TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA LỊCH SỬ
======
TRẦN THỊ MỸ HẠNH
PHẬT GIÁO MIỀN BẮC NHỮNG NĂM
1945 - 1954
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Lịch sử Việt Nam
HÀ NỘI – 2018
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA LỊCH SỬ
======
TRẦN THỊ MỸ HẠNH
PHẬT GIÁO MIỀN BẮC NHỮNG NĂM
1945 - 1954
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Lịch sử Việt Nam
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học
TS. Ninh Thị Sinh
HÀ NỘI – 2018
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này, em xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu
sắc nhất tới cô giáo TS. Ninh Thị Sinh – người đã tận tình giúp đỡ và hướng
dẫn em trong suốt quá trình thực hiện.
Em cũng xin trân trọng cảm ơn các thầy cô trong Khoa Lịch sử, đặc
biệt các thầy cô trong tổ bộ môn Lịch sử Việt Nam đã giúp đỡ và tạo điều
kiện thuận lợi, đóng góp nhiều ý kiến quý báu để em có thể hoàn thành đề tài
nghiên cứu của mình.
Cuối cùng em xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè đã động viên,
giúp đỡ em trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu đề tài.
Bước đầu nghiên cứu khoa học nên em không tránh khỏi những thiếu
sót và hạn chế. Kính mong nhận được sự chỉ bảo, đóng góp ý kiến của các
thầy cô cùng các bạn sinh viên để em có thể hoàn thiện tốt hơn nữa khóa luận
của mình.
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng năm 2018
Sinh viên
Trần Thị Mỹ Hạnh
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan khóa luận tốt nghiệp với đề tài: “Phật giáo miền Bắc
những năm 1945 – 1954” là kết quả nghiên cứu, tìm tòi của bản thân tôi dưới
sự hướng dẫn khoa học của TS. Ninh Thị Sinh, Khoa Lịch sử, trường Đại
học Sư phạm Hà Nội 2. Đề tài và nội dung khóa luận là trung thực chưa từng
được công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
Nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm.
Hà Nội,ngày tháng năm 2018
Sinh viên
Trần Thị Mỹ Hạnh
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ........................................................................................................... 1
1. Lý do chọn đề tài ........................................................................................... 1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề ............................................................................ 2
3. Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu ................................................. 4
3.1. Mục đích nghiên cứu .................................................................................. 4
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu ................................................................................. 4
3.3. Phạm vi nghiên cứu .................................................................................... 5
4. Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu ................................................... 5
4.1. Nguồn tư liệu nghiên cứu ........................................................................... 5
4.2. Phương pháp nghiên cứu............................................................................ 5
5. Đóng góp của khóa luận................................................................................ 5
6. Kết cấu khóa luận .......................................................................................... 6
Chương 1. BỐI CẢNH LỊCH SỬ ..................................................................... 7
1.1. PHONG TRÀO CHẤN HƯNG PHẬT GIÁO Ở VIỆT NAM NHỮNG
NĂM ĐẦU THẾ KỈ XX ................................................................................... 7
1.1.1. Nguyên nhân ........................................................................................... 7
1.1.2. Phong trào chấn hưng Phật giáo ở Việt Nam những năm đầu thế
kỉ XX ................................................................................................................. 9
1.2. BỐI CẢNH LỊCH SỬ MỚI VÀ CUỘC ĐẤU TRANH CHỐNG THỰC
DÂN PHÁP GIAI ĐOẠN 1945 - 1954 .......................................................... 14
Chương 2. PHẬT GIÁO MIỀN BẮC TRONG NHỮNG NĂM 1945 - 1954 29
2.1. PHONG TRÀO PHẬT GIÁO CỨU QUỐC ........................................... 29
2.2. HIỆN ĐẠI HÓA ĐẠO PHẬT ................................................................. 44
2.2.1.Các hội Phật giáo trong những năm 1945 – 1954 .................................. 44
2.2.2.Quan hệ quốc tế ...................................................................................... 51
2.2.3.Hoạt động báo chí của Phật giáo những năm 1945 – 1954 ................... 54
Chương 3. ĐẶC ĐIỂM VÀ Ý NGHĨA CỦA PHẬT GIÁO MIỀN BẮC
NHỮNG NĂM 1945 – 1954 ........................................................................... 58
3.1. ĐẶC ĐIỂM .............................................................................................. 58
3.2.Ý NGHĨA .................................................................................................. 60
KẾT LUẬN ..................................................................................................... 64
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................... 66
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Phật giáo từ lâu đã xâm nhập vào tâm hồn, nề nếp, lối sống của dân tộc
Việt Nam. Trong bài xã luận của Thích Nguyên Tạng viết năm 1996 ở tạp chí
Phật giáo Việt Nam, ở phần Nhận định và Kết luận Ngài đã viết: “Trong tâm
hồn dân tộc Việt Nam thật đã sẵn có mầm mống tinh thần Phật giáo. Hèn gì
mà Đạo Phật với dân tộc Việt Nam trong gần hai ngàn năm nay, bao giờ
cũng theo nhau như hình với bóng trong cuộc sinh hoạt toàn cầu. Đã là viên
đá nền tảng cho văn hóa dân tộc, cố nhiên Phật giáo Việt Nam vĩnh viễn phải
là một yếu tố bất ly của cuộc sống toàn diện. Ngày nay những hào nhoáng
của một nền văn minh vật chất đã làm mờ mắt một số đông người, nhưng cơ
bản của nền văn hóa dân tộc đang còn bền chặt, khiến cho người Việt Nam dù
có bị lôi cuốn phần nào trong một thời gian, rồi cũng hồi đầu trở lại với cội
nguồn yêu dấu ngàn xưa…”[ 32]. Chính tinh thần dung hợp và phương tiện
truyền bá của Phật giáo Việt Nam đã giúp cho tôn giáo này ăn sâu, bám rễ vào
trong lòng dân tộc.
Trước những thay đổi trong cách nhìn nhận về đạo Phật trong lòng quần
chúng nhân dân, cùng với những thay đổi về tinh hình kinh tế, chính trị, xã
hội, từ những đổi mới của đất nước do Đảng và Nhà nước lãnh đạo đã thúc
đẩy Phật giáo Việt Nam ngày càng phát triển mạnh mẽ. Đây là một kết quả tất
yếu vì Phật giáo luôn có những thích ứng phù hợp với thời cuộc. Nhưng để
nắm bắt được Phật giáo Việt Nam thời hiện đại thì chúng ta phải quay ngược
lại thời gian để tìm hiểu về Phật giáo những giai đoạn trước đã diễn ra như thế
nào, về nguồn gốc, về công cuộc chấn hưng Phật giáo, Phật giáo đồng hành
cùng dân tộc qua các thời kì kháng chiến chống quân xâm lược và đặc biệt là
trong giai đoạn 1945 – 1954. Sau khi Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành
công, thực dân Pháp xâm lược nước ta một lần nữa và trong giai đoạn này
1
Phật giáo không chỉ thể hiện sức sống được vực dậy sau gần 100 năm bị thực
dân Pháp nô dịch mà còn thể hiện những ảnh hưởng của Phật giáo tham gia
trực tiếp hoặc gián tiếp trong công cuộc kháng chiến bảo vệ Tổ quốc.
Phật giáo Bắc Bộ trong những năm 1945 – 1954 đã có một số vấn đề được
làm sáng tỏ như phong trào Phật giáo cứu quốc ở vùng giải phóng. Tuy nhiên,
ở vùng tạm chiếm thì thông tin về Phật giáo vẫn còn mờ nhạt. Chúng tôi băn
khoăn trong vùng bị địch kiểm soát như vậy thì Phật giáo đã tồn tại và hoạt
động như thế nào? Nhận thức được tầm quan trọng khi đi nghiên cứu về Phật
giáo miền Bắc những năm 1945 – 1954, chúng tôi đã chọn đề tài: “Phật giáo
miền Bắc những năm 1945 - 1954” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp đại học,
chuyên ngành Lịch sử Việt Nam.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Phật giáo là một ba tôn giáo lớn ở nước ta, cùng với Nho giáo và Đạo giáo
tạo nên truyền thống “Tam giáo”ở Việt Nam. Phật giáo có ảnh hưởng sâu
rộng đối với đời sống sinh hoạt văn hóa, tinh thần của nhân dân. Chính vì thế
đã có nhiều công trình đề cập đến Phật giáo nói chung và Phật giáo trong giai
đoạn 1945-1954. Có thể kể đến một số công trình như sau:
Trong tạp chí Nghiên cứu Phật học, số 3/2007, tác giả Nguyễn Đại Đồng
đã có bài nghiên cứu về “Phật giáo Bắc bộ trong thời kì kháng chiến chống
thực dân Pháp 1947 – 1954”. Bài viết đã trình bày nhiều hoạt động của Phật
giáo miền Bắc. Đến năm 2008, nhà nghiên cứu cho ra mắt cuốn Biên niên
sửPhật giáo miền Bắc 1920-1953. Tác phẩm đã trình bày nhiều sự kiện của
phật giáo miền Bắc trong giai đoạn 1945-1954, có nhiều nội dung liên quan
đến phong trào Chấn hưng phật giáo, phong trào Phật giáo cứu quốc ở miền
Bắc, hoạt động xuất bản tạp chí và thành lập các hội. Tuy nhiên, tác phẩm có
hạn chế là trình bày dưới dạng biên niên do đó người đọc rất khó có thể hình
dung được mối liên kết logic giữa các sự kiện.
2
Năm 1991, có cuốn Lịch sửPhật giáo Việt Nam do Nguyễn Tài Thư chủ
biên. Trong phần thứ năm, tác giả trình bày khái quát nguyên nhân ra đời của
phong trào chấn hưng Phật giáo trong đó có nói đến Phật giáo miền Bắc tuy
nhiên Phật giáo miền Bắc những năm 1945 – 1954 chưa được rõ ràng.
Năm 1985, xuất hiện cuốn Việt Nam Phật giáo sử luận (3 tập) của
Nguyễn Lang ở Paris. Cho đến nay, công trình gồm cả ba tập đã được Nhà
xuất bản Văn học (Hà Nội) tái bản năm 1994. Trong tập 3, khi viết về phong
trào Chấn hưng Phật giáo Việt Nam, Nguyễn Lang có đề cập đến một số tờ
báo và tạp chí Phật giáo, như: Pháp âm, Từ bi âm, Viên âm, Đuốc tuệ,
Duy tâm, Tiến hóa,…Về báo chí Phật giáo, tác giả trình bày đóng góp chung
của các tạp chí, tờ báo Phật giáo đối với Phật giáo và dân tộc nửa đầu thế kỷ
XX đồng thời cũng nói về tư tưởng Phật học, công cuộc chấn hưng Phật giáo
và những nội dung liên quan đến phong trào Phật giáo cứu quốc trong đó có
Phật giáo miền Bắc, nhưng những vấn đề đó chưa được kĩ lưỡng và chuyên
sâu.
Tạp chí Nghiên cứu Phật học, từ số 2 đến số 6 năm 2013, một số bài viết
của Nguyễn Đại Đồng cũng đã đề cập đến Phật giáo miền Bắc nhưng nội
dung cũng mới tạm thời gói gọn trong số lượng trang hạn chế (khoảng 4
trang) cho nên chưa được chi tiết và cụ thể.
Bài viết Báo chí Phật giáo những năm 1947 – 1954 của Nguyễn Đại
Đồng, Lê Thị Ngọc Hạnh trên Tạp chí Nghiên cứu Phật học số 6/2009, tr 1417 cũng có đề cập đến báo chí Phật giáo miền Bắc trong những năm 1945 –
1954. Tuy nhiên trong bài tạp chí, các tác giả mới chỉ đề cập đến hoạt động
của báo chí trong giai đoạn này, còn những nội dung khác liên quan đến Phật
giáo miền Bắc thì chưa được đề cập đến.
Ở cuốn Kỷ yếu Hội thảo Đại lão Hòa thượng Thích Tố Liên (1903 -1977)
và cuốn Đại lão Hòa thượng Thích Trí Hải (1906 – 1979) cũng có nhiều bài
3
viết về công tác đào tạo Tăng ni Phật tử, quá trình tích cực thúc đẩy Phật giáo
Việt Nam hội nhập vào với Phật giáo quốc tế,… Tuy nhiên thông tin về Phật
giáo miền Bắc mới chỉ nằm rải rác ở từng mục trong cuốn sách chứ không
được cụ thể hóa.
Như vậy mặc dù có rất nhiều công trình nghiên cứu tổng quan và hệ thống
về hoạt động của Phật giáo Việt Nam từ khi khởi nguyên cho đến nay nhưng
chưa có một công trình nghiên cứu nào tập trung chủ yếu về Phật giáo miền
Bắc những năm 1945 – 1954 gắn liền với công cuộc kháng chiến chống Pháp.
Hoặc có nghiên cứu nhưng mới chỉ dừng ở mức độ ngắn gọn, chưa đánh giá
một cách chuyên sâu về Phật giáo miền Bắc giai đoạn này.
3. Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Khóa luận nhằm 3 mục đích như sau:
- Thứ nhất là trình bày được bối cảnh lịch sử của Phật giáo miền Bắc
những năm 1945 – 1954
- Thứ hai là trình bày được hai xu hướng chính của Phật giáo miền Bắc là
phong trào Phật giáo cứu quốc (1945 – 1954) và xu hướng hiện đại hóa đạo
Phật
- Thứ ba là đánh giá được đặc điểm và ý nghĩa của Phật giáo miền Bắc
những năm 1945 – 1954
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được những mục đích nêu trên, khóa luận thực hiện những nhiệm
vụ cụ thể sau:
- Một là: Tìm hiểu phong trào Chấn hưng Phật giáo ở Bắc Kì (1934 –
1945) và cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 – 1954).
- Hai là: Trình bày những nét chính, tiêu biểu về hai xu hướng của Phật
giáo trong giai đoạn 1945-1954: phong trào Phật giáo cứu quốc và xu hướng
4
hiện đại hóa đạo Phật.
- Ba là: Đánh giá đặc điểm và ý nghĩa của Phật giáo miền Bắc trong giai
đoạn 1945 – 1954
3.3. Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian: miền Bắc Việt Nam (từ Ninh Bình trở ra)
- Về thời gian: giai đoạn 1945 – 1954
4. Nguồn tƣ liệu và phƣơng pháp nghiên cứu
4.1. Nguồn tƣ liệu nghiên cứu
Trước hết khóa luận sử dụng các văn kiện của Đảng Cộng sản Việt Nam
(đương thời là Đảng Cộng sản Đông Dương), đặc biệt là các Văn kiện Đảng
giai đoạn 1945 – 1954. Tài liệu này cung cấp quan điểm của Đảng về vấn đề
tôn giáo, trong đó có Phật giáo.
Loại tài liệu thứ hai là các sách về lịch sử Phật giáo, lịch sử Việt Nam
cũng như các bài viết trên các tạp chí chuyên ngành như Nghiên cứu tôn giáo,
Nghiên cứu Phật học…Các công trình nêu trên đã cung cấp tư liệu để phục vụ
cho bài nghiên cứu về Phật giáo miền Bắc những năm 1945 – 1954.
4.2. Phƣơng pháp nghiên cứu
Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lê nin và tư tưởng Hồ
Chí Minh về tôn giáo, tác giả đã sử dụng một số phương pháp chuyên ngành
để áp dụng trong quá trình hoàn thành tác phẩm của mình như: phương pháp
logic, phương pháp tổng hợp và phân tích, phương pháp lịch sử, …
5. Đóng góp của khóa luận
Đề tài nghiên cứu về Phật giáo miền Bắc trong những năm 1945 – 1954
có đóng góp về khoa học cũng như về thực tiễn.
- Về mặt khoa học: Đề tài nghiên cứu một cách hệ thống và tương đối đầy
đủ dựa trên cơ sở các nguồn tư liệu có giá trị sẽ trình bày bối cảnh lịch sử và
những hoạt động Phật giáo miền Bắc những năm 1945 – 1954 , từ đó đánh giá
5
và nhận xét đặc điểm và ý nghĩa của Phật giáo miền Bắc trong giai đoạn này.
- Về mặt thực tiễn: Đề tài nghiên cứu Phật giáo những năm 1945 – 1954
có thể sử dụng làm tư liệu nghiên cứu hoàn chỉnh về Phật giáo miền Bắc từ
1945 – 1954 với hai xu hướng nổi bật là phong trào Phật giáo Cứu quốc (1945
– 1954) và xu hướng hiện đại hóa đạo Phật.
6. Kết cấu khóa luận
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, khóa luận gồm 3
chương:
Chương 1: Bối cảnh lịch sử
Chương 2: Phật giáo miền Bắc những năm 1945 – 1954
Chương 3: Đặc điểm và ý nghĩa của Phật giáo miền Bắc từ năm 1945 đến
năm 1954
6
Chƣơng 1
BỐI CẢNH LỊCH SỬ
1.1. PHONG TRÀO CHẤN HƢNG PHẬT GIÁO Ở VIỆT NAM
NHỮNG NĂM ĐẦU THẾ KỈ XX
Phật giáo ra đời ở Ấn Độ vào thế kỉ VI TCN và lan truyền sang các nước
trong khu vực và thế giới, trở thành quốc giáo của nhiều quốc gia và được
nhân dân tôn sùng. Từ cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX , phong trào chấn
hưng Phật giáo đã diễn ra ở nhiều nước châu Á . Do vậy, khi tìm hiểu nguyên
nhân ra đời của phong trào này ở từng nước cần phải xem xét nguyên nhân
khách quan và chủ quan đã đưa đến sự xuất hiện phong trào Chấn hưng Phật
giáo ở Việt Nam.
1.1.1. Nguyên nhân
Đến thế kỉ XVI chủ nghĩa thực dân ra đời, các nước đế quốc đã tiến hành
các cuộc chiến tranh xâm lược thuộc địa ở khắp các châu lục đặc biệt là ở
châu Á – quê hương của nhiều tôn giáo. Đến nửa sau thế kỉ XIX đa số các
quốc gia châu Á là tâm điểm cho sự xâm lược của chủ nghĩa thực dân, sự kiện
đó đã làm ảnh hưởng lớn đến các phong tục, tín ngưỡng của nhân dân bản xứ.
Việt Nam cũng nằm trong số đó. Đứng trước nguy cơ suy tàn, đòi hỏi Phật
giáo phải tiến hành đổi mới, duy trì bảo vệ Phật pháp.
Đầu thế kỉ XX quá trình giao lưu văn hóa Đông – Tây được đẩy mạnh,
các nhà nghiên cứu của phương Tây đã có điều kiện tiếp xúc sâu hơn với
những giá trị cao siêu của Phật giáo. Đồng thời, năm 1917 trước thắng lợi của
Cách mạng tháng Mười Nga, chủ nghĩa xã hội xâm nhập mạnh mẽ vào các
nước đang chịu ách áp bức bóc lột của chủ nghĩa thực dân, từ đó làm thôi thúc
cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc. Chính vì thế mà “Tại một số quốc gia
Châu Á tuy có ảnh hưởng chủ nghĩa Mác, song chính Đảng Mác xít không đủ
điều kiện đảm đương nhiệm vụ lịch sử giải phóng dân tộc, đã xuất hiện hiện
7
tượng tư tưởng cứu thế, bình đẳng, từ bi của Phật giáo nhanh chóng hội nhập
với tư tưởng xã hội chủ nghĩa của chủ nghĩa Mác và tư tưởng bình đẳng, bác
ái của tư sản để hình thành xã hội Phật giáo”[28,tr 147].
Vào đầu thế kỉ XX phong trào chấn hưng Phật giáo cũng xuất phát từ Ấn
Độ sau đó lan sang các nước Trung Quốc, Nhật Bản, Việt Nam, Miến Điện,…
Người khởi xướng phong trào này là đại đức Dharmapala người Tích Lan với
mục đích trùng tu lại những Phật tích quan trọng tại Ấn Độ sau đó đã phát
triển thành phong trào, các tu viện, trung tâm nghiên cứu Phật học và báo chí
lần lượt ra đời,… Trong quá trình hoạt động đã được sự ủng hộ của rất nhiều
người trong các lĩnh vực khác nhau.
Ở Trung Quốc, chính Dharmapala đã viết thư liên lạc với cư sĩ Dương
Nhân Sơn ở Trung Hoa vào năm 1908 để mời cộng tác. Dương Nhân Sơn đã
đứng lên thiết lập Kỳ Hoàn Tinh xá và triệu tập thanh niên tăng ni và cư
sĩ hữu tâm về tập trung nghiên cứu Phật học qua Hán văn, Anh văn và Pali
với mục đích cải cách giáo đoàn, bài trừ ngu tăng và lấy Phật giáo làm quốc
giáo. Tại thời điểm đó, ở các nước Miến Điện,Tích Lan và Nhật Bản, một
ngọn gió mới cũng thổi vào nền Phật giáo của các nước. Động cơ của sự phục
hưng này không phải chỉ do phong trào Phật học ở Ấn Độ và Trung Hoa mà
còn do sự ảnh hưởng của phương Tây đối với Phật giáo.
Tại Việt Nam, đất nước có những biến động to lớn trên tất cả các mặt
chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội. Ngày 1-9-1858 liên quân Pháp – Tây Ban
Nha nổ súng đánh chiếm Đà Nẵng mở đầu công cuộc xâm lược nước ta. Cuộc
đấu tranh bảo vệ nền độc lập dân tộc của nhân dân ta phát triển mạnh mẽ.
Trong bối cảnh ấy đã có nhiều tăng ni, Phật tử với lòng yêu nước bảo vệ hòa
bình dân tộc đã tích cực tham gia chống quân xâm lược. Nhiều nho sĩ đánh
giá cao vai trò của tôn giáo đối với sự phát triển của xã hội, sự tự cường của
một dân tộc – trong đó Phật giáo được đánh giá cao nhất. Cho nên, việc chấn
8
hưng Phật giáo được các nhà cách mạng ủng hộ.
Phật giáo Việt Nam nói chung và Phật giáo ở miền Bắc nói riêng giai
đoạn cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX suy vi nằm ở chính ngay trong Tăng già.
Sự xuống cấp về đạo hạnh và không có đường lối tu tập rõ ràng của một bộ
phận Tăng già cộng thêm sự chia rẽ, mất đoàn kết giữa các môn phái đã trở
nên trầm trọng.
Một nguyên nhân khác dẫn đến công cuộc chấn hưng Phật giáo ở miền
Bắc, cũng như ở Việt Nam, đó chính là lòng tự hào về truyền thống học
thuyết và thực hành của Đức Phật và của truyền thống Phật giáo dân tộc như
từ bi, bác ái, con đường giải thoát, tư tưởng siêu việt không gian và thời
gian, sứ mạng cứu độ tất cả chúng sinh và nhất là tinh thần nhập thế của
Phật giáo thời Trần. Chính từ lòng tự hào đó mà các nhà cải cách muốn
Chấn hưng Phật giáo để có thể duy trì giáo nghĩa siêu việt của Đức Phật,
nhưng cũng rất gần gũi với người dân ở mọi tầng lớp trong xã hội.
Ngoại trừ những ảnh hưởng của cuộc chấn hưng Phật giáo ở Nam Kì,
Trung Kì thì Bắc Kì cũng chịu sự ảnh hưởng lớn từ Phật giáo, đã góp sức to
lớn trong công cuộc kháng chiến cứu nước vì Bắc Kì được coi là cái nôi của
Phật giáo Việt Nam. Vì vậy Phật giáo đã có những ảnh hưởng sâu rộng trong
đời sống và văn hóa của người dân tại đây.
1.1.2. Phong trào chấn hưng Phật giáo ở Việt Nam những năm đầu thế
kỉ XX
Khởi đầu từ những năm 1920, chư tăng ni và Phật tử đi tiên phong công
cuộc Chấn hưng Phật giáo Việt Nam đã mở ra các trường Phật học Gia
giáo khắp Nam Trung Bắc để đào tạo tăng ni, tổ chức các buổi giảng
kinh, thuyết pháp cho Phật tử. Đầu những năm 30 thế kỉ XX các hội Phật giáo
lần lượt ra đời ở Nam Kì, Trung Kì và Bắc Kì. Phong trào chấn hưng diễn ra
sôi nổi với sự ra đời và hoạt động của nhiều tổ chức Phật giáo, trong đó phải
9
kể tới các tổ chức quan trọng ở ba kì:
* Tại Nam Kì:
Hội Nam Kì nghiên cứu Phật học thành lập năm 1931, đặt trụ sở tại chùa
Linh Sơn (Sài Gòn) Thiền sư Từ Phong chùa Giác Hải ở Chợ Lớn được bầu
làm chánh hội trưởng. Hòa thượng Khánh Hòa giữ trách vụ phó nhất hội
trưởng và chủ nhiệm tạp chí Từ Bi Âm. Tạp chí này ra đời ngày 1/3/1932.
Hội cũng đã xây dựng được một Phật học đường, gồm có 6 gian nhà ngói có
trang bị đầy đủ để nhận học tăng nội trú và thư viện Phật học đường gọi là
Pháp Bảo Phường.
Thích học đường được xây dựng nhưng cho đến năm 1934 ông Chấn vẫn
nhất định chưa cho khai giảng Thích học đường. Nguyên nhân là sự bất đồng
ý kiến giữa chư tăng và một số cư sĩ không chịu làm theo đường lối và ý
hướng của các vị này. Chương trình của Khánh Hòa thất bại vì các thiền sư đã
không nắm được thực quyền trong hội. Hội đã bị một số cá nhân dùng địa vị
trong xã hội của họ để khuynh loát và hướng dẫn về một nẻo khác.
Hội Lưỡng Xuyên Phật Học (Lưỡng Xuyên có ý nghĩa là "hai con sông",
đó là các sông Tiền Giang và Hậu Giang) được thành lập chính thức ngày
13/8/1934, đặt trụ sở tại chùa Long Phước ở Trà Vinh. Do bất mãn với Hội
Nam Kỳ nghiên cứu Phật học nên hòa thượng Khánh Hòa chuyển về Trà
Vinh, sau đó một thời gian thì thành lập nên Hội Lưỡng Xuyên.
Công việc đầu tiên của hội là tổ chức Phật học đường. Công việc tổ chức
cơ sở và tuyên truyền chọn học tăng được thực hiện rất mau chóng. Phật học
đường Lưỡng Xuyên được khai giảng ngay vào cuối năm 1934.
Năm 1935, Hội xuất bản sách Phật học giáo khoa bằng hai thứ tiếng Việt
và Hán. Tạp chí Duy Tâm của Hội được ra mắt vào tháng 10/1935, tòa soạn
được đặt tại chùa Long Phước. Duy Tâm thường lên tiến kêu gọi thành lập
một Phật giáo tổng hội để thống nhất tổ chức Phật Giáo Việt Nam. Từ cuối
10
năm 1937 trở đi, trong số nào Duy Tâm cũng có bài bàn về vấn đề thành lập
Phật giáo tổng hội. Tuy nhiên, Trần Nguyên Chấn vì không ưa sự hiện diện
của hội Lưỡng Xuyên, nên đã có lần kích bác hội và tạp chí Duy Tâm trên
báo Từ Bi Âm nhưng đã có nhiều ý kiến khuyên ông Chấn nên dừng hành
động này của mình lại để tránh những xung đột không đáng có.
Năm 1934, thiền sư Khánh Hòa lui về chùa Vĩnh Bửu ở Bến Tre. Tuy đã
già yếu, ông vẫn tổ chức được một Phật học đường cho ni chúng. Đây là
trường học đầu tiên cho ni giới tại Nam Kỳ.
Hội Tịnh Độ Cư Sĩ thành lập năm 1934, đặt cơ sở ở chùa Tân Hưng Long,
Sài Gòn. Tổ chức này do thành phần cư sĩ giữ vai trò nòng cốt và suy tôn Hòa
thượng Minh Trí làm Tông sư. Hội chủ trương Phật giáo nhập thế, phước huệ
song tu, sử dụng y thuật làm phương tiện cứu nhân độ thế, do đó, mọi tín đồ
đều cần phải biết về Đông y và cách sử dụng thuốc nam. Tháng 01/1937, tờ
Pháp Âm Phật học xin được giấy phép ấn hành. Tuy nhiên, do khó khăn về tài
chính và thiếu độc giả ủng hộ nên bị đình bản vào tháng 9/1938, phát hành
được 16 số.
Phật Học Kiêm Tế được thành lập tại Rạch Giá, trụ sở tại chùa Tam Bảo Vĩnh Thanh Vân. Điều lệ của Hội Phật Học Kiêm Tế được phê chuẩn vào
ngày 23/3/1937. Thiền sư Trí làm chánh tổng lý. Tạp chí Tiến Hóa cho ra số
đầu năm 1938. Ngay sau khi hội thành lập, một Viện Mồ Côi được tổ chức tại
chùa Tam Bảo.
Tạp chí Tiến Hóa số ra mắt đã đăng hình một cô nhi viện có thể gọi là cô
nhi viện Phật giáo đầu tiên tại Việt Nam tổ chức theo kiểu phương Tây. Ngoài
chủ ý muốn chứng minh rằng hội Phật Học Kiêm Tế không phải là hội "chịu
nói suông", Tiến Hóa lại tuyên bố rằng tờ báo không những sẽ "tuyên
truyền" cho Phật học mà còn „tuyên truyền" cho "bất cứ học thuyết nào có đủ
phương pháp làm chúng sanh khỏi khổ được vui". Theo Tiến Hóa, những học
11
thuyết nào có tính cách từ bi bác ái thì đều được Tiến Hóa công nhận là "Phật
pháp" .
* Tại Trung Kì:
An Nam Phật học hội thành lập năm 1932, trụ sở đặt tại chùa Trúc Lâm
(Huế), bắt đầu tổ chức giảng diễn tại chùa Từ Quang (Huế). Thiền sư Giác
Tiên làm chứng minh đạo sư và cư sĩ Lê Đình Thám được mời làm hội
trưởng. Đến ngày 30/5/1933, báo Viên Âm ra đời, tòa soạn đặt tại thành phố
Huế.
Về tôn chỉ, Viên Âm số ra đầu tiên ra ngày 01/12/1933, mục Như thị pháp
đã nêu như sau: “Phật học Nguyệt san ở Huế xuất bản, nêu hai chữ Viên Âm
làm tôn chỉ, còn ba tạng kinh điển làm tài liệu cho ngôn luận nội dung; nhất
thiết bình luận, giảng giải thi văn trong Nguyệt san đều theo ý nghĩa chơn
chánh hai chữ Viên Âm mà tuyên dương Phật pháp cho thích hợp với đời, bổ
ích cho đời, thề không đem lời hung ác, nói việc hoang đàng, di hại về sau,
mang lấy điều tội lỗi…” [1, tr402].
Hội Phật học Đà Thành (Đà Nẵng) thành lập ngày 14/5/1935, trụ sở đặt
tại chùa Phổ Thiên, đường Đỗ Hữu Vị. Mục đích của Hội nhằm mở trường
Phật học đào tạo nhân tài, ra báo chí lưu thông Phật giáo, không để tăng giới
suy sụp, quyết định phò khởi Bắc - Nam lên đoàn để bảo tồn Tăng bảo...
Chỉnh đốn quy củ trong các sơn môn.
Ngày 15/01/1937, Tạp chí Tam Bảo được Khâm sứ Trung Kì cho phép ấn
hành, tòa soạn đặt tại số 59, đường Marc Pourpe (nay là đường Phan Châu
Trinh). Chủ bút là Hòa thượng Trí Hải (chùa Bích Liên, Bình Định); Chủ
nhiệm tòa soạn là Trần Văn Uyển và Quản lý tòa soạn là Trần Tư. Nội dung
chính của tạp chí nhằm khảo cứu các vấn đề về Phật giáo (về quá trình vận
động chấn hưng, về lịch sử Phật giáo), Vấn đáp, Kinh diễn âm và Kinh diễn
nghĩa, Truyện cao tăng nước ta, Nhàn đàm và Văn uyển. Đến năm 1938, tạp
12
chí đình bản ở số thứ 8 vì thiếu tài chính và khan hiếm bài vở.
* Tại Bắc Kì:
Hội Phật giáo Bắc Kì thành lập ngày 6/11/1934, trụ sở đặt tại chùa Quán
Sứ, Hà Nội. Hội trưởng là cư sĩ Nguyễn Năng Quốc. Mục đích chính mà Hội
Phật giáo Bắc Kỳ nêu ra là: khuyên rủ nhau, đốc trách nhau hiểu đạo Phật cho
rành, làm đạo Phật cho đúng để tự độ mà độ người. Ngày 10/12/1935, báo
Đuốc Tuệ ra đời, tuy nhiên do bất lợi đến 15/8/1945, Đuốc Tuệ bị đình bản ở
số báo cuối cùng là số ghép 257-258.
Hội Phật giáo Bắc Kì Cổ sơn môn được thành lập ngày 31/01/1935. Mục
đích của Hội là: bảo tồn cổ Phật giáo nước Nam, theo đuổi một công việc làm
cho tất cả tín đồ Phật giáo ở Bắc Kỳ sẽ được như các bạn đồng bào đạo hữu ở
trong Nam, làm cho tăng già Tùng Lâm trở nên có giá trị. Ngày 15/6/1935,
tạp chí Tiếng Chuông Sớm - cơ quan ngôn luận của Hội xuất bản nhằm
“tuyên truyền chấn hưng đạo Phật, cổ động sự lập tòa dịch kinh ra chữ Quốc
ngữ, dựng Phật học đường, dựng nhà hộ sinh, nhà dục anh, nhà nuôi
dưỡngngười tàn tật, liên lạc các sơn môn lại làm các việc từ thiện theo thời
đại mới” [31, tr 14].
Sở dĩ, Hội Phật giáo Bắc Kì ra đời sau Nam Kì và Trung Kì là do những
điều kiện xã hội ở miền Bắc quyết định. Xã hội miền Bắc trong ba thập kỉ đầu
thế kỉ XX chịu nhiều ảnh hưởng của trào lưu tư tưởng tư sản diễn ra còn hạn
chế hơn so với ở miền Nam và miền Trung. Hơn nữa ở miền Nam trước
những hoạt động sôi nổi của nhà sư nổi tiếng Thiền sư Khánh Hòa và Thiện
Chiếu đã thúc đẩy phong trào chấn hưng lên cao. Chính nhờ sự ra đời của các
tổ chức, càng về sau thì tư tưởng chấn hưng Phật giáo được thể hiện nhiều
hơn thông qua các tờ báo, nhờ đó mà có sức ảnh hưởng mạnh mẽ hơn ra miền
Bắc thúc đẩy phong trào chấn hưng Phật giáo Bắc Kì.
Sự hình thành đa dạng các tổ chức nói trên đã góp phần khẳng định rằng
13
tăng ni, Phật tử cũng như các nhà trí thức đương thời luôn trăn trở trước sự
thịnh suy của đạo Phật và đằng sau đó là những nhận thức sâu sắc về sự tồn
vong của một tôn giáo đã gắn bó với dân tộc qua suốt chiều dài lịch sử. Đặc
biệt hơn, sự hình thành các tổ chức Phật giáo này đã góp phần tạo nên những
tiền đề quan trọng để sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, phong trào chấn
hưng Phật giáo Việt Nam tiếp tục phát triển cả về chiều sâu lẫn chiều rộng,
làm hồi sinh đạo Phật trong lòng quần chúng nhân dân và đi đến thống nhất
vào năm 1951 cũng như có những đóng góp xứng đáng đối với sự nghiệp đấu
tranh giải phóng dân tộc.
1.2. BỐI CẢNH LỊCH SỬ MỚI VÀ CUỘC ĐẤU TRANH CHỐNG
THỰC DÂN PHÁP GIAI ĐOẠN 1945 - 1954
Năm 1945 Cách mạng tháng Tám thành công đã tạo bước ngoặt lớn trong
lịch sử dân tộc Việt Nam. Phá tan hai tầng xiềng xích nô lệ của Pháp-Nhật, lật
nhào chế độ quân chủ chuyên chế trên đất nước ta, đưa Việt Nam từ nước
thuộc địa trở thành nước độc lập, lập được chế độ dân chủ cộng hoà, đưa dân
ta từ thân phận nô lệ, thành một nước độc lập, làm chủ nước nhà. Thắng lợi
của Cách mạng tháng Tám mở ra kỷ nguyên mới trong lịch sử dân tộc- kỷ
nguyên giải phóng dân tộc gắn liền với giải phóng giai cấp, độc lập dân tộc
gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Thắng lợi của cuộc cách mạng đã cổ vũ mạnh
mẽ tinh thần đấu tranh của các dân tộc thuộc địa và nửa thuộc địa trên thế
giới. Ngày mùng 2/9/1945, Hồ Chí Minh đã thay mặt Chính phủ lâm thời đọc
Tuyên ngôn độc lập, trịnh trọng tuyên bố với toàn thể quốc dân và thế giới:
nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được thành lập. Ngay ở trang đầu của Bản
Tuyên ngôn độc lập ấy đã khẳng định ý chí sắt đá của nhân dân Việt Nam là
quyết giữ vững nền độc lập, tự do mà quân và dân ta vừa giành được: “ Nước
Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự
do, độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực
14
lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy…” Với
thắng lợi của Cách mạng tháng Tám Đảng Cộng sản Đông Dương thành một
Đảng cầm quyền, chuẩn bị những điều kiện tiên quyết cho những thắng lợi
tiếp theo. Sự nghiệp giữ vững quyền tự do, độc lập, xây dựng chế độ mới của
nhân dân Việt Nam đã diễn ra trong bối cảnh quốc tế và trong nước có nhiều
thay đổi lớn.
Trong hơn nửa năm đầu của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, cách
mạng nước ta có nhiều thuận lợi cơ bản, lâu dài. Bộ máy chính quyền nhà
nước làm công cụ xây dựng và bảo vệ đất nước. Nước Việt Nam có truyền
thống yêu nước, tinh thần dân tộc đàn kết quyết tâm bảo vệ thành quả chế độ
mới. Đồng thời dưới sự lãnh đạo của chủ tịch Hồ Chí Minh nhân dân cả nước
đồng lòng xây dựng và bảo vệ đất nước. Trên thế giới hệ thống xã hội chủ
nghĩa hình thành, phong trào giải phóng dân tộc dâng cao ở các nước thuộc
địa và phụ thuộc.
Tuy nhiên nước ta cũng phải đối mặt với muôn vàn khó khăn thử thách,
giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm, trực tiếp đe dọa đến sự tồn vong của nhà
nước non trẻ vừa mới được thành lập. Nguy cơ lớn nhất đối với Việt Nam
Dân chủ Cộng hòa là với danh nghĩa giải giáp quân đội Nhật thì các đội quân
đồng minh dồn dập kéo vào nước ta. Ở miền Bắc 20 vạn quân của Tưởng
Giới Thạch kéo vào nước ta đóng quân ở Hà Nội và hầu hết các thành phố, thị
xã từ biên giới Việt – Trung đến vĩ tuyến 16. Quân của Tưởng vào Việt Nam
còn nhằm thực hiện âm mưu tiêu diệt Đảng Cộng sản Đông Dương, phá tan
mặt trận Việt Minh, giúp bọn phản cách mạng Việt Nam đánh đổ chính quyền
nhân dân và lập nên một chính phủ phản động làm tay sai cho chúng. Theo
sau chúng là tay sai thuộc các tổ chức phản động như Việt Nam Quốc dân
đảng (Việt Quốc) và Việt Nam Cách mạng đồng minh hội (Việt Cách) nhằm
vu oan nói xấu Việt Minh, chống chính quyền cách mạng còn non trẻ và đòi
15
gạt các bộ trưởng là đảng viên cộng sản ra khỏi chính phủ.
Ở miền Nam, tình hình còn nghiêm trọng hơn. Ngoài việc lấy danh nghĩa
là quân đồng minh vào giải giáp quân đồng minh từ vĩ tuyến 16 trở vào, quân
đội Anh còn giúp thực dân Pháp quay lại xâm lược nước ta lần thứ hai. Ngay
từ ngày 2/9/1945,giữa lúc nhân dân Sài Gòn tổ chức míttinh biểu tình tuyên
bố ngày độc lập của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thì một số tên thực
dân phản động Pháp đã núp đằng sau các khu nhà xả súng bắn vào đoàn
người biểu tình làm cho 47 người bị chết và nhiều người bị thương. Ngày
23/9/1945 quân đội Pháp nổ súng đánh chiếm Sài Gòn, chính thức mở đầu
cuộc xâm lược Việt Nam lần thứ hai.
Ngoài lực lượng quân Tưởng, Anh, Pháp trên đất nước lúc đó còn có
khoảng 6 vạn quân Nhật đang chờ giải giáp. Nhân lúc chờ giải giáp, một bộ
phận của quân đội Nhật đã được quân đội Anh sử dụng để tấn công vào lực
lượng vũ trang của ta, dọn đường cho quân Pháp đánh chiếm vào Sài Gòn và
nhiều vùng ở miền Nam. Tính đến thời điểm này trên đất nước ta có khoảng
hơn 30 vạn quân Tưởng, Anh, Pháp và Nhật, chưa lúc nào đất nước ta lại có
nhiều kẻ thù xâm lược đến thế. Trong lúc đó, lực lượng mọi mặt trận của
nước Việt Nam mới ra đời còn chưa được nhà nước nào công nhận, còn chưa
kịp củng cố và phát triển, khối đại đoàn kết toàn dân trong mặt trận dân tộc
thống nhất và cơ cấu tổ chức bộ máy chính quyền cách mạng còn đang tiếp
tục củng cố và mở rộng. Lực lượng vũ trang cách mạng còn non trẻ, trang bị
kém, thiếu thốn kinh nghiệm chiến đấu còn chưa vững vàng.
Nền kinh tế nước ta vốn là nền nông nghiệp lạc hậu lại bị chiến tranh tàn
phá nặng nề, các chính sách bóc lột của Pháp – Nhật trong mấy mươi năm
thống trị, ảnh hưởng của thiên tai lại càng làm cho nền kinh tế nước ta suy
giảm nghiêm trọng. Nạn đói cuối năm 1944 đầu năm 1945 vốn dĩ chưa được
phục hồi. Nạn lụt lớn vào tháng 8/1945 làm vỡ đê ở 9 tỉnh Bắc Bộ, 1/3 diện
16
tích canh tác bị hư hại nặng. Ước tính sau thiệt hại của trận lũ lụt năm đó gây
ra khoảng 2000 triệu đồng. Ba tỉnh vùng Bắc Trung Bộ bao gồm Thanh Hóa,
Nghệ An, Hà Tĩnh cũng bị mất mùa trên khoảng 1/2 diện tích. Nạn đói đầu
năm 1945 vừa mới chấm dứt đã cướp đi sinh mệnh của hơn 2 triệu đồng bào
ta. Tiếp ngay sau trận lũ lụt là hạn hán kéo dài khiến cho nửa tổng số diện tích
canh tác đất ở Bắc Bộ không sử dụng được. Các ngành kinh tế bị đình đốn
nghiêm trọng, nhiều cơ sở công nghiệp còn chưa phục hồi, chưa đưa vào hoạt
động khiến cho hàng vạn công nhân bị thất nghiệp. Nhiều xí nghiệp còn đang
nằm trong tay tư bản Pháp. Tính riêng trong ngành khai thác mỏ than, năm
1940 có 395000 công nhân khai thá được khoảng 2,5 triệu tấn than, nhưng
đến năm 1945 giảm xuống chỉ còn 4000 công nhân với sản lượng khai thác là
231000 tấn. Công nghiệp lạc hậu, đình đốn. Thương nghiệp ngừng trệ, bế tắc,
hàng hóa khan hiếm. Đời sống của toàn thể nhân dân Việt Nam khổ cực [13,
tr 7].
Về tài chính, ngân sách nhà nước lúc này hầu như là trống rỗng. Nhà nước
chỉ có hơn 1,2 triệu đồng, trong đó quá nửa là tiền rách khó lưu hành. Tài
chính cạn kiệt. Các khoản thu từ thuế thì bị giảm sút, thuế quan là một trong
những nguồn thu chính của nhà nước và chiếm tới 3/4 ngân sách của ngân
hàng Đông Dương, nhưng đến thời điểm này thì lại suy giảm. Mặt khác, Ngân
hàng Đông Dương còn nằm trong tay của tư bản Pháp. Lợi dụng quyền nắm
việc phát hành tiền giấy bạc, chúng luôn luôn gây rối về tiền tệ, quân đội
Tưởng còn tung đồng “quan kim” và “quốc tệ” của chúng ra thị trường làm
lũng đoạn nặng nề hơn nền tài chính của nước ta, gây bất lợi cho ta.
Các “di sản” văn hóa lạc hậu của chế độ thực dân để lại khá nặng nề: hơn
90% dân số không biết chữ, các tệ nạn xã hội cũ như nạn nghiện rượu, hút
thuốc phiện, mê tín dị đoan,… bệnh dịch hoành hành khắp mọi nơi, rất trầm
trọng và phổ biến.
17
Giặc ngoài, thù trong, khó khăn đè nặng lên đất nước ta, đặt chính quyền
cách mạng trước một tình thế “ngàn cân treo sợi tóc”. Vận mệnh độc lập dân
tộc vừa mới giành được đang đứng trước nguy cơ sống còn.
Hệ thống xã hội chủ nghĩa đã hình thành. Liên Xô có vị trí quan trọng trên
vũ đài chính trị quốc tế, là trụ cột của cuộc đấu tranh vì độc lập dân tộc, dân
chủ và hòa bình thế giới. Cách mạng giải phóng dân tộc phát triển rộng rãi
làm lay chuyển mạnh mẽ hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc. Phong
trào đấu tranh ở các nước tư bản chủ nghĩa đòi tự do dân chủ, đòi cải thiện đời
sống diễn ra sôi nổi tại một số nước như Italia, Pháp.
Trong khi đó, hệ thống các nước đế quốc chủ nghĩa đang bị cản trở. Ba đế
quốc quốc Đức, Italia, Nhật Bản bị lực lượng đồng minh đánh bại gây tổn thất
nặng nề, Anh và Pháp cũng bị suy yếu nhiều. Đối lập lại với các nước suy yếu
thì có một đế quốc đã vượt lên sau chiến tranh đó chính là đế quốc Mĩ, họ
đang ra sức lôi kéo tập hợp lực lượng phản động ở các nước đế quốc để chống
lại các lực lượng cách mạng trên thế giới.
Một đặc điểm nổi bật của tình hình quốc tế sau chiến tranh thế giới thứ
hai là các lực lượng hòa bình, dân tộc, dân chủ trên thế giới đang trên đà tấn
công mạnh mẽ vào chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản cách mạng dưới
nhiều hình thức và tính chất khác nhau. Tuy nhiên các thế lực ấy cũng đang
tìm mọi cách để phục hồi và phát triển vai trò của mình, phản công lại các thế
lực hòa bình, dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội. Những mâu thuẫn trên thế
giới đang diễn ra khá phức tạp và ngày càng gay gắt. Trong đó chủ yếu là
mâu thuẫn giữa các lực lượng hòa bình, dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội
do Liên Xô đứng đầu với các nước đế quốc phản động do Mĩ cầm đầu.
Việt Nam là một bộ phận của cách mạng thế giới nên chịu tác động của
cuộc đối đầu căng thẳng đó. Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là nhà nước mới
được thành lập, còn non trẻ. Mặt trận dân tộc dân chủ mặc dù phát triển rất
18
rộng rãi nhưng chưa được củng cố vững chắc. Kẻ thù lại đang ra sức chống
phá cách mạng. Chính vì thế mà đoàn kết dân tộc và đoàn kết tôn giáo đang
là những vấn đề cấp thiết tại thời điểm đó.
Trước tình hình đó, ngay sau khi về Hà Nội, ngày 25/11/1945 Ban thường
vụ trung ương Đảng đã ra bản chỉ thị quan trong “Kháng chiến, kiến quốc”
xác định nhiệm vụ chiến lược, nhiệm vụ trước mắt và những chính sách lớn
để chỉ đạo hành động của toàn Đảng, toàn dân. Bản chỉ thị xác định “Cuộc
cách mạng Đông Dương lúc này là cuộc cách mạng dân tộc giải phóng. Cuộc
cách mạng ấy đang tiếp diễn, nó chưa hoàn thành vì đất nước ta chưa hoàn
thành độc lập. Khẩu hiệu vẫn là: “Dân tộc trên hết. Tổ quốc trên hết”. Kẻ thù
của ta lức này là thực dân Pháp xâm lăng, phải tập trung ngọn lửa đấu tranh
vào chúng” [28, tr 27- 28]. Nhiệm vụ cấp bách nhưng rất cơ bản của nhân dân
ta lúc này là: 1. Củng cố chính quyền cách mạng. 2. Chống thực dân Pháp
xâm lược. 3. Bài trừ nội phản. 4. Cải thiện đời sống nhân dân. Bảo vệ và củng
cố chính quyền cách mạng là nhiệm vụ bao trùm, khó khăn và nặng nề nhất vì
trong điều kiện nước ta lúc bấy giờ “việc giành chính quyền dễ bao nhiêu thì
việc giữ chính quyền khó bấy nhiêu” [28, tr 27- 28]
Trước tình thế muôn vàn khó khăn ấy, Phật giáo Việt Nam với tinh thần
yêu nước và truyền thống nhập thế vốn có của mình đã tích cực tham gia vào
cách mạng thực hiện các biện pháp kinh tế, tài chính ủng hộ Chính phủ Hồ
Chí Minh, ủng hộ nền độc lập của nhà nước còn non trẻ của toàn dân tộc.
Thực hiện khẩu hiệu “Dân tộc trên hết. Tổ quốc trên hết” hoàn thành sự
nghiệp giải phóng dân tộc la nhiệm vụ thiêng liêng và cấp bách nhất của nhân
dân ta thời điểm này. Trong hơn một năm sau khi giành được độc lập, chính
quyền thuộc về tay nhân dân củng cố xây dựng tiềm lực đáp ứng cho cuộc
kháng chiến lâu dài chống thực dân Pháp và phản cách mạng. Ban thường vụ
Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương chủ trương lập mặt trận dân tộc
19