Tải bản đầy đủ (.pdf) (86 trang)

Sự ra đời và hoạt động của hội lưỡng xuyên phật học (1934 – 1942)

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.85 MB, 86 trang )

TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA LỊCH SỬ
--------------------

DƢƠNG THỊ HÒA

SỰ RA ĐỜI VÀ HOẠT ĐỘNG
CỦA HỘI LƢỠNG XUYÊN PHẬT HỌC
(1934 – 1942)
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Lịch sử Việt Nam

Hà Nội – 2018


TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA LỊCH SỬ
--------------------

DƢƠNG THỊ HÒA

SỰ RA ĐỜI VÀ HOẠT ĐỘNG
CỦA HỘI LƢỠNG XUYÊN PHẬT HỌC
(1934 – 1942)
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Lịch sử Việt Nam

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học

TS. NINH THỊ SINH


Hà Nội - 2018


LỜI CẢM ƠN
Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến các Thầy giáo, Cô giáo trong
Khoa Lịch sử, trường ĐHSP Hà Nội 2 đã dạy dỗ, chỉ bảo và truyền đạt kiến
thức cho em trong suốt quá trình học tập và rèn luyện tại trường cũng như
trong thời gian thực hiện khóa luận tốt nghiệp này.
Đặc biệt, em xin chân thành cảm ơn cô Ninh Thị Sinh đã tận tình
hướng dẫn, giúp đỡ em trong suốt quá trình nghiên cứu, thực hiện khóa luận
tốt nghiệp.
Cuối cùng, em xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè và những người
thân đã tạo mọi điều kiện thuận lợi để cho em hoàn thành tốt khóa luận của
mình.
Trong thời gian thực hiện khóa luận tốt nghiệp, do thời gian có hạn và
bước đầu làm quen với phương pháp nghiên cứu khoa học nên không thể
tránh khỏi những thiếu xót, em rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của
của các Thầy, Cô giáo và các bạn sinh viên.
Em xin chân thành cảm ơn!
Người thực hiện

Dƣơng Thị Hòa


LỜI CAM ĐOAN
Khóa luận tốt nghiệp “Sự ra đời và hoạt động của Hội Lưỡng Xuyên
Phật học (1934 – 1942)” được hoàn thành dưới sự hướng dẫn tận tình của cô
giáo Ninh Thị Sinh.
Em xin cam đoan khóa luận này là kết quả nghiên cứu của bản thân em,
không trùng lặp với bất kì kết quả nghiên cứu của tác giả nào khác. Những kết

quả thu được là hoàn toàn chân thực. Nếu sai em xin chịu trách nhiệm.
Người thực hiện

Dƣơng Thị Hòa


KÝ HIỆU VÀ NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT

1. HT

:

Hòa thượng

2. Nxb

:

Nhà xuất bản

3. tr

:

Trang


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .............................................................................................. ........... 1
Chương 1. BỐI CẢNH LỊCH SỬ VÀ SỰ THÀNH LẬP HỘI LƯỠNG

XUYÊN PHẬT HỌC ........................................................................................ 9
1.1. BỐI CẢNH LỊCH SỬ ................................................................................ 9
1.1.1. Khái lược về phong trào chấn hưng Phật giáo ở Việt Nam nửa đầu thế
kỉ XX ................................................................................................................. 9
1.1.1.1. Thực trạng Phật giáo Việt Nam giai đoạn thuộc Pháp ....................... 9
1.1.1.2. Ảnh hưởng của phong trào chấn hưng Phật giáo ở Châu Á ............. 12
1.1.1.3. Vận động chấn hưng Phật giáo trên báo chí quốc ngữ trong thập niên
20 của thế kỷ XX .............................................................................................. 13
1.1.1.4. Sự ra đời và hoạt động của các hội Phật giáo .................................. 15
1.1.2. Sự phân hóa của hội Nam Kỳ Nghiên cứu Phật học............................. 21
1.2. SỰ THÀNH LẬP HỘI LƯỠNG XUYÊN .............................................. 25
1.2.1. Hòa thượng Khánh Hòa và quá trình thành lập Hội Lưỡng Xuyên ...... 25
1.2.1.1. Vài nét về Hòa thượng Khánh Hòa .................................................... 25
1.2.1.2. Sự thành lập Hội Lưỡng Xuyên Phật học (1934)............................... 29
1.2.2. Một số gương mặt tiêu biểu của Hội Lưỡng Xuyên ............................. 32
Tiểu kết chương 1............................................................................................ 40
Chương 2. NHỮNG HOẠT ĐỘNG TIÊU BIỂU CỦA HỘI LƯỠNG XUYÊN
PHẬT HỌC TRONG NHỮNG NĂM 1934 – 1942 ....................................... 34
2.1. KHAI TRƯỜNG PHẬT HỌC ĐỂ ĐÀO TẠO TĂNG TÀI .................... 42
2.2. XUẤT BẢN TẠP CHÍ DUY TÂM ĐỂ TRUYỀN BÁ ĐẠO PHẬT...... 48
2.2.1. Giới thiệu tạp chí Duy Tâm .................................................................. 48
2.2.2. Một số vấn đề nổi bật trên tạp chí Duy Tâm......................................... 53
2.2.2.1. Vấn đề vũ trụ nhân sinh ..................................................................... 53


2.2.2.2. Vấn đề Phật giáo Tổng hội ................................................................ 57
2.3. QUAN HỆ CỦA HỘI LƯỠNG XUYÊN VỚI CÁC HỘI PHẬT GIÁO
KHÁC.............................................................................................................. 62
Tiểu kết chương 2............................................................................................ 64
KẾT LUẬN ..................................................................................................... 66

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ........................................................ 69
PHỤ LỤC


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Phật giáo Việt Nam nói chung và Giáo hội Phật giáo Việt Nam ngày
nay nói riêng là thành quả kết tinh của công cuộc chuyển mình lịch sử của
Phật giáo Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX. Hay nói như Nguyễn Cao Thanh
công cuộc chuyển mình này là “… đòn bẩy cho sự phát triển của Phật giáo
Việt Nam”. Công cuộc chuyển mình lịch sử thường được biết đến đó chính là
“Phong trào Chấn hưng Phật giáo đầu thế kỷ XX”, được khởi đầu bằng sự ra
đời của nhiều tổ chức Phật học riêng lẻ khắp cả ba miền đất nước. Như mọi
hiện tượng và thực thể xã hội, những tổ chức Phật học đầu thế kỷ XX đó, tuy
đều theo quy luật vô thường: khởi lên, tồn tại và rồi chấm dứt, nhưng tất thảy
đều khởi xuất từ những nhu cầu xã hội và thời cuộc nhất định và hiển nhiên
luôn mang những sứ mệnh và đóng vai trò lịch sử nhất định cho sự phát triển
của tương lai đằng sau sự hiện hữu của chúng.
Đầu thế kỷ XX, từ trong cuộc vận động chấn hưng Phật giáo, các hội
Phật giáo lần lượt ra đời trên khắp ba kỳ. Tuy mỗi hội đều đề ra phương thức
hoạt động khác nhau, nhưng cùng hướng về mục tiêu chung là cải cách từ nội
dung Phật học cho đến mô hình sinh hoạt, tu học. Mục đích là chấn chỉnh tăng
già, nâng cao trình độ Phật học cho tăng ni, phổ cập giáo lý đến các đồng bào
Phật tử các giới.
Trong số các hội Phật giáo ra đời và hoạt động tại Nam Kỳ, Hội Lưỡng
Xuyên Phật học có một vai trò quan trọng. Không chỉ thành lập ra Phật học
đường Lưỡng Xuyên vào năm 1934 để đào tạo tăng tài, hội còn xuất bản tạp
chí Duy Tâm Phật học (5/7/1935) làm cơ quan ngôn luận, với nội dung phong
phú đã thực hiện vai trò tuyên truyền và phổ biến rộng rãi đạo Phật trong dân
chúng. Từ chùa Lưỡng Xuyên, nhiều thế hệ tăng sinh đã được đào tạo trong

số đó nhiều người trở thành những danh tăng, đóng góp lợi ích rất lớn cho đạo

1


pháp và cho dân tộc. Đặc biệt vào năm 1947, Lưỡng Xuyên Phật học đường
đã mở ra một trang sử sáng đẹp, đáp lại lời kêu gọi của Tổ quốc lúc lâm nguy,
47 vị tăng sinh đang theo học tại đây đã gửi áo cà sa lại cửa chùa, lên đường
tham gia kháng chiến và nhiều người trong số họ đã anh dũng hy sinh trên các
chiến trường chống thực dân Pháp khắp Nam Kỳ để bảo vệ quê hương, đất
nước. Có thể nói, chùa Lưỡng Xuyên là một trong những trung tâm Phật giáo
lớn ở Nam Kỳ, đóng góp xứng đáng cho sự nghiệp chấn hưng Phật giáo, chấn
hưng quốc học nước nhà trong nửa đầu thế kỷ XX và là tiền đề cho Giáo hội
Phật giáo Việt Nam hình thành, phát triển sau này.
Xuất phát từ vai trò và tầm quan trọng của Hội Lưỡng Xuyên Phật học
chúng tôi chọn đề tài “Sự ra đời và hoạt động của Hội Lƣỡng Xuyên Phật
học (1934 – 1942)” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp của mình.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Hiện nay đã có khá nhiều công trình nghiên cứu về Phật giáo Việt Nam
thời kỳ chấn hưng đầu thế kỷ XX. Trước hết cần phải kể tới các tác phẩm viết
về lịch sử Phật giáo Việt Nam. Những công trình này đã đề cập ít nhiều đến
Hội Lưỡng Xuyên Phật học. Trong số đó, trước hết cần phải kể tới cuốn “Việt
Nam Phật giáo sử lược” của Thiền sư Thích Mật Thể (1943) (Nhà sách Minh
Đức, Đà Nẵng) cũng đề cập ít nhiều tới phong trào chấn hưng Phật giáo đầu
thế kỷ XX. Nội dung cuốn sách được chia làm hai phần: Tự luận và Lịch sử.
Phần Tự luận chia làm bốn chương. Trước hết là thuật qua lược sử đức Thủy
tổ Phật giáo và tình hình duyên cách Phật giáo ở Ấn Độ, rồi đến Phật giáo ở
Trung Hoa; địa thế nước Việt Nam, nguồn gốc và tinh thần người Việt Nam
v.v... Về phần Lịch sử chia làm mười chương. Bắt đầu khảo xét Phật giáo từ
khi mới du nhập, lần lượt qua các triều đại cho đến hiện đại. Để viết được

cuốn sách này thì tác giả đã sử dụng rất nhiều tư liệu quý. Về phương diện
Phật học phần nhiều căn cứ vào quyển Việt Nam Thiền Uyển Tập Anh,

2


Thống yêu kế đăng lục, Việt Nam Thuyền tôn thế hệ và quyển Le
Bouddhisme An-nam des origines au XIIIè siècle của Trần Văn Giáp. Ngoài
ra thiền sư còn tham khảo nhiều bộ sử quý như Quốc Triều tiền biên, Chánh
biên, lịch sử nhân vật chí, Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Đại
Việt ký, Đại Nam nhất thống chí, Việt Nam sử lược … Trong cuốn sách tác
giả có đề cập đến thời kỳ chấn hưng Phật giáo và được đặt trong chương cuối
cùng là chương thứ XIV. Tuy vậy nội dung về chấn hưng tác giả cũng chỉ
trình bày một cách khái quát.
Tác phẩm “Việt Nam Phật giáo sử luận”, tập 3 của Nguyễn Lang. Tác
phẩm của Nguyễn Lang có ưu thế không chỉ đề cập tới phong trào chung
trong cả nước mà còn nghiên cứu phong trào trong phạm vi từng kì. Ở Nam
Kì ông lựa chọn trình bày 3 tổ chức Phật giáo, trong đó có Hội Lưỡng Xuyên
Phật học. Tuy nhiên, Nguyễn Lang mới chỉ mô tả khái lược về Hội Lưỡng
Xuyên kể từ khi Hội thành lập đến lúc tan rã mà không đi tìm hiểu chi tiết cụ thể.
Tác phẩm “Đạo Phật trong cộng đồng người Việt ở Nam Bộ - Việt
Nam từ thế kỷ XVII đến năm 1975” của Trần Hồng Liên do Nhà xuất bản
Khoa học Xã hội xuất bản năm 1995 đã tìm hiểu tiến trình phát triển của lịch
sử Phật giáo tại vùng đất mới, vai trò của đạo Phật trong đời sống văn hóa –
xã hội của người Việt tại đây, làm rõ được tính địa phương và tính dân tộc của
Phật giáo Nam Bộ, từ đó cho thấy những đóng góp của Phật giáo Nam Bộ
trong Phật giáo Việt Nam. Không những thế, tác phẩm còn cho thấy mối quan
hệ của đạo Phật và các hình thức tín ngưỡng dân gian, cũng là góp phần tìm
hiểu đặc trưng tộc người Việt ở Nam Bộ, góp phần tìm hiểu văn hóa Nam Bộ
và lịch sử khai phá vùng đất này. Để hoàn thành được công trình này tác giả

đã dựa vào các nguồn tư liệu điều tra điền dã trong nhiều năm và nhận được
sự giúp đỡ của các nhà nghiên cứu tôn giáo, các tu sĩ và tín đồ Phật giáo, các
cán bộ Dân tộc học, Khảo cổ học, Sử học. Tác giả cũng đã đề cập đến các hội

3


Phật giáo trong thời kỳ chấn hưng như Nam Kỳ Nghiên cứu Phật học Hội,
Hội Lưỡng Xuyên Phật học, Hội Phật học Kiêm Tế và rất nhiều các tổ chức
hội khác. Đối với Hội Lưỡng Xuyên Phật học tác giả chỉ đề cập đến một số
vấn đề như sự đời của hội và tạp chí Duy Tâm Phật học. Tuy nhiên tác giả đề
cập một cách rất khái lược. Tác giả đã viết về Hội Lưỡng Xuyên trong khoảng
gần 3 trang giấy.
Tác phẩm “Tiểu sử Danh Tăng Việt Nam”, 2 tập do Thích Đồng Bổn
chủ biên cung cấp nhiều thông tin về các vị Danh Tăng trong giai đoạn chấn
hưng. Đối với mỗi vị danh tăng tác giả đều đề cập đến: pháp danh, tục tính,
nơi sinh, hành trạng sự nghiệp tu hành, nơi tham học, hoằng đạo và nơi chùa
trụ trì, ngày tháng năm thị tịch, tuổi thọ, hạ lạp, tháp hiệu, và trình bày tổng
quát về sự nghiệp hoằng đạo, truyền đạo. Trong số 100 vị danh tăng được tìm
hiểu, tác phẩm cung cấp thông tin về nhiều vị Danh Tăng gắn liền với quá
trình ra đời và hoạt động của Hội Lưỡng Xuyên như Hòa thượng (HT) Khánh
Hòa, HT. Huệ Quang, HT. Khánh Anh, HT. Pháp Hải.
Nguyễn Đại Đồng từng công bố các bài giới thiệu về tạp chí Viên Âm,
tạp chí Đuốc Tuệ, tạp chí Duy Tâm Phật học trên tạp chí Nghiên cứu Phật học
(2009). Cả ba bài viết này đã trình bày tổng quát về diện mạo, nội dung của
các tạp chí Phật giáo này.
Tác phẩm “Phật giáo Việt Nam từ khởi nguyên đến 1981” của Bồ Đề
Tân Thanh – Nguyễn Đại Đồng (Nxb Văn học, 2012) trình bày về Phật giáo
từ khởi nguyên đến năm 1981 là thời điểm thành lập Giáo hội Phật giáo Việt
Nam, được chia làm 12 chương ứng với các giai đoạn lịch sử phát triển của

dân tộc. Sách được viết dựa trên tư liệu lịch sử của Việt Nam qua các thời kỳ
và tư liệu lịch sử Phật giáo Việt Nam như cuốn Lược sử Phật giáo Việt Nam.
Bên cạnh đó, một số bài viết trong sách được dịch từ tạp chí Hải Triều Âm
của Hội Phật học Trung Quốc và một phần lấy từ các tạp chí Duy Tâm, Đuốc

4


Tuệ, Viên Âm. Cuốn sách có đề cập Hội Lưỡng Xuyên Phật học nhưng rất
khái lược. Trong mục viết về sự ra đời của các tổ chức Phật giáo, tác giả chỉ
nhắc đến sự ra đời của hội sau khi Hội Nam Kỳ Nghiên cứu Phật học tan rã
với mục đích đào tạo tăng tài và hoằng dương chính pháp, cùng với đó là xuất
bản tạp chí Duy Tâm.
Bên cạnh các tác phẩm nghiên cứu Phật giáo nói trên, cần phải kể tới
các bài viết trên các tạp chí nghiên cứu chuyên ngành, kỷ yếu hội thảo khoa
học cũng như các website của đạo Phật. Đầu tiên phải kể đến bài viết “Báo
xuân Phật giáo xưa” của Nguyễn Ngọc Phan (2012) đăng trên wesibe
phattuvietnam.net. Bài viết đã trình bày những giai phẩm xuân mà báo chí
Phật giáo giai đoạn đầu thế kỷ XX từng thể hiện, như Duy Tâm Phật học,
Đuốc Tuệ, Từ Bi Âm, Bát Nhã Âm,… Tác giả cho rằng báo chí Phật giáo trong
sự nghiệp xiển dương Phật pháp và chấn hưng Phật giáo luôn gắn liền với
nhân sinh thời cuộc, bộc lộ những ưu tư trăn trở trước hoàn cảnh mất nước và
sự cùng khổ của đồng bào.
Tác phẩm “Phật giáo Việt Nam thế kỷ XX nhân vật và sự kiện” của Lê
Tâm Đắc và Nguyễn Đại Đồng, do Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia xuất bản
năm 2013. Thông qua việc phân tích những nhân vật và sự kiện tiêu biểu,
cuốn sách đã khái lược nên diễn trình phát triển cũng như những đóng góp
của Phật giáo Việt Nam trong lịch sử dân tộc thế kỷ XX. Tác giả viết sách chủ
yếu dựa vào nguồn tài liệu báo chí và đặc biệt là Khai hóa nhật báo. Cuốn
sách là tài liệu tham khảo hữu ích đối với những nhà nghiên cứu, sinh viên và

đông đảo bạn đọc quan tâm tìm hiểu về văn hóa Việt Nam nói chung và Phật
giáo nói riêng.
Gần đây, luận án “Văn học và Phật học trên báo chí Phật giáo Việt
Nam trước 1945” của Nguyễn Thị Thảo (Trường Đại học Khoa học xã hội và
Nhân Văn, Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh, 2013) đã tìm hiểu 2 khía cạnh

5


Văn học và Phật học trên báo chí Phật giáo trước năm 1945. Nguồn tư liệu mà
tác giả sử dụng để thực hiện đề tài chủ yếu lấy từ các tạp chí của các hội Phật
giáo đầu thế kỷ XX và từ các tư liệu lịch sử Phật giáo Việt Nam. Trong đó tác
giả đã khai thác được nhiều bài viết trên các tạp chí như Từ Bi Âm của Hội
Nam Kỳ Nghiên cứu Phật Học, Tiến Hóa của Hội Phật học Kiêm Tế, Duy
Tâm Phật học của Hội Lưỡng Xuyên, Viên Âm của Hội An Nam Phật học ở
Trung Kỳ, Đuốc Tuệ và Tiếng Chuông Sớm ở Bắc Kỳ… và rất nhiều các tạp
chí Phật giáo khác. Mặc dù có đề cấp đến Hội Lưỡng Xuyên và tạp chí Duy
Tâm của hội nhưng tác giả không đi sâu nghiên cứu mà chỉ khai thác ở khía
cạnh nhỏ để phục vụ đề tài của mình.
Kỷ yếu Hội thảo “Hòa thượng Khánh Hòa với phong trào chấn hưng
Phật giáo ở Việt Nam và truyền thống Bến Tre” (tháng 10/2017) và kỷ yếu
hội thảo “Hòa thượng Khánh Hòa và phong trào chấn hưng Phật giáo ở Việt
Nam” (Viện hàn Lâm Khoa học xã hội Việt Nam phối hợp với Viện nghiên
cứu Phật học Việt Nam, tháng 5/2017) tập hợp các bài viết, đánh giá một cách
khoa học và khách quan về công lao của HT. Khánh Hòa đối với phong trào
chấn hưng Phật giáo. Trong đó có rất nhiều bài viết về Hội Lưỡng Xuyên Phật
học về các khía cạnh như vai trò của HT. Khánh Hòa đối với sự thành lập của
hội hay viết về nội dung của tạp chí Duy Tâm. Tuy nhiên, chưa có một bài
viết nào hoàn chỉnh về Hội Lưỡng Xuyên từ khi ra đời, hoạt động và những
đóng góp của hội đối với Phật giáo thế kỷ XX.

Mặc dù đã có nhiều công trình đề cập đến Hội Lưỡng Xuyên Phật học,
tuy nhiên, chưa có một công trình nào đi sâu nghiên cứu về Hội Lưỡng
Xuyên. Vì vậy việc nghiên cứu Hội lưỡng Xuyên mới chỉ dừng lại ở mức khái
lược đại cương, cơ bản, chưa trình bày được một cách có hệ thống lo-gic,
khoa học.

6


3. Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu
Mục đích
Khóa luận trình bày được quá trình ra đời và những hoạt động tiêu biểu
của Hội Lưỡng Xuyên Phật học từ năm 1934 đến năm 1942.
Nhiệm vụ
Để thực hiện mục đích trên, khóa luận có nhiệm vụ:
Thứ nhất: Trình bày được bối cảnh lịch sử và sự thành lập hội Lưỡng
Xuyên Phật học.
Thứ hai: Tìm hiểu về những hoạt động tiêu biểu của Hội Lưỡng Xuyên
Phật học trong những năm 1934 – 1942.
Phạm vi nghiên cứu
Về thời gian: Khóa luận tập trung chủ yếu tìm hiểu sự ra đời và hoạt
động của Hội Lưỡng Xuyên Phật học kể từ khi hội thành lập cho đến hội tan
rã (1934-1942)
Về không gian: Đề tài nghiên cứu trong phạm vi các tỉnh Nam Kỳ thời
Pháp thuộc
4. Nguồn tƣ liệu và phƣơng pháp nghiên cứu
Đề tài được thực hiện dựa trên các nguồn tư liệu chính sau:
Thứ nhất, bộ sưu tập tạp chí Duy Tâm. Tạp chí Duy Tâm là cơ quan
ngôn luận của hội xuất bản được 52 số, số đầu tiên ra ngày 1/10/1935 dày 53
trang. Đây là nguồn tư liệu vô cùng quý giá giúp chúng tôi có thể khai thác

những vấn đề liên quan đến đề tài mà mình đang nghiên cứu.
Thứ hai là các sách, các bài báo trên các tạp chí chuyên ngành,…
Về phương pháp nghiên cứu: trên cơ sở thế giới quan và phương pháp
luận của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, người viết sử dụng
kết hợp phương pháp lịch sử và phương pháp logic để thực hiện đề tài. Ngoài

7


ra chúng tôi còn sử dụng một số phương pháp khác như phương pháp phân
tích, tổng hợp và so sánh.
5. Đóng góp của khóa luận
Nghiên cứu vấn đề này có đóng góp quan trọng về mặt khoa học cũng
như có giá trị thực tiễn cao. Về mặt khoa học, việc thực hiện đề tài sẽ góp
phần làm sâu sắc và phong phú về phong trào chấn hưng Phật giáo ở Việt
Nam, thông qua việc khôi phục sự ra đời và hoạt động của Hội Lưỡng
Xuyên.Về mặt thực tiễn, khóa luận có những đóng góp về mặt tư liệu cho
những ai quan tâm đến các Hội Phật giáo trong phong trào chấn hưng giai
đoạn nửa đầu thế kỷ XX. Đặc biệt là Hội Lưỡng Xuyên Phật học (1934 –
1942).
6. Bố cục khóa luận
Ngoài phần mở đầu và kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục,
khóa luận gồm hai chương:
Chương 1: Bối cảnh lịch sử và sự thành lập Hội Lưỡng Xuyên Phật học
Chương 2: Những hoạt động tiêu biểu của Hội Lưỡng Xuyên Phật học
trong những năm 1934 – 1942

8



Chƣơng 1
BỐI CẢNH LỊCH SỬ VÀ SỰ THÀNH LẬP HỘI
LƢỠNG XUYÊN PHẬT HỌC
1.1. BỐI CẢNH LỊCH SỬ
1.1.1. Khái lƣợc về phong trào chấn hƣng Phật giáo ở Việt Nam nửa đầu
thế kỉ XX
1.1.1.1. Thực trạng Phật giáo Việt Nam giai đoạn thuộc Pháp
Nhà Nguyễn (1802 – 1945), triều đại phong kiến cuối cùng của chế độ
phong kiến Việt Nam dựa vào Nho giáo để xây dựng nhà nước tập quyền,
chuyên chế. Thời kỳ này Nho giáo giữ vị trí độc tôn, và thậm chí có lúc Nho
giáo đả kích cả Phật giáo. Gia Long là người sáng lập ra triều Nguyễn lại dựa
vào, đúng hơn là mang ơn những người theo đạo Công giáo. Vua Gia Long
còn cấm cả việc xây chùa mới, cấm tô tượng, đúc chuông, mở đàn chay,…
Đến đời vua Tự Đức, ông không chỉ cấm việc xây chùa, đúc chuông, tô tượng
mà còn bắt tách hoạt động của nhà chùa ra khỏi hoạt động của triều đình. Có
lẽ vì vậy, mà Phật giáo từ nhà Nguyễn trở đi Phật giáo trở nên suy vi.
Đầu thế kỷ XX, sau khi bình định được Việt Nam, Pháp thực hiện
chính sách nâng đỡ, tạo điều kiện cho đạo Công giáo phát triển. Chính quyền
Pháp vì muốn loại trừ ảnh hưởng của Phật giáo và Nho giáo, nên đã quyết tâm
loại bỏ chữ Hán mà thay bằng chữ Pháp.
Lúc bấy giờ, kinh sách Phật toàn là chữ Hán, do vậy dân chúng học
tiếng Pháp hoặc ít học không đọc được kinh điển. Từ đó, tín đồ không thấu
hiểu giáo lý của Phật và đây là tiền đề khiến người dân cách xa dần đạo Phật,
khiến đạo Phật ngày càng suy vi. Đạo Phật đã suy đến mức toàn quốc không
còn một ngôi trường Phật học nào cho người dân đến tham học.
Thực dân Pháp đã cố tình loại trừ dần văn hóa dân tộc và thay vào đó là
văn hóa của phương Tây. Các khái niệm yêu nước, trung quân, đạo đức tôn

9



giáo, phong tục tập quán, tín ngưỡng… đều bị phê phán là lạc hậu, lỗi thời.
Nói cách khác, đạo Phật thời kỳ này ngẫu nhiên trở thành một tôn giáo tiêu
cực, mê tín dị đoan. Người dân tôn kính Đức Phật như một bậc Thượng đế
toàn năng có quyền ban phước giáng họa.
Cụ thể chính sách đàn áp của chính quyền thực dân là kiểm tra đời sống
sinh hoạt của tăng chúng trong chùa. Những chùa nào muốn xây dựng, sửa
chữa thì phải xin giấy phép và được chính quyền cấp giấy phép mới được xây
cất. Chúng còn hạn chế nhà chùa, không cho gây dựng hay mua bán đất đai,
thậm chí còn không được phép nhận của cải của thập phương hỷ cúng. Ngược
lại, chúng dùng chính sách hủ hóa dân tộc ta bằng cách cho phép tự do hoạt
động mê tín dị đoan, nhưng hạn chế con đường giáo dục văn hóa truyền thống
của dân tộc. Mục đích của chúng là làm cho dân ta ngu dốt để dễ bề sai khiến,
không muốn cho dân tộc ta trở nên lớn mạnh và đạo Phật từ đó cũng bị đồng
hóa với những tà thuyết ngoại đạo. Ngoài ra, một số ngôi chùa lớn đã bị chính
quyền Pháp phá hủy.
Vào những năm đầu thế kỷ XX, một thực trạng đau lòng khiến các vị
chức sắc Phật giáo, các cao tăng, những người có tâm huyết với đạo phải chú
ý: đạo Phật ngày càng mất uy tín với quốc dân, quần chúng quay lưng với
Phật giáo ngày càng đông.
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến hiện trạng này. Trong đó, nguyên nhân
chủ yếu là đa số tăng đồ ngày càng lơ là việc học, chỉ chuyên ứng phó, hành
trì tín ngưỡng Phật giáo dân gian, chuyên làm những việc của thầy cúng, dẫn
đến thực trạng “dốt và hư” không chuyên tu hành, chỉ tham lợi dưỡng. Điều
này đã bị báo chí thời đó phê phán rất gay gắt. Cư sĩ Khánh Vân đã trực tiếp
lên án tình trạng này trên tạp chí Duy Tâm số 18 năm 1936: “Có kẻ mượn
Phật làm danh, cũng ngày đêm hai buổi công phu, thọ trì, nhập sóc vọng,
cũng sám hối như ai, nhưng lại luyện bùa học ngải, luyện roi thần, khi lên

10



ông, lúc gặp bà, gọi là cứu nhân độ thế, nhưng thực ra lợi dụng lòng mê muội
của thiện nam, tín nữ, rộng túi tham vơ vét cho sạch sành sanh” [12, tr.17].
Cư sĩ Thanh Quang cũng nói về tình trạng này trên báo Đuốc Tuệ bằng
những lời lẽ gay gắt: “Đau đớn thay xứ ta, những hạng xuất gia vào chùa
phần nhiều chỉ học đặng vài bộ kinh, lo luyện hơi cho hay, tập nhịp tán cho
già, nay lãnh đám này, mai lãnh đám kia; cũng tràng hạt, cũng cà sa, thử lật
mặt trái của họ ra mà xem thì có khác nào người trần tục” [12, tr.17].
Trong khi Phật giáo suy vi, nhiều tôn giáo mới ra đời hoặc đi ra từ Phật
giáo, từ tín ngưỡng dân gian, hoặc đi ra từ “Tam giáo” (Phật – Lão – Nho),
trong đó có đạo Cao Đài do các ông Ngô Minh Chiêu (1878-1930), Lê Văn
Trung (187 – 1934), Phạm Công Tắc (1893 – 1946)… thành lập năm 1926,
Phật giáo Hòa Hảo do ông Huỳnh Phú Sổ (1920 – 1946) thành lập năm 1939.
Sự phát triển của các tôn giáo đương thời đã tạo ra sức cạnh tranh mạnh mẽ
đối với Phật giáo. Đó cũng là động lực để thúc đẩy chấn hưng Phật giáo.
Tình hình như nói trên đã tác động mạnh đến giới Phật giáo. Nhiều
chức sắc, trí thức tâm đạo lo ngại sự sa sút sẽ ảnh hưởng đến tiền đồ, vai trò
của Phật giáo – một tôn giáo có cả ngàn năm lịch sử gắn với dân tộc. Vì vậy
cần phải chấn hưng đạo Phật bởi ngay cả trong thời Phật còn tại thế, tinh thần
chấn hưng Phật giáo có thể được hiểu rõ trong đoạn văn sau mà chúng ta có
thể tìm thấy rải rác nhiều nơi trong kinh tạng Nikaya (hay A-hàm). Đức Phật
dạy: “Hãy dựng đứng lại những gì bị quăng ngả xuống, hãy đem đèn sáng
vào nơi bóng tối cho những ai có mắt có thể thấy. Cũng vậy, giáo pháp đã
được đức Thế Tôn khéo thuyết giảng sơ thiện, trung thiện và hậu thiện” [15,
tr.46]. Như vậy, muốn đi theo đường lối của đức Phật trong việc xiển dương
giáo lý đạo Phật đến với đại đa số quần chúng nhân dân, thì việc trước tiên
cần phải có đường hướng rõ ràng, kế hoạch bài bản, lâu dài thì mới mong
dựng lại những gì đã bị lãng quên hay lụi tàn trước đó.


11


1.1.1.2. Ảnh hưởng của phong trào chấn hưng Phật giáo ở Châu Á
Ngoài nguyên nhân nội tại trong giới Phật giáo, cùng với đó là những
nguyên nhân về chính trị - xã hội và tôn giáo trong nước thì phong trào chấn
hưng Phật giáo ở Việt Nam cũng bị tác động và ảnh hưởng từ phong trào chấn
hưng của Phật giáo quốc tế và đặc biệt là ở Châu Á.
Ở Châu Á, phong trào chấn hưng Phật giáo diễn ra tại nhiều nước như
Tích Lan, Ấn Độ, Trung Quốc,… nhằm khôi phục lại những giá trị của đạo
Phật, chấn hưng Phật học. Bắt đầu từ cư sĩ David Hewavitarane người Tích
Lan và sau này xuất gia thành đại đức Dharmapala.
Để đẩy mạnh việc chấn hưng Phật giáo, Dharmapala đã thành lập Hội
Đại Bồ đề Ấn Độ và xuất bản tạp chí Bồ Đề, bên cạnh đó Ngài còn thành lập
các trung tâm Phật học và tu viện Phật giáo. Ngài thường hun đúc tinh thần
chấn hưng Phật giáo của tín đồ Phật giáo Ấn Độ bằng những lời kêu gọi trong
mỗi lần thuyết pháp ở Ấn Độ: “Phật giáo ở Ấn Độ đã bị truy phóng một thời
gian dài 800 năm. Ngày nay, họ đã và đang quay trở về Tổ quốc. Tất cả chúng
ta hãy thức tỉnh siêu vượt chế độ, giai cấp và tín điều, với mục đích duy nhất
của Hội Đại Bồ đề là đem giáo lý của Đấng Phật đà tặng mọi người dân Ấn
Độ” [12, tr. 16].
Năm 1908, đại đức Dharmapala đã viết thư liên lạc với cư sĩ Dương
Nhân Sơn ở Trung Quốc để mời cộng tác và từ đó phong trào chấn hưng Phật
giáo đã nhanh chóng lan rộng.
Tại Trung Quốc, cư sĩ Dương Nhân Sơn đã đứng lên thiết lập Kỳ Hoàn
Tịnh xá, triệu tập những học giả nghiên cứu Phật học bằng những Hán Văn,
Anh văn và Pali. Năm 1912, HT. Thái Hư lập Phật học viện Vũ Xương và
xuất bản tạp chí Giác Xã năm 1918, sau đó đổi tên thành tạp chí Hải Triều
Âm,làm tiền đề cho nhiều Phật học viện ra đời. Các hiệp hội Phật giáo như
Phật giáo Hơp Tiến, Phật giáo Tổng hội, Phật giáo Liên hiệp,… liên tiếp ra

đời khắp mọi nơi.

12


Những hoạt động tích cực để chấn hưng Phật giáo tại các nước Tích
Lan, Ấn Độ, Trung Quốc đã tác động đến các nước trong khu vực như Nhật
Bản, Hàn Quốc, Thái Lan, trong đó có Việt Nam. Riêng nói đến phong trào
chấn hưng Phật giáo ở Việt Nam chịu ảnh hưởng trực tiếp và mạnh mẽ từ
phong trào chấn hưng Phật giáo ở Trung Quốc đặc biệt là những tư tưởng cải
cách Phật giáo của HT. Thái Hư.
Trong Báo Hải Triều Âm phổ biến tư duy mới của các nhà sư. Thái Hư
Đại sư – lãnh tụ Phật giáo Trung Hoa nêu khẩu hiệu: “Cách mạng giáo lý,
cách mạng giáo chế, cách mạng giáo sản” [3, tr.206]. Công cuộc chấn hưng
Phật giáo ở Trung Quốc đã đem lại sự phấn khởi nhất định đối với Phật giáo
Việt Nam và nói theo Giáo sư Trần Văn Giàu thì: Việc vận động chấn hưng
Phật giáo ở Việt Nam không phải là tiếng dội của vận động chấn hưng Phật
giáo ở Trung Quốc nhưng hoạt động chấn hưng Phật giáo ở Trung Quốc có
khuyến khích hoạt động chấn hưng Phật giáo Việt Nam [5, tr.18-21].
Do những nguyên nhân trên, Phật giáo Việt Nam buộc phải tự xét, rồi
nhất trí và quyết tâm đẩy nhanh phong trào chấn hưng từ những năm 1920 trở
đi, vì thế mà giới tăng sĩ và trí thức trong nước mới có cơ hội đứng hô hào,
phát động phong trào chấn hưng đạo Phật. Trước hết là vận động chấn hưng
trên báo chí quốc ngữ, và cũng từ đó báo chí Phật giáo mới có cơ hội ra đời và
được phổ biến rộng rãi khắp nơi. Cùng với đó là các tổ chức Phật giáo ra đời
trên cả ba miền của đất nước và có những đóng góp quan trọng cho công cuộc
chấn hưng đạo Phật đầu thế kỷ XX này.
1.1.1.3. Vận động chấn hưng Phật giáo trên báo chí quốc ngữ trong
thập niên 20 của thế kỷ XX
Trong tờ Đông Pháp thời báo xuất bản ở Sài Gòn, từ số 59 ra thứ sáu

ngày 5/10/1923 đến số 62 ra ngày 12/10/1923 đăng chuyên đề “Lược khảo
cách tu trong Phật giáo” có nội dung tiến bộ của Viên Hoành.Từ tháng 1 năm

13


1924, Đông Pháp thời báo đăng tiếp loạt bài Phật giáo lược khảo. Số 100 ra
ngày 22/1/1924 đăng bài Ảnh hưởng của bài “Phật giáo lược khảo và Phật
giáo tổng quan” [3, tr.207].
Trước tình hình đó, nhiều tăng sĩ cùng nhân sĩ trí thức yêu nước, mến
đạo, như sư Tâm Lai hay sư Thiện Chiếu là những nhân vật tiêu biểu kêu gọi
và vận động chấn hưng Phật giáo để khôi phục lại truyền thống tín ngưỡng,
đạo lý, phong tục và truyền thống của dân tộc.
Khác với Nguyễn Mục Tiên chỉ kêu gọi chấn hưng Phật giáo chung
chung mà không đề ra nội dung chấn hưng cụ thể, trên tờ Đông Pháp thời
báo, số 533, ngày 14/1/1927 Giáo thọ Thiện Chiếu đã ở chùa Linh Sơn (Sài
Gòn), một người có trình độ cả về Phật học lẫn tiếng Hán, tiếng Pháp đã viết
bài “Chấn hưng Phật giáo ở nước nhà”. Sau khi giới thiệu lược sử Phật giáo
Việt Nam trước đây, nhà sư trẻ đã nêu ra những nguyên nhân cơ bản làm cho
Phật giáo nước nhà suy vi.
Hưởng ứng lời kêu gọi của Nguyễn Mục Tiên, sư Thiện Chiếu đã đề
xuất chấn hưng Phật giáo theo ba cách sau: Lập Phật học báo quán để truyền
bá Phật lý, khi Phật lý được vãn hồi sẽ xóa bỏ những điều mê tín; lập Phật gia
công học hội để đào tạo ra những bậc hoằng pháp mô phạm để truyền giáo về
sau; dịch kinh Phật ra chữ quốc ngữ để cho Phật giáo nước ta sau này khỏi sợ
thất truyền. Từ đó, ông đề nghị: “Xin các ngài trí thức nước ta ai có lòng
muốn chấn hưng Phật giáo nước nhà – đứng ra tổ chức một cái Hội “Chấn
hưng Phật học” liên hiệp những người nào trong tăng đồ đã biết nghĩa vụ và
trách nhiệm của mình thi hành ba cách trên” [2, tr.14-15].
Ở Bắc Kỳ, Tỳ kheo Tự Lai (Tâm Lai), trụ trì chùa Tiên Lữ (chùa

Hang), làng An Thái, đồn điền Đồng Bẩm, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên
là một nhân vật tiêu biểu trong công cuộc vận động chấn hưng đạo Phật.
Trong một lần về Hải Phòng được đọc bài báo “Nên chấn hưng Phật giáo ở

14


nước nhà” trên Đông Pháp thời báo của Giáo thọ Thiện Chiếu đã viết bài kêu
gọi chấn hưng Phật giáo
Trong số 1650, của tờ Khai hóa nhật báo ra ngày 28/1/1927, trong bài
viết “Lại bàn việc chấn hưng Phật giáo”, sư Tâm Lai cho rằng “Chấn hưng
Phật giáo thì một ý có cái thủ tục thì hơi khác” và đưa ra chương trình bảy
điểm gồm:
1. Lập giảng đàn trong các chùa để giảng kinh sách Phật giáo cho
các nhà thiện tín;
2. Mượn các văn sĩ thông Hán học dịch kinh sách Phật giáo bằng
chữ Hán ra quốc văn;
3. Mượn các nhà Pháp học dịch các kinh sách Phật giáo bằng chữ
Pháp ra quốc ngữ;
4. Lập ra trong mỗi chùa một thư viện;
5. Lập ra bên cạnh mỗi chùa một nhà nuôi kẻ khó;
6. Lập ra bên cạnh mỗi chùa một nhà nuôi người tàn tật và nhà
thuốc cho kẻ đau ốm;
7. Lập ra bên cạnh mỗi chùa một nhà nuôi trẻ mồ côi [2, tr.16].
Bên cạnh đó, sư Tâm Lai cũng đề nghị với sư Thiện Chiếu nếu định
thực hành thì hãy liên lạc với Ngài để kêu gọi tất cả các sơn môn trong cả
nước để đồng tâm hiệp lực mà làm công việc đã định.
1.1.1.4. Sự ra đời và hoạt động của các hội Phật giáo
a. Sự ra đời và hoạt động của các hội Phật giáo Nam Kỳ
Từ năm 1920, mặc dù trong cả nước, tình hình Phật giáo không có gì

tiến triển nhưng tại Nam Kỳ, rải rác ở khắp nơi, nhiều vị có tâm huyết vẫn
duy trì các đạo tràng tu học Phật pháp và thuyết giảng tại các chùa lớn, như
HT.Thích Từ Phong giảng dạy Phật pháp cho tăng sĩ tại chùa Giác Hải. Hòa
thượng còn tổ chức khắc bản in kinh và khuyến khích việc phiên dịch kinh

15


Phật ra chữ Quốc ngữ. Từ năm 1922, Hòa thượng đã cho xuất bản bộ Quy
Nguyên Trực Chỉ do chính mình phiên dịch ra Quốc ngữ. HT. Khánh Hòa
thuyết giảng Phật pháp cho chư tăng tại chùa Tiên Linh. HT. Huệ Quang
giảng dạy Phật pháp tại chùa Long Hòa; HT. Khánh Anh giảng tại chùa Long
An. Cả hai đạo tràng đều có từ bốn mươi đến một trăm học tăng tham học.
Ngoài ra còn có HT. Tâm Thông chùa Trường Thọ (Gò Vấp - Gia Định), HT.
Hoằng Nghĩa chùa Giác Viên (Chợ Lớn)… cũng thể hiện nhiệt huyết truyền
bá Phật pháp ngay tại trú xứ của chính các vị đó.
Năm 1923, trong một buổi họp của đại diện các tổ đình tại chùa Long
Hòa, Trà Vinh, HT. Khánh Hòa đã khởi xướng thành lập tổ chức Lục Hòa
Liên hiệp nhằm mục đích tạo điều kiện cho các vị có tâm huyết, lo lắng về sự
suy đồi của Phật giáo Việt Nam có cơ hội gặp gỡ nhau để bàn bạc việc chấn
hưng Phật giáo: chỉnh đốn tăng già, kiến lập Phật học đường, diễn dịch và
xuất bản kinh sách Việt ngữ. Các vị tổ sư tiền bối của phong trào này là HT.
Huệ Quang, Khánh Hòa và Khánh Anh.
Năm 1926, sau khi nghe cư sĩ Huỳnh Thái Cửu trình bày lời thỉnh cầu,
đề nghị thành lập Hội Phật giáo để khởi xướng phong trào nghiên cứu giáo lý,
chấn chỉnh Tăng già, HT. Khánh Hòa đã đem chuyện này bàn với HT. Huệ
Quang, chủ trì chùa Long Hòa, Trà Vinh, đồng thời còn đề xuất chương trình
chấn hưng gồm 4 điểm: Lập hội Phật giáo; Thỉnh ba tạng kinh điển dịch ra
chữ Quốc ngữ; Lập trường Phật học để đào tạo tăng tài; Xuất bản tạp chí phổ
biến giáo lý, kêu gọi tăng đồ thức tỉnh, chấn hưng quy củ thiền môn.

Tuy nhiên, khi bắt tay vào thực hiện thì không đủ kinh phí và còn nhiều
vấn đề phức tạp xảy ra, nên HT. Khánh Hòa cũng chưa thể thực hiện mong
ước của mình.
Năm 1928, sau mùa an cư tại Quy Nhơn, HT. Khánh Hòa trở về Nam
đề nghị khởi xướng phong trào chấn hưng Phật giáo ở Nam Kỳ và được sự

16


ủng hộ của HT. Huệ Quang và HT. Khánh Anh. Học hỏi kinh nghiệm từ tình
hình Phật giáo thế giới, chư vị Hòa thượng đã đồng tâm hiệp lực, nhất trí khởi
xướng phong trào chấn hưng Phật giáo Nam Kỳ, để từ đó tạo tiền đề chấn
hưng Phật giáo, Chấn hưng Quốc học Việt Nam. HT. Khánh Hòa đã cùng ba
vị tăng sĩ Từ Nhẫn, Chơn Huệ và Thiện Niệm lo tổ chức việc xây dựng Thích
học đường và Phật học Thư xã tại chùa Linh Sơn, Sài Gòn.
Năm 1929, HT. Khánh Hòa cho ấn hành tạp chí Pháp Âm, đó là tờ báo
Phật giáo đầu tiên bằng Quốc ngữ tại Việt Nam.
Năm 1931, tại Sài Gòn, Hội Nam Kỳ Nghiên cứu Phật học được thành
lập, trụ sở đặt tại chùa Linh Sơn, Hội trưởng là HT. Từ Phong. Hội xuất bản
tạp chí Từ Bi Âm do HT. Khánh Hòa làm chủ nhiệm. Tuy nhiên, sau một thời
gian hoạt động vì sự bất hòa trong nội bộ nên hoạt động của hội bị ngưng trệ.
Từ đó phát sinh ra hai hội Phật giáo khác nhau, một là Hội Lưỡng Xuyên Phật
học tại Trà Vinh do HT. Khánh Hòa và Huệ Quang lãnh đạo và một hội lấy
tên là Phật học Kiêm Tế ở Rạch Giá, do HT. Trí Thiền sáng lập, với sự cộng
tác của sư Thiện Chiếu.
Có thể kể thêm nhiều hội khác như: Hội Phật giáo Liên hữu do sư chủ
trì chùa Bình An, tỉnh Long Xuyên thành lập (1932); Hội Phật giáo Tương Tế
do HT. Lê Phước Chí thành lập ở Sóc Trăng (1934), trụ sở đặt tại chùa Thiên
Phước và đến năm 1936 xuất bản tạp chí Bồ Đề; Hội Thiên Thai Thiền giáo
tông liên hữu ở Bà Rịa Vũng Tàu và xuất bản tạp chí Bát Nhã Âm… Những

hội này tuy không hoạt động sôi nổi nhưng cũng đã tạo được tiếng vang cho
phong trào chấn hưng Phật giáo lúc bấy giờ.
b. Sự ra đời và hoạt động của các hội Phật giáo Trung Kỳ
Vào khoảng năm 1920, cũng như Nam Kỳ, các chùa ở Trung Kỳ đã có
những Hòa thượng tâm huyết vẫn duy trì các đạo tràng tu học Phật pháp rất
mạnh mẽ, như HT. Tuệ Pháp là người uyên thâm giáo điển, thường giảng dạy

17


kinh luân tại chùa Thiên Hưng (Bình Định). Ngoài ra còn có HT. Thanh Thái
chủ trì và hướng dẫn đạo tràng tại chùa Từ Hiếu (Huế); HT. Đắc Ân tại chùa
Quốc Ân (Huế); HT. Tâm Tịnh tại chùa Tây Thiên (Huế); HT. Phước Huệ tại
chùa Thập Tháp (Bình Định)…
Từ Nam Kỳ, phong trào chấn hưng Phật giáo đã lan đến Trung Kỳ và
có thể nói, HT. Giác Tiên là người khởi xướng phong trào chấn hưng Phật
giáo tại Trung kỳ.
Năm 1932, tại Huế, HT. Giác Tiên đã tập họp các tăng sĩ và với sự
cộng tác của cư sĩ Tâm Minh Lê Đình Thám, Nguyễn Khoa Tân… thành lập
Hội An Nam Phật học, trụ sở đặt tại chùa Trúc Lâm (nơi HT. Trúc Lâm chủ
trì) do cư sĩ Lê Đình Thám làm Hội trưởng, HT. Giác Tiên làm Chứng minh
Đạo sư và bắt đầu tổ chức thuyết pháp tại chùa Từ Quang. Hội còn mở nhiều
chi hội ở các tỉnh, quận, xã.
Năm 1933, Hội đã mở trường An Nam Phật học tại chùa Trúc Lâm, về
sau, trường được dời về chùa Báo Quốc.
Năm 1934, Hội An Nam Phật học đã khuyến khích mở các Phật học
đường Sơ đẳng tại các tỉnh. Bên cạnh đó, Hội An Nam Phật học đã thỉnh Đại
Tạng kinh để làm tài liệu nghiên cứu và xuất bản tạp chí Viên Âm (1934) để
hoằng dương chính pháp. Hội cò thành lập trường Bồ Đề và còn là nơi khởi
xướng thành lập Gia đình Phật hóa Phổ đầu tiên (1940) là hình thức đầu tiên

của tổ chức Gia đình Phật tử Việt Nam. Năm 1935, hội đã tiếp tục mở Phât
học đường tại chùa Báo Quốc để đào tạo Tăng tài.
Sơn môn Huế và Hội An Nam Phật học rất chú trọng việc đào tạo tăng
tài và chỉnh lý tăng giới. Cho nên, ngoài việc thành lập các lớp Phật học cho
tăng sĩ trẻ tại các chùa, hội đã đề ra một chương trình chỉnh lý tình trạng tăng
sĩ, gồm hai điểm:

18


×