TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA KHOA HỌC CHÍNH TRỊ
--------
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
- Chuyên ngành : Giáo dục công dân
- Mã ngành
: 7140204
TÌM HIỂU VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ NÔNG THÔN
Ở HUYỆN MỸ TÚ TỈNH SÓC TRĂNG HIỆN NAY
Giảng viên hướng dẫn:
Sinh viên thực hiện:
ThS. GVC Trần Thanh Quang
Lê Phan Hương Trà
MSSV: B1608542
CẦN THƠ – 2019
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA KHOA HỌC CHÍNH TRỊ
--------
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
- Chuyên ngành : Giáo dục công dân
- Mã ngành
: 7140204
TÌM HIỂU VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ NÔNG THÔN
Ở HUYỆN MỸ TÚ TỈNH SÓC TRĂNG HIỆN NAY
Giảng viên hướng dẫn:
Sinh viên thực hiện:
ThS. GVC Trần Thanh Quang
Lê Phan Hương Trà
MSSV: B1608542
CẦN THƠ – 2019
LỜI CẢM ƠN
Trong suốt thời gian từ khi bắt đầu học tập ở giảng đường đại học đến nay, tôi đã
nhận được rất nhiều sự quan tâm của quý Thầy cô, gia đình và bạn bè. Với lòng biết ơn
sâu sắc nhất, tôi xin gửi đến quý Thầy cô ở Khoa Khoa Học Chính trị - Trường đại học
Cần Thơ đã cùng với tri thức và tâm huyết của mình để truyền đạt vốn kiến thức quý báo
cho chúng tôi trong suốt thời gian học tập tại trường.
Để hoàn thành tốt luận văn của mình tôi đã vượt qua rất nhiều khó khăn vất vả. Bên
cạnh đó tôi còn được sự giúp đỡ của quý Thầy cô, qua đây tôi xin gửi lời cảm ơn đến quý
Thầy cô Khoa Khoa Học Chính Trị, thư viện Khoa Khoa Học Chính Trị, thư viện trường
Đại học Cần Thơ, Phòng nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Sóc Trăng và đặc biệt
là thầy Trần Thanh Quang đã nhiệt tình, tận tâm giúp đỡ, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho
tôi hoàn thành tốt luận văn của mình.
Chân thành cảm ơn!
Cần Thơ, ngày 20 tháng 11 năm 2019
Tác giả luận văn
TÓM TẮT
Đề tài luận văn tốt nghiệp “Tìm hiểu về phát triển kinh tế nông thôn ở huyện Mỹ
Tú, tỉnh Sóc Trăng hiện nay”, tác giả tập trung nghiên cứu, làm rõ: Khái niệm, đặc
điểm, vai trò của kinh tế nông thôn. Tìm hiểu thực trạng phát triển kinh tế nông thôn ở
huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng về thành tựu và nguyên nhân của những thành tựu cũng
như hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế trong phát triển kinh tế nông thôn ở
huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng. Trên cơ sở đó, tác giả đề suất một số giải pháp và phương
hướng nhằm phát triển kinh tế nông thôn ở huyện Mỹ Tú tỉnh Sóc Trăng.
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẨU................................................................................................................1
1. Lý do chọn đề tài......................................................................................................1
2. Lịch sử nghiên cứu đề tài..........................................................................................2
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.............................................................................2
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu............................................................................2
5. Phương pháp nghiên cứu..........................................................................................3
6. Kết cấu luận văn.......................................................................................................3
CHƯƠNG 1: KINH TỂ NÔNG THÔN, ĐẶC ĐIỂM VÀ VAI TRÒ CỦA KINH TẾ
NÔNG THÔN.................................................................................................................... 4
1.1. Khái niệm kinh tế nông thôn................................................................................4
1.2. Đặc điểm và vai trò kinh tế nông thôn..................................................................5
1.2.1. Đặc điểm của kinh tế nông thôn....................................................................5
1.2.2. Vai trò của kinh tế nông thôn.........................................................................8
1.3. Quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về kinh tế nông thôn..................................9
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ NÔNG THÔN Ở HUYỆN
MỸ TÚ, TỈNH SÓC TRĂNG.........................................................................................18
2.1. Tìm hiểu khái quát về huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng.............................................18
2.1.1. Điều kiện tự nhiên..........................................................................................18
2.1.2. Các nguồn tài nguyên.....................................................................................20
2.1.3. Dân số, lao động và việc làm..........................................................................24
2.1.4. Kinh tế - Xã hội..............................................................................................25
2.2. Những thành tựu và hạn chế trong phát triển kinh tế nông thôn ở huyện Mỹ Tú, tỉnh
Sóc Trăng.......................................................................................................................... 25
2.2.1. Thành tựu và nguyên nhân của thành tựu trong phát triển kinh tế nông thôn ở
huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng...................................................................................26
2.2.2. Hạn chế và nguyên nhân của hạn chế trong phát triển kinh tế nông thôn ở
huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng...................................................................................45
CHƯƠNG 3:...... PHƯƠNG HƯỚNG VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP CHỦ YẾU ĐỂ TIẾP
TỤC PHÁT TRIỂN KINH TẾ NÔNG THÔN Ở HUYỆN MỸ TÚ, TỈNH SÓC
TRĂNG............................................................................................................................ 49
3.1. Phương hướng phát triển kinh tế nông thôn ở huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng............49
3.2. Giải pháp trong phát triển kinh tế nông thôn ở huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng...........52
KẾT LUẬN...................................................................................................................... 58
TÀI LIỆU THAM KHẢO..............................................................................................60
PHẦN MỞ ĐẨU
1. Lý do chọn đề tài
Việc thúc đẩy nhịp độ tăng trưởng kinh tế chung của cả nước trong giai đoạn công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước là con đường duy nhất để giải phóng lực lượng sản
xuất, giải phóng nông dân, nông thôn ra khỏi tình trạng lạc hậu, đó cũng là quy luật
chung của sự phát triển kinh tế - xã hội.
Hiện nay nền nông nghiệp cả nước nói chung và nên nông nghiệp huyện Mỹ Tú tỉnh
Sóc Trăng nói riêng đã và đang chuyển mạnh từ nền sản xuất nhỏ truyền thống tự cung,
tự cấp sang một nền nông nghiệp bền vững với trình độ khoa học kĩ thuật cao. Góp phần
làm thay đổi tính chất và các mối quan hệ cơ bản trong nông nghiệp nông thôn, đồng thời
tạo ra động lực thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế nông thôn.
Huyện Mỹ Tú tỉnh Sóc Trăng là huyện còn gặp rất nhiều khó khăn, để đưa huyện đi
lên sánh vai với các huyện khác thì cần phải có những giải pháp hợp lý và chỉ đạo xuyên
suốt trong quá trình phát triển.
Nông thôn là nơi cung cấp chủ yếu lương thực thực phẩm nhưng lại là vùng có nền
kinh tế phát triển chậm, một số người dân còn nghèo. Để phát triển kinh tế nông thôn
Đảng và nhà nước ta đã đưa ra nhiều chủ trương, chính sách làm cho bộ mặt của nông
thôn, đời sống người dân được cải thiện.
Qua quá trình thực hiện theo chủ trương chính sách của Đảng và nhà nước thì kinh
tế nông thôn huyện Mỹ Tú tỉnh Sóc Trăng đã có những bước phát triển mạnh mẽ phát
triển các vùng chuyên canh cây trồng ổn định đặc biệt là các loại cây trồng chủ lực như
lúa, mía, khóm, cây ăn quả, thực hiện thâm canh, ứng dụng công nghệ mới, nhất là công
nghệ sinh học, nhằm tăng năng suất, sản lượng, hạ giá thành và nâng cao tính cạnh tranh
của sản phẩm. Xây dựng khu công nghiệp kĩ thuật cao và phát triển mạnh các loại hình
dịch vụ kĩ thuật nông nghiệp gắn kết với việc bảo vệ môi trường sinh thái, tạo điều kiện
phát triển bền vững tăng tỷ trọng các ngành mũi nhọn, khuyến khích các thành phần kinh
tế tham gia hoạt động thương mại, từng bước mở rộng thị trường trong và ngoài nước, thị
trường nông thôn, phục vụ tiêu dùng và xuất khẩu.
Tuy nhiên, kinh tế nông thôn huyện Mỹ Tú tỉnh Sóc Trăng vẫn còn nhiều hạn chế
và bất cập. Tốc độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế còn chậm và chất lượng chưa cao, những
1
ngành công nghệ cao chưa phát triển, những ngành dịch vụ còn phát triển chậm, khoa
học công nghệ, tính chất xã hội hóa còn thấp chủ yếu dựa vào nguồn vốn của nhà nước.
Vì vậy, cần phải có những giải pháp kịp thời để xây dựng nền kinh tế huyện Mỹ Tú tỉnh
Sóc Trăng phát triển mạnh mẽ.
Để góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế nông thôn ở huyện Mỹ Tú tỉnh Sóc
Trăng, tôi đã chọn đề tài: “Tìm hiểu về phát triển kinh tế nông thôn ở huyện Mỹ Tú
tỉnh Sóc Trăng hiện nay” làm đề tài nghiên cứu cho luận văn tốt nghiệp của mình.
2. Lịch sử nghiên cứu đề tài
Trong khoa Khoa học Chính trị trường Đại học Cần Thơ đã có một số tác giả chọn
đề tài luận văn tại tỉnh Sóc Trăng như: “Tìm hiểu về phát triển kinh tế biển ở tỉnh Sóc
Trăng” của tác giả Nguyễn Thị Cẩm Nhung năm 2016, hay “Tìm hiểu về phát triển
ngành nuôi trồng thủy sản ở tỉnh Sóc Trăng” của tác giả Trần Thị Tuyết Mai năm 2016.
Trong đó, tại huyện Mỹ Xuyên tỉnh Sóc Trăng có tác giả Triệu Thông nghiên cứu đề tài
“Tìm hiểu mô hình tôm - lúa là mũi nhọn phát triển kinh tế huyện Mỹ Xuyên tỉnh Sóc
Trăng”.
Tuy nhiên, chưa có một tác giả nào viết về đề tài “Tìm hiểu về phát triển kinh tế
nông thôn ở huyện Mỹ Tú tỉnh Sóc Trăng hiện nay” hoặc nếu có chỉ có những đề tài xoay
quanh tìm hiểu vấn đề nông thôn. Vì vậy, đề tài này cần được phát triển để nhận định
được những thành tựu về phát triển kinh tế nông thôn tại huyện Mỹ Tú tỉnh Sóc Trăng
nhằm tìm hiểu về thành tựu, hạn chế cũng như nguyên nhân của những thành tựu và
nguyên nhân của những hạn chế. Từ đó để biết Đảng và Nhà Nước đã có những chính
sách chung gì và tại huyện Mỹ Tú tỉnh Sóc Trăng đã xác định được những phương hướng
nào để phát triển đồng bộ và đặc biệt là kinh tế nông thôn.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: tìm hiểu về phát triển kinh tế nông thôn ở huyện Mỹ Tú
tỉnh Sóc Trăng.
- Phạm vi nghiên cứu:
+Về không gian: kinh tế nông thôn trên địa bàn huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng.
+ Về thời gian: từ năm 2016 đến 2019.
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2
- Mục đích nghiên cứu: Làm rõ thực trạng để tìm ra phương hướng và giải pháp để
thúc đẩy kinh tế nông thôn huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng phát triển.
- Nhiệm vụ nghiên cứu:
Thứ nhất, tìm hiểu khái niệm, đặc điểm, vai trò của kinh tế nông thôn.
Thứ hai, làm rõ những thực trạng phát triển kinh tế nông thôn ở huyện Mỹ Tú tỉnh
Sóc Trăng.
Thứ ba, đề suất phương hướng và giải pháp nhằm phát triển kinh tế nông thôn ở
huyện Mỹ Tú tỉnh Sóc Trăng.
5. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu chủ yếu là dựa vào việc sưu tầm những tài liệu có liên
quan đến quá trình phát triển kinh tế nông thôn ở huyện Mỹ Tú tỉnh Sóc Trăng, thu thập
tài liệu, số liệu từ cơ quan chức năng của huyện Mỹ Tú tỉnh Sóc Trăng, sau đó dùng một
số phương pháp như: chứng minh, so sánh, tổng hợp, phân tích. Đồng thời cũng có tham
khảo một số tài liệu trên mạng internet. Các phương pháp cụ thể này đều dựa theo quan
điểm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử.
6. Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn bao gồm 3
chương và 7 tiết.
PHẦN NỘI DUNG
3
Chương 1
KINH TỂ NÔNG THÔN, ĐẶC ĐIỂM VÀ VAI TRÒ CỦA KINH TẾ
NÔNG THÔN
1.1. Khái niệm kinh tế nông thôn
Khi định nghĩa về nông thôn, người ta thường so sánh nông thôn với thành thị. Khái
niệm nông thôn bao gồm tổng hợp nhiều mặt có quan hệ chặt chẽ với nhau mà từng mặt,
từng tiêu chí riêng lẻ không thể nói lên một cách đầy đủ được.
Nông thôn là vùng đất đai rộng lớn với một cộng đồng dân cư chủ yếu làm nghề
nông nghiệp (nông, lâm, ngư nghiệp), có mật độ dân cư thấp, cơ sở hạ tầng kém phát
triển, trình độ sản xuất hàng hóa thấp và thu nhập mức sống của dân cư thấp hơn đô thị.
Khái niệm trên chưa phải đã hoàn chỉnh, nếu không đặt nó trong điều kiện thời gian
và không gian nhất định của nông thôn mỗi nước (nước phát triển hay đang phát triển),
mỗi vùng (vùng phát triển hay kém phát triển).
Nông thôn là khái niệm để chỉ phần lãnh thổ của một nước hay của một đơn vị hành
chính mà ở đó sản xuất nông nghiệp chiếm tỷ trọng lớn, dân cư chủ yếu làm nông
nghiệp. Nông nghiệp là một trong những ngành kinh tế quan trọng và phức tạp. Nó
không chỉ là một ngành kinh tế đơn thuần mà còn là hệ thống sinh học - kĩ thuật, bởi vì
một mặt cơ sở để phát triển nông nghiệp là việc sử dụng tiềm năng sinh học cây trồng vật
nuôi.
Nông nghiệp hiểu theo nghĩa hẹp chỉ có ngành trồng trọt, ngành chăn nuôi và
ngành dịch vụ trong nông nghiệp. Nông nghiệp hiểu theo nghĩa rộng là bao gồm cả
ngành lâm nghiệp và ngành thủy sản. [4]
Theo giáo trình kinh tế chính trị Mác - Lênin thì kinh tế nông thôn là một khu vực
kinh tế gắn liền với địa bàn nông thôn. Là một phức hợp những nhân tố cấu thành của lực
lượng sản xuất và quan hệ sản xuất trong nông – lâm - ngư nghiệp, cùng với các ngành
tiểu thủ công nghiệp, công nghiệp chế biến và phục vụ nông nghiệp, các ngành thương
nghiệp và dịch vụ... tất cả có quan hệ hữu cơ với nhau trong kinh tế vùng, lãnh thổ và
toàn bộ nền kinh tế quốc dân. [4, tr.475]
Kinh tế nông thôn là lĩnh vực mới được đề cập một cách toàn diện và mới bắt đầu
được quan tâm tổ chức phát triển. Nhiệm vụ của khoa học kinh tế nông thôn là nghiên
4
cứu những phương hướng, giải pháp tăng trưởng và phát triển kinh tế nông thôn một
cách bền vững, trong đó đặc biệt quan tâm đến việc khai thác và sử dụng một cách hiệu
quả các tài nguyên, các nguồn lực, nghiên cứu về xây dựng cơ cấu kinh tế nông thôn hợp
lý, nghiên cứu các hình thức kinh tế hợp lý ở nông thôn, nghiên cứu về hình thành cơ sở
hạ tầng, các chính sách phát triển kinh tế nông thôn...
Kinh tế nông thôn còn dựa chủ yếu trên cơ sở kinh tế nông nghiệp để phát triển
nhưng là sự phát triển tổng hợp đa ngành nghề với những biến đổi quan trọng trong phân
công lao động xã hội ngay tại khu vực nông thôn, do đó tạo ra những lực lượng sản xuất
mới mà nên nông nghiệp trước đây chưa từng biết đến.
Theo quan niệm trên, luận văn nghiên cứu kinh tế nông thôn bao gồm cả nông
nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp đảm bảo về nhu cầu lương thực, thực phẩm cho xã hội,
nguyên liệu cho công nghiệp chế biến, sản xuất ra các sản phẩm hàng hóa cho thị trường.
1.2. Đặc điểm và vai trò kinh tế nông thôn
1.2.1. Đặc điểm của kinh tế nông thôn
Kinh tế nông thôn bao gồm các ngành, lĩnh vực và các thành phần kinh tế có quan
hệ tác động lẫn nhau.
Cơ cấu ngành nghề, kinh tế nông thôn
Nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp đảm bảo nhu cầu về lương thực, thực phẩm
cho xã hội, nguyên liệu cho công nghiệp và chế biến sản xuất ra các sản phẩm hàng hóa
cung cấp cho thị trường trong và ngoài nước.
Công nghiệp gắn với nông, lâm, ngư nghiệp, trước hết là công nghiệp chế biến,
công nghiệp phục vụ cho nông nghiệp và các ngành tiểu thủ công nghiệp khác sản xuất
ra các hàng hóa không có nguồn nguyên liệu từ nông nghiệp phục vụ cho tiêu dùng trong
nước và suất khẩu. Các loại hình dịch vụ thương nghiệp, tín dụng, khoa học và công
nghệ, tư vấn... cùng với các cơ sở hạ tầng ở nông thôn (điện, đường, trường, trạm... sẽ là
những bộ phận hợp thành của kinh tế nông thôn và sự phát triển của chúng là biểu hiện
trình độ phát triển của kinh tế nông thôn [4, tr.476]
Cơ cấu thành phần kinh tế nông thôn
Kinh tế nông thôn là một cơ cấu kinh tế nhiều thành phần. Nền kinh tế quốc dân có
bao nhiêu thành phần kinh tế thì kinh tế nông thôn cũng có bấy nhiêu. Tuy nhiên, các
5
thành phần kinh tế trong đó kinh tế nông thôn sẽ có những hình thức cụ thể biểu hiện
những điểm riêng biệt của kinh tế nông thôn.
Kinh tế nông thôn nhất thiết phải có thành phần kinh tế nhà nước kinh tế nhà nước.
Kinh tế nhà nước nói chung và trong nông thôn nói riêng đóng vai trò chủ đạo trong kinh
tế nông thôn. Bộ phẩm tiêu biểu cho kinh tế nhà nước trong nông thôn là các nông
trường quốc doanh và các trạm, trại kĩ thuật nông nghiệp, cơ sở hạ tầng. Với phạm trù
kinh tế nông thôn, thành phần kinh tế nhà nước mở rộng ra toàn bộ các ngành nghề cơ
bản: trong nông nghiệp, công nghiệp, thương nghiệp, tín dụng, ngân hàng, dịch vụ, kinh
tế và khoa học... Nhiều cơ sở của kinh tế nhà nước trong kinh tế nông thôn chỉ là bộ phận
đại diện của kinh tế nhà nước chung như chi nhánh ngân hàng, cửa hàng thương nghiệp,
trạm kĩ thuật... nhưng gắn bó hữu cơ với kinh tế nông thôn từng vùng như bộ phận cấu
thành bên trong của nó.
Kinh tế hộ gia đình không tham gia hợp tác xã thuộc thành phần kinh tế cả thể hoặc
tiểu thủ. Trong kinh tế nông nghiệp, hộ gia đình và hợp tác xã được tổ chức theo chính
sách và luật mới là đơn vị cơ bản làm nông nghiệp. Với tính chất là hộ gia đình xã viên
hợp tác xã, hộ gia đình đó còn là hình thức trung gian chuyển tiếp từ thành phần kinh tế
cả thể sang kinh tế hợp tác. Thành phần kinh tế cả thể mở rộng ra các ngành kinh tế
ngoài nông nghiệp, tiểu chủ kinh doanh công nghiệp thương nghiệp dịch vụ...
Kinh tế hợp tác sẽ trở nên đa dạng hơn không những trong nông nghiệp mà cả trong
công nghiệp, thương nghiệp, tín dụng... các hình thức kinh tế hợp tác sẽ phát triển từ thấp
đến cao, hoàn chỉnh nhất là hợp tác xã kiểu mới, tiến lên liên hiệp các hợp tác xã kinh
doanh nhiều ngành nghề. Kinh tế hợp tác là con đường để nông dân và cư dân nông thôn
đi lên nền sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa và cùng với kinh tế nhà nước công nông thôn
hợp thành nền tảng của nền kinh tế nông thôn theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Kinh tế nông thôn cũng tất yếu có thành phần kinh tế tư bản tư nhân và cũng có
kinh tế tư bản nhà nước. Kinh tế tư bản tư nhân ở nông thôn phải đi vào chủ nghĩa tư bản
nhà nước dưới hình thức đa dạng từ thấp đến cao. Nền kinh tế nhà nước và vai trò quản
lý của nhà nước suy yếu và buông lỏng thì ít hay nhiều dẫn đến sự phân hóa trong nông
thôn và xu hướng tự phát tư bản chủ nghĩa sẽ phát triển. Trong công nghiệp, thương
6
nghiệp, tín dụng và dịch vụ... của kinh tế nông thôn, sự phát triển của kinh tế tư bản chủ
nghĩa sẽ có điều kiện phát triển mạnh mẽ hơn.
Trình độ công nghệ kinh tế nông thôn
Đây là sự tổng hợp, kết hợp có căn cứ khoa học nhiều trình độ và quy mô nhất định.
Từ công nghệ truyền thống nói chung còn lạc hậu cho đến công nghệ nữa hiện đại và
hiện đại, nhiều quy mô trong đó quy mô nhỏ và vừa là thích hợp nhất.
Nền nông nghiệp Việt Nam phải nhanh chóng công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo
hướng một nền nông nghiệp sinh thái, một nền nông nghiệp sạch. Sự phát triển công
nghiệp ở nông thôn tất nhiên phải gắn với nông nghiệp với quy mô nhỏ và vừa là thích
hợp và phải tận dụng công nghệ truyền thống. Nền nông nghiệp đó phải nhanh chóng
ứng dụng các thành tựu hiện đại để các sản phẩm có chất lượng cao, có sức cạnh tranh
trên thị trường ngày càng mở rộng, cố gắng hướng về suất khẩu. Phát triển của công
nghiệp nông thôn cũng phải chú ý ngay từ đầu việc bảo vệ môi trường, thực hiện công
nghệ sạch bằng các giải pháp thích hợp với tình trạng nghèo vốn và công nghệ, làm cho
cả nông nghiệp và công nghiệp đều sạch.
Công nghiệp chế biến trong kinh tế nông thôn tất nhiên cần những vùng nông
nghiệp tập trung sản xuất chuyên canh nguyên liệu.
Cơ cấu xã hội - giai cấp
Quá trình phát triển kinh tế nông thôn là quá trình phát triển phân công lao động xã
hội, chuyển đổi và đa dạng hóa ngành nghề sản xuất và dịch vụ ở nông thôn. Quá trình
đó cũng dẫn đến sự biến đổi cơ cấu xã hội - giai cấp và làm thay đổi quan trọng đời sống
văn hóa xã hội ở các vùng nông thôn. Đó cũng là quá trình đô thị hóa quy mô nhỏ diễn ra
tại nông thôn làm cho sự khác biệt giữa thành thị và nông thôn dần dần thu hẹp lại.
Nông thôn không còn chỉ là nơi sinh sống của nông dân chuyên làm nghề nông mà
còn là nơi sinh sống của những cư dân làm nhiều ngành nghề. Dân cư làm nông nghiệp
dần dần sẽ được thu hẹp một cách tương đối, quá trình đó được diễn ra ở từng vùng, từng
làng, từng gia đình.
Nền kinh tế nông thôn Việt Nam vẫn còn chậm phát triển so với các nước trong khu
vực và trên thế giới. Nền kinh tế nông thôn Việt Nam vẫn còn mang nặng tính chất thuần
nông. Xét về cơ cấu lao động, cơ cấu vốn đầu tư, cơ cấu sản phẩm, sản phẩm hàng hóa
7
và suất khẩu thì nông nghiệp vẫn chiếm tỷ trọng cao hơn so với công nghiệp và dịch vụ,
làm cho sản xuất mang nặng tính tự túc, tự cấp, sản xuất hàng hóa thấp, năng suất đạt
được chưa cao ảnh hưởng đến năng suất lao động, thu nhập đầu người cũng như đời sống
nhân dân.
Trong thời gian tới kinh tế nông thôn Việt Nam cần phải dần dần xóa bỏ sự lạc hậu
của nông thôn, tăng cường đầu tư, xây dựng và phát triển nông thôn theo hướng văn
minh, dân chủ, góp phần làm cho Việt Nam phát triển hơn và ngày càng giàu mạnh sánh
vai với các nước trong khu vực và trên thế giới.
1.2.2. Vai trò của kinh tế nông thôn
Phát triển kinh tế nông thôn góp phần tạo ra những tiền đề quan trọng không thể
thiếu bảo đảm thắng lợi cho tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Phát triển kinh tế nông thôn trước hết là phát triển kinh tế nông nghiệp một cách
mạnh mẽ và ổn định, tạo cho toàn bộ nền kinh tế quốc dân, nhất là cho công nghiệp một
cơ sở vững chắc về nhiều phương diện, trước hết là về lương thực thực phẩm. Dù cho
nền kinh tế nước ta rồi đây phát triển đến đâu và tỷ lệ lao động làm nông nghiệp giảm
xuống do năng xuất lao động trong nông nghiệp tăng lên thế nào thì nông nghiệp bao giờ
cũng vẫn đóng vai trò quan trọng vì nó thỏa mãn nhu cầu hàng đầu của con người là nhu
cầu ăn, tạo ra sự ổn định về chính trị, kinh tế và quốc phòng. Với việc phát triển đồng bộ
các ngành ở nông thôn, kinh tế nông thôn sẽ tạo ra một khối lượng sản phẩm với giá trị
ngày càng tăng và điều đó góp phần giải quyết vấn đề vốn để công nghiệp hóa, hiện đại
hóa.
Phát triển kinh tế nông thôn sẽ thực hiện được quá trình công nghiệp hóa hiện đại
hóa tại chỗ, gắn bó tại chỗ công nghiệp với nông nghiệp, vấn đề đô thị hóa sẽ được giải
quyết theo phương hướng đô thị hóa tại chỗ, giảm sức ép của sự chênh lệch kinh tế và
đời sống giữa thành thị và nông thôn, giữa vùng phát triển vào vùng kém phát triển. Kinh
tế nông thôn, trong khi phát triển mạnh mẽ không chỉ nông nghiệp mà cả công nghiệp,
thương nghiệp cùng các ngành nghề khác, sẽ làm cho toàn bộ các ngành đó chuyển mạnh
sang một nền kinh tế hàng hóa phát triển.
Sự phát triển của kinh tế nông thôn sẽ tạo cơ sở vật chất cho sự phát triển văn hóa ở
nông thôn.
8
Nông thôn vốn là vùng kinh tế, văn hóa hậu, sản xuất và sinh hoạt phát tán, nhiều
hủ tục, ít theo luật pháp thống nhất. Mặt khác, nông thôn là nơi truyền thống cộng đồng
(cả tốt lẫn xấu) còn sâu đậm... Phát triển kinh tế nông thôn sẽ tạo điều kiện để vừa giữ
gìn, phát huy truyền thống văn hóa xã hội tốt đẹp, bài trừ văn hóa cũ, vừa tổ chức tốt đời
sống văn hóa và tinh thần.
Sự phát triển của kinh tế nông thôn gắn liền với phát triển xã hội, văn hóa, chính trị
và kiến trúc thượng tầng theo định hướng xã hội chủ nghĩa, sẽ dẫn đến thắng lợi của chủ
nghĩa xã hội ở nông thôn, góp phần quyết định đến thắng lợi của chủ nghĩa xã hội. Đó
cũng là thắng lợi của việc giữ vững và bảo vệ độc lập dân tộc, chủ quyền và lợi ích quốc
gia. Một nông thôn có kinh tế và văn hóa phát triển, đời sống ấm no, đầy đủ về vật chất,
yên ổn và vui tươi về tinh thần sẽ là một nhân tố quyết định cũng cố vững chắc trận địa
lòng dân, thắt chặt mối liên minh công nông đảm bảo cho dân nhân dân ta có thể đánh
bại mọi âm mưu diễn biến hòa bình của các thế lực thù địch, cũng như tăng cường tiềm
lực và sức mạnh quốc phòng - an ninh đủ sức đánh bại mọi âm mưu xâm lược vũ trang
của mọi kẻ thù, dưới bất kỳ hình thức nào. [4, tr.480]
Trong thời gian qua công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn được
xem là chủ trương quan trọng của Đảng và Nhà nước, là cơ sở để hoạch định chính sách
phát triển nông nghiệp, nông thôn và tổ chức thực hiện các chính sách trong thời kỳ phát
triển. Mục tiêu của công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn là xây dựng
và phát triển kinh tế nông thôn bền vững, có cơ sở vật chất hiện đại, cơ cấu hợp lý, có
năng suất lao động và hiệu quả kinh tế cao, giải quyết được việc làm, xóa đói giảm
nghèo, đời sống vật chất và tinh thần của người dân nông thôn ngày một được nâng cao,
xây dựng nông thôn giàu đẹp, tiến bộ, văn minh và hiện đại hơn.
1.3. Quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về kinh tế nông thôn
Vấn đề phát triển nông nghiệp, nông thôn và nâng cao đời sống nông dân luôn
chiếm vị trí quan trọng trong các chương trình nghị sự của Đảng và Nhà nước ta. Trải
qua các kỳ đại hội Đảng, vấn đề nông nghiệp, nông thôn và nông dân ngày càng được
Đảng ta nhận thức sâu sắc hơn, trên cơ sở đó đề ra những chủ trương, định hướng đúng
đắn, phù hợp với tình hình, yêu cầu trong từng giai đoạn phát triển của đất nước. Điều
9
này được thể hiện đặc biệt rõ nét kể từ khi thực hiện đường lối đổi mới do Đảng khởi
xướng và lãnh đạo.
Phát triển kinh tế nông thôn luôn đi song song với phát triển nông nghiệp và ngay
từ những năm đầu của thời kỳ đổi mới cũng như trong các thời kỳ đại hội Đảng, hai lĩnh
vực này luôn được sự quan tâm đặc biệt của đảng và nhà nước.
Nông nghiệp, nông dân, nông thôn Việt Nam có vai trò quan trọng trong sự công
nghiệp nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa, xây dựng và bảo vệ tổ quốc, là cơ sở và lực
lượng quan trọng để phát triển kinh tế - xã hội bền vững giữ, vững ổn định chính trị - xã
hội, đảm bảo an ninh quốc phòng, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, bảo vệ
môi trường sinh thái của đất nước. Thực tiễn hơn 20 năm đổi mới đã chứng minh đường
lối đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam về nông nghiệp, nông thôn, nông dân gắn với
sự phát triển đất nước.
Nắm vững những quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về
giai cấp nông dân, xuất phát từ tình hình đặc điểm xã hội Việt Nam và yêu cầu của cách
mạng Việt Nam trong từng thời kỳ cách mạng, đảng Cộng sản Việt Nam đã nhận thức
sâu sắc về vị trí, vai trò của giai cấp nông dân trong cách mạng dân tộc dân tộc dân chủ
nhân dân và cách mạng xã hội chủ nghĩa. Ngay trong cương lĩnh đầu tiên của Đảng
(2/1930) đã xác định: “Phải làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi
tới chủ nghĩa cộng sản”.
Như vậy, trong cách mạng giải phóng dân tộc, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn xác
định vấn đề nông dân và ruộng đất là một trong những vấn đề cốt lỗi của cách mạng. Sự
nghiệp giải phóng dân tộc chỉ có thể thắng lợi và hoàn toàn khi giải quyết được vấn đề
nông dân và ruộng đất. Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam xem xét vấn
đề nông dân một cách toàn diện, nghĩa là không dừng lại ở vấn đề chính trị mà gắn liền
với vấn đề kinh tế nông nghiệp. Từ thực tiễn cách mạng Việt Nam, khi xem xét về mặt
chính trị của vấn đề nông dân là cơ sở để xây dựng khối liên minh công nông và trí thức,
xây dựng mặt trận dân tộc thống nhất trong kháng chiến chống Pháp. Sau khi giành được
độc lập dân tộc, liên minh công nông trí thức là nên tảng của chính quyền, là công cụ sắc
bén trong công cuộc xây dựng và bảo vệ chủ nghĩa xã hội. Nông nghiệp, nông dân nông
thôn có một vai trò vô cùng quan trọng trong sự nghiệp phát triển đất nước.
10
Nông nghiệp, nông dân, nông thôn có mối quan hệ hữu cơ cần phải có sự nhận thức
đúng đắn để đề ra đường lối chính sách đúng đắn nhằm phát triển toàn diện nông nghiệp,
nông dân, nông thôn ở Việt Nam. Thực tế cho thấy, không phải ngay từ đầu chúng ta đã
nhận thức được một cách thấu đáo mà phải trải qua quá trình trải nghiệm thực tiễn, tổng
kết thực tiễn, phát triển lý luận để phát triển.
Đại hội lần thứ III của Đảng khẳng định ra sức phát triển nông nghiệp, vì muốn
phát triển công nghiệp, muốn tiến hành công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa phải có những
điều kiện tiên quyết như lương thực, thực phẩm, lao động... mà những điều kiện đó phụ
thuộc vào sự phát triển của nông nghiệp. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Vì nước ta là
một nước nông nghiệp, mọi việc đều dựa vào nông nghiệp” cho nên “các cơ quan Nhà
nước phải quan tâm hơn nữa đến nông nghiệp, phát huy nhiều hơn nữa tác dụng của
ngành mình trong sản xuất nông nghiệp”. Đại hội III của Đảng chỉ rõ công nghiệp và
nông nghiệp là hai bộ phận chủ yếu trong nền kinh tế quốc dân có quan hệ mật thiết lẫn
nhau cần được phát triển và khẳng định, công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ
trung tâm của cả thời kỳ quá độ. Hội nghị trung ương V khóa III (1961) đã ra nghị quyết
về các vấn đề phát triển nông nghiệp, trong đó nêu lên năm phương hướng cải tiến công
cụ và cơ giới hóa nông nghiệp trong kế hoạch năm năm lần thứ nhất (1961 – 1965).
Thực tiễn khách quan này đòi hỏi đảng Cộng sản Việt Nam phải đổi mới tư duy lý
luận, trước hết là đổi mới tư duy kinh tế, mở đường cho lực lượng sản xuất triển. Từ đại
hội V (1981), đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định: lấy nông nghiệp là mặt trận hàng
đầu, đặc biệt phải vượt qua của cả lương thực. Tại đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI
(1986), đại hội đề ra đường lối đổi mới trước hết là đổi mới cơ cấu kinh tế (cơ cấu công nông nghiệp, cơ cấu nội bộ ngành nông nghiệp, ngành công nghiệp nhẹ và tiểu thủ công
nghiệp, công nghiệp nặng và kết cấu hạ tầng, cơ cấu kinh tế huyện). Thực hiện ba
chương trình kinh tế bao gồm chương trình lương thực, thực phẩm, chương trình hàng
tiêu dùng, chương trình hàng xuất khẩu. Xây dựng và cũng cố quan hệ sản xuất xã hội
chủ nghĩa, sử dụng và cải tạo đúng đắn các thành phần kinh tế. Đại hội VI (1986) đã đưa
ra quan điểm mới về cải tạo xã hội chủ nghĩa dựa trên 3 nguyên tắc:
Một là nhất thiết phải theo quy luật về sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất với tính
chất và trình độ của lực lượng sản xuất để xác định bước đi và hình thức thích hợp.
11
Hai là phải xuất phát từ thực tế của nước ta và sự vận dụng quan điểm của Lênin
coi nền kinh tế có cơ cấu nhiều thành phần là một đặc trưng của thời kỳ quá độ.
Ba là trong công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa, xây dựng quan hệ sản xuất mới trên
cả ba mặt trận, xây dựng chế độ công hữu về tư liệu sản xuất, chế độ quản lý và chế độ
phân phối xã hội chủ nghĩa.
Tại đại hội đảng toàn quốc lần thứ VI (1986), Đảng ta đã chủ trương đổi mới toàn
diện về kinh tế. Đây là cuộc cách mạng thực sự trong nhận thức, trong tư duy lý luận của
đảng về kinh tế. Nổi bật nhất của tư duy mới về cơ cấu kinh tế lúc bấy giờ là phải đẩy
mạnh phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, cho phép và khuyến khích kinh tế tư
nhân, cá thể phát triển, chú ý kích thích lợi ích cá nhân làm động lực cho phát triển kinh
tế, điều chỉnh việc xây dựng cơ cấu kinh tế ngành.
Theo phương hướng phát triển các ngành và các vùng đã được đại hội VII (1991)
đề ra là phát triển nông - lâm - ngư nghiệp gắn với công nghiệp chế biến. Đẩy mạnh thâm
canh, tăng vụ, cải tiến cơ cấu giống, cơ cấu cây trồng trên diện tích đang sử dụng, phát
triển chăn nuôi thành ngành chính. Phát triển toàn diện kinh tế nông thôn và xây dựng
nông thôn mới là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu để ổn định tình hình kinh tế - xã hội,
phát triển một số ngành công nghiệp nặng trước hết để phục vụ cho sản xuất nông – lâm ngư nghiệp.
Theo nghị quyết số 05- NQ/TW của Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung
ương Đảng khóa VII đặt sự phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn theo hướng sản
xuất hàng hóa trong quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước, coi đó là nhiệm
vụ chiến lược có tầm quan trọng hàng đầu. Thực hiện nhất quán và lâu dài chính sách
kinh tế nhiều thành phần trong nông nghiệp và kinh tế nông thôn theo định hướng xã hội
chủ nghĩa, trong đó kinh tế quốc doanh, kể cả kinh tế quốc doanh trong công nghiệp và
dịch vụ phục vụ nông nghiệp cùng với kinh tế hợp tác xã được đổi mới và phát triển có
hiệu quả, từng bước vươn lên làm nền tảng, tạo điều kiện để cũng cố liên minh công –
nông - trí thức, huy động tối đa tiềm năng của kinh tế hộ xã viên, hộ cá thể, hộ tư nhân,
kinh tế hợp tác liên doanh với nước ngoài. Gắn sản xuất với thị trường, mở rộng sản
xuất đi đôi với mở rộng thị trường tiêu thụ nông sản. Đẩy mạnh ứng dụng tiến bộ khoa
học kĩ thuật với công nghệ mới, nhất là công nghệ sinh học, để nâng cao năng suất, tăng
12
chất lượng sản phẩm, hạ giá thành, nâng cao hiệu quả kinh doanh, tăng sức cạnh tranh
trên thị trường trong và ngoài nước, tăng sức mua của thị trường nội địa. Đẩy mạnh xuất
khẩu, thay thế nhập khẩu những mặt hàng trong nước sản xuất có hiệu quả, có chính sách
khuyến khích và bảo hộ hợp lý sản xuất trong nước. Gắn phát triển kinh tế với phát triển
văn hóa, xã hội, nâng cao dân trí, đào tạo nhân tài. Bảo vệ và phát triển tài nguyên, cải
thiện môi trường sinh thái, xây dựng nông thôn mới. Đổi mới kinh tế đi đôi với đổi mới
hệ thống chính trị trong nông thôn. [15]
Đại hội VII (1991) đã xác định nền kinh tế quốc dân sẽ bao gồm nhiều ngành nghề,
nhiều quy mô, nhiều trình độ công nghệ, phát triển nông – lâm - ngư nghiệp gắn với công
nghiệp chế biến và xây dựng nông thôn mới là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu để ổn định
tình hình phát triển kinh tế - xã hội. Đại hội lần thứ X của Đảng Cộng sản Việt Nam đã
khẳng định việc thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn, phát huy vai trò quan
trọng của nông dân trong sự nghiệp đổi mới và công nghiệp hóa hiện đại hóa nông
nghiệp nông thôn. Tiến trình đổi mới ở Việt Nam được bắt đầu đột phá nông nghiệp với
chính sách cơ chế khoán, tứ khoán sản phẩm trong nông nghiệp, lợi ích cá nhân của
người nông dân được coi trọng và kinh tế hộ gia đình nông dân được xác định là đơn vị
kinh tế cơ bản của nông thôn. Phát triển kinh tế kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo
cơ chế thị trường để khơi dậy tiềm năng sáng tạo ở nông thôn, giải phóng mọi năng lực
sản xuất, tạo động lực thực sự cho nông dân bằng việc giải quyết hợp lý các quan hệ.
Bước sang đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII (1996), trên cơ sở đánh giá tình
hình 10 năm thực hiện công cuộc đổi mới, bối cảnh trong nước và quốc tế, đại hội đã xác
định mục tiêu, nội dung của công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và quyết tâm đưa
nước ta trở thành nước công nghiệp vào năm 2020. Đại hội cũng xác định rõ nội dung và
giải pháp lớn để thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Đó là:
Thứ nhất, phát triển toàn diện nông – lâm - ngư nghiệp hình thành các vùng tập
trung chuyên canh, có cơ cấu hợp lý về cây trồng, vật nuôi, sản phẩm hàng hóa nhiều về
số lượng, tốt về chất lượng, đảm bảo an toàn về lương thực trong xã hội, đáp ứng được
yêu cầu công nghiệp chế biến và của thị trường trong và ngoài nước.
Thứ hai, thực hiện thuỷ lợi hóa điện khí hóa cơ giới hóa sinh học hóa.
13
Thứ ba, phát triển công nghiệp chế biến nông – lâm – thủy sản với công nghệ ngày
càng cao, gắn với nguồn nguyên liệu và liên kết công nghiệp đô thị. Phát triển các ngành
nghề, làng nghề truyền thống và các ngành nghề mới bao gồm tiểu thủ công nghiệp, công
nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng, hàng suất khẩu, công nghiệp khai thác và chế biến các
nguồn nguyên liệu phi nông nghiệp, các loại hình dịch vụ sản xuất và đời sống nhân dân.
Thứ tư, xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế và xã hội, từng bước hình thành nông thôn
mới văn minh, hiện đại.
Thực hiện đường lối chủ trương của đại hội VIII, Bộ chính trị đã ra quyết định số
06 – NQ/TW về một vấn đề phát triển nông nghiệp và nông thôn, trong đó nhấn mạnh:
“Đẩy mạnh thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong phát triển nông nghiệp và xây
dựng nông thôn”. Đồng thời, “coi trọng thực hiện công nghiệp hóa hiện đại hóa trong
phát triển nông nghiệp (gồm cả lâm nghiệp, ngư nghiệp, diêm nghiệp) và xây dựng nông
thôn, đưa nông nghiệp và kinh tế nông thôn lên sản xuất lớn là nhiệm vụ cực kỳ quan
trọng cả trước mắt và lâu dài”. [18]
Nhằm khắc phục những hạn chế và yếu kém, tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX,
với tầm nhìn chiến lược nhằm mục tiêu đến năm 2020 đưa nước ta cơ bản trở thành một
nước công nghiệp theo hướng hiện đại, vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn được
xác định là phải tăng cường chỉ đạo và huy động các nguồn lực cần thiết để đẩy nhanh
công nghiệp hóa hiện đại hóa nông thôn. Nghị quyết đại hội Đảng lần IX (3/2002) đã chỉ
rõ mục tiêu: “Đưa đất nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển, nâng cao rõ rệt đời
sống vật chất và tinh thần của nhân dân, tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản
trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại”, đại hội Đảng nhấn mạnh: “Cần
phải tăng cường sự chỉ đạo và huy động các nguồn lực cần thiết để đẩy nhanh công
nghiệp hóa hiện đại hóa công nghiệp và nông thôn”.[5, tr.154]
Xuất phát từ tình hình thực tế, Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa IX tiến hành
hội nghị lần thứ năm và ra Nghị quyết số 15-NQ/TW ngày 18 tháng 3 năm 2002, về để
mạnh công nghiệp hóa hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn thời kỳ 2001 – 2002. Nghị
quyết đã xác định rõ: “Công nghiệp hóa hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn là một
trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước”.[16]
14
Nghị quyết đã nêu lên những nội dung chủ yếu để để nhanh quá trình công nghiệp
hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn là:
Thứ nhất, công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn là một trong
những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Phát
triển công nghiệp, dịch vụ phải gắn bó chặt chẽ, hỗ trợ đắc lực và phục vụ có hiệu quả
cho công nghiệp hóa hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn.
Thứ hai, ưu tiên phát triển lực lượng sản xuất, chú trọng phát huy nguồn lực con
người, ứng dụng rộng rãi thành tựu khoa học, công nghệ. Thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu
kinh tế theo hướng phát huy lợi thế của từng vùng gắn với thị trường để sản xuất hàng
hóa quy mô lớn có chất lượng và hiệu quả cao. Bảo vệ môi trường, phòng chống, hạn chế
và giảm nhẹ thiên tai, phát triển nông nghiệp, nông thôn bền vững.
Thứ ba, dựa vào nội lực là chính, đồng thời tranh thủ tối đa các nguồn lực từ bên
ngoài, phát huy tiềm năng của các thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai
trò chủ đạo, cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc. Phát triển
mạnh mẽ kinh tế hộ sản xuất hàng hóa, các loại hình doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp
nhỏ và vừa ở nông thôn.
Thứ tư, kết hợp chặc chẽ các vấn đề kinh tế - xã hội trong quá trình công nghiệp
hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn nhằm giải quyết việc làm, xóa đói giảm nghèo,
ổn định xã hội và phát triển kinh tế, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa của người dân
nông thôn, nhất là đồng bào các dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa. Giữ gìn, phát huy
truyền thống văn hóa và thuần phong mỹ tục.
Thứ năm, kết hợp chặt chẽ công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn
với xây dựng tiềm lực và thế trận quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân, thể
hiện trong chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, dự án phát triển kinh - tế xã hội của cả nước,
của các ngành, các địa phương. Đầu tư phát triển kinh tế - xã hội, ổn định dân cư các
vùng xung yếu, vùng biên giới, cửa khẩu, hải đảo phù hợp với chiến lược quốc phòng
của em và chiến lược an ninh quốc gia.
Mục tiêu tổng quát và lâu dài của công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông
thôn là xây dựng một nền nông nghiệp sản xuất hàng hóa lớn, hiệu quả và bền vững, có
năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh cao trên cơ sở ứng dụng các thành tựu khoa học,
15
công nghệ tiên tiến, đáp ứng nhu cầu trong nước và suất khẩu; xây dựng nông thôn ngày
càng giàu đẹp, dân chủ, công bằng, văn minh, có cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất
phù hợp, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội phát triển ngày càng hiện đại.
Nghị quyết số 26-NQ/TW, ngày 25 tháng 8 năm 2008 trong Hội nghị lần thứ bảy
ban chấp hành trung ương khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn, Đảng và Nhà
nước ta đã xác định mục tiêu cụ thể trong quá trình phát triển Tam Nông thời gian tới là
“Không ngừng nâng cao đời sống vật chất tinh thần của dân cư nông thôn, hài hòa giữa
các vùng, tạo sự chuyển biến nhanh hơn ở các vùng còn nhiều khó khăn, nông dân được
đào tạo có trình độ sản xuất ngang bằng với các nước tiên tiến trong khu vực và đủ bản
lĩnh chính trị, đóng vai trò làm chủ nông thôn mới. Xây dựng nền nông nghiệp phát triển
toàn diện theo hướng hiện đại, bền vững, sản xuất hàng hóa lớn, có năng suất, chất
lượng, hiệu quả và khả năng cạnh tranh cao, đảm bảo vững chắc an ninh lương thực
quốc gia cả trước mắt và lâu dài. Xây dựng nông thôn mới có kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội hiện đại. Cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông
nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ, đô thị theo quy hoạch; xã hội nông
thôn ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc, dân trí được nâng cao, môi trường sinh thái
được bảo vệ. Hệ thống chính trị ở nông thôn dưới sự lãnh đạo của đảng được tăng
cường. Xây dựng giai cấp nông dân, củng cố liên minh công nhân - nông dân – trí thức
vững mạnh, tạo nên tảng kinh tế - xã hội và chính trị vững chắc cho sự nghiệp công
nghiệp hóa, hiện đại hóa xây dựng và bảo vệ tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa”.
Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương khóa X đã xác định:
Một là, nông nghiệp, nông dân, nông thôn có vị trí chiến lược trong sự nghiệp công
nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, là cơ sở và lực lượng quan trọng
để phát triển kinh tế - xã hội bền vững, giữ vững ổn định chính trị, đảm bảo an ninh quốc
phòng. Giữ gìn, phát huy bản sắc dân tộc và bảo vệ môi trường sinh thái của đất nước.
Hai là, các vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn phải được giải quyết đồng bộ,
gắn với quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Công nghiệp hóa,
hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn là một nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của quá trình
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Trong mối quan hệ mật thiết giữa nông nghiệp,
nông dân và nông thôn, nông dân là chủ thể của quá trình phát triển, xây dựng nông thôn
16
mới gắn với xây dựng các cơ sở công nghiệp, dịch vụ và phát triển đô thị theo quy hoạch
là căn bản; phát triển toàn diện, hiện đại hóa nông nghiệp là then chốt.
Ba là, phát triển nông nghiệp, nông thôn và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần
của nông dân phải dựa trên cơ chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, phù
hợp với điều kiện của từng vùng, từng lĩnh vực, để giải phóng và sử dụng có hiệu quả các
nguồn lực xã hội, trước hết là lao động, đất đai, rừng và biển. Khai thác tốt các điều kiện
thuận lợi trong hội nhập kinh tế quốc tế cho phát triển lực lượng sản xuất trong nông
nghiệp, nông thôn. Đồng thời, tăng mạnh đầu tư của nhà nước và xã hội, ứng dụng nhanh
các thành tựu khoa học, công nghệ tiên tiến cho nông nghiệp, nông thôn, phát triển
nguồn nhân lực, nâng cao dân chí nông dân.
Bốn là, giải quyết vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn là nhiệm vụ của cả hệ
thống chính trị và toàn xã hội. Trước hết, phải khơi dậy tinh thần yêu nước, tự chủ, tự lực
tự cường vươn lên của nông dân. Xây dựng xã hội nông thôn ổn định, hòa thuận, dân
chủ, có đời sống văn hóa phong phú, đậm đà bản sắc dân tộc, tạo động lực cho phát triển
nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới nâng cao đời sống nông dân.[17]
17
Chương 2
THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ NÔNG THÔN
Ở HUYỆN MỸ TÚ, TỈNH SÓC TRĂNG
2.1. Tìm hiểu khái quát về huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng
2.1.1. Điều kiện tự nhiên
*Vị trí địa lý
Mỹ Tú nằm cách thành phố Sóc Trăng khoảng 20 km phía Tây. Huyện nằm trên
tọa độ địa lý 9052 – 9078 vĩ độ Bắc và 105074 – 1060 kinh Đông. Ranh giới của huyện
được xác định như sau:
Phía Bắc giáp huyện Châu Thành và Tỉnh Hậu Giang.
Phía Đông giáp thành phố Sóc Trăng và huyện Châu Thành.
Phía Nam giáp huyện Mỹ Xuyên và huyện Thạnh Trị.
18
Sau Nghị định 02/NĐ-CP ngày 24 tháng 10 năm 2008 của chính phủ về việc lập
huyện Châu Thành từ một phần huyện Mỹ Tú, huyện còn lại tổng diện tích tự nhiên
36.815,56 ha và 107.017 nhân khẩu, có 9 đơn vị hành chính trực thuộc. Huyện lỵ là thị
trấn Huỳnh Hữu Nghĩa có diện tích 1.150,17 ha là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa xã
hội của huyện. Huyện nằm cách thành phố Sóc Trăng 20km về phía Tây; có đường tỉnh
939, 939B, 940, 938, và các đường huyện chạy qua tạo cho huyện những lợi thế đáng kể
cho việc giao lưu kinh tế - văn hóa giữa các địa phương trong và ngoài huyện. Ngoài ra
huyện còn có địa điểm du lịch nổi tiếng là căn cứ tỉnh ủy Sóc Trăng.
* Địa hình, địa mạo
Địa hình của huyện tương đối bằng phẳng, độ cao trung bình từ 70 – 200cm. Địa
chất của huyện được hình thành bởi các tầng địa chất chủ yếu là trầm tích mới. Độ sâu từ
0 – 20m phổ biến là đất sét pha thịt có độ dẻo cao, mềm và chịu lực kém. Độ sâu từ 20 –
21m là đất sét có độ dẻo trung bình và thấp, chịu lực tốt.
Huyện có hướng dốc chính nghiên từ Đông sang Tây, với 1/3 diện tích nằm ở vùng
tương đối cao, tập trung chủ yếu ở các xã Phú Mỹ, Thuận Hưng. Phần diện tích còn lại
nằm ở vùng trung bình đến thấp, tập trung chủ yếu ở các xã Mỹ Phước, Hưng Phú, Long
Hưng, Hỹ Hương, thị trấn Huỳnh Hữu Nghĩa.
* Khí hậu
Huyện Mỹ Tú nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa nóng ẩm, và có sự ảnh hưởng của
biển. Đặc điểm khí hậu thời tiết của huyện như sau:
Nhiệt độ: Nhiệt độ trung bình năm từ 26,80C, cao nhất là 320C, nhiệt độ thấp nhất là
23,80C.
Chế độ mưa: Lượng mưa trung bình năm xấp xỉ 1.840mm, phân bố theo mùa rõ rệt:
mùa mưa kéo dài 7 tháng (tháng 5 đến tháng 11).
Độ ẩm không khí: Độ ẩm tương đối trung bình hàng năm là 84%, mùa mưa độ ẩm
cao có thể đạt tới 88%, độ ẩm thấp nhất là 77,3%.
Nắng: Tổng số giờ nắng trung bình trong năm khoảng 2.372 giờ, các tháng có số giờ
19