Tải bản đầy đủ (.pdf) (57 trang)

Thân phận người phụ nữ phản ánh qua bộ luật hồng đức dưới thời lê thánh tông (1460 1497)

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (851.64 KB, 57 trang )

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA LỊCH SỬ

TẠ THỊ NGỌC ÁNH

THÂN PHẬN NGƯỜI PHỤ NỮ PHẢN ÁNH
QUA BỘ LUẬT HỒNG ĐỨC DƯỚI THỜI
LÊ THÁNH TÔNG (1460-1497)
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Lịch sử Việt Nam

HÀ NỘI – 2018


TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA LỊCH SỬ

TẠ THỊ NGỌC ÁNH

THÂN PHẬN NGƯỜI PHỤ NỮ PHẢN ÁNH
QUA BỘ LUẬT HỒNG ĐỨC DƯỚI THỜI
LÊ THÁNH TÔNG (1460-1497)
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Lịch sử Việt Nam

Người hướng dẫn khoa học

Th.S Nguyễn Văn Nam

HÀ NỘI – 2018



LỜI CÁM ƠN

Sau một thời gian làm việc tích cực và nghiêm túc, khóa luận Thân phận
người phụ nữ phản ánh qua bộ luật Hồng Đức dưới thời Lê Thánh Tông (14601497) đã hoàn thành.
Trước tiên tôi xin cám ơn các thầy cô trong khoa Lịch Sử, trường Đại học Sư
Phạm Hà Nội 2 đã dạy dỗ và truyền đạt những kiến thức quý báu trong quá trình học
tập, rèn luyện tại trường, để tôi có kiến thức nền tảng nghiên cứu đề tài khóa luận.
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc tới Thạc sĩ Nguyễn Văn
Nam, là người đã tận tình hướng dẫn và động viên tôi trong suốt quá trình thực hiện
khóa luận. Tôi xin cám ơn thầy Trần Anh Đức đã cung cấp những tài liệu quý giá,
cho tác giả những chỉ dẫn hữu ích.
Đồng thời, tôi xin chân thành cám ơn bạn bè, gia đình đặc biệt là bố mẹ tôi đã
luôn động viên, tạo điều kiện và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện và hoàn
thành Khóa luận tốt nghiệp của mình.
Tôi xin chân thành cám ơn !
Hà Nội, ngày 8 tháng 5 năm 2018
Sinh viên thực hiện

Tạ Thị Ngọc Ánh


LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan những nội dung mà tôi đã trình bày trong khóa luận này
là kết quả nghiên cứu của bản thân tôi dưới sự hướng dẫn của Thạc sĩ Nguyễn Văn
Nam. Những nội nghiên cứu này không trùng lặp với kết quả nghiên cứu của các tác
giả khác.
Tôi xin chịu mọi trách nhiệm về công trình nghiên cứu của riêng mình !
Hà Nội, ngày 8 tháng 5 năm 2018

Sinh viên thực hiện

Tạ Thị Ngọc Ánh


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ...................................................................................................................1
1. Lý do chọn đề tài ................................................................................................1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề..................................................................................2
3. Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu ..................................4
4. Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu .......................................................5
5. Những đóng góp của đề tài nghiên cứu..............................................................5
6. Bố cục nghiên cứu ................................................................................................6
CHƯƠNG 1. CÁC NHÂN TỐ QUY ĐỊNH ĐẾN THÂN PHẬN NGƯỜI PHỤ
NỮ DƯỚI THỜI LÊ THÁNH TÔNG ( 1460-1497) VÀ SỰ RA ĐỜI LUẬT
HỒNG ĐỨC..............................................................................................................7
1.1. Phụ nữ trong truyền thống văn hóa Việt Nam..............................................7
1.2. Thân phận người phụ nữ trong quan niệm Nho giáo..................................11
1.3. Bộ luật Hồng Đức được ban hành .................................................................15
1.3.1. Vua Lê Thánh Tông lên ngôi ......................................................................15
1.3.2. Ban hành luật Hồng Đức .............................................................................17
Tiểu kết chương 1 ...................................................................................................20
CHƯƠNG 2. ĐỊA VỊ VÀ ĐỜI SỐNG CỦA NGƯỜI PHỤ NỮ ĐƯỢC PHẢN
ÁNH QUA BỘ LUẬT HỒNG ĐỨC DƯỚI THỜI LÊ THÁNH TÔNG ..........21
( 1460-1497) .............................................................................................................21
2.1. Địa vị người phụ nữ phản ánh qua bộ luật Hồng Đức ................................21
2.1.1. Địa vị người phụ nữ trong gia đình ............................................................21
2.1.2. Địa vị người phụ nữ ngoài xã hội ...............................................................25
2.2. Đời sống hôn nhân của người phụ nữ ...........................................................29
2.2.1. Quyền được bảo vệ trong hôn nhân ...........................................................29

2.2.2. Quyền được xin ly hôn của người phụ nữ .................................................32


2.3. Quyền sở hữu và thừa kế của người phụ nữ ................................................36
2.3.1. Về quan hệ sở hữu tài sản ...........................................................................36
2.3.2. Về quyền kế thừa tài sản .............................................................................39
2.4. Nhận xét ...........................................................................................................41
2.4.1. Điểm tiến bộ ..................................................................................................41
2.4.2. Một số hạn chế ..............................................................................................43
Tiểu kết chương 2 ...................................................................................................44
KẾT LUẬN .............................................................................................................45
TÀI LIỆU THAM KHẢO .....................................................................................47


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Triều đại Lê sơ dưới thời trị vì của vua Lê Thánh Tông (1460-1497) là giai
đoạn phát triển thịnh đạt của chế độ phong kiến Việt Nam. Đây cũng là thời kỳ Nho
giáo trở thành quốc giáo, hệ tư tưởng thống trị xã hội Đại Việt. Nhân dân Đại Việt
cũng như nhãn quan chính trị lỗi lạc của vua Lê Thánh Tông đã tiếp nhận những
điểm tích cực nhất của Nho giáo trong tổ chức bộ máy nhà nước, xây dựng luật pháp,
tổ chức cai trị trật tự xã hội để xây dựng một quốc gia hùng cường trong khu vực
Đông Nam Á. Sự phát triển thịnh đạt của đất nước thời Lê Thánh Tông không chỉ
được thể hiện qua các mặt về chính quyền, quân đội, luật pháp mà còn qua các lĩnh
vực của đời sống trong đó có đời sống của người phụ nữ Đại Việt thời bấy giờ.
Trong tiến trình phát triển của lịch sử dân tộc, hình ảnh người phụ nữ Việt
Nam được nói đến rất nhiều trong lời ru của bà của mẹ, trong ca dao, tục ngữ những
tác phẩm văn học và trong cả luật pháp. Ở Việt Nam, thời bấy giờ – pháp luật đã
chịu ảnh hưởng nặng nề bởi tư tưởng hà khắc, ngặt nghèo của Nho giáo nên địa vị
của người phụ nữ phụ thuộc vào nam giới là rất lớn. Trước tiên sự bất bình đẳng

được thể hiện chính là sự phân biệt giữa con trai và con gái trong gia đình. Với quan
niệm cần phải có con trai để nối dõi tông đường nên xã hội phong kiến cho rằng
“nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô”. Quan điểm này chính là khởi điểm cho sự bất
bình đẳng mà phụ nữ ở chế độ phong kiến phải gánh chịu. Tư tưởng đó là tư tưởng
chủ đạo, căn bản của xã hội phong kiến và nguyên tắc bất bình đẳng nam nữ đã trở
thành tư tưởng chỉ đạo trong văn bản pháp luật phong kiến.
Từ thời Lê Sơ, Nho giáo thành độc tôn, tư tưởng trọng nam quyền ngày càng
trở nên rõ ràng, ngặt nghèo hơn…Tuy nhiên trong Bộ luật Hồng Đức có khá nhiều
điểm tiến bộ được đề cập trong việc bảo vệ quyền lợi của người phụ nữ. Bộ luật
Hồng Đức do Lê thánh Tông ban hành là bước ngoặt trên con đường lập pháp của
Việt Nam, tổ chức và cai trị xã hội bằng pháp luật của Việt Nam. Đó là bộ luật nổi
1


tiếng, tiêu biểu, có nhiều điểm tiến bộ vượt thời đại từ lâu đã được nghiên cứu, giảng
dạy ở nhiều quốc gia trên thế giới và được đánh giá là một công trình lập pháp mang
tính nhân văn sâu sắc của dân tộc Việt.
Nghiên cứu bộ luật Hồng Đức không chỉ tái hiện một phần đời sống địa vị của
người phụ nữ Việt Nam trong các lĩnh vực: hôn nhân, gia đình, tư pháp, hành chính,
xã hội, mà còn thấy được chính sách quan tâm, bênh vực người phụ nữ của chính
quyền cũng như vị vua anh minh Lê Thánh Tông. Vượt lên trên những hạn chế tư
tưởng hà khắc của Nho giáo và chế độ phong kiến đương thời, đó là một xã hội
“trọng nam”, một xã hội có thứ bậc đặc biệt coi trọng người đàn ông. Kết quả của
đề tài góp phần tìm hiểu đời sống phụ nữ Việt nam thời trung đại nói chung và thời
Lê Sơ nói riêng.
Ngày nay, nhà nước cần tham khảo, kế thừa giá trị tiến bộ, nhân văn, kỹ
thuật pháp lý của Bộ luật nhà Lê trong việc bảo vệ quyền, lợi ích của phụ nữ với
tư cách là một trong những đối tượng xã hội dễ bị tổn thương, yếu thế. Đặc biệt là
các cơ quan nhà nước cần quan tâm hơn nữa và thể hiện rõ trách nhiệm của mình
trong việc bảo vệ, thực hiện các quy định pháp luật để bảo về quyền lợi của người

phụ nữ.
Xuất phát từ những lý do nêu trên cùng với mối quan tâm đối với lịch sử Đại
Việt thời Lê Sơ, tác giả lựa chọn đề tài: “Thân phận người phụ nữ phản ánh qua
bộ luật Hồng Đức dưới thời Lê Thánh Tông (1460-1497)” làm khóa luận tốt
nghiệp của mình.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Cho đến thời điểm hiện nay, vấn đề nghiên cứu pháp luật về thân phận của
phụ nữ thời Lê Sơ nói riêng và phụ nữ thời phong kiến xưa nói chung đã được các
nhà nghiên cứu, các chuyên gia đề cập đến ở các góc độ khác nhau. Có rất nhiều
chương trình, dự án cũng như các đề tài khoa học viết về thân phận của người phụ
nữ được đề cập qua các bộ luật. Các bài viết, tham luận tại các hội thảo chuyên đề
2


cũng đã từng trực tiếp hoặc gián tiếp đề cập đến địa vị của phụ nữ ở từng lĩnh vực
khác nhau trong các bộ luật như bộ luật Hình Thư, Bộ luật Hồng Đức, Bộ luật Gia
Long …Các tài liệu chính mà tác giả đã tham khảo nói chung đều đã ít nhiều đề cập
tới thân phận người phụ nữ qua bộ luật Hồng Đức, tuy nhiên mỗi ấn phẩm lại có
những đóng góp khác nhau cho khoa học lịch sử cụ thể :
Công trình “Nghiên cứu lịch sử hình thành, nội dung và những giá trị của
Quốc Triều hình luật thời nhà Lê (Bộ luật Hồng Đức)” của tác giả Nguyễn Hải Kế
(2003) đã khái quát một cách hệ thống nhất sự ra đời và những nội dung cơ bản của
bộ luật Hồng Đức. Công trình này cũng chỉ ra được những giá trị tiến bộ của bộ luật
so với xã hội phong kiến lúc bấy giờ và ý nghĩa đương đại ngày nay. Tuy vậy tác
phẩm chỉ mới chỉ ra rằng bộ luật này có bảo vệ, bệnh vực người phụ nữ mà chưa
phân tích, chỉ rõ ra. Ấn phẩm “Một số nội dung và giá trị cơ bản về quyền con người
trong quốc Triều hình luật” của tác giả Nguyễn Thanh Bình (2003) đã cung cấp
những kiến thức về những quyền lợi của các nhóm người được pháp luật bảo vệ
trong xã hội như trẻ em, người già, người tàn tật, phụ nữ … Nhưng xét ở khía cạnh
đề cập tới người phụ nữ thì chưa cụ thể, rõ ràng .

Một công trình khác của tác giả Nguyễn Minh Tuấn (2004) nghiên cứu về
“Quy định tiến bộ bênh vực, bảo vệ phụ nữ của bộ luật Hồng Đức” đã trình bày một
cách khoa học, rõ ràng và cụ thể các điều luật nói lên những quy định bênh vực và
bảo vệ người phụ nữ, tuy nhiên nó mới chỉ dừng lại trong lĩnh vực hôn nhân và thừa
kế mà chưa nói về quyền lợi của người phụ nữ trong gia đình và xã hội.
Cá nhân tác giả kế thừa rất nhiều từ kết quả của các công trình nghiên cứu kể
tên trên. Tất cả những phân tích kể trên, nó trở thành cơ sở để nghiên cứu đề tài khóa
luận này. Đặc biệt, trong khóa luận của tác giả có tham khảo toàn bộ nội dung của
ấn phẩm “Quốc Triều hình luật (Luật hình triều Lê)” của Viện sử học. Trên cơ sở
đó tác giả triển khai phân tích để làm rõ đối tượng nghiên cứu của mình.

3


3. Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
3.1. Mục tiêu nghiên cứu
Thông qua đề tài, mô tả thân phận người phụ nữ được phản ánh qua bộ luật
Hồng Đức dưới thời Lê Thánh Tông (1460-1497), để hiểu rõ hơn về những thành
tựu của pháp luật Đại Việt nhất là trong việc quan tâm bảo vệ người phụ nữ. Có ý
nghĩa lớn trong việc tìm hiểu những giá trị lịch sử và đương đại của những điều luật
về địa vị người phụ nữ phản ánh qua bộ luật Hồng Đức.
Nghiên cứu đề tài còn có ý nghĩa lớn nhằm khai thác những giá trị văn hóa
truyền thống tốt đẹp của dân tộc trong việc xây dựng luật pháp.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Thông qua những tài liệu tác giả làm rõ:
- Những nhân tố quy định đến thân phận người phụ nữ dưới thời Lê Thánh Tông
(1460-1497) và sự ra đời của bộ luật Hồng Đức.
- Địa vị và đời sống của người phụ nữ phản ánh qua bộ luật Hồng Đức trên các khía
cạnh khác nhau như trong gia đình, ngoài xã hội, đời sống hôn nhân, các quyền sở
hữu và thừa kế tài sản.

- Đưa ra những nhận xét về điểm tiến bộ và hạn chế của những quy định trong bộ
luật Hồng Đức về người phụ nữ.
3.3. Phạm vi nghiên cứu
- Về mặt thời gian: Khóa luận đi tìm hiểu về thân phận người phụ nữ phản ánh
qua bộ luật Hồng Đức dưới thời vua Lê Thánh Tông trị vì giai đoạn 1460-1497.
- Về mặt không gian: Khóa luận đi tìm hiểu thân phận người phụ nữ phản ánh
qua bộ luật Hồng Đức trên phạm vi lãnh thổ Đại Việt thời Lê Thánh Tông trị vì
(1460-1497).
- Về mặt nội dung: Khóa luận đi tìm hiểu thân phận người phụ nữ phản ánh
qua bộ luật Hồng Đức dưới thời vua Lê Thánh Tông trị vì trên các lĩnh vực khác

4


nhau như: địa vị người phụ nữ trong gia đình, ngoài xã hội, đời sống hôn nhân, quyền
sở hữu và thừa kế tài sản.
4. Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu
4.1. Nguồn tư liệu
- Trên cơ sở các nguồn tư liệu đã có, tác giả khai thác các điều luật của bộ luật
Hồng Đức thông qua nguồn tư liệu cấp 2 là tác phẩm “Quốc triều hình luật ( Luật
hình triều Lê )”.
- Tài liệu chuyên khảo có nội dung phản ánh về thân phận người phụ nữ qua
Bộ luật Hồng Đức.
- Các luận án, luận văn.
-Các bài báo, tạp chí.
4.2. Phương pháp nghiên cứu.
Phương pháp nghiên cứu chủ yếu được vận dụng là phương pháp lịch sử kết
hợp phương pháp logic làm tái hiện thân phận, địa vị người phụ nữ thông qua bộ
luật Hồng Đức dưới thời Lê Thánh Tông trị vì. Đề tài còn sử dụng phương pháp
phân tích, phương pháp tổng hợp, phương pháp thống kê để khai thác, phân tích đề

tài khóa luận .
5. Những đóng góp của đề tài nghiên cứu
- Lần đầu tiên tác giả đã tập hợp được một hệ thống các nguồn tài liệu nghiên cứu
về thân phận người phụ nữ phản ánh qua bộ luật Hồng Đức trên nhiều khía cạnh.
- Trên cơ sở mô tả, phục dựng lại thân phận người phụ nữ phản ánh qua bộ luật Hồng
Đức, tác giả đã đưa ra những đánh giá nhận xét khách quan về vai trò của vị vua Lê
Thánh Tông và pháp luật thời Lê Sơ.
- Công trình cũng là nguồn tài liệu để tìm hiểu rõ hơn luật pháp cũng như đời sống,
địa vị của người phụ nữ trong suốt thời kỳ phong kiến.

5


- Cuối cùng, công trình nghiên cứu là tài liệu tham khảo cho nhà nước, chính quyền
các cấp kế thừa những giá trị truyền thống tiến bộ và quan tâm thêm nữa đến đời
sống của người phụ nữ.
6. Bố cục nghiên cứu
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tham khảo khóa luận gồm có 2
chương:
- Chương 1: Các nhân tố quy định thân phận người phụ nữ dưới thời Lê
Thánh Tông (1460-1497) và sự ra đời luật Hồng Đức.
- Chương 2: Địa vị và đời sống của người phụ nữ phản ánh qua bộ luật
Hồng Đức dưới thời Lê Thánh Tông (1460-1497).

6


CHƯƠNG 1
CÁC NHÂN TỐ QUY ĐỊNH ĐẾN THÂN PHẬN NGƯỜI PHỤ NỮ DƯỚI
THỜI LÊ THÁNH TÔNG ( 1460-1497) VÀ SỰ RA ĐỜI LUẬT HỒNG ĐỨC

1.1. Phụ nữ trong truyền thống văn hóa Việt Nam
Ở nước ta và ở nhiều nước trong khu vực, chế độ mẫu hệ xuất hiện trong thời
Hậu kỳ đồ đá cũ 1. Đây là thời kỳ mà thân phận của người phụ nữ được trọng dụng,
được coi trọng và được suy tôn cao hơn hẳn so với người đàn ông. Lúc này do con
sinh không biết ai là cha của mình là ai mà chỉ biết về người mẹ và người phụ nữ
nắm giữ hết mọi quyền hành về kinh tế. Người đàn ông nếu xét về năng lực sản xuất
thì họ cũng chỉ bằng hay thậm chí còn không bằng người phụ nữ. Người phụ nữ đảm
nhiệm công việc hái lượm, trồng trọt, chăn nuôi sơ khai và phân chia thức ăn cho cả
gia đình, cả thị tộc của mình, họ nữ nắm tất cả những công việc quan trọng. Qua đó
phụ nữ giữ quyền chi phối thị tộc, đều khiển công việc và các mối quan hệ giữa các
thành viên. Loại hình kinh tế săn bắt hái lượm này của thời nguyên thủy đã làm cho
địa vị của người phụ nữ trong gia đình và trong thị tộc trở nên quan trọng nhất.
Trong những giai đoạn phát triển và trong buổi bình minh của lịch sử xã hội
nguyên thủy thì dân tộc nào, quốc gia nào hầu như cũng trải qua thời kỳ này đó là
quy luật tất yếu của xã hội truyền thống đó. Trong xã hội mẫu hệ đó phụ nữ là chủ
gia đình, dòng họ; người phụ nữ đóng vai trò rất quan trọng trong đời sống sinh hoạt
kinh tế, xã hội cũng như văn hóa tinh thần. Dân tộc Việt Nam cũng không nằm ngoài
những quy luật tất yếu của xã hội đó. Một trong những truyền thống văn hóa tốt đẹp
của dân tộc Việt đó là luôn đề cao vai trò của người phụ nữ.
Truyền thống đề cao vai trò, thân phận của người phụ nữ đã được thể hiện rất
rõ nét qua tín ngưỡng dân gian có tự hàng ngàn đời nay của dân tộc Việt Nam đó là
tục thờ Mẫu - một nét văn hóa rất điển hình của dân tộc Việt Nam. Thờ Mẫu là một

1

Khoảng 40 đến 11 ngàn năm cách ngày nay.

7



trong những tín ngưỡng dân gian xuất hiện từ rất sớm trong đời sống tinh thần của
người Việt, mang đậm chất bản địa, nguyên thủy và tồn tại cùng chiều dài của lịch
sử của dân tộc. Ngay từ tên gọi “thờ Mẫu” đã gợi lên vẻ kính trọng, thiêng liêng đối
với người phụ nữ. Đó là tục thờ các vị nữ thần từ thời xa xưa đại diện cho thiên
nhiên, cho dân tộc như mẹ đất, mẹ nước, mẹ lửa…
Tục thờ Mẫu có nguồn gốc lâu đời xuất phát từ tục mẫu hệ, khi người mẹ,
người vợ nắm giữ những vị trí quan trọng trong gia đình. Tín ngưỡng thờ Mẫu còn
là nơi đặt niềm tin, hy vọng, là chỗ dựa cho một bộ phận những người tin và đi theo
tín ngưỡng này. Nếu tìm hiểu sâu hơn về tục lệ tín ngưỡng này thì có thể thấy rõ vai
trò của người phụ nữ đối với quá trình xây dựng và bảo vệ dân tộc là rất lớn. Khái
niệm thờ Mẫu được hiểu rộng bao gồm có các nữ anh hùng, các vị công chúa có đức,
những bà hoàng hậu có tâm, và cả những bà cô tổ trong dân gian, họ là những người
phụ nữ trong lịch sử đã vai trò bảo hộ, khi còn sống là họ những người có tài, có
công với dân tộc với đất nước, khi họ mất đi thì hiển linh phù trợ cho dân cho nước.
Tất cả họ đều đáng được kính trọng, đáng được tôn thờ và họ được nhân dân thần
thánh hóa và là hiện thân của thánh Mẫu. Họ là những vị thần vừa có quyền năng
vừa là những người mẹ bao dung che chở, vừa huyền bí vừa gần gũi. Mặt khác những
lễ hội trong tín ngưỡng thờ Mẫu đã nói lên sự thiêng liêng, tình cảm, sự ngưỡng mộ
về vai trò những người phụ nữ trong các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội.
Không chỉ có vậy từ thời Hùng Vương đã có rất nhiều các câu truyện truyền
thuyết đã khắc sâu trong ký ức, trong tâm khảm của cộng đồng, của người dân Việt
về những giá trị cội nguồn dân tộc Việt Nam. Mẹ Âu Cơ sinh trăm trứng trăm con,
nhắc nhở dân tộc ta là cùng một mẹ sinh ra, cùng trong một bọc trứng mà lớn lên.
Ngôn ngữ Việt luôn đậm đà tình cảm, thông qua các từ ngữ: cốt nhục, lòng mẹ, đất
mẹ, Tổ quốc thường ví với mẹ hiền… Người phụ nữ trong những câu truyện truyền
thuyết luôn được ca ngợi, dù trong hoàn cảnh nào đi chăng nữa vẫn khẳng định mình
như người vợ một lòng chung thủy sắt son như người vợ trong sự tích Trầu Cau, như
8



người đàn bà ôm con đứng trên núi Vọng Phu mà hóa đá, như Mị Châu dẫu hai lần
mang trọng tội với đất nước nhưng trong dân gian vẫn được khoan dung và được
đánh giá là trong suốt như ngọc trai. Cho thấy cách nhìn của cả dân tộc với người
phụ nữ luôn ẩn chứa sự thiêng liêng, kính trọng, luôn đặt niềm tin tuyệt đối vào họ.
Đó là một nét đẹp trong truyền thống văn hóa của dân tộc Việt.
Ngay từ thời kỳ đầu của quá trình xây dựng dựng nước và giữ nước, trên cả
hai mặt trận là sản xuất và chiến đấu, người phụ nữ Việt Nam đã có vai trò rất quan
trọng trong lịch sử mà không thua kém gì nam giới. Điều này được thể hiện không
phải là không có nguyên nhân, xuất xứ của nó mà với một đất nước nông nghiệp
lúa nước thì hình ảnh khái quát nhất cho thấy sự duy trì suốt hàng nghìn năm nay
trên các cánh đồng làng là câu ca dao: “Chồng cày, vợ cấy, con trâu đi bừa”. Bức
tranh tả thực này đã nói lên sự phân công lao động rất hợp lý đồng thời là biểu hiện
của sự bình đẳng trong mọi phương diện giữa nam và nữa. Còn trong cuộc đấu
tranh bảo vệ độc lập, tự do của dân tộc, vai trò của người phụ nữ cũng không hề
thua kém người đàn ông: “Giặc đến nhà, đàn bà cũng đánh”. Câu nói này được
truyền tụng tự hàng ngàn đời nay, nó vừa thể hiện lòng quyết tâm sắt đá của toàn
thể dân tộc, vừa thể hiện được sự bình đẳng giữa nam và nữ trên mặt trận đấu tranh.
Lịch sử Việt Nam đã trải qua biết bao thăng trầm biến cố đã có hơn 1000 năm
Bắc thuộc. Nổi lên trong những năm tháng đấu tranh hào hùng và oanh liệt đó, cả
dân tộc không bao giờ quên vai trò của những người phụ nữ. Họ tham gia chiến đấu
ở mọi cương vị, mở đầu trang sử hào hùng chống Bắc thuộc không phải là những vị
anh hùng, những nam tướng mà là của hai nữ tướng :
“ Đô kỳ đóng cõi Mê Linh
Lĩnh Nam riêng một triều đình nước ta ”[25;tr.3]
Lời thề khi xuất quân của Hai Bà Trưng được ghi lại một cách hào hùng trong
Thiên nam ngữ lục như sau:
9


“ Một xin rửa sạch nước thù

Hai xin dựng lại nghiệp xưa họ Hùng
Ba kẻo oan ức lòng chồng
Bốn xin vẹn vẹn sở công lênh này”[32;tr.18]
Nợ nước được đưa lên trước mối thù giết chồng, từ đó tham gia gánh vác việc
chung của cả dân tộc là điều rất đỗi bình thường trong rất nhiều nữ binh, nữ tướng
đã đứng lên hưởng ứng cuộc khởi nghĩa Mê Linh dưới trướng Hai Bà Trưng. Cuộc
khởi nghĩa của Hai Bà Trưng đã đặt nền tảng và mở đầu cho truyền thống “anh hùng,
bất khuất” của người phụ nữ Việt chống lại các cuộc kháng chiến lại giặc ngoại xâm.
Như vậy, khởi nghĩa Hai Bà Trưng đã đánh thức, cổ vũ cho những cuộc chiến đấu
một mất một còn giữa kẻ thù đô hộ phương Bắc và một dân tộc bị đô hộ với quyết
tâm giành được độc lập cho dân tộc. Sau đó vài thế kỷ, thiếu nữ Triệu Thị Trinh đã
ghi tên mình vào sử sách, tự khẳng định mình vượt lên trên chuyện thường tình nữ
nhi: “Tôi muốn cưỡi cơn gió mạnh, Đạp cơn sóng dữ, Chém cá tràng kình ngoài
biển Đông, quét sạch quân Ngô ra ngoài bờ cõi chứ không chịu khom lưng làm tì
thiếp cho người ta” [32;tr.25].
Quá trình xây dựng đất nước là một phần tất yếu của lịch sử dân tộc. Nhưng
lịch sử đâu chỉ có khói lửa của chiến tranh và khởi nghĩa, trang sử không thể quên
Ỷ Lan từ cô gái hái dâu nơi thôn quê đã trở thành nguyên phi, rồi thái hậu của một
đất nước: Bà đã thay chồng xử lý chuyện chính sự, một lần nữa lại thay con trị nước
là hai lần để lại dấu ấn tốt đẹp trong lòng người. Ở địa vị là Mẫu nhi thiên hạ nhưng
Nguyên phi Ỷ Lan vẫn không hề quên cảnh ngộ của những thân phân người phụ nữ
nghèo hèn đang sống những cuộc đời còn khổ cực hơn thuở hàn vi của Bà. Thông
cảm cho những số phận của các cung nữ đã dành cả tuổi thanh xuân trong cung cấm,
tiếc thương cho họ Bà đã ra lệnh cho xuất cung rất nhiều người, đồng thời gả chồng
để họ tạo lập gia đình. Điều gì đã khiến Bà có những suy nghĩ khác lạ nhưng cũng
đầy tính nhân văn trong xã hội phong kiến lúc bấy giờ. Có hay chăng do chính cốt
10


cách vốn có của Bà và những cảnh đời mà Bà đã gặp qua và chứng kiến mà Bà đã

được chứng kiến, những hiểu biết về xã hội, nhân tình thế thái đã giúp Bà đồng cảm
hơn với số phận của những người phụ nữ gặp nhiều bất hạnh. Chính vì vậy, nhiều
lần được tôn xưng là phật bà quan âm vì lo cho dân no ấm. Trải qua các thời đại
những người phụ nữ Việt Nam đã có vai trò, có tiếng nói, địa vị quan trọng trong xã
hội, họ có thể làm được những việc mà đàn ông phải ngả mình, có thể làm chính trị,
đấu tranh chống giặc ngoại xâm. Tất cả họ đã để lại dấu ấn một thời, là “hạt nhân
long lanh” điển hình cho người phụ nữ Việt thời kỳ ấy.
Trải qua biết bao nhiêu thăng trầm, biến cố của lịch sử, bên cạnh những đấng
anh hào thì dân tộc Việt cũng có nhiều bậc nữ nhi mà những đóng góp của họ được
cả sử sách lẫn người đời ghi nhận, tạo nên truyền thống hào hùng, bất khuất của
người phụ nữ Việt Nam.
Như vậy, lịch sử của văn hoá dân tộc, người phụ nữ Việt đã có vai trò đặc biệt
quan trọng. Nhận thức được điều đó nên chế độ phong kiến Việt Nam qua các triều
đại đều rất quan tâm và chú ý tới địa vị, đời sống của người phụ nữ. Điển hình là bộ
luật Hồng Đức dưới thời vua Lê Thánh Tông thì vai trò của người phụ nữ lại càng
được coi trọng hơn nữa.
1.2. Thân phận người phụ nữ trong quan niệm Nho giáo
Tiếp nhận dòng chảy của văn hóa Trung Hoa, Nho giáo vào Việt Nam như
một tất yếu của lịch sử và đến thế kỷ XV nho giáo đã chính thức trở thành quốc giáo,
có ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống chính trị cũng như tư tưởng, tình cảm của mọi
tầng lớp trong xã hội. Quan niệm Nho giáo, phụ nữ được coi như một công cụ biết
nói, họ phải phục tùng những yêu cầu, điều kiện của người chồng, người cha trong
gia đình mà không có quyền lên tiếng. Người phụ nữ trong xã hội phong kiến có địa
vị thấp hèn, thân phận của họ không được gia đình và xã hội tôn trọng, bảo vệ, phải
chịu nhiều ràng buộc và những định kiến. Theo những quan niệm này hệ tư tưởng
Nho giáo xưa có sự phân biệt khá rõ ràng giữa người con trai và người con gái “Nhất
11


nam viết hữu, thập nữ viết vô”, tức là không coi con gái là thành viên trong gia đình,

trong họ mạc, họ được coi là “nữ nhi ngoại tộc”. Trong gia đình phải sinh được con
trai để nối dõi tông đường như vậy mới làm tròn trách nhiệm với tổ tiên, với dòng
họ.
Hệ tư tưởng Nho giáo có chủ trương “Nam tôn nữ ti”2. Đây là tư tưởng coi
người đàn ông quan trọng hơn người đàn bà, đã tồn tại ở rất nhiều nơi bấy lâu nay.
Học thuyết Nho giáo đã có ảnh hưởng lâu dài và rất lớn tới đời sống tinh thần của
dân Việt là bằng mọi cách phải có con trai để nối dõi tông đường, tư tưởng này cứ
truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác lâu dần ngấm vào tiềm thức của nhiều người.
Cứ như thế tư tưởng “trọng nam khinh nữ” ngày càng xuất hiện nhiều.
Quan điểm của Nho giáo chỉ ra rằng mối quan hệ nam nữ là nguyên nhân của
mọi mối quan hệ giữa người với người. Tuy Nho giáo xây dựng lên mối quan hệ hòa
hợp giữa nam và nữ, nhưng thực ra nó lại phân biệt giữa nam và nữ. Nghĩa là, bên
cạnh việc lấy chuyện hòa hợp và tôn trọng lẫn nhau giữa nam và nữa hay giữa vợ và
chồng làm danh phận, đồng thời nó cũng thể hiện sự phân biệt khá cao giữa nam và
nữ. Nam giới được coi là tôn quý trong khi đó người phụ nữ bị coi là thấp kém hơn.
Theo tư tưởng Nho giáo, nguyên lý sự hình thành và phát triển của vạn vật là phục
tùng và chi phối, người phụ nữ phải phục tùng người đàn ông, ngược lại người đàn
ông luôn chi phối phụ nữ. Điều này áp dụng trong quan hệ vợ chồng. Tư tưởng này
thể hiện khá rõ nét trong đạo Tam tòng, Tứ đức. Người phụ nữ nhất nhất phải tuân
theo đạo Tam tòng nghĩa là: “Tại gia tòng phu, xuất giá tòng phu, Phu tử tòng tử”3.
Tứ đức nghĩa là: Công, dung, ngôn, hạnh. Nó giáo dục người phụ nữ trở thành những
người mẹ người vợ đảm, biết tận tụy, vun vén chăm lo cho gia đình, cho chồng cho
con. Mục đích của Tứ đức trong quan niệm Nho giáo là tạo cho người phụ nữ có tư

2
3

Đàn ông thì cao quý, đàn bà thì thấp hèn.
Ở nhà theo cha, lấy chồng theo chồng, chồng chết theo con.


12


tưởng cam phận để giữa gìn trật tự xã hội, lấy những đức ấy là tiêu chí để đánh giá
đạo đức, phẩm hạnh của người phụ nữ.
Trong “Kinh lễ” có liệt kê ra bảy lý do cho phép người đàn ông có thể bỏ vợ
là: không có con, đâm dật, không hiếu kính cha mẹ, nhiều lời, có thói trộm cắp, hay
ghen tuông và có ác tật 4. Theo trên thì thân phận người phụ nữ phải gánh nhiều thiệt
thòi, người chồng có thể quá dễ dàng để tìm ra một trong bảy lý do trên để có thể bỏ
vợ. Không chỉ có vậy người đàn ông có quyền có “năm thê bảy thiếp” nhưng người
phụ nữ chỉ có một người chồng, chồng chết đi thì phải “thủ tiết thờ chồng”. Người
phụ nữ không được phép tự do yêu đương mà bị “cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy”, đó
là hình thức ép duyên hoặc theo kiểu gả bán, hay do cha mẹ quyết định việc đại sự .
Trong gia đình phong kiến, anh trai trưởng trong gia đình có quyền hạn rất
lớn, người phụ nữ phải có đủ “Tam tòng tứ đức”. Không chỉ có vậy quyền thừa kế
gia sản của gia đình chỉ dành cho con trai và việc truyền nghề tại một số làng nghề
thường không truyền cho con dâu hay con gái mà chỉ truyền cho con trai trong gia
đình, người con trai được học hành được thi cử rồi tiến thân bằng con đường quan
lộ để vinh danh cho gia đình, cho dòng họ thế nhưng người phụ nữ không được
những quyền hạn đó mà phải quanh quẩn với việc nhà …Từ đó tạo ra quan niệm an
phận thủ thường, sự cam chịu thụ động, lệ thuộc vào chồng từ đó làm cản trở sự phát
triển của họ. Người phụ nữ chấp nhận cuộc sống như vậy nên cuộc sống chịu nhiều
vất vả, toàn tâm toàn ý chăm lo vun vén cho gia đình, chăm sóc con cái. Sự phân
chia giữa đàn ông và đàn bà công việc trong gia đình tuyệt nhiên không có.
Chính những tư tưởng của Nho giáo đã đánh giá thấp vai trò, chưa khai thác
được khả năng và phẩm chất tốt đẹp của người phụ nữ, những quy định hà khắc của
hệ tư tưởng Nho giáo tác động sự phụ thuộc tuyệt đối giữa người phụ nữ vào người
đàn ông trong gia đình và ngoài xã hội.

4


Kinh lễ: là một quyển trong Ngũ Kinh của Khổng Tử.

13


Tiền và tài sản dù có là của hai vợ chồng làm ra hay dù có là của người chồng
hay của người vợ thì tất cả vẫn là của người chồng. Cho nên, nhìn chung trong xã
hội phong kiến người phụ nữ vẫn còn nhiều sự phân biệt khá khắt khe đối xử giữa
nam giới và nữ giới. Tuy nhiên những tư tưởng Nho giáo không chỉ có những mặt
hạn chế như vậy mà xét về mặt tích cực thì nó góp phần giáo dục lòng nhân ái, vị
tha bao dung, trọng tình nghĩa, điều này thể hiện trong các mối quan hệ xã hội, giữa
người với người, góp phần giáo dục ý thức tôn trọng kỷ cương, nề nếp gia đình và
củng cố tinh thần trách nhiệm với gia đình, làng xóm, cộng đồng. Đạo đức Nho giáo
góp phần hoàn thiện vẻ đẹp hình thức và nội dung của người phụ nữ “Công, dung,
ngôn , hạnh” để đáp ứng những nhu cầu cần thiết của xã hội .
Đến thời Lê Thánh Tông các quyền của người phụ nữ đã được đưa ra và
được coi trọng hơn trong bộ luật Hồng Đức, rõ ràng đây chính là một điểm sáng
trong tiến trình lập pháp Việt Nam thời kỳ phong kiến. Luật Hồng Đức ra đời trong
thời điểm Nho giáo đạt đến cực thịnh, mức độ ảnh hưởng của nó rộng rãi và sâu sắc.
Không áp dụng dập khuân quá mức những tư tưởng hà khắc của Nho giáo để đè
nặng lên vai những người phụ nữ mà các nhà lập pháp thời Lê đã khéo léo vận dụng
một cách chọn lọc, trao cho họ những quyền mới, những quyền tiến bộ hơn. Đặc thù
nhất được thể hiện qua hai chương “Hôn điền” và “Điền sản”của bộ luật Hồng Đức.
Thông qua hai chương này các nhà lập pháp đã coi trọng thân phận và vai trò của
người phụ nữ.

14



1.3. Bộ luật Hồng Đức được ban hành
1.3.1. Vua Lê Thánh Tông lên ngôi
“Vua Lê Thánh Tông tên thật là Lê Tư Thành

sinh ngày 20 tháng 7 năm 1442

(Nhâm Tuất), được tôn lẻn ngôi vua ngày 06 tháng 6 năm 1460 (Canh Thìn), ông
thừa kế ngai vàng lúc đất nước đang lâm vào tình thế ngàn cân treo sợi tóc”
[30;tr.5].
Theo cuốn sách “Lê Thánh Tông, vị vua anh minh nhà cách tân vĩ đại” có
viết mới được 6 tuần tuổi thì hoàng tử Lê Tư Thành phải chịu tang vì phụ hoàng bị
sát hại. Vụ trọng án hoàng đế Lê Thái Tông bị sát hại kinh động đất nước Đại Việt.
Ngoài nỗi đau mất chồng, Tiệp dư Ngô Thị Ngọc Dao còn nơm nớp lo âu khi vợ
chồng quan Hành khiển Nguyễn Trãi và Lễ nghi học sĩ Nguyễn Thị Lộ - những
người từng che chở và cứu mạng cho hai mẹ con bà bị kết án tru di tam tộc vì bị quy
tội giết vua5. Thái tử Lê Bang Cơ trở thành hoàng đế Lê Nhân Tông khi mới lên một
tuổi. Hoàng Thái hậu Nguyễn Thị Anh nhiếp chính càng khiến Ngô Thị Ngọc Dao
e sợ6. Do đó, bà đã sớm dạy hoàng tử Lê Tư Thành biết ẩn dấu đi sự thông minh của
mình, chỉ vui với sách vở cổ kim, nghĩa lý thánh hiền.
17 năm sau vụ trọng án vua Lê Thái Tông bị sát hại, đất nước Đại Việt lại
rung chuyển bởi vụ trọng án hoàng đế Lê Nhân Tông và thái hậu bị sát hại tại cung
cấm ngày 3/10/1459. Thủ phạm là Lạng Sơn vương Lê Nghi Dân lên ngôi vua7. Rồi
hơn 6 tháng sau tức tháng 5 năm 1460), hàng loạt quan đại thần đầu triều như Đỗ
Bí, Lê Ngang, Lê Thụ bị xử tử khi âm mưu binh biến bại lộ. Nhưng chưa đầy một
tháng sau, vào ngày 6/6, những đại lão thần khai quốc như Nguyễn Xí, Đinh Liệt đã
chỉ huy các đại thần Lê Lăng, Lê Niệm, Lê Nhân Thuận, Lê Nhân Khoái, Trịnh Văn
Sái, Trịnh Đạc, Nguyễn Đức Trung, Nguyễn Yên, Lê Vĩnh Trường, Lê Yên, Lê

Tiệp dư: Là một cấp bậc của phi tần trong hoàng cung.
Hoàng Thái Hậu Nguyễn Thị Anh: Mẹ vua Lê Nhân Tông.

7
Lê Nghi Dân: Con trai trưởng vua Lê Thái Tông.
5
6

15


Giải… thực hiện binh biến bắt giết hàng loạt quan thân tín của hoàng đế trước rồi ép
vua Lê Nghi Dân tự xử đã ít nhiều tác động lên tư tưởng của Lê Thánh Tông khi xây
dựng và củng cố đất nước.
Chứng kiến những sự biến kinh hoàng tại cung đình, hoàng tử Lê Tư Thành
không ngờ hai hôm sau mình đã được rước lên điện Tường Quang, vào ngai vị thiên
tử. Đại Việt sử ký toàn thư chép lại nguyên cớ hoàng tử Lê Tư Thành được chọn lên
ngôi qua lời bàn của nhóm đại thần làm binh biến: “Ngôi trời khó khăn, thần khí rất
trọng, nếu không phải là bậc đại đức, thì sao có thể kham nổi. Nay Gia Vương thiên
tư sáng suốt, hùng tài đại lược, hơn hẳn mọi người, các vương không ai so được,
lòng người đều theo, đã biết ý trời đã quyết”[37;tr.235].
Như vậy, tuổi thơ của vua Lê Thánh Tông trải qua cũng không mấy êm đềm
mà luôn gặp phải những biến cố do sự tranh chấp quyền lực trong triều đình. Cũng
chính vì từ nhỏ Lê Thánh Tông không sống trong những cung điện nguy nga tráng
lệ, được nuông chiều như những cô công chúa, hoàng tử khác mà cậu phải sống trong
chùa đây cũng là một trong những yếu tố hun đúc nên nhân phẩm sáng ngời của một
nhà vua đức độ sau này. Sống tại chùa Huy Văn mà cửa thiền từ xưa đến nay luôn
là nơi luôn hướng con người ta đến cái thiện, Lê Thánh Tông ở đây chắc hẳn cũng
đã ít nhiều thấm vào mình cái lòng bao dung, độ lượng của nhà Phật. Cũng trong
thời gian này Lê Thánh Tông sống ở chốn dân gian nên phần nào có thể hiểu được
cuộc sống của những người dân bình dị, thấm thía nỗi khổ của họ thứ mà những ông
hoàng, bà chúa đằng sau bức tường thành khó mà hiểu được. Đây là nhân tố rất lớn
ảnh hưởng đến những chính sách sau khi lên ngôi vua của Lê Thánh Tông sau này,

luôn chăm lo cho dân cho nước, chăm lo cho đời sống của mọi người dân đặc biệt là
những người phụ nữ.
Chưa kể sự đức độ, nhân từ của bà Ngô Thị Ngọc Giao – mẫu thân của vua
Lê Thánh Tông đã ảnh hưởng không nhỏ tới vị vua này. Bà còn gọi là Quang Thục
Thái Hậu là một phi tần của vua Lê Thái Tông, bà đã hết lòng cùng con – tức vua
16


Lê Thánh Tông chăm lo cho sự nghiệp đế vương. Bà là chỗ dựa tin cậy của vua Lê
Thánh Tông, tuy ở ngôi vị cao quý nhưng Bà sống không xa hoa mà luôn luôn cần
kiệm, tuy nghiêm khắc nhưng thường thương xót cho những cảnh nghèo trong xã
hội. Do vậy nhân phẩm quý giá của Bà đã này mầm bén dễ trong tâm thức của vị
vua trẻ và Bà đã nuôi dạy đức vua từ nhỏ đến lúc trở thành một vị minh quân, luôn
kề vai sát cánh cùng vua trong quá trình cai trị đất nước, giáo hóa nhân dân. Bà là
người giàu lòng nhân ái, khoan dung, đức độ cho nên khi ban hành luật pháp ông
luôn quan tâm đến địa vị và đời sống của người phụ nữ.
Truyền thống của dân tộc là một trong những tác nhân rất lớn có ảnh hưởng
tới quan điểm, thái độ và hành động của vua Lê Thánh Tông. Đó là điều không thể
phủ nhận đi, những tác nhân có ảnh hưởng trực tiếp và chi phối đến nhà vua là những
người phụ nữ thân cận ông và môi trường sống của ông. Vì vậy trong lịch sử của
dân tộc, chỉ có Lê Thánh Tông là nhà vua đã đưa ra những cách tân, đổi mới bênh
vực, bảo vệ thân phận người phụ nữ trước những hành động coi khinh người phụ nữ
của hệ tư tưởng Nho giáo. Đây là một bước tiến bộ lớn nếu chúng ta đem so sánh,
địa vị của phụ nữ Việt Nam dưới thời trị vì của nhà Nguyễn. Có thể nói Bộ luật Gia
Long đã xóa bỏ gần như tuyệt đối quyền phụ nữ đã được đề cập tới trong bộ luật
Hồng Đức.
1.3.2. Ban hành luật Hồng Đức
“Quốc triều hình luật” hay còn gọi là “Luật Hồng Đức” là một bộ luật quan
trọng và điển hình bậc nhất của Việt Nam thời kỳ phong kiến. Bộ luật Hồng Đức có
nội dung đa dạng phong phú, toàn diện trên nhiều lĩnh vực với nhiều giá trị nổi bật

và tiến bộ trong lịch sử lập pháp của Việt Nam thời kỳ này được biên soạn dưới thời
vua Lê Thánh Tông trị vì. Bộ luật Hồng Đức có nhiều điểm quan trọng và tiến bộ nó
giúp ích lớn cho việc biên soạn các bộ luật ở các triều đại sau này thậm chí là cả việc
biên soạn pháp luật hiện hành ngày nay.

17


Bộ luật Hồng Đức ra đời trong triều đại nhà Lê Sơ đây là thời kỳ mà Đại Việt
đạt đến đỉnh cao của chế độ phong kiến trung ương tập quyền dưới thời vua Lê
Thánh Tông trị vì. Sự phát triển cao độ của chế độ Trung ương tập quyền nên nhà
Lê cần xây dựng một hệ thống pháp luật chặt chẽ nhằm xác lập và củng cố sự thống
trị của nhà Lê đối với đất nước. Theo lịch sử thì các vị vua đầu triều nào cũng đều
đã sớm có ý thức xây dựng một hệ thống luật pháp để quản lý đất nước. Và đỉnh cao
nhất của các hoạt động lập pháp của nhà Lê chính là việc ban hành “Quốc triều hình
luật” dưới triều Lê Thánh Tông năm 1483. Bộ “Quốc triều hình luật” được giữ lại
cho đến ngày nay ít nhiều đã được các vua thời Lê sau này chỉnh sửa, bổ sung để
phù hợp với từng gia đoạn của đất nước, ban hành năm 1777 (Cảnh Hưng thứ 38).
Theo cuốn “Quốc triều hình luật”của Viện sử học thì Bộ Quốc triều hình luật bao
gồm 6 quyển, 722 điều chia đều thành 16 chương:
+ Quyển I có 2 chương: Danh lệ ( Tên gọi luật lệ gồm 49 điều) và Cấm vệ
(Canh giữ bảo về gồm47 điều).
+ Quyển II có 2 chương: Vi chế (Làm trái pháp luật gồm 144 điều) và Quân
chính (Gồm 43 điều).
+ Quyển III có 3 chương: Hộ hôn (Hôn nhân và gia đình gồm 58 điều), Điền
sản (Gồm 59 điều) và Thông gian (Gồm 10 điều).
+ Quyển IV có 2 chương: Đạo tặc (Trộm cướp Gồm 54 điều) và Đấu tụng
(Đánh nhau kiện cáo Gồm 50 điều).
+ Quyển V có 2 chương: Trá nguỵ (Gian dối gồm 38 điều) và Tạp luật (Gồm
92 điều).

+ Quyển VI có 2 chương: Bộ vong (Bắt tội phạm chạy trốn gồm 13 điều) và
Đoản ngục (Xử án gồm 65 điều).
Bộ luật Hồng Đức là một văn bản pháp lý được xây dựng và hoàn thiện với
một trình độ kỹ thuật lập pháp tiến bộ. Bộ luật quy định không được làm những gì
mà pháp luật không cho phép, nhất là đối với bộ máy nhà nước; ấn định các tiêu
18


chuẩn cụ thể đánh giá năng lực và trình độ của quan lại, đưa ra rất nhiều hạn chế đối
với những trường hợp lạm quyền của quan lại; tôn trọng pháp luật, đồng thời đưa ra
cách hóa giải hợp lý cho mối quan hệ giữa một bên là pháp luật với một bên là đạo
đức, phong tục tập quán của dân tộc, bảo vệ các quyền lợi của người phụ nữ và
những quyền cơ bản của con người, nhất là những người yếu thế, nghèo khổ. Bộ luật
Hồng Đức thời vua Lê Thánh Tông đóng vai trò là một công cụ vô cùng quan trọng
để quản lý đất nước, điều hành bộ máy nhà nước, giữ gìn kỷ cương phép nước, kiểm
soát quyền lực và ngăn chặn nạn tham nhũng, lạm quyền.
Tuy xuất hiện vào giữa thế kỷ XV thế nhưng Bộ luật Hồng Đức đã đạt được
nhiều những giá trị tiến bộ và thành tựu nổi bật, thậm chí có nhiều yếu tố trong bộ
luật có ý nghĩa rất lớn đối với việc hoàn chỉnh pháp luật hiện hành ngày nay. Điểm
sáng nổi bật nhất được các nhà nghiên cứu nhắc đến nhiều chính là dành những sự
quan tâm, ưu ái đến thân phận của người phụ nữ, quan tâm đến địa vị và quyền lợi
của họ, tạo cho họ sự bình đẳng tương đối giữa người chồng và vợ trong gia đình,
người đàn ông và phụ nữ ngoài xã hội. Bộ luật Hồng Đức ra đời đã phần thể hiện sự
bênh vực của nhà nước với người phụ nữ.

19


×