TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA LỊCH SỬ
-----------------------
NGUYỄN THỊ HÀ
CHÍNH SÁCH NGOẠI GIAO
CỦA MỸ ĐỐI VỚI CUBA THỜI KỲ
TỔNG THỐNG BARACK OBAMA
(2009 – 2016)
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Lịch sử thế giới
HÀ NỘI, 2018
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA LỊCH SỬ
-----------------------
NGUYỄN THỊ HÀ
CHÍNH SÁCH NGOẠI GIAO
CỦA MỸ ĐỐI VỚI CUBA THỜI KỲ
TỔNG THỐNG BARACK OBAMA
(2009 – 2016)
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Lịch sử thế giới
Người hướng dẫn khoa học
ThS. NGUYỄN THỊ NGA
HÀ NỘI, 2018
LỜI CẢM ƠN
Em xin bày tỏ lời cảm ơn chân thành, sâu sắc của mình tới các thầy cô
giáo trong khoa Lịch sử, trường Đại học sư phạm Hà Nội 2, đặc biệt là Th.S
Nguyễn Thị Nga – Người hướng dẫn trực tiếp đã giúp đỡ em trong suốt quá
trình thực hiện khóa luận.
Em cũng xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, người thân, bạn bè đã tạo
điều kiện động viên, khích lệ em để hoàn thành tốt khóa luận.
Hà Nội, tháng 5 năm 2018
Sinh viên
Nguyễn Thị Hà
LỜI CAM ĐOAN
Em xin cam đoan những nội dung mà em trình bày trong khóa luận này
là kết quả nghiên cứu của bản thân dưới sự hướng dẫn của thầy cô giáo.
Nếu sai em xin hoàn toàn chịu trách nhiệm.
Hà Nội, tháng 5 năm 2018
Sinh viên
Nguyễn Thị Hà
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ........................................................................................................... 1
1. Lí do chọn đề tài ............................................................................................ 1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề ............................................................................ 2
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu ................................................................ 5
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu................................................................. 6
5. Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu ................................................... 6
6. Đóng góp của khóa luận................................................................................ 7
7. Kết cấu của khóa luận ................................................................................... 7
Chương 1. NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN CHÍNH SÁCH
NGOẠI GIAO CỦA MỸ ĐỐI VỚI CUBA (2009 – 2016) .............................. 8
1.1. Nhân tố khách quan .................................................................................... 8
1.1.1. Sự điều chỉnh chính sách ngoại giao của những nước lớn ở Nam
Mĩ....................................................................................................................... 9
1.1.2. Dư luận quốc tế về quan hệ Mỹ - Cuba ................................................ 12
1.1.3. Những biến động của tình hình khu vực Nam Mỹ ................................ 15
1.2. Nhân tố chủ quan ..................................................................................... 17
1.2.1. Tình hình của Mỹ .................................................................................. 17
1.2.2. Tình hình của Cuba ............................................................................... 20
1.3. Chính sách đối ngoại của Mỹ đối với Cuba trước năm 2009 .................. 22
Tiểu kết ............................................................................................................ 30
Chương 2: NHỮNG CHÍNH SÁCH CỦA MỸ ĐỐI VỚI CUBA THỜI
KỲ TỔNG THỐNG BARACK OBAMA (2009-2016) ................................. 32
2.1. Mục tiêu.................................................................................................... 32
2.2. Nội dung chính sách ................................................................................. 34
2.2.1. Kinh tế ................................................................................................... 34
2.2.2. Chính trị ................................................................................................ 36
2.2.3. Ngoại giao ............................................................................................. 37
2.3. Nhận xét ................................................................................................... 48
2.3.1. Sự điều chỉnh chính sách....................................................................... 48
2.3.2. Tác động đến quan hệ Mỹ - Cuba ......................................................... 50
2.3.3. Khả năng thực thi và triển vọng............................................................ 52
2.3.4. Phản ứng của các cường quốc .............................................................. 58
Tiểu kết ............................................................................................................ 62
KẾT LUẬN ..................................................................................................... 63
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................... 66
PHỤ LỤC ........................................................................................................ 69
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Chiến tranh Lạnh kết thúc, Mỹ là siêu cường duy nhất còn đứng vững.
Mỹ luôn muốn một mình hoạch định chính sách chung cho tất cả các quốc gia
nhưng mong muốn đó đã vấp phải sự phản đối của các cường quốc khác. Mỹ
luôn muốn thiết lập một trật tự thế giới đơn cực do Mỹ làm bá chủ nhưng xu
hướng thế giới mới là trật tự đa cực với nhiều trung tâm khác nhau do các
cường quốc đứng đầu mỗi cực. Mặc dù vậy, với ưu thế vượt trội về sức mạnh
kinh tế, quân sự, Mỹ có vai trò rất quan trọng trong việc định hình các mối
quan hệ quốc tế. Với xu thế hiện nay là toàn cầu hóa và khu vực hóa đang
diễn ra mạnh mẽ ngày càng làm gia tăng sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các quốc
gia thì việc hoạch định và điều chỉnh chính sách đối ngoại của Mỹ sẽ có
những ảnh hưởng to lớn đến các nước khác, cũng như quan hệ quốc tế hiện
nay, mà minh chứng cụ thể đó chính là sự điều chỉnh mối quan hệ với Cuba.
Ngày 3-2-1962, cuộc bao vây, cấm vận của Mỹ đối với Cuba bắt đầu
thực thi. Hơn 50 năm qua, Mỹ luôn tìm mọi cách chống phá Cuba trên tất cả
các lĩnh vực khiến cho mối quan hệ luôn trong tình trạng đối đầu căng thẳng.
Điều đó đã vấp phải sự phản đối dữ dội của dư luận quốc tế và đông đảo
người dân trong nước. Kể từ năm 1992, năm nào Đại hội đồng Liên Hợp
Quốc cũng ra nghị quyết yêu cầu Mỹ dỡ bỏ lệnh cấm vận đối với Cuba, các
nước ủng hộ nghị quyết chiếm tỉ lệ áp đảo. Điều đó cho thấy sự vô lý của lệnh
cấm vận này. Đồng thời, với sự nổi lên mạnh mẽ của Trung Quốc và sự vực
dậy của Nga, cùng các nước phát triển khác đang ngày càng mở rộng phạm vi
ảnh hưởng sang khu vực Nam Mỹ nói chung và Cuba nói riêng bất chấp lệnh
cấm vận của Mỹ đang đe dọa ảnh hưởng của Mỹ ở khu vực. Những nhân tố
trên đã tác động mạnh mẽ đến sự điều chỉnh quan hệ giữa Mỹ với Cuba.
1
Khu vực Mỹ Latinh và Cuba luôn chiếm một vị trí đặc biệt quan trọng
trong chính sách ngoại giao của Mỹ. Tuy nhiên, mỗi đời Tổng thống Mỹ lại
có những điều chỉnh khác nhau phù hợp với mục tiêu chiến lược đã đề ra. Và
dưới thời Tổng thống Obama thì đường lối ngoại giao của Mỹ với Cuba đã có
sự thay đổi rõ rệt. Tháng 1/2009, Barack Obama trở thành ông chủ Nhà
Trắng. Đứng trước những nhân tố tác động bên ngoài cũng như tình hình nội
tại của mỗi nước, Tổng thống Obama đã buộc phải thừa nhận sự sai lầm của
chính sách cấm vận Cuba khi không mang lại lợi ích gì và buộc phải thay đổi.
Các vòng đàm phán đã được mở ra, những kết quả tích cực ban đầu đã đạt
được khiến quan hệ Mỹ - Cuba bước sang một trang mới. Những quan điểm
này đã mở ra một triển vọng tốt đẹp hơn trong quan hệ hai nước, được đông
đảo dân chúng ủng hộ và dư luận quốc tế hoan nghênh. Do đó, việc tìm hiểu
chính sách đối ngoại của Mỹ với Cuba dưới thời tổng thống Obama là một
điều hết sức cần thiết.
Khi nghiên cứu về chính sách của Tổng thống Obama ở Cuba sẽ giúp
chúng ta hiểu rõ thêm về những đóng góp của ông qua hai nhiệm kì Tổng
thống, cũng như so sánh được sự tương đồng và điểm khác biệt trong chính
sách đối ngoại với Cuba so với các đời Tổng thống trước đó. Ở Việt Nam, đây
là đề tài mới, các tác giả mới chỉ tiếp cận dưới một số góc độ mà chưa được
nghiên cứu toàn diện.
Xuất phát từ những lý do trên, tôi quyết định chọn đề tài: “Chính sách
ngoại giao của Mỹ đối với Cuba thời kỳ Tổng thống Barack Obama (2009 –
2016)” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp của mình.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
2.1. Tài liệu tiếng Việt
Quan hệ Mỹ - Cuba là mối quan hệ có diễn biến phức tạp. Tìm hiểu về
mối quan hệ này có ý nghĩa rất lớn về mặt khoa học và thực tiễn. Do đó từ
2
trước tới nay, đã có không ít tác giả trong và ngoài nước nghiên cứu vấn đề
này dưới nhiều góc độ khác nhau. Tuy nhiên, kể từ năm 2009, Tổng thống
Obama lên nắm quyền đã có sự điều chỉnh chính sách với Cuba bằng một loạt
các biện pháp thực tế. Do đó, khi nghiên cứu về vấn đề chính sách ngoại giao
của Mỹ đối với Cuba trong thời gian này thì nguồn tài liệu còn hạn chế, chưa
có các công trình nghiên cứu cụ thể, chi tiết về vấn đề mà chủ yếu chỉ liên
quan đến một khía cạnh. Phần lớn các bài viết về chủ đề này được đề cập trên
tin tức hoặc các bài phân tích trên tạp chí chuyên ngành. Vấn đề quan hệ
ngoại giao Mỹ - Cuba thường chỉ đề cập như một phần nhỏ trong tổng thể
phân tích về chính sách đối ngoại của Mỹ, Cuba. Dưới đây là một số công
trình nghiên cứu tiêu biểu:
Trong cuốn Quan hệ quốc tế trong kỷ nguyên Á châu – Thái Bình
Dương, tác giả Nguyễn Trường đã viết chuyên luận Vài sự thật trong nửa thế
kỷ quan hệ Cuba – Hoa Kỳ năm 2013 – Nhà xuất bản Tri thức. Trong phần
này, tác giả cuốn sách đề cập tới tình hình chính trị thế giới, quan hệ quốc tế,
đặc biệt có phân tích chính sách của Hoa Kỳ với các nước, trong đó có Cuba.
Chuyên luận đã đề cập đến quan hệ Cuba – Hoa Kỳ trong mấy thập kỷ đối
đầu căng thẳng bởi chính sách cấm vận toàn diện của Hoa Kỳ.
Trong luận văn thạc sĩ “Quan hệ Hoa Kỳ - Cuba (1992-2016)” tác giả
Phạm Quỳnh Hương đã có sự phân tích cụ thể về quan hệ Hoa Kỳ - Cuba kể
từ sau chiến tranh Lạnh. Tác giả đã chỉ ra sự thay đổi trong mối quan hệ này
qua các đời Tổng thống để thấy được sự tích cực trong chính sách của ông
Obama so với các đời Tổng thống trước đó.
Ngoài ra, trên các tạp chí chuyên ngành nhiều tác giả cũng đã có những
bài viết đề cập đến vấn đề này như: Tại sao Cuba – Mỹ quyết định bình
thường hóa quan hệ? hay Cuba: bước đột phá của Obama trên tạp chí Nghiên
cứu quốc tế và Chính sách của Mỹ đối với Cuba dưới thời Tổng thống Obama
3
từ năm 2009 đến nay, Triển vọng sau bình thường hóa quan hệ Mỹ - Cuba,
Quan hệ Mỹ - Mỹ Latinh dưới thời Obama: Những bước đi ban đầu,… trên
tạp chí Châu Mỹ ngày nay và một loạt các trang báo như Dân Trí, Báo Mới,
Tuổi Trẻ, An ninh thế giới,… cũng đã đề cập đến từng khía cạnh trong chính
sách đối ngoại của Mỹ đối với Cuba dưới thời Tổng thống Obama.
Những công trình nghiên cứu như trên đã nghiên cứu và phân tích khá
đa chiều về mối quan hệ Mỹ và Cuba dưới thời Tổng thống Obama. Tuy
nhiên, các công trình nghiên cứu đó mới chỉ phác thảo những nét cơ bản trong
chính sách đối ngoại mà chưa nghiên cứu sâu sắc sự điều chỉnh chính sách
dưới thời Tổng thống Obama. Kế thừa thành tựu của các học giả, các nhà
nghiên cứu đi trước, khóa luận này tập trung nghiên cứu về chính sách đối
ngoại của Mỹ với Cuba trong những năm 2009 – 2016 để thấy được sự tích
cực trong chính sách của Tổng thống Obama khi thúc đẩy quan hệ hai nước
sang một trang mới.
2.1. Tài liệu tiếng Anh
Policy Changes under the Obama Administration (Dec2014 – Jan2017)
(Những thay đổi chính sách của chính quyền Obama) là sản phẩm được thực
hiện bởi một nhóm Latin America, nhóm đã tập hợp các thông tin liên quan
đến quan hệ Mỹ - Cuba từ tháng 12/2014 đến tháng 1/2017 để hoàn thành một
timeline về diễn biến mối quan hệ phức tạp này. Từ tháng 12/2014 với việc
đạt được Tuyên bố bình thường hóa, quan hệ hai nước đã có sự thay đổi tích
cực bởi những điều chỉnh của chính quyền Obama.
Trong bài Normalization Of Us – Cuban Relations: Obama Doctrine
And International Security In The Western Hemisphere (Bình thường hóa quan
hệ của chúng ta với Cuba: Học thuyết Obama và an ninh quốc tế ở Tây bán
cầu), tác giả đã trình bày một cách tổng quát về mối quan hệ giữa Mỹ và Cuba.
Mối quan hệ căng thẳng giữa Mỹ và Cuba sau chiến thắng của cuộc nổi dậy
4
Cuba là một yếu tố vĩnh viễn của sự bất ổn an ninh quốc tế ở Tây bán cầu. Bài
viết này đã chứng minh sự tiếp nối của quan hệ Mỹ - Cuba đối đầu và thù địch
sau sự sụp đổ của khối Đông là một hiện tượng đặc biệt và “không tự nhiên” từ
quan điểm thực tế của quan hệ quốc tế, cả về Washington và Havana.
Trong bài báo President Obama and Cuba (Tổng thống Obama và
Cuba), xuất bản tháng 3/2010 của Palabra Nueva, tác giả Philip Peters đã đưa
ra một loạt những thay đổi tích cực của chính quyền Obama với Cuba sau một
thời gian dài đối đầu căng thẳng. Tổng thống Obama ngay sau khi lên nhận
chức đã thực hiện một sự điều chỉnh lớn trong quan hệ hai nước, đặt cơ sở
triển vọng sau này.
Nhìn chung những công trình nghiên cứu trên đã nghiên cứu và phân
tích khá đa chiều và toàn diện về mối quan hệ Mỹ - Cuba trong nhiều thập kỷ
qua. Kế thừa các thành tựu nghiên cứu của các học giả, những nhà nghiên cứu
đi trước, khóa luận này tập trung phân tích quan hệ Mỹ - Cuba trong giai đoạn
2009 – 2016 dưới thời Tổng thống Obama. Đồng thời, khóa luận đã phân tích
những nhân tố tác động đến sự điều chỉnh chính sách trong quan hệ giữa hai
nước của chính quyền Obama cũng như triển vọng của mối quan hệ này.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích
Mục đích của khóa luận là:
Thứ nhất, phân tích những nhân tố nào đã tác động đến những thay đổi
trong chính sách của Tổng thống Obama đối với Cuba trong khoảng thời gian
từ năm 2009 đến năm 2016.
Thứ hai, làm rõ những chính sách của Tổng thống Obama đối với Cuba
trên từng lĩnh vực cụ thể.
Thứ ba, rút ra những nhận xét và đánh giá về tác động, triển vọng của
những chính sách.
5
3.2. Nhiệm vụ
Để đạt được mục đích trên, nhiệm vụ nghiên cứu chủ yếu của khóa luận là:
Một là, phân tích nội dung chính sách của Mỹ với Cuba dưới thời Tổng
thống Obama, quá trình bình thường hóa quan hệ Mỹ - Cuba.
Hai là, những tác động từ sự điều chỉnh chính sách của Tổng thống
Obama với Cuba, dự báo triển vọng phát triển của hai nước.
Ba là, nhận xét về chính sách và phân tích phản ứng của các cường
quốc trước sự điều chỉnh này.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng
Đề tài của Khóa luận là “Chính sách ngoại giao của Mỹ đối với Cuba
thời kỳ Tổng thống Barack Obama (2009-2016)” nên người viết tập trung vào
các nhân tố tác động đến sự điều chỉnh chính sách, nội dung của chính sách
và các tác động từ sự thay đổi tích cực này.
4.2. Phạm vi
Về mặt thời gian, khóa luận chỉ giới hạn nghiên cứu trong hai nhiệm kỳ
của Tổng thống B.Obama (2009 – 2016).
Về không gian, nghiên cứu của đề tài sẽ bao gồm các chính sách của Tổng
thống Obama đối với Cuba trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị và ngoại giao.
5. Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu
5.1. Nguồn tư liệu
Để hoàn thành đề tài này, tôi đã khai thác sử dụng những nguồn tư liệu
gốc như các báo cáo, các văn kiện kí kết của Chính phủ Mỹ và Cuba, và
những tài liệu nghiên cứu như: các sách chuyên khảo, các tạp chí, tài liệu
tham khảo đặc biệt, luận văn thạc sĩ….
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Để hoàn thành được đề tài khóa luận này, trong quá trình nghiên cứu
tôi đã kết hợp sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau. Khi nghiên
6
cứu đề tài này, tôi dựa trên quan điểm phương pháp luận Macxit trong nghiên
cứu lịch sử. Phương pháp lịch sử và phương pháp logic là những phương
pháp chủ đạo. Ngoài ra, khóa luận còn sử dụng phương pháp thống kê, tổng
hợp, phân tích, so sánh để sưu tầm tư liệu cũng như nghiên cứu để thấy rõ hơn
các nội dung cần trình bày.
6. Đóng góp của khóa luận
Khóa luận đã nghiên cứu một cách chi tiết, cụ thể về mối quan hệ Mỹ Cuba dưới thời Tổng thống Obama để thấy được sự tích cực trong chính sách
và sự ấm lên của mối quan hệ đã từng căng thẳng suốt hơn 50 năm và cách
giải quyết của những người đứng đầu hai nước. Khóa luận sẽ là nguồn tài liệu
tham khảo cho sinh viên học tập, nghiên cứu và những người quan tâm đến
vấn đề quan hệ quốc tế.
7. Kết cấu của khóa luận
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, khóa luận gồm 2 chương:
Chương 1: Những nhân tố tác động đến cho chính sách ngoại giao của
Mỹ đối với Cuba (2009 – 2016).
Chương 2: Những chính sách của Mỹ đối với Cuba thời kỳ Tổng thống
Barack Obama (2009 – 2016).
7
Chương 1: NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN CHÍNH SÁCH
NGOẠI GIAO CỦA MỸ ĐỐI VỚI CUBA (2009 – 2016)
1.1. Nhân tố khách quan
Trong lịch sử quan hệ quốc tế hiện đại, quan hệ Mỹ - Cuba là một
trong những mối quan hệ có diễn biến căng thẳng, phức tạp. Mặc dù hai quốc
gia là láng giềng của nhau nhưng hơn nửa thế kỷ trôi qua dưới tác động của
tình hình quốc tế và tư duy của thời kì chiến tranh Lạnh nên hai nước vẫn
chưa xây dựng được mối quan hệ mang tính hữu nghị, tin cậy, hợp tác như
các quốc gia khác trong cộng đồng Mỹ Latinh nói riêng và thế giới nói chung.
Sau cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa ở Cuba thành công (01/01/1959)
đã lật đổ chế độ độc tài Batista thân Mỹ, quan hệ Mỹ - Cuba từ đồng minh đã
trở thành những nước thù địch, đối đầu nhau. Trọng tâm của sự đối đầu là vào
tháng 2/1962, Tổng thống Mỹ, John Kenedy đã quyết định thi hành chính
sách cấm vận trên tất cả các lĩnh vực với Cuba nhằm mục đích “cô lập và tiêu
diệt nhà nước Xã hội chủ nghĩa đầu tiên ở khu vực Tây bán cầu này” [10;12].
Từ đó đến nay, đã hơn 50 năm tại Mỹ và Cuba đã diễn ra nhiều thay đổi quan
trọng về chính trị, kinh tế, nhưng lệnh cấm vận này vẫn được duy trì. Nó được
coi như là một “lời nguyền” mà không một vị Tổng thống nào muốn xóa bỏ,
bất chấp sự phản đối của cộng đồng quốc tế và dư luận trong nước Mỹ.
Quan hệ căng thẳng đó đã kéo dài hơn một nửa thế kỷ, gây ra rất nhiều
tác động tiêu cực đến tình hình hai nước nói riêng và quan hệ quốc tế nói
chung. Sau khi trở thành Tổng thống thứ 44 của nước Mỹ, ông Obama đã
từng bước nhận thức lại chính sách của Mỹ đối với Cuba. Bởi các chính sách
mà nước Mỹ tiến hành với Cuba trong suốt hơn 5 thập kỷ qua không những
không lật đổ được chính quyền cách mạng Castro, mà còn giúp Cuba nâng
cao được vị thế trong khu vực và trên thế giới, nhận được sự ủng hộ của các
8
nước. Quan hệ hai nước chỉ thực sự có những chuyển biến tích cực hơn sau
ngày 17/12/2014, khi hai nhà lãnh đạo là Tổng thống Mỹ Obama và Chủ tịch
Cuba Raul Castro đã đưa ra Tuyên bố chung về việc bình thường hóa quan hệ
hai nước. Đây được coi là một bước tiến quan trọng trong quan hệ hai nước.
Sự phản đối từ dư luận quốc tế, chính giới, cộng đồng các doanh
nghiệp Mỹ và đặc biệt là người Mỹ gốc Cuba đòi chính quyền Mỹ phải có sự
thay đổi chính sách với Cuba ngày càng lớn. Do chính sách này đã cản trở
doanh nghiệp Mỹ đầu tư kinh doanh ở Cuba nên đã để thị trường đầy tiềm
năng này rơi vào tay các đối thủ cạnh tranh khác là Trung Quốc, Nga và EU.
Cộng đồng người Mỹ gốc Cuba còn cho rằng, chính phủ làm cản trở tình cảm
của họ với quê hương nên đã dẫn đến những làn sóng phản đối ngày càng
mạnh mẽ. Tất cả những điều đó đã dẫn tới sự thay đổi lớn, có ý nghĩa quan
trọng trong quan hệ ngoại giao giữa Mỹ với Cuba khi Tổng thống Barack
Obama lên nắm quyền.
1.1.1. Sự điều chỉnh chính sách ngoại giao của những nước lớn ở Nam Mỹ
Sau sự kiện ngày 11/09/2001 với việc Mỹ tham gia vào cuộc chiến
chống khủng bố trên phạm vi toàn cầu đã góp phần làm suy giảm sức mạnh
tổng hợp và không có thời gian để dàn trải các mối quan tâm tới các khu vực
khác, đặc biệt là Mỹ Latinh và Cuba. Đây cũng chính là cơ hội để các cường
quốc khác như Trung Quốc, Nga xâm nhập và cạnh tranh trực diện với Mỹ.
Tiếp đến, cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ toàn cầu năm 2008 đã tác
động lớn đến tình hình quốc tế, khu vực và nền kinh tế của Mỹ và Cuba. Tại
Mỹ, mặc dù chính quyền Tổng thống Obama đã có nhiều nỗ lực cải cách kinh
tế trong thời gian qua nhưng nền kinh tế Mỹ vẫn bị ảnh hưởng sâu sắc bởi
cuộc khủng hoảng này. Vị thế siêu cường kinh tế của Mỹ đang bị Trung
Quốc, các nước thuộc nhóm BRICS đe dọa, tiến trình Đàm phán Hiệp định
đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP), một công cụ để Mỹ mở rộng ảnh
9
hưởng kinh tế ở Châu Á – Thái Bình Dương đang dần bước vào ngõ cụt và
chưa đi đến kết quả cuối cùng, ảnh hưởng của Mỹ tại khu vực Mỹ Latinh
đang bị Trung Quốc đe dọa nghiêm trọng, và có ý định dần bao trùm khu vực
trên tất cả các lĩnh vực. Những khó khăn đó đã đe dọa trực tiếp đến các lợi ích
của Mỹ, buộc Chính quyền Obama phải có nhìn nhận lại vấn đề.
Từ giữa năm 2014, nước Mỹ đã vướng vào vòng xoáy của cuộc chiến
chống lại tổ chức Nhà nước Hồi giáo tự xưng IS, một sản phẩm bắt nguồn từ
nhà tù Guantanama mà Mỹ đã xây dựng ở Cuba. Mỹ buộc phải thực hiện điều
chỉnh chính sách đối với khu vực Trung Đông từ cam kết rút quân và không
tham chiến tại Iraq và Afghanistan trở thành tái can dự vào chiến trường Iraq
và Syria thông qua việc lập ra lực lượng liên quân tấn công, tiêu diệt tổ chức
này. Với việc tập trung thực hiện chính sách “xoay trục” sang châu Á – Thái
Bình Dương như vậy nên Mỹ không chú trọng và có phần sao nhãng ảnh
hưởng của mình ở khu vực Mỹ Latinh, nơi vẫn được Mỹ xem là “sân sau” của
mình. Điều đó đã tạo ra những khoảng trống để cho các cường quốc là: Trung
Quốc, Nga, EU tăng cường mở rộng ảnh hưởng và cạnh tranh với Mỹ ở thị
trường đầy tiềm năng này.
Với sự trỗi dậy mạnh mẽ, Trung Quốc đang gia tăng mở rộng ảnh
hưởng của mình ở khu vực Nam Mỹ thông qua các hoạt động về đầu tư kinh
tế, thương mại và mở rộng các mối quan hệ chính trị, quân sự với Cuba.
Trong chuyến thăm đến Nicaragua tháng 7/2013, Chủ tịch Tập Cận Bình đã
tuyên bố dành khoản đầu tư 40 tỷ USD để xây dựng kênh đào nối hai bờ
Đông và Tây [10;14]. Ngày 7/1/2015, trong buổi tiếp Tổng thống Venezuela
Maduro, Chủ tịch Tập Cận Bình đã tuyên bố dành khoản đầu tư 20 tỷ USD
cho Venezuela trong việc khôi phục và phát triển kinh tế [10;14]. Hiện nay,
Trung Quốc đã trở thành đối tác thương mại, đầu tư lớn thứ hai tại Cuba sau
Venezuela (kim ngạch thương mại đạt 1.596 tỷ USD, tính đến tháng 9/2015)
10
[11;16], hai nước đã thiết lập quan hệ chiến lược và xây dựng sự hợp tác tin
cậy với nhau [11;16]. Với sự nổi dậy mạnh mẽ của mình thì mục tiêu chính
của Trung Quốc là tăng cường mở rộng ảnh hưởng ra tất cả các khu vực, còn
đối với Cuba là nhằm đưa Cuba vào vòng ảnh hưởng của mình và coi đây là
địa bàn chiến lược để kiềm chế ảnh hưởng của Mỹ ở khu vực Mỹ Latinh.
Cùng với Trung Quốc, Nga cũng từng bước xác lập ảnh hưởng của
mình ở khu vực này. Những căng thẳng trong quan hệ giữa Nga với Mỹ và
phương Tây trong nhiều vấn đề quốc tế như: Ukraine, Syria, IS và tác động từ
lệnh cấm vận kinh tế của phương Tây với Nga đã buộc chính quyền Putin có
những sự điều chỉnh trong chính sách đối ngoại sang khu vực Mỹ Latinh
nhằm phá thế cô lập và tăng cường vị thế quốc tế của mình ở khu vực này.
Cuba, một đồng minh thân thiết với Liên Xô trong thời kì chiến tranh Lạnh
chính là điểm đến mới trong chiến lược của Nga cũng là lẽ dễ hiểu. Việc Nga
xóa cho Cuba 90% trong khoản nợ 35,2 tỷ USD [11;16] và ngỏ ý muốn thuê
lại căn cứ thông tin Lourdes trong chuyến thăm của Tổng thống Putin tới
Cuba vào tháng 7/2014 là những minh chứng cho thấy Nga đang tăng cường
sự hiện diện “trở lại” tại Cuba và Mỹ Latinh để mở rộng ảnh hưởng và gây
sức ép với Mỹ. Tại Hội nghị nhóm các nước BRICS (7/2014), Nga và Trung
Quốc đã đề nghị thành lập Ngân hàng Phát triển BRICS với số vốn 100 tỷ
USD có trụ sở đặt tại Thượng Hải. Sự ra đời của ngân hàng này sẽ là một
thách thức lớn đối với các thể chế tài chính tiền tệ quốc tế do Mỹ chi phối như
WB, IMF. Quan hệ của Nga với các đối thủ chính trị của Mỹ tại Mỹ Latinh
như Nicaragua, Cuba, Venezuela được củng cố ngày càng chặt chẽ hơn. Việc
lãnh đạo Nga liên tục thăm các nước Nam Mỹ, ký kết các hiệp định thương
mại trị giá nhiều tỷ đôla, việc máy bay ném bom chiến lược TU-160 hạ cánh
ở Venezuela, tàu khu trục Pyotr Venely tham gia tập trận chung Nga –
Venezuela,… có thể coi như một nước đi thọc sâu của Nga trên bàn cờ chiến
11
lược toàn cầu giữa Nga và Mỹ, là đòn phản công đối với việc Mỹ xâm nhập
không gian hậu Xô viết, gián tiếp đỡ đầu cho các cuộc cách mạng màu tại các
vùng đệm của Nga. Điều đó đã tác động lớn đến ảnh hưởng của Mỹ ở khu vực
này, đòi hỏi Mỹ phải có những chính sách thay đổi.
Bên cạnh Nga và Trung Quốc, các nước khác như Ấn Độ, Nhật Bản, và
thậm chí là Iran, Nam Phi cũng đã có những bước thúc đẩy mở rộng quan hệ
với khu vực Nam Mỹ. Sự điều chỉnh chính sách của các nước lớn ở Cuba và
Mỹ Latinh trong thời gian qua đã tác động mạnh mẽ đến chính sách bao vây, cô
lập của Mỹ với Cuba và làm cho chính quyển Obama phải có những điều chỉnh
chính sách trong quan hệ với Cuba để bảo vệ lợi ích thiết thực của quốc gia.
1.1.2. Dư luận quốc tế về quan hệ Mỹ - Cuba
Dư luận quốc tế trong thời gian qua luôn ủng hộ cuộc đấu tranh bảo vệ
độc lập chủ quyền của nhân dân Cuba, ủng hộ Cuba yêu cầu Mỹ xóa bỏ lệnh
cấm vận. Kể từ năm 1992 đến nay, năm nào Đại hội đồng Liên hợp quốc cũng
ra nghị quyết yêu cầu Mỹ dỡ bỏ lệnh cấm vận chống phá Cuba. Các nước ủng
hộ chiếm tỉ lệ áp đảo và ngày càng tăng qua các năm cho thấy sự vô lý của
lệnh cấm vận. Nếu tại Đại hội đồng Liên hợp quốc năm 1992, khi tiến hành
biểu quyết đòi Mỹ phải chấm dứt thực hiện chính sách phong tỏa đối với
Cuba chỉ mới có 59 nước tán thành, 71 nước bỏ phiếu trắng thì tới Hội nghị
thường niên lần thứ 69 của Liên hợp quốc, có tới 188/193 nước bỏ phiếu yêu
cầu Mỹ xóa lệnh cấm vận với Cuba, đây là năm thứ 23 liên tiếp Cuba nhận
được sự ủng hộ của tuyệt đại đa số các nước trên thế giới về việc yêu cầu Mỹ
xóa bỏ lệnh cấm vận trên.
Kết quả trên hoàn toàn giống kết quả bỏ phiếu hồi năm 2013 khi chỉ có
Mỹ và Israel bỏ phiếu phản đối nghị quyết lên án lệnh cấm vận, trong khi một
số quốc gia ở Nam Thái Bình Dương như Palau, quốc đảo Marshall và
Micronesia đã bỏ phiếu trắng. Tuy nhiên, các nghị quyết của Đại hội đồng
12
Liên hợp quốc không có tình ràng buộc về pháp lý, mà chỉ phản ánh quan
điểm của các thành viên Liên hợp quốc về các vấn đề nóng hổi của tình hình
quốc tế, vì vậy Washington vẫn duy trì lệnh trừng phạt La Habana.
Cũng trong Hội nghị thường niên lần thứ 69 của Liên hợp quốc, sau khi
Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua nghị quyết kêu gọi Mỹ dỡ bỏ lệnh cấm
vận Cuba, dư luận quốc tế đã bày tỏ sự ủng hộ nhiệt tình. Trưởng phái đoàn
đại diện thường trực Việt nam tại Liên hợp quốc, Đại sứ Nguyễn Phương Nga
khẳng định, các chính sách và biện pháp cấm vận của Mỹ chống Cuba là vi
phạm các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp
quốc tế, như các bình đẳng chủ quyền; không can thiệp vào công việc nội bộ
của nhau; quyền tự quyết dân tộc và cùng tồn tại hoà bình. Đại sứ khẳng định,
Việt Nam ủng hộ giải quyết tranh chấp, bất đồng giữa các quốc gia bằng biện
pháp hòa bình, phù hợp luật pháp quốc tế. Việt Nam coi đối thoại và thương
lượng, chứ không phải bạo lực và cấm vận, là chìa khóa để đạt được nền
hòa bình lâu dài, và vì thế, một lần nữa Việt Nam kêu gọi Mỹ chấm dứt
cấm vận chống Cuba. Chính phủ và nhân dân Việt Nam luôn ủng hộ và
đoàn kết với Cuba.
Phó đại diện thường trực của Trung Quốc tại Liên hợp quốc Vương
Dân bày tỏ hy vọng Mỹ sẽ tuân thủ mục tiêu và nguyên tắc của Hiến chương
Liên hợp quốc cũng như các nghị quyết của Đại hội đồng, nhanh chóng dỡ bỏ
phong tỏa đối với Cuba. Phó đại diện Khối thị trường chung Nam Mỹ
(MERCOSUR) tại Liên hợp quốc cũng cho rằng đã đến lúc Mỹ phải dỡ bỏ
hoàn toàn lệnh cấm vận chống Cuba, vốn vi phạm các nguyên tắc pháp lý và
nhân quyền, gây thiệt hại nặng nề đối với nhân dân Cuba, kìm hãm những tiến
bộ trong việc thực thi các mục tiêu phát triển quốc tế.
Trang điện tử báo Luy-ma-ni-tê của Pháp cho rằng, chính sách cô lập
Cuba của Mỹ đã vấp phải thất bại khi đối mặt với sự phản đối của nhiều nước
13
trên thế giới. Các biện pháp cấm vận của Mỹ chống Cuba không chỉ gây tác
hại đối với Cuba, mà còn gây thiệt hại đến nhiều quốc gia, vì vậy họ đã lên
tiếng phản đối. EU đã lên án chính sách của Mỹ vi phạm luật thương mại
quốc tế và gây thiệt hại nghiêm trọng đối với khối này. Do lệnh cấm vận của
Mỹ, EU phải áp dụng nhiều biện pháp để bảo vệ lợi ích thương mại với Cuba.
Trong một tuyên bố, Phó đại diện thường trực Ethiopia tại Liên Hợp
Quốc, Đại sứ Aman Hassen, thay mặt nhóm các quốc gia châu Phi, nhấn
mạnh, châu Phi hoàn toàn ủng hộ nghị quyết của Hội đồng Bảo an, cần thiết
cho việc chấm dứt lệnh cấm vận đối với Cuba: “Chúng ta cần phải làm như
vậy, vì đó là quyền của chúng ta. Chúng ta làm như vậy bởi Cuba có một lịch
sử đáng tự hào đối với châu Phi. Lịch sử của Cuba là minh chứng, là đại diện
cho những nỗ lực vì độc lập tự do của châu Phi. Vai trò của Cuba sẽ tiếp tục
được người dân châu Phi ghi nhận. Người dân Cuba có thể tự hào về sự đóng
góp của mình đối với lịch sử” [25].
Còn Đại sứ Venezuela tại Liên Hợp Quốc Samuel Moncada khẳng
định, lệnh cấm vận của Mỹ đã trở thành trở ngại lớn đối với sự phát triển kinh
tế, xã hội của Cuba: “Việc Mỹ cấm vận Cuba là nhằm hạn chế năng lực của
chính phủ Cuba trong việc tiếp cận với những điều cần thiết đối với sức khỏe,
giáo dục, công nghệ, lương thực, thực phẩm và sự phát triển. Lệnh cấm đó
chỉ mang đến gánh nặng cho người dân Cuba, qua đó làm hạn chế quyền
được phát triển của đất nước và người dân Cuba. Chính sách này đã lỗi thời
và không còn chỗ đứng trong thế giới hiện nay” [25].
Trong bài phát biểu trước Đại hội đồng Liên hợp quốc, Bộ trưởng
Ngoại giao Cuba Bruno Rodriguez Parrilla đánh giá cao sự ủng hộ của cộng
đồng quốc tế đối với cuộc đấu tranh chính đáng của La Habana yêu cầu
Washington dỡ bỏ vô điều kiện cuộc bao vây, cấm vận phi lý này, đồng thời
nhấn mạnh các vấn đề nghiêm trọng của thế giới đương đại là mệnh lệnh cho
14
chúng ta thay đổi cách đối xử với nhau. Ông nói rằng việc các nước phải hợp
tác với nhau để ngăn chặn dịch Ebola và nguy cơ an ninh cho thấy cần phải
thay đổi thái độ và tìm kiếm sự hợp tác vì “sự tồn vong của loài người”.
Nhiều thành viên của Liên hợp quốc đã đáng giá cao nỗ lực của Cuba và ủng
hộ việc yêu cầu Mỹ xóa bỏ lệnh cấm vận, tiến tới tái thiết quan hệ ngoại giao.
Vì vậy, chính sách chống Cuba của Mỹ đã vấp phải sự phản đối quyết liệt của
dư luận quốc tế, đòi hỏi chính quyền Obama phải có những điều chỉnh phù
hợp trong bối cảnh thế giới mới.
1.1.3. Những biến động của tình hình khu vực Nam Mỹ
Bên cạnh các vấn đề quốc tế, sự biến động của tình hình khu vực Nam
Mỹ cũng góp phần làm thay đổi chính sách của Mỹ đối với Cuba.
Trong thời gian vừa qua, nhóm các nước mới nổi và đang phát triển
BRICS đang ngày càng khẳng định được vị thế quốc tế của mình. BRICS
chiếm 45% dân số thế giới; 25% GDP toàn cầu; 20% kim ngạch vận chuyển
hàng hóa toàn thế giới (2014). Brazil, nền kinh tế đầu tàu của Mỹ Latinh đã
vươn lên vị trí thứ sáu trên thế giới với GDP 2.000 tỷ USD, dân số 200 triệu
người (2014). Quốc gia này cùng với các nước BRICS đã có sự cạnh trạnh
khốc liệt với Mỹ tại thị trường Mỹ Latinh [10;14-15]. Vị thế chính trị của
Brazil đã từng bước được nâng cao khi tham gia ứng cử vào chức Ủy viên
thường trực Hội đồng Bảo an mở rộng năm 2008 và là nước đi đầu trong số
các nước Mỹ Latinh đòi Mỹ phải xóa bỏ lệnh cấm vận đối với Cuba.
Brazil và các nước Mỹ Latinh (Cánh tả, Trung tả và các nước có quan
hệ thân cận với Mỹ) đều lên án gay gắt chính sách bao vây cấm vận lỗi thời
của Mỹ. Tại Hội nghị Tổ chức các quốc gia Châu Mỹ (OAS) lần thứ 54, các
nhà lãnh đạo trong khu vực đều lên án gay gắt chính sách cấm vận này và yêu
cầu kết nạp Cuba vào OAS. Một số quốc gia trong khu vực như Brazil,
Canada, Venezuela sẵn sàng trở thành nhà trung gian hòa giải cho tiến trình
15
bình thường hóa quan hệ giữa Mỹ và Cuba nếu hai quốc gia này giải quyết
được những bất đồng, mâu thuẫn trong quá khứ để cùng hướng tới tương lai
tốt đẹp. Ngoài ra, các nước này còn yêu cầu Mỹ phải kết nạp Cuba vào Ngân
hàng Phát triển châu Mỹ và phải tôn trọng độc lập, chủ quyền và sự lựa chọn
chính trị của các nước trong khu vực.
Sự thay đổi trong chính sách đối ngoại của Mỹ đối với Cuba còn có sự
tác động của các nước thuộc Tổ chức ALBA. Sự phát triển của phong trào
cánh tả cùng với sự ra đời của tổ chức Sự lựa chọn Bolivar dành cho các dân
tộc Châu Mỹ (ALBA) do cố Chủ tịch Cuba Fidel Castro và cố Tổng thống
Venezuela Hugo Chavez sáng lập năm 2004, trong đó, Cuba, một đối thủ của
Mỹ được coi là trụ cột quan trọng về tư tưởng, chính trị của tổ chức này, đã
góp phần làm cho bức tranh chính trị Mỹ Latinh thay đổi căn bản.
Tổ chức ALBA ra đời nhằm mục tiêu tư tưởng “chống Mỹ” và xây
dựng chính sách đối ngoại độc lập hơn với Mỹ đã đe dọa nghiêm trọng tới vị
thế của Mỹ và khiến Mỹ có những nhận thức mới trong quan điểm, cách tiếp
cận về khu vực Mỹ Latinh và có sự thay đổi trong chính sách với Cuba.
Thông qua Hiến pháp Bolivar do cố Tổng thống Hugo Chavez lập ra
(1998) với thỏa thuận hỗ trợ năng lượng cho các nước Cánh tả ALBA, trong
đó có Cuba được ký giữa Chủ tịch Fidel và Tổng thống Chavez. Theo thỏa
thuận này, Venezuela sẽ hỗ trợ 2 tỷ USD mỗi năm cho Cuba và cung cấp
100.000 thùng dầu/ngày, với giá bằng ½ giá thị trường [11;16]. Sự hỗ trợ,
giúp đỡ của Venezuela đã giúp Cuba đẩy lùi được nguy cơ lật đổ chế độ sau
khi Chủ tịch Fidel chuyển giao quyền lực và Chính phủ Raul đang gặp khó
khăn trong cải cách kinh tế. Đây chính là lý do làm cho Mỹ thay đổi chính
sách với Venezuela và làm cho Venezuela gặp khó khăn. Mặt khác, sự khó
khăn của Venezuela cũng làm hạn chế sự giúp đỡ của nước này cho Cuba và
đây chính là cơ hội để cho Mỹ có những điều chỉnh trong quan hệ với Cuba
16
nhằm hạn chế vai trò của Venezuela đối với Cuba, và tăng khả năng phụ
thuộc của Cuba vào Mỹ.
Một nhân tố khác tác động đến quan hệ Mỹ - Cuba là nhân tố Vatican.
Giống như các nước Mỹ Latinh, Cuba là quốc gia có đông đảo người theo
Thiên Chúa giáo, trong các chuyến thăm Cuba của Giáo hoàng Francis, vấn
đề bình thường hóa quan hệ Mỹ - Cuba đã được người đứng đầu Tòa thánh
Vatican đề cập đến trong các cuộc gặp với lãnh đạo Cuba. Vatican có vai trò
rất quan trọng trong Tuyên bố bình thường hóa quan hệ giữa Mỹ và Cuba
trong thời gian qua. Nỗ lực của Vatican đã góp phần hóa giải mối thù địch lâu
năm này, từng bước cải thiện quan hệ hai nước. Bên cạnh đó, Canada là một
đồng minh truyền thống của Mỹ, từng có mối quan hệ căng thẳng với Cuba
(trong thời gian từ năm 1996 đến năm 2004) đã có nhiều nỗ lực làm trung
gian cho tiến trình bình thường hóa quan hệ Mỹ - Cuba. Chính phủ Stephen
Harper, thông qua các tổ chức xã hội dân sự đã có những kênh tiếp xúc nhằm
thúc đầy bình thường hóa quan hệ. Những nỗ lực giúp đỡ của Vatican và
Canada đã giúp cho Mỹ và Cuba đạt được thỏa thuận bình thường hóa quan
hệ, đẩy mạnh sự hiểu biết lẫn nhau, điều mà tất cả đã mong muốn từ rất lâu.
Như vậy, những biến động của tình hình khu vực Mỹ Latinh trong thời
gian qua đã buộc Mỹ phải thay đổi quan điểm và cách tiếp cận với Cuba để
từng bước xâm nhập và thực hiện những mục tiêu chiến lược của mình đã đề
ra. Những nhân tố đó đóng vai trò quan trọng trong tiến trình thúc đẩy sự hòa
dịu quan hệ giữa hai quốc gia vốn từng là đối thủ trong suốt hơn 50 năm qua.
1.2. Nhân tố chủ quan
Ngoài các yếu tố nêu trên, tình hình nội tại mỗi nước cũng là đòn bẩy
quan trọng dẫn đến sự điều chỉnh chính sách của Mỹ với Cuba.
1.2.1. Tình hình của Mỹ
Sau hơn 5 thập kỉ tiến hành các chính sách bao vây, cấm vận chống phá
Cuba, chính quyền Mỹ không những không đạt được những mục tiêu đề ra là
17
lật đổ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Cuba, mà còn gặp phải sự lên án và phản đối
mạnh mẽ của chính giới và nội bộ nước Mỹ. Nhiều người Mỹ gốc Cuba phản
đối chính sách bao vây Cuba của chính phủ Mỹ vì đã làm cho gia đình họ lâm
vào cảnh ly tán. Theo một khảo sát ở Mỹ về việc ủng hộ, hay phản đối chính
sách bình thường hóa của chính phủ, có 1.024 người được hỏi ngẫu nhiên.
Trong đó, có 617 người ở bang Florida và 525 là người Mỹ gốc Latinh. Có tới
30% số người được hỏi cho biết, họ luôn ủng hộ Mỹ bình thường hóa quan hệ
với Cuba, còn 22% trong số đó phản đối. Cũng theo khảo sát này, đa số
những người thuộc đảng Dân chủ ủng hộ bình thường hóa quan hệ với Cuba
và Đảng Cộng hòa cũng đạt được sự ủng hộ khoảng 52% [11;17]. Chính giới
và các doanh nghiệp của Mỹ cho rằng, chỉ có sự thay đổi trong chính sách
mới giúp Mỹ có thể xâm nhập và chuyển hóa chế độ chính trị ở nước này và
đưa Cuba đi theo quỹ đạo của Mỹ. Về vấn đề này, các doanh nghiệp ở Mỹ
đang đóng một vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy sự thay đổi chính sách
của Mỹ đối với Cuba, đặc biệt là đảng Cộng hòa. Nhiều công ty muốn các
lệnh cấm vận kinh tế được dỡ bỏ để họ có thể tự do làm ăn với Cuba. Theo
chuyên gia kinh tế Lawrence Gutman, chuyên gia về Cuba tại Viện Chính
sách Thế giới cho biết: các Phòng Thương mại Mỹ tại Cuba, Doanh nghiệp
Mỹ, nhóm vận động hành lang lớn nhất của các công ty Mỹ đang tích cực làm
việc để dỡ bỏ lệnh cấm vận này. Các công ty như Caterpillar (CAT), ColgatePalmolive (CL) và Chubb (CB) cũng đã tích cực vận động hành lang ở
Washington để loại bỏ các hạn chế về thương mại của Mỹ đối với Cuba. Theo
họ, việc mở cửa thương mại sẽ khuyến khích dân chủ và chủ nghĩa tư bản ở
Cuba [11;18]. Ngoài ra, bản thân Tổng thống Obama cũng muốn có thêm vốn
liếng chính trị và uy tín sau bản thành tích nghèo nàn trong hơn 1 nhiệm kỳ
đảm nhận cương vị Ông chủ Nhà Trắng.
Trong chiến dịch tranh cử năm 2008, Tổng thống Obama đã từng tuyên
bố sẽ “thay đổi nước Mỹ và thế giới” nhưng trên thực tế tình hình thế giới và
18
nước Mỹ đã lâm vào tình trạng bất ổn. Do đó, điều mà ông có thể làm và sẽ
làm được là bình thường hóa quan hệ Mỹ với Cuba.
Trong nhiệm kì thứ hai của mình, Tổng thống Obama và đảng Dân chủ
phải đối mặt với những khó khăn về kinh tế, chính trị và xã hội trong nước.
Nền kinh tế Mỹ vẫn chưa thoát ra khỏi cuộc khủng hoảng, sức cạnh tranh của
hàng hóa và doanh nghiệp Mỹ bị đe dọa ngay tại thị trường trong nước. Khó
khăn về kinh tế đã tác động sâu sắc đến xã hội, đặc biệt là phân biệt chủng
tộc, bất bình đẳng xã hội. Sự kiện bạo loạn sắc tộc tại thị trấn Ferguson (bang
Missouri lần đầu tiên vào tháng 8/2014, lần thứ hai vào tháng 11/2014, và lần
thứ ba vào tháng 3/2015) đã là minh chứng cho sự bất ổn trong xã hội Mỹ.
Những khó khăn này còn chịu tác động của việc Tổng thống Obama thông
qua Chính sách nhập cư ngày 20/11/2014, qua đó Mỹ đã chấp nhận sự tồn tại
của 5 triệu người nhập cư đến từ các nước Mỹ Latinh và chính sách
Obamacare về cải cách an sinh xã hội. Những sự kiện này, một lần nữa đã
làm nảy sinh mâu thuẫn trong xã hội Mỹ vốn là những vấn đề gây mâu thuẫn
và khó khăn của rất nhiều Tổng thống Mỹ trước đó.
Tác động của chính sách Trung Đông và chiến lược “xoay trục” sang
châu Á – Thái Bình Dương trong bối cảnh nước Mỹ đang gặp khó khăn về
kinh tế và ngân sách quốc phòng đã buộc Bộ trưởng Quốc phòng Chuck
Hagel phải từ chức (là bộ trưởng Quốc phòng thứ tư trong sáu năm cầm
quyền của Tổng thống Obama). Sự ra đi của ông Hagel đã làm tăng các mâu
thuẫn chính trị trong nội bộ chính quyền Obama. Đây chính là “điểm trừ” đối
với chính quyền Obama trong cuộc bầu cử tới. Thêm vào đó, sự thắng thế của
đảng Cộng hòa trong cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ tại Mỹ (4/11/2014) đã gây ra
những khó khăn và cản trở đối với Chính quyền Obama đưa ra những quyết
sách trong vấn đề đối nội trong thời gian tới. Thắng lợi trên của đảng Cộng
hòa sẽ ảnh hưởng rất nhiều tới chính sách cải thiện quan hệ giữa Mỹ và Cuba
19