả Hà Lan, Peru.
Kim ngạch ngoại thương của Nam Kỳ tăng lên nhanh chóng [19, tr. 227].
Hoạt động sản xuất lúa gạo thu hút được các nhà tư sản bản xứ tham gia.
Năm 1915 và 1916, hai nhà máy xay của tư sản người Việt ở Rạch Giá và Mĩ
Tho được xây dựng [19, tr.234].
15
Thời kỳ đầu, việc thu gom lúa gạo dành cho xuất khẩu nằm trong tay
những nhà tư sản người Hoa ở Chợ Lớn, là những người vừa có vốn lớn, vừa
có hệ thống thu mua lúa gạo rải khắp các tỉnh Nam Kỳ. Trong chiến tranh do
chính sách “nới rộng độc quyền” mà các nhà tư sản bản xứ hoạt động mạnh
trong lĩnh vực xuất khẩu lúa gạo.
Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp: cũng như trên toàn đất nước, sự phát
triển công nghiệp ở Nam Kỳ thời kỳ này phụ thuộc hoàn toàn vào chính sách
khai thác thuộc địa của thực dân Pháp với phương châm phát triển công
nghiệp ở thuộc địa không làm phương hại mà chỉ nhằm bổ sung cho công
nghiệp chính quốc; sản xuất để cung cấp cho chính quốc nguyên liệu hoặc
những sản phẩm chính quốc còn thiếu. Mặt khác, Nam Kỳ là vùng đất nghèo
về tài nguyên khoáng sản, điều kiện để phát triển một nền công nghiệp hiện
đại bị hạn chế hơn so với Bắc Kỳ.
Công nghiệp chế biến mía đường phát triển với những cơ sở kinh doanh
của người Việt, nhưng các cơ sở kinh doanh nhưng không lớn, chỉ giải quyết
được nhu cầu tiêu thụ nội vùng và cơ chế rồi xuất sang Hồng Kong
Công nghiệp điện, Nam Kỳ có điện sớm hơn Bắc Kỳ. Ngay từ đầu thế kỉ
XX tư sản người bản xứ đã tham ra kinh doanh trong ngành điện với việc
thành lập các nhà máy, nhưng chỉ phục vụ cho nhu cầu sản xuất nhỏ, cũng
như là nhu cầu tiêu dùng sinh hoạt.
Công nghiệp cơ khí cũng phát triển ở Nam Kỳ. Năm 1905, Nam kỳ có
một số xưởng đóng tàu và một số xưởng sửa chữa và đóng xà lan ở Sài Gòn.
Năm 1918, công ty rèn, xưởng máy và công trường ở Sài Gòn đã được thành
lập, chuyên chế tạo cơ khí, đúc, hàn, tiện, mạ, đóng và sửa chữa tàu, xây dựng
và sửa chữa nhà máy gạo. Các xưởng cơ khí nhỏ của tư sản bản xứ cũng ra
đời nhưng muộn.
Khai mỏ là ngành được chính quyền thực dân quan tâm vì nhanh chóng
16
thu được lợi nhuận và chỉ bổ sung chứ không làm tổn hại đến công nghiệp
chính quốc. Tuy vậy, do nguồn tài nguyên khoáng sản hạn chế nên ngành khai
mỏ Nam Kỳ xuất hiện muộn và yếu hơn so với Bắc Kỳ và Trung Kỳ.
Trong chiến tranh thế giới thứ nhất, xuất nhập cảng hàng hóa của tư bản
Pháp sang Việt Nam giảm sút. Một số tư sản người Việt ở Nam Kỳ nhân cơ
hội này đầu tư vốn, mở rộng quy mô, mở xưởng kinh doanh một số nghề (dệt,
ép dầu, thuộc da…) thay thế những hàng hóa không nhập vào được. Với tiểu
thủ công nghiệp, theo niên giám Đông Dương phát hành năm 1910, chính
quyền thực dân đã nhìn nhận thực trạng các nghề thủ công truyền thống ở
Nam Kỳ vào cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX :“Nghề thủ công bản xứ chẳng có
gì đáng kể. Người bản xứ chỉ chế tác một ít đồ kim hoàn, các vật dụng đan
bằng mây tre, chiếu và các loại túi cói. Kỹ nghệ bản xứ hiện đang tồn tại thoi
thóp. Hiện nay, người ta chỉ đang tập trung vào những ngành kỹ nghệ của
người Hoa hoặc người Pháp vừa nhập vào Nam Kỳ. Các nghề thủ công bản
xứ nổi tiếng một thời thì đang suy thoái hoặc biến mất dần” [19, tr.239]. Dù
không nhận được sự khuyến khích của chính quyền nhưng các nghề thủ công
vẫn phát triển, tiêu biểu như nghề gốm sứ phát triển do nhu cầu tiêu thụ trong
nước tăng cao, nhất là vùng sông nước Nam Bộ sử dụng gốm sứ rất tiện lợi và
kinh tế; nghề làm nước mắm có một số chủ tư bản người Việt tham gia vào
chế biến, mở xưởng sản xuất; nghề sản xuất xà bông phát triển với sự tham
gia của tư sản Trương Văn Bền, sử dụng nhiều máy móc điện; nghề làm giấy
ở Nam Kỳ chủ yếu là làm thủ công, kĩ thuật lạc hậu, sản xuất giấy, làm hàng
mã; nghề in; nghề thuộc da; nghề chế biến thủy tinh; nghề chế biến
thuốc…Nhìn chung thủ công nghiệp Nam Kỳ tiếp tục phát triển, nhưng các
xưởng thủ công của người Việt với quy mô nhỏ. Một số tư sản người Việt
cũng đầu tư vào thủ công nghiệp như Trương Văn Bền,…
Khi tư bản Pháp còn đang bận rộn trong cuộc chiến, các giai cấp và tầng
17
lớp ở Việt Nam và nhiều nước thuộc địa khác, tận dụng cơ hội chiến tranh để
vươn lên thoát khỏi sự kìm kẹp, chèn ép của tư bản nước ngoài. Trong hầu hết
các ngành kinh tế thuộc địa đều có sự tham gia của tư sản bản xứ. Đó là
những cơ sở kinh tế được xây dựng, những đồn điền, những công ty cổ phần,
những nhà máy, những cơ sở mua lại của tư bản ngoại quốc. Hoạt động sản
xuất và kinh doanh của tư sản người Việt ở Nam Kỳ từng bước phát triển, từ
khi chiến tranh nổ ra.
Như vậy, tình hình Việt Nam nói chung, Nam Kỳ nói riêng trong những
năm chiến tranh (1914 -1918) có những thay đổi tích cực, phù hợp với quy
luật phát triển. Các thành phần kinh tế dân tộc tăng lên, quá trình phân hóa xã
hội diễn ra, cùng với đó là sự tăng thêm về số lượng và mạnh thêm về tiềm
lực kinh tế của các tầng lớp mới.
2.1.2. Tham gia phong trào yêu nƣớc
Dưới tác động của cuộc khai thác thuộc địa, Việt Nam nói chung và
Nam Kỳ nói riêng đã trải qua những biến động sâu sắc. Nền kinh tế có tính
chất tự nhiên, tự cấp, tự túc bị phá vỡ, dù chưa hoàn toàn. Nông nghiệp cổ
truyền còn chiếm ưu thế, song bên cạnh đó, nền công thương nghiệp theo hình
thức tư bản chủ nghĩa đã hình thành với sự xuất hiện của nhiều công ty tư bản
Pháp, của thương gia Hoa Kiều, Ấn Kiều và một số tư sản người Việt khác.
Cùng với những biến đổi về kinh tế, nhiều chuyển biến mới cũng đã diễn ra
trong đời sống xã hội Việt Nam. Ngoài hai giai cấp cơ bản trong xã hội phong
kiến là địa chủ và nông dân - một lực lượng xã hội mới là giai cấp tư sản và
tiểu tư sản, giai cấp nông dân đã ra đời và dần trở thành một lực lựng chính trị
độc lập.
Với chính sách bóc lột, nạn bắt lính, chính sách chèn ép, kìm hãm nền
kinh tế của chủ nghĩa thực dân đã gây ra, gây phẫn nộ cho các tầng lớp nhân
dân, thúc đẩy các phong trào yêu nước phục hồi và phát triển. Trong thời gian
18
chiến tranh thế giới, phong trào đấu tranh chủ yếu do các sĩ phu tiếp thu tư
tưởng dân chủ tư sản lãnh đạo, với những phong trào Đông Du, Hội kín
Nguyễn An Ninh…
Trong thời gian chiến tranh, sau khi giành được vai trò nhất định về kinh
tế, tư sản người Việt ở Nam Kỳ họ muốn vươn lên về chính trị. Họ lập ra cơ
quan ngôn luận riêng, cho ra đời nhiều tờ báo. Một số tờ báo trước đây như
Nông Cổ Mín Đàm, mang dáng dấp một tờ báo kinh tế, có nhiều chuyên mục
trong đó “Thượng Cổ Luận” là quan trọng nhất, giới thiệu các kinh nghiệm
kinh doanh, cổ vũ tham gia thương trường. Các thư mực khác hướng về mục
đích Duy Tân [19, tr.319]. Ngoài ra còn nhiều tờ báo khác, cổ vũ lòng yêu
nước, hướng theo cải cách tự lực tự cường.
Tư sản người Việt ở Nam Kỳ giai đoạn này, tuy có bước phát triển song
vẫn chưa trở thành giai cấp. Họ đã giành được một vị trí nhất định về kinh tế,
muốn vươn lên có được một địa vị chính trị, bắt đầu có ý thức bênh vực
quyền lợi cho mình, trở thành giai cấp trong giai đoạn sau.
2.2. TƢ SẢN NGƢỜI VIỆT Ở NAM KỲ TRONG CUỘC KHAI THÁC
THUỘC ĐỊA LẦN THỨ HAI 1919 - 1929
2.2.1. Sự trƣởng thành của Tƣ sản ngƣời Việt ở Nam Kỳ
* Điều kiện kinh tế - xã hội và chính trị
Chủ nghĩa tư bản xuất hiện thì đồng thời tầng lớp tư sản, đại diện cho
quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa cũng xuất hiện. Trong hoàn cảnh tư bản
Pháp tiến hành khai thác thuộc địa lần thứ nhất, lực lượng tư sản bản xứ đã ra
đời. Tuy nhiên, lực lượng này bị tư bản Pháp chèn ép, hạn chế, đồng thời bị
ràng buộc bởi quan hệ sản xuất phong kiến lỗi thời, lạc hậu nên chưa có điều
kiện trở thành giai cấp.
Trong hoàn cảnh chiến tranh thế giới thứ nhất, tư bản Pháp nới lỏng
chính sách về kinh tế và chính trị ở thuộc địa, tư sản người Việt ở Nam Kỳ
19