Tải bản đầy đủ (.pdf) (58 trang)

Kịch nói cách mạng miền bắc trong cuộc kháng chiến chống mĩ cứu nước (1954 1975)

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (678.76 KB, 58 trang )

TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA LỊCH SỬ
======

PHẠM THỊ TRANG

KỊCH NÓI CÁCH MẠNG MIỀN BẮC TRONG
CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG MĨ CỨU NƢỚC
(1954 - 1975)
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Lịch sử Việt Nam

HÀ NỘI - 2018


TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA LỊCH SỬ
======

PHẠM THỊ TRANG

KỊCH NÓI CÁCH MẠNG MIỀN BẮC TRONG
CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG MĨ CỨU NƢỚC
(1954 - 1975)
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Lịch sử Việt Nam

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học

ThS. NGUYỄN VĂN NAM


HÀ NỘI - 2018


LỜI CAM ĐOAN
Em xin cam đoan đây là công trình của riêng em dưới sự hướng dẫn
của ThS. Nguyễn Văn Nam và thầy Trần Anh Đức.
Các số liệu, tài liệu nêu ra trong khóa luận là trung thực, đảm bảo tính
khách quan, khoa học, các tài liệu, số liệu có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng.
Nếu sai em xin chịu hoàn toàn trách nhiệm.
Hà Nội, ngày 09 tháng 05 năm 2018
Tác giả viết khóa luận

Phạm Thị Trang


LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành tốt khóa luận này, ngoài sự cố gắng, nỗ lực của bản
thân, em còn nhận được nhiều sự quan tâm, giúp đỡ tận tình từ phía các thầy,
cô giáo, gia đình, bạn bè tại Trường Đại học sư phạm Hà Nội 2.
Trước hết, em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới ThS. Nguyễn Văn
Nam, thầy Trần Anh Đức – giảng viên khoa Lịch Sử, trường Đại học sư phạm
Hà Nội 2 đã trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ và tận tình chỉ bảo em trong suốt
quá trình thực hiện khóa luận này.
Trong quá trình thực hiện, bản thân em cũng đã có nhiều cố gắng để
khóa luận đạt kết quả tốt, song do hạn chế về trình độ nghiên cứu, thời gian,
nguồn tài liệu… mà khóa luận không tránh khỏi những thiếu sót nhất định. Vì
vậy, em rất mong nhận được những ý kiến, đánh giá, nhận xét từ phía các
thầy giáo, cô giáo, các bạn sinh viên và những người quan tâm đến nghiên
cứu của em để bài nghiên cứu được hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!


Tác giả viết khóa luận

Phạm Thị Trang


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT TRONG KHÓA LUẬN
CNXH

Chủ nghĩa xã hội

XHCN

Xã hội chủ nghĩa

VHNT

Văn học nghệ thuật


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ........................................................................................................... 1
1. Lí do chọn đề tài ............................................................................................ 1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề ............................................................................ 2
3. Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu ................................................. 4
4. Nguồn tư liệu chính và phương pháp nghiên cứu ......................................... 4
5. Đóng góp của khóa luận................................................................................ 5
6. Kết cấu của khóa luận ................................................................................... 6
Chương 1: NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN HOẠT ĐỘNG SÁNG TÁC VÀ
BIỂU DIỄN KỊCH NÓI CÁCH MẠNG (1954 – 1975) ................................... 7

1.1. Tình hình Việt Nam và cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước (1954 –
1975).................................................................................................................. 7
1.2. Xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và nhiệm vụ của nền văn hóa
kháng chiến ..................................................................................................... 12
1.3. Sự hình thành và phát triển văn hóa kịch nói cách mạng trước năm 1954
......................................................................................................................... 16
Tiểu kết chương 1............................................................................................ 18
Chương 2: HOẠT ĐỘNG SÁNG TÁC VÀ BIỂU DIỄN KỊCH NÓI CÁCH
MẠNG (1954 – 1975) ..................................................................................... 20
2.1. Kịch nói cách mạng giai đoạn 1954 - 1964 ............................................. 20
2.1.1. Hoạt động sáng tác ................................................................................ 20
2.1.1.1. Lực lượng sáng tác ............................................................................. 20
2.1.1.2. Nội dung sáng tác ............................................................................... 21
2.1.1.3. Những tác giả tiêu biểu ...................................................................... 25
2.1.2. Hoạt động biểu diễn .............................................................................. 26
2.1.2.1. Lực lượng chuyên nghiệp .................................................................. 26
2.1.2.2. Lực lượng nghiệp dư .......................................................................... 28


2.2. Kịch nói cách mạng giai đoạn 1965 - 1975 ............................................. 29
2.2.1. Hoạt động sáng tác ................................................................................ 29
2.2.1.1. Lực lượng sáng tác ............................................................................. 29
2.2.1.2. Nội dung sáng tác ............................................................................... 30
2.2.1.3. Những tác giả tiêu biểu ...................................................................... 37
2.2.2. Hoạt động biểu diễn .............................................................................. 38
2.2.2.1. Lực lượng chuyên nghiệp .................................................................. 38
2.2.2.2. Lực lượng nghiệp dư .......................................................................... 40
Tiểu kết chương 2............................................................................................ 46
KẾT LUẬN ..................................................................................................... 47
DANH MỤC CÁC TÀI LIỆU THAM KHẢO............................................... 49



MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Trên bước đường hình thành và phát triển, cho đến nay, kịch nói cách
mạng Việt Nam đã trải qua hơn nửa thế kỉ với những thành tựu rực rỡ. So với
nghệ thuật diễn xướng như Tuồng, Chèo thì kịch nói là bộ môn nghệ thuật
non trẻ, còn đối với truyện, thơ dân gian thì kịch nói lại càng là loại hình văn
học sinh sau đẻ muộn. Ra đời trên nền tảng sân khấu kịch nói phương Tây,
trong giai đoạn đầu xuất hiện, cũng như bao ngành nghệ thuật khác, kịch nói
cách mạng đã trải qua những thăng trầm khác nhau. So với những đề tài về
lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam hay giai cấp công nhân Việt Nam thì kịch
nói cách mạng Việt Nam là đề tài còn khá mới mẻ và chưa được nhiều người
quan tâm, nghiên cứu.
Hơn thế nữa, kịch nói cách mạng là đề tài hấp dẫn bởi tính chất chính
luận, mang đến cho người đọc, người nghiên cứu những hướng đi khác nhau
và những cái nhìn đa dạng, nhiều chiều về đời sống sản xuất, chiến đấu trong
kháng chiến chống Mĩ giai đoạn 1954 – 1975.
Sau năm 1954, Việt Nam bị chia cắt làm hai miền với hai chế độ chính
trị khác nhau. Miền Bắc thực hiện hàn gắn vết thương chiến tranh, khôi phục
và phát triển kinh tế, đi lên XHCN và trở thành hậu phương vững chắc cho
chiến trường miền Nam… Ở miền Nam bước vào thời kì trực tiếp chống Mĩ,
thống nhất đất nước. Vì vậy, nhiệm vụ lịch sử của kịch nói miền Bắc là phản
ánh đúng tình hình thực tế của đất nước để trở thành nguồn cổ vũ, động viên
to lớn của quân dân ta trong sản xuất và chiến đấu. Bên cạnh vai trò to lớn của
những thắng lợi trên chiến trường và trên mặt trận ngoại giao thì cuộc đấu
tranh trên mặt trận văn hóa, tư tưởng cũng có những tác dụng nhất định đối
với công cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước, trong đó có kịch nói cách
mạng.


1


Nghiên cứu đề tài không chỉ mô tả, làm sáng tỏ những hoạt động sáng
tác, biểu diễn của kịch nói cách mạng miền Bắc qua nhiều giai đoạn trong
suốt thời kì 1954 – 1975 nhằm đáp ứng yêu cầu của thực tiễn lịch sử rất đặc
biệt đã đặt ra, mà qua đó còn rút ra được những đặc điểm, vai trò của kịch nói
cách mạng miền Bắc với cuộc kháng chiến chống Mĩ, cứu nước của dân tộc.
Nghiên cứu đề tài còn góp phần tìm hiểu văn hóa, văn nghệ và cả cuộc kháng
chiến chống Mĩ cứu nước của Lịch sử hiện đại Việt Nam.
Trong giai đoạn hiện nay, khi một số loại hình sân khấu nghệ thuật
trong đó có kịch nói đang bị mai một do hoàn cảnh lịch sử thay đổi dẫn đến
thị hiếu người thưởng thức cũng thay đổi, do yếu tố thị trường tác động thì
nghiên cứu đề tài có ý nghĩa thực tiễn quan trọng nhằm góp phần lưu giữ và
phát huy các giá trị của kịch nói cách mạng trong nền sân khấu hiện đại Việt
Nam.
Với ý nghĩa lí luận và thực tiễn sâu sắc trên, tác giả đã quyết định chọn
vấn đề “Kịch nói cách mạng miền Bắc trong cuộc kháng chiến chống Mĩ
cứu nước (1954 - 1975)” làm đề tài cho Khóa luận Tốt nghiệp chuyên ngành
Lịch sử Việt Nam.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Hiện nay, có một số công trình nghiên cứu, ấn phẩm, bài viết liên quan
đến đề tài. Có thể kể đến một số công trình tiêu biểu như sau:
Nổi bật nhất là cuốn“Bước đầu tìm hiểu lịch sử kịch nói Việt Nam 1945
– 1975”, Nxb Văn hóa xuất bản năm 1982, do Phan Kế Hoành và Vũ Quang
Vinh đồng chủ biên. Cuốn sách đã cung cấp nhiều tư liệu quý cho những ai
quan tâm và tìm hiểu về lịch sử sân khấu Việt Nam nói chung và kịch nói
cách mạng Việt Nam nói riêng. Với cuốn sách này, độc giả sẽ có nhận thức về
các giai đoạn phát triển chính của sân khấu kịch nói trong khoảng 30 năm, từ
1945 đến 1975. Trong mỗi giai đoạn, hai tác giả đã phân tích một cách khái


2


quát nhất về hoàn cảnh lịch sử ra đời các vở kịch, nội dung và hoạt động biểu
diễn của các lực lượng kịch chuyên nghiệp cũng như lực lượng nghiệp dư.
Đúng như tên gọi, đây chưa phải là một cuốn sách lịch sử với ý nghĩa đầy đủ
của nó, mà mới chỉ là một sự tập hợp những tư liệu cần thiết cho sự ra đời của
những tác phẩm lịch sử kịch nói trong tương lai.
Tác giả Bùi Ngọc Trác trong cuốn sách“Cuộc sống chống Mĩ cứu nước
và mấy vấn đề phát triển kịch hiện nay” do Nxb Văn hóa xuất bản năm 1987
đã cung cấp cho bạn đọc kiến thức về phong trào sáng tác kịch trong những
năm chống Mĩ cứu nước gian khổ nhưng đầy hào hùng. Tác giả cũng cho
chúng ta thấy được một số vấn đề cơ bản thuộc về đặc trưng, bản chất loại
hình của nghệ thuật sân khấu kịch nói; nêu lên cái hay, cái đẹp và sức hấp dẫn
riêng của nghệ thuật kịch. Qua đó, tác giả đã rút ra những thành tựu và khái
quát những điểm mạnh, điểm yếu của kịch chống Mĩ giai đoạn 1954 – 1975.
Thứ ba là cuốn sách “Nhân vật trung tâm của kịch nói Việt Nam 1920 –
2000”của tác giả Hà Diệp, do Nxb Văn học xuất bản năm 2005. Cuốn sách là
một công trình nghiên cứu khá công phu, tỉ mỉ, trình bày về nhân vật trung
tâm của kịch nói và rút ra những ưu – nhược điểm trong việc xây dựng nhân
vật trung tâm qua các thời kì lịch sử ở Việt Nam. Đồng thời, tác giả cũng đã
xác định được diện mạo nhân vật trung tâm cho sân khấu kịch nói trong giai
đoạn hiện nay.
Đây là những công trình có giá trị để tác giả kế thừa trong quá trình
thực hiện đề tài, tuy nhiên những công trình đó còn có những hạn chế như:
chưa đánh giá được sâu sắc về từng giai đoạn phát triển của kịch nói Việt
Nam trong suốt cuộc kháng chiến chống Mĩ (1945 – 1975), chưa đi sâu vào
những hoạt động cũng như những đóng góp nghệ thuật của các tác giả, các
diễn viên trong các buổi diễn.


3


3. Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu
3.1. Mục đích
Công trình nghiên cứu kịch nói cách mạng miền Bắc trong cuộc kháng
chiến chống Mĩ cứu nước (1954 - 1975).
3.2. Nhiệm vụ
Để nghiên cứu đề tài, tác giả làm rõ các nội dung sau:
Những nhân tố tác động tới hoạt động sáng tác và biểu diễn kịch nói
cách mạng giai đoạn 1954 – 1975 và mối tương quan giữa các nhân tố đó.
Hoạt động sáng tác và biểu diễn kịch nói cách mạng giai đoạn 1954 –
1975.
Tác động của các hoạt động kịch nói cách mạng đến cuộc chiến đấu và
phục vụ chiến đấu chống Mĩ, cứu nước giai đoạn 1954– 1975.
3.3. Phạm vi
- Về thời gian: Đề tài nghiên cứu từ năm 1954, khi Hiệp định Geneve
được kí kết, mở ra giai đoạn phát triển mới của đời sống nghệ thuật miền Bắc
đến năm 1975 khi đất nước được thống nhất. Đây là thời gian kịch nói cách
mạng có điều kiện phát triển trong bối cảnh lịch sử rất đặc biệt – đất nước bị
chia cắt và cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước diễn ra rất khốc liệt, kéo dài.
- Về không gian: Những hoạt động và thành tựu của sân khấu kịch nói
Việt Nam chủ yếu diễn ra ở miền Bắc Việt Nam, đây được xem là vùng hậu
phương của cách mạng Việt Nam thời kì này. Do đó, không gian nghiên cứu
của đề tài là kịch nói ở miền Bắc Việt Nam.
- Về nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu các hoạt động sáng tác và
biểu diễn kịch nói cách mạng miền Bắc Việt Nam từ năm 1954 đến năm
1975.
4. Nguồn tƣ liệu chính và phƣơng pháp nghiên cứu

4.1. Nguồn tư liệu chính

4


Để thực hiện đề tài, tác giả đã sử dụng các nguồn tư liệu cấp 2, tiêu
biểu như:
- Các ấn phẩm có liên quan đến đề tài kịch nói của các Nxb: Nxb Văn
hóa, Nxb Văn hóa – Nghệ thuật, Nxb Sân khấu, Nxb Văn học, Ty văn hóa Hà
Tĩnh...
- Các công trình nghiên cứu khoa học (luận án tiến sĩ) có liên quan đến
kịch nói.
- Các bài viết, vở kịch có liên quan đến đề tài kịch nói cách mạng trên
mạng Internet…
- Các cuốn sách thông sử về lịch sử Việt Nam thời kì 1954 – 1975 do
Nxb Giáo dục xuất bản.

4.2. Phƣơng pháp nghiên cứu
Phương pháp lịch sử và phương pháp lô-gíc là hai phương pháp nghiên
cứu chủ đạo. Sử dụng phương pháp lịch sử, tác giả đã cố gắng phác dựng lại
sự phát triển của nền kịch nói cách mạng qua các giai đoạn trong thời kì
kháng chiến chống Mĩ, cứu nước. Phương pháp lô-gíc được sử dụng để gắn
kết, xâu chuỗi các sự kiện từ đó rút ra những đặc điểm, vai trò của kịch nói
cách mạng thời kì kháng chiến chống Mĩ.
Ngoài ra, tác giả còn sử dụng những phương pháp khác như phân tích,
tổng hợp, thống kê, so sánh đối chiếu… Tác giả cũng sử dụng phương pháp
thu thập thông tin về đối tượng qua nhiều kênh, trang mạng Internet…để thu
thập tư liệu, phân tích, đánh giá và trình bày nội dung nghiên cứu.
5. Đóng góp của khóa luận
Về mặt khoa học:

- Lần đầu tiên, tác giả đã tập hợp được một hệ thống các tư liệu liên
quan đến kịch nói cách mạng, từ đó mô tả, dựng lại các hoạt động sáng tác,
biểu diễn của kịch nói cách mạng miền Bắc trong suốt thời kì 1954 – 1975.

5


Không những vậy, đề tài còn rút ra được những đặc điểm, vai trò của kịch nói
miền Bắc với cuộc kháng chiến chống Mĩ, cứu nước của dân tộc. Như vậy, đề
tài góp phần vào việc tăng cường nhận thức khoa học đối với kịch nói cách
mạng Việt Nam thời kì 1954 – 1975.
- Đề tài cũng góp phần tìm hiểu văn hóa, nghệ thuật trong cuộc kháng
chiến chống Mĩ, cứu nước và là nguồn tài liệu quan trọng để nghiên cứu lịch
sử Việt Nam hiện đại, nhất là về cuộc kháng chiến chống Mĩ của dân tộc.
Về mặt thực tiễn:
- Khóa luận góp phần bổ sung thêm tài liệu phục vụ cho việc nghiên
cứu, giảng dạy và học tập về văn hóa, nghệ thuật Việt Nam thời kì kháng
chiến chống Mĩ.
- Khóa luận góp phần gìn giữ và phát huy các giá trị của kịch nói cách
mạng trong nền sân khấu hiện đại Việt Nam.
6. Kết cấu của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
chính của khóa luận gồm 2 chương:
Chương 1: Nhân tố tác động đến hoạt động sáng tác và biểu diễn
kịch nói cách mạng (1954 – 1975)
Chương 2: Hoạt động sáng tác và biểu diễn kịch nói cách mạng
(1954 – 1975)

6



Chƣơng 1
NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN HOẠT ĐỘNG SÁNG TÁC VÀ BIỂU
DIỄN KỊCH NÓI CÁCH MẠNG (1954 – 1975)
1.1. Tình hình Việt Nam và cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nƣớc (1954 –
1975)
Trong từng thời kì của lịch sử dân tộc, đất nước Việt Nam lại đứng
trước những hoàn cảnh khác nhau với đặc trưng riêng của từng thời kì. Nếu
như trước năm 1954, đất nước còn thống nhất và phải tiến hành cuộc kháng
chiến anh dũng chống thực dân Pháp thì sau năm 1954, tình hình đất nước đã
có sự thay đổi to lớn: đất nước bị chia cắt làm hai miền với hai chế độ chính
trị khác nhau.
Miền Bắc hoàn toàn được giải phóng và đi lên chủ nghĩa xã hội. Ngày
10/10/1954, quân ta vào tiếp quản Hà Nội trong không khí tưng bừng của
ngày hội giải phóng. Ngày này về sau được coi là ngày giải phóng Thủ đô.
Ngày 1/1/1955, Trung ương Đảng, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh ra
mắt nhân dân Thủ đô. Toán lính Pháp cuối cùng rút khỏi đảo Cát Bà ngày
16/5/1955. Cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân đã hoàn thành, tạo điều
kiện cho miền Bắc bước vào thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Ở miền
Nam, Pháp ngày càng suy giảm vị trí và ảnh hưởng của mình. Giữa tháng
5/1956, Pháp rút quân khỏi miền Nam khi chưa thực hiện cuộc hiệp thương
tổng tuyển cử thống nhất hai miền Nam – Bắc theo điều khoản của Hiệp định
Geneve. Mĩ tìm cách can thiệp vào Nam Việt Nam, đưa Ngô Đình Diệm lên
nắm chính quyền hòng âm mưu chia cắt lâu dài nước Việt Nam, biến miền
Nam thành thuộc địa kiểu mới và căn cứ quân sự của Mĩ.Tháng 3 năm 1965,
Mĩ và chính quyền Ngô Đình Diệm lập nên chế độ “Việt Nam Cộng hòa”. Sự

7



kiện này được coi là cột mốc đánh dấu việc Mĩ đã áp đặt xong thể chế chính
trị phụ thuộc Mĩ ở Nam Việt Nam.
Tiếp đó, Mĩ đã không ngừng viện trợ mọi mặt cho chính quyền Sài
Gòn. Về quân sự: cho xây dựng lực lượng quân đội Sài Gòn, vũ khí, phương
tiện chiến tranh do Mĩ cung cấp và do các cố vẫn Mĩ trực tiếp huấn luyện, chỉ
đạo. Lực lượng này được sử dụng nhằm đàn áp các phong trào đấu tranh của
nhân dân miền Nam. Về kinh tế, Mĩ đã đưa hàng hóa ế thừa từ Mĩ sang và
tăng cường viện trợ kinh tế cho Nam Việt Nam nhằm lũng đoạn thị trường và
biến nơi đây phụ thuộc nặng nề vào kinh tế Mĩ. Về văn hóa, chúng đã du nhập
văn hóa Mĩ vào miền Nam, nhằm đầu độc nhân dân ta, nhất là các thế hệ
thanh thiếu niên.Miền Nam Việt Nam trở thành nơi có vị trí quan trọng trong
chiến lược toàn cầu của Mĩ. Mĩ coi đó là tuyến phòng thủ cuối cùng để chống
cộng. Mục tiêu của Mĩ là biến nơi đây thành thuộc địa kiểu mới, là căn cứ
quân sự nhằm “đắp con đê ngăn làn sóng đỏ” – ngăn chặn chủ nghĩa cộng
sản đang phát triển ở khu vực Đông Nam Á và chống lại phong trào giải
phóng dân tộc đang bùng nổ tại khu vực này.
Khi Mĩ triển khai và áp đặt xong chủ nghĩa thực dân kiểu mới ở miền
Nam, thì đối tượng đấu tranh của nhân dân ta không còn là Pháp nữa mà là đế
quốc Mĩ – một siêu cường có tiềm lực kinh tế, quân sự khổng lồ và hung
hăng, hiếu chiến. Vì vậy, cuộc đấu tranh của dân tộc ta chắc chắn sẽ diễn ra ác
liệt hơn gấp nhiều lần so với những thời kì trước. Cả nước ta chính thức bước
vào một giai đoạn mới – giai đoạn kháng chiến chống Mĩ, cứu nước (1954 –
1975). Sự nghiệp cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trên cả nước còn chưa
hoàn thành. Nhân dân Việt Nam vừa phải hàn gắn vết thương chiến tranh,
khôi phục kinh tế, đưa miền Bắc tiến lên theo con đường XHCN, vừa phải
tiếp tục đẩy mạnh cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam. Tình
hình mỗi miền có những đặc điểm khác nhau, do đó nhiệm vụ đặt ra cho mỗi

8



miền cũng khác. Miền Bắc tiến lên giai đoạn cách mạng xã hội chủ nghĩa, xây
dựng thành căn cứ địa cách mạng vững chắc của cả nước; miền Nam tiếp tục
đẩy mạnh cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, tiến tới thực hiện hòa bình,
thống nhất đất nước. Nhiệm vụ chung của nhân dân cả nước là tiến hành đồng
thời hai chiến lược cách mạng ở hai miền: cách mạng XHCN ở miền Bắc và
cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam, tiến tới hòa bình, thống
nhất Tổ quốc.
Phong trào đấu tranh của nhân dân miền Nam đòi thi hành Hiệp định
Geneve đã diễn ra sôi nổi, rộng khắp, lôi cuốn hàng chục vạn đồng bào tham
gia. Tuy nhiên, với âm mưu là chia cắt nước ta lâu dài của Mĩ và chính quyền
Ngô Đình Diệm khiến cho việc hiệp thương Tổng tuyển cử không thực hiện
được. Chúng tiến hành đàn áp các lực lượng cách mạng bằng việc thực hiện
chính sách “tố cộng”, “diệt cộng”, âm mưu tách cán bộ, chiến sĩ ra khỏi quần
chúng nhân dân. Đồng thời, ra đạo luật 10/59, lê máy chém đi khắp miền
Nam, sử dụng những thủ đoạn tàn bạo, thẳng tay đàn áp những người yêu
nước hoặc bất cứ ai không hợp tác với chúng… dẫn đến hậu quả là hàng chục
vạn cán bộ, quần chúng cách mạng bị địch giết hại hoặc tù đày. Chính sách
của Mĩ và Diệm đã làm cho lực lượng cách mạng miền Nam bị tổn thất nặng
nề nhưng không thể nào ngăn cản được phong trào đấu tranh của quần chúng.
Phong trào đấu tranh thời kì này diễn ra rất quyết liệt nhằm giữ gìn thực lực
cách mạng. Điều này đã đặt ra yêu cầu cấp bách là đưa cách mạng miền Nam
vượt qua khó khăn, thực hiện thống nhất nước nhà. Tiêu biểu cho các phong
trào đấu tranh của nhân dân miền Nam thời kì này là phong trào “Đồng khởi”
(1959 – 1960) có ý nghĩa vô cùng to lớn, chấm dứt thời kì tạm thời ổn định
của chế độ thực dân kiểu mới của Mĩ ở miền Nam, mở ra thời kì khủng hoảng
của chế độ Sài Gòn và đưa cách mạng miền Nam từ thế giữ gìn lực lượng
sang thế tiến công.

9



Từ năm 1961 đến năm 1973, Mĩ liên tiếp thực hiện các chiến lược
chiến tranh ở miền Nam, mở rộng ra trên phạm vi cả nướcvà các quốc gia
khác là Lào, Campuchia (“chiến tranh đặc biệt”, “chiến tranh cục bộ” và
chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”, “Đông Dương hóa chiến tranh”).
Không dừng lại ở đó, Mĩ còn mở rộng chiến tranh phá hoại miền Bắc, âm
mưu phá hoại công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và ngăn chặn chi viện từ
hậu phương lớn miền Bắc cho miền Nam. Nhìn chung, đó là các hình thức
chiến tranh xâm lược thực dân kiểumới của Mĩ, được tiến hành bằng những
lực lượng chủ yếu như: quân đội Sài Gòn, quân Mĩ hoặc quân các nước đồng
minh của Mĩ, dưới sự chỉ huy của các cố vấn, dựa vào vũ khí, trang bị kĩ
thuật, phương tiện chiến tranh của Mĩ nhằm chống lại lực lượng cách mạng và
nhân dân cách mạng ở 3 nước Đông Dương. Để thực hiện âm mưu của mình,
một mặt chúng cho tăng cường xây dựng lực lượng quân đội mạnh bao gồm
quân Mĩ, đồng minh của Mĩ và quân đội Sài Gòn; mặt khác, tăng cường viện
trợ về kinh tế và quân sự cho chính quyền tay sai.
Trước những âm mưu và thủ đoạn trên, nhân dân Việt Nam nói riêng
và các nước Đông Dương nói chung đã phối hợp chiến đấu quyết liệt với Mĩ
và quân đội tay sai trên khắp các mặt trận: quân sự, chính trị, ngoại giao…và
giành được nhiều thắng lợi to lớn. Ở Việt Nam, về quân sự, tiêu biểu với
chiến thắng trong trận Núi Thành, Vạn Tường (1965),tiếp đó là đập tan hai
cuộc phản công chiến lược mùa khô trong các năm từ 1965 đến 1967; thực
hiện cuộc Tổng tiến công Tết Mậu Thân 1968; cuộc tiến công chiến lược năm
1972; đập tan cuộc hành quân “Lam Sơn 719” (1971). Bên cạnh đó, quân dân
ta còn giành thắng lợi lớn trong cuộc tiến công chiến lược năm 1972, chiến
thắng “Điện Biên Phủ trên không” (12/1972), chiến dịch “Đường 14 – Phước
Long” (1/1975)... Trên mặt trận chính trị: tiêu biểu là phong trào đấu tranh
chống phá “ấp chiến lược”, phong trào đấu tranh của đội quân “tóc dài”, của


10


đông đảo các thành phần học sinh, sinh viên, phật tử… Về ngoại giao, thắng
lợi có ý nghĩa quan trọng nhất là việc kí kết Hiệp định Pari về chấm dứt chiến
tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam (1/1973) giữa bốn bộ trưởng đại diện các
chính phủ tham dự hội nghị (Việt Nam dân chủ Cộng hòa, Hoa Kì, Cộng hòa
miền Nam Việt Nam, Việt Nam Cộng hòa) tại Pari. Đây là thắng lợi của sự
kết hợp giữa đấu tranh chính trị, quân sự, ngoại giao, mở ra bước ngoặt của
cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước của dân tộc. Mĩ phải cam kết chấm dứt
hoàn toàn chiến tranh xâm lược Việt Nam và rút hết quân về nước. Với Hiệp
định này, ta đã căn bản hoàn thành nhiệm vụ đánh cho Mĩ cút, làm so sánh
lực lượng ở miền Nam thay đổi cho cách mạng, tạo ra điều kiện thuận lợi để
tiến lên giải phóng hoàn toàn miền Nam.
Cuối năm 1974 – đầu năm 1975, trong tình hình so sánh lực lượng ở
miền Nam thay đổi mau lẹ rất có lợi cho cách mạng, Bộ Chính trị Trung ương
Đảng đề ra kế hoạch giải phóng miền Nam trong hai năm 1975 và 1976.
“Nhưng Bộ Chính trị nhấn mạnh cả năm 1975 là thời cơ và chỉ rõ nếu thời cơ
đến vào đầu hoặc cuối năm 1975 thì lập tức giải phóng miền Nam trong năm
1975. Bộ Chính trị cũng nhấn mạnh sự cần thiết tranh thủ thời cơ đánh
nhanh thắng nhanh để đỡ thiệt hại về người của cho nhân dân, giữ gìn tốt cơ
sở kinh tế, công trình văn hóa v.v., giảm bớt sự tàn phá của chiến tranh”[12;
tr.192]. Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy của quân dân ta ở miền Nam diễn ra
trong gần 2 tháng vào mùa Xuân năm 1975 với ba chiến dịch lớn: Chiến dịch
Tây Nguyên; Chiến dịch Huế - Đà Nẵng và Chiến dịch Hồ Chí Minh. Ngày
30/4/1975, xe tăng và bộ binh của ta tiến vào Dinh Độc Lập bắt toàn bộ Chính
phủ Trung ương Sài Gòn, Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng. Khi lá cờ
cách mạng tung bay trên nóc Dinh Độc Lập, báo hiệu chiến dịch Hồ Chí Minh
toàn thắng. Ngày này được coi là ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống
nhất đất nước sau 21 năm bị chia cắt (1954 – 1975).


11


Tình hình nước ta những năm từ 1954 đến 1975 đã tác động trực tiếp
đến nền nghệ thuật Việt Nam, đặc biệt là nghệ thuật kịch nói (1954 – 1975) ở
miền Bắc. Nhìn trên một góc độ nào đó, tình hình đó là chất liệu hiện thực để
người nghệ sĩ viết nên những tác phẩm giá trị nhằm tuyên truyền, cổ vũ và
động viên toàn thể cán bộ, chiến sĩ và quần chúng nhân dân thi đua chiến đấu,
sản xuất và lao động nhằm hướng đến những mục tiêu chung của đất nước.
1.2. Xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và nhiệm vụ của nền văn hóa
kháng chiến
Tình hình thực tế đất nước sau năm 1954 bị chia cắt thành hai miền sau
năm 1954 đã đặt ra những nhiệm vụ khác nhau đối với từng miền. Ở miền
Bắc, Đảng và Chính phủ đề ra chủ trương khôi phục kinh tế, hàn gắn vết
thương chiến tranh, đồng thời đẩy mạnh cải cách ruộng đất, cải tạo công
thương nghiệp để hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ và bước đầu cải
thiện đời sống của nhân dân. Với chiến thắng Điện Biên Phủ, quân dân ta đã
buộc thực dân Pháp chấp nhận kí kết Hiệp định Geneve, kết thúc chiến tranh
và lập lại hòa bình ở Đông Dương. Còn ở Việt Nam, một nửa đất nước được
giải phóng, một nửa đất nước vẫn phải cầm súng chiến đấu với kẻ thù. Ở miền
Bắc, nhân dân phải bắt tay ngay vào cuộc đấu tranh để được giải phóng hoàn
toàn. Lợi dụng 300 ngày chuyển quân tập kết theo quy định của Hiệp định
Geneve, thực dân Pháp phối hợp với đế quốc Mĩ và tay sai ra sức phá hoại
miền Bắc. Chúng thực hiện những thủ đoạn hết sức thâm độc như cài gián
điệp, phá hoại các công trình công cộng, các nhà máy, xí nghiệp, các di tích
lịch sử, văn hóa; hủy hoại hồ sơ, tài liệu, sổ sách nhằm gây khó khăn cho việc
tiếp quản miền Bắc của ta sau này; tung tin xuyên tạc, bôi nhọ chế độ miền
Bắc và dụ dỗ, lôi kéo đồng bào Công giáo di cư vào Nam. Đồng thời, chúng
tổ chức gây rối ở nhiều nơi, nhất là vùng sâu vùng xa, vùng dân tộc thiểu số.


12


Trước những hành động trên, nhân dân miền Bắc đã đấu tranh quyết liệt với
Pháp và đạt được nhiều kết quả to lớn.
Sau khi hoàn toàn được giải phóng, miền Bắc tiếp tục thi hành cải cách
ruộng đất, thực hiện khẩu hiệu “người cày có ruộng”. Từ cuối 1953 đến năm
1956 đã thực hiện được 5 đợt cải cách. Kết quả là thu được khoảng 81 vạn ha
ruộng đất, hơn 10 vạn trâu bò, 1,8 triệu nông cụ từ tay địa chủ chia cho 2,2
triệu nông hộ. Khẩu hiệu “người cày có ruộng” đã được hoàn thành [6;
tr.139].
Giai đoạn 1958 – 1960 là thời kì cải tạo xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc.
Tháng 11/1953, Hội nghị lần thứ 14 Ban chấp hành Trung ương Đảng được
triệu tập và đã vạch ra chủ trương cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với các thành
phần kinh tế tư bản tư doanh, tiểu thương, tiểu chủ, thợ thủ công và nông dân.
Trong kế hoạch 3 năm lần thứ hai, nhiệm vụ cải tạo xã hội chủ nghĩa trong
nông nghiệp được coi là trọng tâm với phương hướng là đưa nông dân vào
làm ăn tập thể. Kết quả là đến cuối năm 1960, có hơn 85% tổng số hộ nông
dân đã vào sản xuất tập thể [6; tr.148]. Với giai cấp tư sản dân tộc, đây là giai
cấp có số vốn ít, chủ yếu kinh doanh trong lĩnh vực thương nghiệp và nhà ở.
Đến năm 1960, công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với lực lượng này căn
bản được hoàn thành. Đối với lực lượng tiểu thương, tiểu chủ và thợ thủ công,
Đảng đã chủ trương đưa họ vào làm ăn tập thể trong các hợp tác xã thủ công
nghiệp, tổ sản xuất thủ công nghiệp và mua bán. Bên cạnh đó, công nghiệp
quốc doanh được ưu tiên đầu tư xây dựng. Cải tạo xã hội chủ nghĩa đã làm
thay đổi căn bản cơ cấu kinh tế - xã hội miền ở miền Bắc nước ta. Trên các
lĩnh vực văn hóa, giáo dục, y tế cũng đã đạt được nhiều thành tựu to lớn.
Nền văn học nghệ thuật hiện thực xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã có
những cống hiến to lớn vào sự nghiệp cách mạng của dân tộc. Tháng 1/1968,

Đại hội văn nghệ toàn quốc lần thứ IV được khai mạc. Ban chấp hành Trung

13


ương Đảng đã kêu gọi những người làm công tác văn hóa văn nghệ hăng hái
vươn lên, đem hết nhiệt tình và tài năng cống hiến cho sự nghiệp chống Mĩ,
cứu nước và xây dựng chủ nghĩa xã hội, đồng thời tin rằng trong giai đoạn
mới của cách mạng, văn nghệ “sẽ đạt tới những đỉnh cao trong lịch sử văn
học và nghệ thuật nước nhà” [8; tr.173].Trong thành tựu của nền văn nghệ
chống Mĩ cứu nước, sân khấu nói chung và kịch nói nói riêng đã có những
đóng góp đáng kể. Bằng sự trưởng thành và lớn mạnh về số lượng, chất
lượng; về cả chuyên nghiệp và nghiệp dư, cả trong đề tài chiến đấu bảo vệ Tổ
quốc và xây dựng chủ nghĩa xã hội… sân khấu kịch nói đã thực sự trở thành
vũ khí của Đảng trong cuộc cách mạng văn hóa tư tưởng và đã thực sự trở
thành một ngành nghệ thuật hiện đại, tiên tiến.
Đại hội văn hóa toàn quốc lần thứ II (2/1957) và Đại hội văn nghệ toàn
quốc lần thứ III (12/1961) là những sự kiện lớn, đánh dấu bước trưởng thành
của nền văn học nghệ thuật nước ta, trong đó có sân khấu. Tháng 5/1957, Hội
nghệ sĩ sân khấu Việt Nam được thành lập. Hội đã chỉ rõ con đường duy nhất
mà sân khấu phải đi: “Nhân dân ta đang tập trung lực lượng vào công cuộc
kiến thiết miền Bắc tiến lên chủ nghĩa xã hội, làm cơ sở vững chắc để đẩy
mạnh đấu tranh củng cố hòa bình, hoàn thành thống nhất, độc lập, dân chủ
cho Tổ quốc, nghệ thuật sân khấu nhất định phải có mặt và được góp phần
thích đáng” [8; tr.121].Kể từ đây, kịch nói dần đi vào chính quy, hiện đại, ở
cả chiều sâu và chiều rộng, trên cả hai lĩnh vực chuyên nghiệp cũng như
nghiệp dư.
Tháng 9/1960, Đại hội Đảng Lao động Việt Nam lần thứ III đã vạch ra
đường lối xây dựng CNXH ở miền Bắc, đồng thời đề ra phương hướng của kế
hoạch 5 năm lần thứ nhất (1961 – 1965). Về đường lối xây dựng CNXH ở

miền Bắc, sau khi phân tích đặc điểm kinh tế, xã hội miền Bắc: “Đại hội
khẳng định phải đưa miền Bắc “tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ

14


nghĩa xã hội”[6; tr.341]. Để thực hiện mục tiêu trên, Đảng ta đã chủ trương
tiến hành công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa, trong đó ưu tiên phát triển công
nghiệp nặng một cách hợp lí. Phương hướng công nghiệp hóa nhằm xây dựng
nền kinh tế xã hội chủ nghĩa hiện đại, kết hợp công nghiệp với nông nghiệp,
lấy công nghiệp nặng làm nền tảng, ưu tiên phát triển công nghiệp nặng, ra
sức phát triển công – nông nghiệp nhẹ. Đại hội đã đề ra nhiệm vụ cơ bản của
kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1961 – 1965) là: “Phấn đấu xây dựng bước đầu
cơ sở vật chất, kĩ thuật của chủ nghĩa xã hội, thực hiện một bước công nghiệp
hóa xã hội chủ nghĩa và hoàn thiện công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa” [6;
tr.341].Từ năm 1961 trở đi, miền Bắc Việt Nam bước vào một thời kì mới –
thời kì lấy xây dựng xã hội chủ nghĩa làm trọng tâm. Một phong trào thi đua
xây dựng được dấy lên khắp miền Bắc ở khắp các lĩnh vực: nông nghiệp,
công nghiệp, quân đội, thủ công nghiệp và trong giáo dục. Dưới sự lãnh đạo
của Đảng, mặc dù kế hoạch này chỉ được tiến hành trong gần 4 năm, nhưng
nền kinh tế và văn hóa đã có những bước phát triển to lớn. Nền văn học nghệ
thuật với nội dung xã hội chủ nghĩa và tính chất dân tộc cũng phát triển mạnh.
Bên cạnh nhiệm vụ hàn gắn vết thương chiến tranh và đi lên CNXH,
miền Bắc còn thực hiện nghĩa vụ rất lớn – nghĩa vụ hậu phương – chi viện
cho chiến trường miền Nam về cả nhân – vật lực để miền Nam đấu tranh
chống Mĩ.
Từ thực tiễn hoạt động xây dựng CNXH ở miền Bắc và trở thành hậu
phương vững chắc cho tiền tuyến miền Nam, nhiệm vụ của kịch nói cách
mạng là phải sáng tác ra những vở kịch để cổ vũ, động viên quân dân cả nước
tinh thần chiến đấu và sản xuất nhằm đi đến mục đích chung nhất là kháng

chiến chống Mĩ và thống nhất đất nước.

15


1.3. Sự hình thành và phát triển văn hóa kịch nói cách mạng trƣớc năm
1954
Năm 1921 được coi là mốc đánh dấu cho sự hình thành nền kịch nói
Việt Nam trên cơ sở tiếp thu nền kịch nói Châu Âu – một thành tựu nghệ
thuật của nhân loại, với sự ra đời của vở kịch Chén thuốc độc (Vũ Đình
Long). Kể từ đó, kịch nói dần phát triển cả về số lượng và chất lượng. Số lần
biểu diễn kịch nói ngày một tăng và phạm vi hoạt động của kịch dần dần mở
rộng ở khắp các tỉnh thành khác: Hải Phòng, Bắc Ninh, Vĩnh Yên, Thanh
Hóa, Vinh, Huế… Từ năm 1921 trở đi, việc diễn kịch nói đối với công chúng
đô thị đã trở thành một việc khá bình thường, không còn xa lạ như những năm
trước đó. Kịch nói kể từ khi ra đời đến trước năm 1954 được chia làm 3 giai
đoạn: 1921 – 1930, 1930 – 1945 và 1945 - 1954.
Ở giai đoạn đầu (1921 – 1930) được chia làm hai giai đoạn nhỏ hơn:
Thứ nhất là từ năm 1921 đến năm 1927:nhìn chung lại, hoạt động kịch
nói ở giai đoạn này còn non yếu. Nhưng bên cạnh đó, người ta cũng thấy rõ
con đường vươn lên, biểu hiện ở sự tăng lên về số lượng kịch bản Việt Nam
được công diễn và chiếm vị trí cao hơn so với hoạt động của sân khấu Pháp
trên đất nước ta. Yếu tố công chúng cũng có những tác động lớn đến bước
đường phát triển của kịch nói đương thời. Dư luận tiến bộ đã chống lại dư
luận lạc hậu về chức năng của kịch, đã động viên những người hoạt động
trong lĩnh vực kịch nói, điều này đã góp phần vào sự phát triển của kịch nói
Việt Nam.
Thứ hai, thời kì từ 1927 đến 1930: kịch nói đã phản ánh nhiều mặt của
ý thức xã hội và đã hình thành những khuynh hướng chủ đạo, có ý nghĩa xã
hội là khuynh hướng bảo vệ đạo đức cũ, đồng thời nảy sinh khuynh hướng

phê phán hiện thực và khuynh hướng đòi thoát li lễ giáo phong kiến.

16


Thời kì thứ hai (1930 – 1945): kịch nói đã có những bước tiến dài.
Cùng với sự tiến bộ về số lượng(kịch bản) là sự tiến bộ về chất lượng(diễn
xuất, kịch bản, các tổ chức kịch đoàn và ý thức của công chúng đối với kịch).
Nếu như ở cuối giai đoạn trước, sân khấu kịch nói mới chỉ tồn tại mờ nhạt thì
sang giai đoạn này, kịch nói đã phát triển hơn và có những đóng góp to lớn
vào sự nghiệp văn học nghệ thuật và sự nghiệp cách mạng của nước ta.
Thời kì thứ ba (1945 – 1954): cách mạng tháng Tám năm 1945 thành
công,lịch sử Việt Nam bước sang một giai đoạn mới. Cùng với sự thay đổi
của chính trị, xã hội và nền văn học nghệ thuật trong đó kịch nói cũng có
những thay đổi và phát triển hơn hẳn. Ở giai đoạn này, lần đầu tiên kịch nói
đã về với nông thôn, nhà máy. Kịch viết ra để biểu lộ tình cảm, lòng yêu nước
và ca ngợi cách mạng.
Kịch nói giai đoạn 1921 – 1954 một mặt tiếp thu tinh hoa của kịch hát
truyền thống, mặt khác chịu ảnh hưởng trực tiếp của kịch nói nước ngoài.
Kịch nói Việt Nam ra đời vào những năm 20 của thế kỉ XX dưới tác động
mạnh mẽ của sự du nhập kịch cổ điển Pháp thế kỉ XVII với những vở kịch hài
của Môlie được phiên dịch và dàn dựng ở sân khấu Hà Nội thời bấy giờ. Bên
cạnh đó, trong chương trình học ở các trường, các thầy cô giáo Pháp trực tiếp
giảng dạy nội dung kịch ở bộ môn văn học Pháp. Sau đó, trí thức và độc giả
Việt Nam dần biết đến những tên tuổi mới của nền kịch Clátxích Pháp như
Coocnây, Racxin… Kịch nói Việt Nam từ khi ra đời đến trước ngày hòa bình
lập lại ở Đông Dương về cơ bản chịu ảnh hưởng nhiều về mặt thi pháp của
kịch cổ điển Pháp. Những vở kịch của Nga – Xô Viết và của một số nước
khác như Bungari, Rumani, Tiệp Khắc… đã được phiên dịch và dàn dựng
trên sân khấu nước ta. Cùng với đó là việc học tập trực tiếp của giới sân khấu

Việt Nam với các chuyên gia, các nhà hoạt động sân khấu của nước ngoài.

17


Bên cạnh đó, kịch Việt Nam cũng chịu ảnh hưởng mạnh của kịch Trung Quốc
và kịch Đức.
Sau sự tiếp thu tinh hoa sân khấu nước ngoài, kịch nói Việt Nam đã
quay về với chính tinh hoa của truyền thống dân tộc. Trên nền sân khấu kịch
cách mạng Việt Nam giai đoạn 1954 – 1975, việc tiếp thu ấy thông qua công
tác đạo diễn mà Trần Hoạt là “cánh chim đầu đàn của ngành đạo diễn kịch
nói… là một đạo diễn đầu tiên vận dụng sân khấu dân tộc cụ thể là sân khấu
chèo vào kịch nói”[2; tr.226].Trong sân khấu truyền thống, kịch đã sử dụng
phương pháp ước lệ. Đạo diễn Đình Nghi là tiêu biểu cho việc tiếp thu nghệ
thuật sân khấu kịch truyền thống này.
Sân khấu kịch nói trước năm 1954 không chỉ có tác giả, đạo diễn mới học
tập được mà ngay cả diễn viên cũng cần học tập kinh nghiệm bổ ích cho mình.
Người diễn viên có lẽ cũng quan niệm hiện đại về các động tác và diễn xuất. Song
thực tế cho thấy rằng, chính những diễn viên hiểu nhiều về sân khấu ở thời kì
trước và học tập được lối diễn của sân khấu giai đoạn 1921 – 1954 thì họ sẽ là
diễn viên giỏi của kịch nói.
Nói một cách khách quan, kịch nói giai đoạn trước năm 1954 là cơ sở để
kịch nói cách mạng kế thừa và phát triển những thành tựu về nghệ thuật sáng tác,
phong cách biểu diễn và lực lượng tác giả cũng như lực lượng diễn viên.

Tiểu kết chƣơng 1
Hoàn cảnh lịch sử của đất nước trong giai đoạn 1954 – 1975 có tác
động rất lớn đến hoạt động sáng tác và biểu diễn kịch nói cách mạng ở nước
ta. Kể từ sau 1954, nước ta bị chia cắt thành hai miền với hai chế độ chính trị
khác nhau. Miền Bắc được giải phóng và đi lên chủ nghĩa xã hội, miền Nam

bị đế quốc Mĩ xâm lược, do đó nhiệm vụ đặt ra là đấu tranh chống Mĩ và thế
lực tay sai, phản động, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.

18


×