HỌC ÔN THƠ LỚP 9
HỌC ÔN THƠ LỚP 9
HỌC KỲ I ....................................................................................................................................... 2
Chị em Thúy Kiều .................................................................................................................................... 2
Cảnh ngày xuân ........................................................................................................................................ 2
Kiều ở lầu Ngưng Bích ............................................................................................................................. 3
Lục Vân Tiên cứu Kiều Nguyệt Nga ........................................................................................................ 3
Lục Vân Tiên gặp nạn .............................................................................................................................. 4
Đồng chí ................................................................................................................................................... 5
Bài thơ về tiểu đội xe không kính ............................................................................................................. 5
Đoàn thuyền đánh cá ................................................................................................................................ 6
Bếp lửa ...................................................................................................................................................... 6
Ánh trăng .................................................................................................................................................. 7
VĂN BẢN PHỤ ....................................................................................................................................... 8
Mã Giám Sinh mua Kiều...................................................................................................................... 8
Thuý Kiều báo ân báo oán.................................................................................................................... 8
Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ .......................................................................................... 9
HỌC KỲ 2 .................................................................................................................................... 10
Mùa xuân nho nhỏ .................................................................................................................................. 10
Viếng lăng Bác ....................................................................................................................................... 10
Sang thu .................................................................................................................................................. 11
Nói với con ............................................................................................................................................. 11
Con cò ..................................................................................................................................................... 12
Ghi nhớ các văn bản Lớp 9 Học kỳ 2 ..................................................................................................... 13
Bàn về đọc sách .................................................................................................................................. 13
Tiếng nói của Văn nghệ ..................................................................................................................... 13
Chuẩn bị hành trang vào thế kỷ mới .................................................................................................. 13
Chó sói và cừu trong thơ ngụ ngôn của La Phông-Ten (trích) ........................................................... 13
Con cò ................................................................................................................................................ 13
Mùa xuân nho nhỏ .............................................................................................................................. 14
Viếng lăng Bác ................................................................................................................................... 14
Sang thu.............................................................................................................................................. 14
Nói với con ......................................................................................................................................... 14
Mây và sóng ....................................................................................................................................... 14
Bến quê (trích).................................................................................................................................... 14
Những ngôi sao xa xôi (trích) ............................................................................................................ 15
Rô-bin-xơn ngoài đảo hoang (trích Rô-bin-xơn Cru-xô) ................................................................... 15
Bố của Xi-mông (trích) ...................................................................................................................... 15
Con chó Bấc (trích Tiếng gọi nơi hoang dã) ...................................................................................... 15
Bắc sơn (trích hồi bốn) ....................................................................................................................... 15
Tôi và chúng ta (trích cảnh ba)........................................................................................................... 15
TRANG 1
HỌC ÔN THƠ LỚP 9
HỌC KỲ I
Chị em Thúy Kiều
Trích Truyện Kiều, Nguyễn Du (1765-1820)
Vị trí đoạn trích: Đoạn trích nằm ở phần mở đầu tác phẩm, giới thiệu gia cảnh của
Kiều. Khi giới thiệu những người trong gia đình Kiều, tác giả tập trung tả tài sắc
Thuý Vân và Thuý Kiều.
Đầu lòng hai ả tố nga,
Thúy Kiều là chị em là Thúy Vân.
Mai cốt cách tuyết tinh thần,
Mỗi người một vẻ mười phân vẹn mười.
Vân xem trang trọng khác vời,
Khuôn trăng đầy đặn nét ngài nở nang.
Hoa cười ngọc thốt đoan trang,
Mây thua nước tóc tuyết nhường màu da.
Kiều càng sắc sảo mặn mà,
So bề tài sắc lại là phần hơn:
Làn thu thuỷ nét xuân sơn,
Hoa ghen thua thắm liễu hờn kém xanh.
Một hai nghiêng nước nghiêng thành,
Sắc đành đòi một tài đành họa hai.
Thông minh vốn sẵn tính trời,
Pha nghề thi họa đủ mùi ca ngâm.
Cung thương làu bậc ngũ âm,
Nghề riêng ăn đứt hồ cầm một trương.
Khúc nhà tay lựa nên chương,
Một thiên Bạc mệnh lại càng não nhân.
Phong lưu rất mực hồng quần,
Xuân xanh xấp xỉ tới tuần cập kê.
Êm đềm trướng rủ màn che,
Tường đông ong bướm đi về mặc ai.
Cảnh ngày xuân
Trích Truyện Kiều, Nguyễn Du (1765-1820)
Vị trí đoạn trích: Sau đoạn tả tài sắc chị em Thuý Kiều, đoạn này tả cảnh ngày
xuân trong tiết Thanh minh và cảnh du xuân của chị em Kiều.
Ngày xuân con én đưa thoi,
Thiều quang chín chục đã ngoài sáu mươi.
Cỏ non xanh tận chân trời,
Cành lê trắng điểm một vài bông hoa.
Thanh minh trong tiết tháng ba,
Lễ là tảo mộ hội là đạp thanh.
Gần xa nô nức yến anh,
Chị em sắm sửa bộ hành chơi xuân.
Dập dìu tài tử giai nhân,
Ngựa xe như nước áo quần như nêm.
Ngổn ngang gò đống kéo lên,
Thoi vàng vò rắc tro tiền giấy bay.
Tà tà bóng ngả về tây,
Chị em thơ thẩn dan tay ra về.
Bước dần theo ngọn tiểu khê,
Lần xem phong cảnh có bề thanh thanh.
Nao nao dòng nước uốn quanh,
Dịp cầu nho nhỏ cuối ghềnh bắc ngang.
TRANG 2
HỌC ÔN THƠ LỚP 9
Kiều ở lầu Ngưng Bích
Trích Truyện Kiều, Nguyễn Du (1765-1820)
Vị trí đoạn trích: Đoạn trích nằm ở phần thứ hai (Gia biến và lưu lạc). Sau khi
biết mình bị lừa vào chốn lầu xanh, Kiều uất ức định tự vẫn. Tú Bà vờ hứa hẹn
đợi Kiều bình phụ sẽ gả chồng cho nàng vào nơi tử tế, rồi đưa Kiều ra giam lỏng
ở lầu Ngưng Bích, đợi thực hiện âm mưu mới.
Trước lầu Ngưng Bích khoá xuân,
Vẻ non xa tấm trăng gần ở chung.
Bốn bề bát ngát xa trông,
Cát vàng cồn nọ bụi hồng dặm kia.
Bẽ bàng mây sớm đèn khuya,
Nửa tình nửa cảnh như chia tấm lòng.
Tưởng người dưới nguyệt chén đồng,
Tin sương luống những rày trông mai chờ.
Bên trời góc bể bơ vơ,
Tấm son gột rửa bao giờ cho phai.
Xót người tựa cửa hôm mai,
Quạt nồng ấp lạnh những ai đó giờ?
Sân Lai cách mấy nắng mưa,
Có khi gốc tử đã vừa người ôm.
Buồn trông cửa bể chiều hôm,
Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa?
Buồn trông ngọn nước mới sa,
Hoa trôi man mác biết là về đâu?
Buồn trông nội cỏ rầu rầu,
Chân mây mặt đất một màu xanh xanh.
Buồn trông gió cuốn mặt duềnh,
Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi.
Lục Vân Tiên cứu Kiều Nguyệt Nga
Trích Truyện Lục Vân Tiên, Nguyễn Đình Chiểu (1822-1888)
Vị trí đoạn trích: Đoạn này nằm ở phần đầu câu truyện.
Vân Tiên ghé lại bên đàng,
Bẻ cây làm gậy nhằm làng xông vô.
Kêu rằng: “Bớ đảng hung đồ,
Chớ quen làm thói hồ đồ hại dân.”
Phong Lai mặt đỏ phừng phừng:
“Thằng nào dám tời lẫy lừng vào đây.
Trước gây việc dữ tại mầy,
Truyền quân bốn phía phủ vậy bịt bùng.”
Vân Tiên tả đột hữu xông,
Khác nào Triệu Tử phá vòng Đương Dang.
Lâu la bốn phía vỡ tan,
Đều quăng gươm giáo tìm đàng chạy ngay.
Phong Lai trở chẳng kịp tay,
Bị Tiên một gậy thác rày thân vong.
Dẹp rồi lũ kiến chòm ong,
Hỏi: “Ai than khóc ở trong xe nầy?”
Thưa rằng: “Tôi thiệt người ngay,
Sa cơ nên mới lầm tay hung đồ.
Trong xe chật hẹp khôn phô,
Cúi đầu trăm lạy cứu cô tôi cùng.”
Vân Tiên nghe nói động lòng,
Đáp rằng: “Ta đã trừ dòng lâu la.
Khoan khoan ngồi đó chớ ra,
Nàng là phận gái, ta là phận trai.
Tiểu thơ con gái nhà ai,
Đi đâu nên nỗi mang tai bất kì?
Chẳng hay tên họ là chi?
Khuê môn phận gái việc gì đến đây?
TRANG 3
HỌC ÔN THƠ LỚP 9
Trước sau chưa hãn dạ nầy,
Hai nàng ai tớ ai thầy nói ra?”
Thưa rằng: “Tôi Kiều Nguyệt Nga,
Con nầy tí tất tên là Kim Liên.
Quê nhà ở quận Tây Xuyên,
Cha làm tri phủ ở miền Hà Khê.
Sai quân đem bức thơ về,
Rước tôi qua đó định bề nghi gia.
Làm con đâu dám cãi cha,
Ví dầu ngàn dặm đàng xa cũng đành.
Chẳng qua là sự bất bình,
Hay vầy cũng chẳng đăng trình làm chi.
Làm nguy chẳng gặp giải nguy,
Tiết trăm năm cũng bỏ đi một hồi.
Trước xe quân tử tạm ngồi,
Xin cho tiện thiếp lạy rồi sẽ thưa.
Chút tôi liễu yếu đào thơ,
Giữa đường lâm phải bụi dơ đã phần.
Hà Khê qua đó cũng gần,
Xin theo cùng thiếp đền ân cho chàng.
Gặp đây đương lúc giữa đàng,
Của tiền chẳng có, bạc vàng cũng không.
Gẫm câu báo đức thù công,
Lấy chi cho phỉ tấm lòng cùng ngươi”.
Vân Tiên nghe nói liền cười:
“Làm ơn há dễ trông người trả ơn.
Nay đà rõ đặng nguồn cơn,
Nào ai tính thiệt so hơn làm gì.
Nhớ câu kiến nghĩa bất vi,
Làm người thế ấy cũng phi anh hùng”.
Lục Vân Tiên gặp nạn
Trích Truyện Lục Vân Tiên, Nguyễn Đình Chiểu (1822-1888)
Vị trí đoạn trích: Đoạn này nằm ở phần thứ hai của truyện. Vân Tiên và tiểu đồng
đang bơ vơ đất khách quê người thì gặp Trịnh Hâm đi thi trở về. Vốn đã có lòng
đố kị, ganh ghét tài năng của Vân Tiên, Trịnh Hâm lợi dụng cơ hội để hãm hại
chàng. Hắn lừa tiểu đồng vào rừng trói lại rồi giả bộ đưa Vân Tiên xuống thuyền,
hứa sẽ dẫn về quê nhà. Đợi đến đêm khuya vắng vẻ,
hắn mới thực hiện hành động tội ác của mình.
Đêm khuya lặng lẽ như tờ,
Nghinh ngang sao mọc mịt mờ sương bay.
Trịnh Hâm khi ấy ra tay,
Vân Tiên bị ngã xô ngay xuống vời.
Trịnh Hâm giả tiếng kêu trời,
Cho người thức dậy lấy lời phui pha.
Trong thuyền ai nấy kêu la,
Đều thương họ Lục xót xa tấm lòng.
Vân Tiên mình luỵ giữa dòng,
Giao long dìu đỡ vào trong bãi rày.
Vừa may trời đã sáng ngày,
Ông chài xem thấy vớt ngay lên bờ.
Hối con vầy lửa một giờ,
Ông hơ bụng dạ, mụ hơ mặt mày.
Vân Tiên vừa ấm chơn tay,
Ngẩn ngơ hồn phách như say mới rồi.
Ngỡ thân mình phải nước trôi,
Hay đâu còn hãy đặng ngồi dương gian.
Ngư ông khi ấy hỏi han,
Vân Tiên thưa hết mọi đàng gần xa.
Ngư rằng: “Người ở cùng ta,
Hôm mai hẩm hút với già cho vui”.
Tiên rằng: “Ông lấy chi nuôi,
Thân tôi như thể trái mùi trên cây.
Nay đà trôi nổi đến đây,
Không chi báo đáp mình nầy trơ trơ”.
Ngư rằng: “Lòng lão chẳng mơ,
Dốc lòng nhơn nghĩa há chờ trả ơn?
TRANG 4
HỌC ÔN THƠ LỚP 9
Nước trong rửa ruột sạch trơn,
Một câu danh lợi chi sờn lòng đây.
Rày doi mai vịnh vui vầy,
Ngày kia hứng gió đêm nầy chơi trăng.
Một mình thong thả làm ăn,
Khoẻ quơ chài kéo; mệt quăng câu dầm.
Nghêu ngao nay chích mai đầm,
Một bầu trời đất vui thầm ai hay.
Kinh luân đã sẵn trong tay,
Thung dung dưới thế vui say trong trời.
Thuyền nan một chiếc ở đời,
Tắm mưa chải gió trong vời Hàn Giang”.
Đồng chí
Chính Hữu (1926-2007)
Quê hương anh nước mặn, đồng chua
Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá.
Anh với tôi đôi người xa lạ
Tự phương trời chẳng hẹn quen nhau,
Súng bên súng, đầu sát bên đầu,
Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỉ.
Anh với tôi biết từng cơn ớn lạnh
Sốt run người vừng trán ướt mồ hôi.
Áo anh rách vai
Quần tôi có vài mảnh vá
Miệng cười buốt giá
Chân không giày
Thương nhau tay nắm lấy bàn tay.
Đồng chí!
Ruộng nương anh gửi bạn thân cày
Gian nhà không, mặc kệ gió lung lay
Giêng nước gốc đa nhớ người ra lính.
Đêm nay rừng hoang sương muối
Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới
Đầu súng trăng treo.
1948
Bài thơ về tiểu đội xe không kính
Phạm Tiến Duật (1941-2007)
Không có kính không phải vì xe không có kính
Bom giật bom rung kính vỡ đi rồi,
Ung dung buồng lái ta ngồi,
Nhìn đất, nhìn trời, nhìn thẳng.
Nhìn thấy gió vào xoa mắt đắng
Nhìn thấy con đường chạy thẳng vào tim
Thấy sao trời và đột ngột cánh chim
Như sa như ùa vào buồng lái.
Không có kính, ừ thì có bụi,
Bụi phun tóc trắng như người già
Chưa cần rửa, phì phèo châm điếu thuốc
Nhìn nhau mặt lấm cười ha ha.
Không có kính, ừ thì ướt áo
Mưa tuôn mưa xối như ngoài trời
Chưa cần thay, lái trăm cây số nữa
Mưa ngừng, gió lùa khô mau thôi.
Những chiếc xe từ trong bom rơi
Đã về đây họp thành tiểu đội
TRANG 5
HỌC ÔN THƠ LỚP 9
Gặp bè bạn suốt dọc đường đi tới
Bắt tay qua cửa kính vỡ rồi.
Bếp Hoàng Cầm ta dựng giữa trời
Chung bát đũa nghĩa là gia đình đấy
Võng mắc chông chênh đường xe chạy
Lại đi, lại đi trời xanh thêm.
Không có kính, rồi xe không có đèn,
Không có mui xe, thùng xe có xước,
Xe vẫn chạy vì miền Nam phía trước:
Chỉ cần trong xe có một trái tim.
1969
Đoàn thuyền đánh cá
Huy Cận (1919-2005)
Mặt trời xuống biển như hòn lửa.
Sóng đã cài then, đêm sập cửa.
Đoàn thuyền đánh cá lại ra khơi,
Câu hát căng buồm cùng gió khơi.
Hát rằng: cá bạc biển Đông lặng,
Cá thu biển Đông như đoàn thoi
Đêm ngày dệt biển muôn luồng sáng.
Đến dệt lưới ta, đoàn cá ơi!
Thuyền ta lái gió với buồm trăng
Lướt giữa mây cao với biển bằng,
Ra đậu dặm xa dò bụng biển,
Dàn đan thế trận lưới vây giăng.
Cá nhụ cá chim cùng cá đé,
Cá song lấp lánh đuốc đen hồng,
Cái đuôi em quẫy trăng vàng choé.
Đêm thở: sao lùa nước Hạ Long.
Ta hát bài ca gọi cá vào,
Gõ thuyền đã có nhịp trăng cao.
Biển cho ta cá như lòng mẹ
Nuôi lớn đời ta tự buổi nào.
Sao mờ, kéo lưới kịp trời sáng,
Ta kéo xoăn tay chùm cá nặng.
Vẩy bạc đuôi vàng loé rạng đông,
Lưới xếp buồm lên đón nắng hồng.
Câu hát căng buồm với gió khơi,
Đoàn thuyền chạy đua cùng mặt trời.
Mặt trời đội biển nhô màu mới,
Mắt cá huy hoàng muôn dặm phơi.
Hồng Gai, 4/10/1958
Bếp lửa
Bằng Việt (1941)
Một bếp lửa chờn vờn sương sớm
Một bếp lửa ấp iu nồng đượm
Cháu thương bà biết mấy nắng mưa.
Bố đi đánh xe, khô rạc ngựa gầy
Chỉ nhớ khói hun nhèm mắt cháu
Nghĩ lại đến giờ sống mũi còn cay!
Lên bốn tuổi cháu đã quen mùi khói
Năm ấy là năm đói mòn đói mỏi
Tám năm ròng cháu cùng bà nhóm lửa
Tu hú kêu trên những cánh đồng xa
TRANG 6
HỌC ÔN THƠ LỚP 9
Khi tu hú kêu, bà còn nhớ không bà
Bà hay kể chuyện những ngày ở Huế
Tiếng tu hú sao mà tha thiết thế!
Mẹ cùng cha công tác bận không về
Cháu ở cùng bà, bà bảo cháu nghe
Bà dạy cháu làm, bà chăm cháu học.
Nhóm bếp lửa nghĩ thương bà khó nhọc,
Tu hú ơi! Chẳng đến ở cùng bà
Kêu chi hoài trên những cánh đồng xa?
Năm giặc đốt làng chày tàn cháy rụi
Hàng xóm bốn bên trở về lầm lụi
Đỡ đần bà dựng lại túp lều tranh
Vẫn vững lòng, bà dặn cháu đinh ninh:
“Bố ở chiến khu, bố còn việc bố,
Mày có viết thư chớ kể này, kể nọ,
Cứ bảo nhà vẫn được bình yên!”
Rồi sớm rồi chiều lại bếp lửa bà nhen
Một ngọn lửa, lòng bà luôn ủ sẵn
Một ngọn lửa chứa niềm tin dai dẳng…
Lận đận đời bà biết mấy nắng mưa
Mấy chục năm rồi, đến tận bây giờ
Bà vẫn giữ thói quen dậy sớm
Nhóm bếp lửa ấp iu nồng đượm
Nhóm niềm yêu thương, khoai sắn ngọt bùi
Nhóm nồi xôi gạo mới sẻ chung vui
Nhóm dậy cả những tâm tình tuổi nhỏ
Ôi kì lạ và thiêng liêng – bếp lửa!
Giờ cháu đã đi xa. Có ngọn khói trăm tàu
Có lửa trăm nhà, niềm vui trăm ngả
Nhưng vẫn chẳng lúc nào quên nhắc nhở:
- Sớm mai này bà nhóm bếp lên chưa?...
1963
Ánh trăng
Nguyễn Duy (1948)
Hồi nhỏ sống với đồng
với sông rồi với bể
hồi chiến tranh ở rừng
vầng trăng thành tri kỉ
Thình lình đèn điện tắt
phòng buyn-đinh tối om
vội bật tung cửa sổ
đột ngột vầng trăng tròn
Trần trụi với thiên nhiên
hồn nhiên như cây cỏ
ngỡ không bao giờ quên
cái vầng trăng tình nghĩa
Ngửa mặt lên nhìn mặt
có cái gì rưng rưng
như là đồng là bể
như là sông là rừng
Từ hồi về thành phố
quen ánh điện, cửa gương
vầng trăng đi qua ngõ
như người dưng qua đường
Trăng cứ tròn vành vạnh
kể chi người vô tình
ánh trăng im phăng phắc
đủ cho ta giật mình.
TRANG 7
HỌC ÔN THƠ LỚP 9
VĂN BẢN PHỤ
Mã Giám Sinh mua Kiều
Trích Truyện Kiều, Nguyễn Du (1765-1820)
Vị trí đoạn trích: Đoạn trích nằm ở đầu phần thứ hai (Gia biến và lưu lạc). Sau
khi gia đình Kiều bị vu oan, Kiều quyết định bán mình để lấy tiền cứu cha và gia
đình khỏi tai hoạ. Đoạn này nói về việc Mã Giám Sinh đến mua Kiều.
Gần miền có một mụ nào,
Đưa người viến khách tìm vào vấn danh.
Hỏi tên, rằng: “Mã Giám Sinh”,
Hỏi quê rằng: “Huyện Lâm Thanh cũng gần”.
Quá niên trạc ngoại tứ tuần,
Mày râu nhẵn nhụi áo quần bảnh bao.
Trước thầy sau tớ lao xao,
Nhà băng đưa mối trước vào lầu trang.
Ghế nên ngồi tót sỗ sàng,
Buồng trong mối đã giục nàng kíp ra.
Nỗi mình thêm tức nỗi nhà,
Thềm hoa một bước lệ hoa mấy hàng!
Ngại ngùng dợn gió e sương,
Ngừng hoa bóng thẹn trông gương mặt dày.
Mối càng vén tóc bắt tay,
Nét buồn như cúc điệu gầy như mai.
Đắn đo cân sắc cân tài,
Ép cung cầm nguyệt thử bài quạt thơ.
Mặn nồng một vẻ một ưa,
Bằng lòng khách mới tuỳ cơ dặt dìu.
Rằng: “Mua ngọc đến Lam Kiều,
Sính nghi xin dạy bao nhiêu cho tường?”
Mối rằng: “Giá đáng nghìn vàng,
Dớp nhà nhờ lượng người thương dám nài!”
Cò kè bớt một thêm hai,
Giờ lâu ngã giá vâng ngoài bốn trăm.
Thuý Kiều báo ân báo oán
Trích Truyện Kiều, Nguyễn Du (1765-1820)
Vị trí đoạn trích: Đoạn trích nằm ở cuối phần thứ hai (Gia biến và lưu lạc). Sau
khi chịu bao đau khổ, tủi nhục, đoạ đày, Thuý Kiều được Từ Hải cứu thoát khỏi
lầu xanh và giúp nàng đền ơn trả oán. Đây là trích đoạn tả cảnh
Thuý Kiều báo ân báo oán.
Cho gươm mời đến Thúc lang,
Mặt như chàm đổ mình dường dẽ run.
Nàng rằng: “Nghĩa nặng nghìn non,
Lâm Tri người cũ chàng còn nhớ không?
Sâm Thương chẳng vẹn chữ tòng,
Tại ai há dám phụ lòng cố nhân?
Gấm trăng cuốn bạc nghìn cân,
Tạ lòng dễ xứng báo ân gọi là.
Vợ chàng quỷ quái tinh ma,
Phen này kẻ cắp bà già gặp nhau.
Kiến bò miệng chén chưa lâu,
Mưu sâu cũng trả nghĩa sâu cho vừa”.
(...)
Thoắt trông nàng đã chào thưa:
“Tiểu thư cũng có bây giờ đến đây!
Đàn bà dễ có mấy tay,
Đời xưa mấy mặt đời này mấy gan!
Dễ dàng là thói hồng nhan,
Càng cay nghiệt lắm càng oan trái nhiều.”
Hoạn Thư hồn lạc phách xiêu,
Khấu đầu dưới trướng liệu điều kêu ca,
TRANG 8
HỌC ÔN THƠ LỚP 9
Rằng: “Tôi chút phận đàn bà,
Ghen tuông thì cũng người ta thường tình.
Nghĩ cho khi gác viết kinh,
Với khi khỏi cửa dứt tình chẳng theo.
Lòng riêng riêng những kính yêu,
Chồng chung chưa dễ ai chiều cho ai.
Trót lòng gây việc chông gai,
Còn nhờ lượng bể thương bài nào chăng”.
Khen cho: “Thật đã nên rằng,
Khôn ngoan đến mực nói năng phải lời.
Tha ra thì cũng may đời,
Làm ra thì cũng ra đời nhỏ nhen.
Đã lòng tri quá thì nên”.
Truyền quân lệnh xuống trướng tiền tha ngay.
Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ
Nguyễn Khoa Điềm (1943)
Em cu Tai ngủ trên lưng mẹ ơi
Em ngủ cho ngoan đừng rời lưng mẹ
Mẹ giã gạo mẹ nuôi bộ đội
Nhịp chày nghiêng giấc ngủ em nghiêng
Mồ hôi mẹ rơi má em nóng hổi
Vai mẹ gầy nhấp nhô làm gối
Lưng đưa nôi và tim hát thành lời:
– Ngủ ngoan a-kay ơi, ngủ ngoan a-kay hỡi
Mẹ thương a-kay, mẹ thương bộ đội
Con mơ cho mẹ hạt gạo trắng ngần
Mai sau con lớn vùng chày lún sân…
Em cu Tai ngủ trên lưng mẹ ơi
Em ngủ cho ngoan đừng rời lưng mẹ
Mẹ đang tỉa bắp trên núi Ka-lưi
Lưng núi thì to mà lưng mẹ nhỏ
Em ngủ ngoan em đừng làm mẹ mỏi
Mặt trời của bắp thì nằm trên đồi
Mặt trời của mẹ, em nằm trên lưng
– Ngủ ngoan a-kay ơi, ngủ ngoan a-kay hỡi
Mẹ thương a-kay, mẹ thương làng đói
Con mơ cho mẹ hạt bắp lên đều
Mai sau con lớn phát mười Ka-lưi…
Em cu Tai ngủ trên lưng mẹ ơi
Em ngủ cho ngoan, đừng rời lưng mẹ
Mẹ đang chuyển lán, mẹ đi đạp rừng
Thằng Mĩ đuổi ta phải rời con suối
Anh trai cầm súng, chị gái cầm chông
Mẹ địu em đi để giành trận cuối
Từ trên lưng mẹ em đến chiến trường
Từ trong đói khổ em vào Trường Sơn
– Ngủ ngoan a-kay ơi, ngủ ngoan a-kay hỡi
Mẹ thương a-kay, mẹ thương đất nước
Con mơ cho mẹ được thấy Bác Hồ
Mai sau con lớn làm người Tự do…
25/3/1971
TRANG 9
HỌC ÔN THƠ LỚP 9
HỌC KỲ 2
Mùa xuân nho nhỏ
Thanh Hải (1930-1980)
Mọc giữa dòng sông xanh
Một bông hoa tím biếc
Ơi con chim chiền chiện
Hót chi mà vang trời
Từng giọt long lanh rơi
Tôi đưa tay tôi hứng.
Ta làm con chim hót
Ta làm một cành hoa
Ta nhập vào hoà ca
Một nốt trầm xao xuyến.
Một mùa xuân nho nhỏ
Lặng lẽ dâng cho đời
Dù là tuổi hai mươi
Dù là khi tóc bạc.
Mùa xuân người cầm súng
Lộc giắt đầy trên lưng
Mùa xuân người ra đồng
Lộc trải dài nương mạ
Tất cả như hối hả
Tất cả như xôn xao...
Mùa xuân – ta xin hát
Câu Nam ai, Nam bình
Nước non ngàn dặm mình
Nước non ngàn dặm tình
Nhịp phách tiền đất Huế.
Đất nước bốn ngàn năm
Vất vả và gian lao
Đất nước như vì sao
Cứ đi lên phía trước.
11/1980
Viếng lăng Bác
Viễn Phương (1928-2005)
Con ở miền Nam ra thăm lăng Bác
Đã thấy trong sương hàng tre bát ngát
Ôi! Hàng tre xanh xanh Việt Nam
Bão táp mưa sa đứng thẳng hàng.
Bác nằm trong giấc ngủ bình yên
Giữa một vầng trăng sáng dịu hiền
Vẫn biết trời xanh là mãi mãi
Mà sao nghe nhói ở trong tim!
Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng
Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ.
Ngày ngày dòng người đi trong thương nhớ
Kết tràng hoa dâng bảy mươi chín mùa xuân...
Mai về miền Nam thương trào nước mắt
Muốn làm con chim hót quanh lăng Bác
Muốn làm đoá hoa hương đâu đây
Muốn làm cây tre trung hiếu chốn này.
4/1976
TRANG 10
HỌC ÔN THƠ LỚP 9
Sang thu
Hữu Thỉnh (1942)
Bỗng nhận ra hương ổi
Phả vào trong gió se
Sương chùng chình qua ngõ
Hình như thu đã về
Có đám mây mùa hạ
Vắt nửa mình sang thu
Vẫn còn bao nhiêu nắng
Đã vơi dần cơn mưa
Sấm cũng bớt bất ngờ
Trên hàng cây đứng tuổi
Sông được lúc dềnh dàng
Chim bắt đầu vội vã
Thu 1977
Nói với con
Y Phương (1948)
Chân phải bước tới cha
Chân trái bước tới mẹ
Một bước chạm đến nói
Hai bước tới tiếng cười
Người đồng minh yêu lắm con ơi
Đan lờ cài nam hoa
Vách nhà ken câu hát
Rừng cho hoa
Con đường cho những tấm lòng
Cha mẹ mãi nhớ về ngày cưới
Ngày đầu tiên đẹp nhất trên đời.
Người đồng minh thương lắm con ơi
Cao đo nỗi buồn
Xa nuôi chí lớn
Dẫu làm sao thì cha vẫn muốn
Sống trên đã không chê đá gập ghềnh
Sống trong thung không chê thung nghèo đói
Sống như sông như suối
Lên thác xuống ghềnh
Không lo cực nhọc
Người đồng mình thô sơ da thịt
Chẳng mấy ai nhỏ bé đâu con
Người đồng minh tự đục đá kê cao quê hương
Còn quê hương thì làm phong tục
Con ơi tuy thô sơ da thịt
Lên đường
Không bao giờ nhỏ bé được
Nghe con.
1980
TRANG 11
HỌC ÔN THƠ LỚP 9
Con cò
Chế Lan Viên (1920-1989)
I
Con còn bế trên tay
Con chưa biết con cò
Nhưng trong lời mẹ hát
Có cánh cò đang bay:
“Con cò bay la
Con cò bay lả
Con cò Cổng Phủ,
Con cò Đồng Đăng...”
Cò một mình, cò phải kiếm lấy ăn,
Con có mẹ, con chơi rồi lại ngủ.
“Con cò ăn đêm,
Con cò xa tổ,
Cò gặp cành mềm,
Cò sợ xáo măng...”
Ngủ yên! Ngủ yên! Cò ơi, chớ sợ!
Cành có mềm, mẹ đã sẵn tay nâng!
Trong lời ru của mẹ thấm hơi xuân,
Con chưa biết con cò, con vạc.
Con chưa biết những cành mềm mẹ hát,
Sữa mẹ nhiều, con ngủ chẳng phân vân.
II
Ngủ yên! Ngủ yên! Ngủ yên!
Cho cò trắng đến làm quen,
Cò đứng ở quanh nôi
Rồi cò vào trong tổ.
Con ngủ yên thì cò cũng ngủ,
Cánh của cò, hai đứa đắp chung đôi.
Mai khôn lớn, con theo cò đi học,
Cánh trắng cò bay theo gót đôi chân.
Lớn lên, lớn lên, lớn lên...
Con làm gì?
Con làm thi sĩ!
Cánh cò trắng lại bay hoài không nghỉ
Trước hiên nhà
Và trong hơi mát câu văn...
III
Dù ở gần con,
Dù ở xa con,
Lên rừng xuống bể,
Cò sẽ tìm con,
Cò mãi yêu con.
Con dù lớn vẫn là con của mẹ,
Đi hết đời, lòng mẹ vẫn theo con.
À ơi!
Một con cò thôi,
Con cò mẹ hát
Cũng là cuộc đời
Vỗ cánh qua nôi.
Ngủ đi! Ngủ đi!
Cho cánh cò, cánh vạc,
Cho cả sắc trời
Đến hát
Quanh nôi.
1962
TRANG 12
HỌC ÔN THƠ LỚP 9
Ghi nhớ các văn bản Lớp 9 Học kỳ 2
Bàn về đọc sách
Chu Quang Tiềm (1897-1986)
Đọc sách là một con đường quan trọng để tích luỹ, nâng cao học vấn. Ngày nay sách nhiều,
phải biết chọn sách mà đọc, đọc ít mà chắc còn hơn đọc nhiều mà rỗng. Cần kết hợp giữa
đọc rộng và đọc sâu, giữa đọc sách thường thức với đọc sách chuyên môn. Việc đọc sách
phải có kế hoạch, có mục đích kiên định chứ không phải tuỳ hứng, phải vừa đọc vừa nghiền
ngẫm. Qua bài viết Bàn về đọc sách, Chu Quang Tiềm đã trình bày những ý kiến xác đáng
ấy một cách có lí lẽ và bằng những dẫn chứng sinh động.
Tiếng nói của Văn nghệ
Nguyễn Đình Thi (1924-2003)
Văn nghệ nối sợi dây đồng cảm kì diệu giữa nghệ sĩ với bạn đọc thông qua những rung động
mãnh liệt, sâu xa của trái tim. Văn nghệ giúp cho con người được sống phong phú hơnvà tự
hoàn thiện nhân cách, tâm hồn mình. Nguyễn Đình Thi đã phân tích, khẳng định những điều
ấy qua bài tiểu luận Tiếng nói của văn nghệ với cách viết vừa chặt chẽ, vừa giàu hình ảnh
và cảm xúc.
Chuẩn bị hành trang vào thế kỷ mới
Vũ Khoan (1937)
• Chuẩn bị hành trang bước vào thế kỉ mới, thế hệ trẻ Việt Nam cần thấy rõ điểm mạnh và
điểm yếu của con người Việt Nam, rèn cho mình những đức tính và thói quen tốt.
• Điểm mạnh của con người Việt Nam là thông minh, nhạy bén với cái mới, cần cù sáng
tạo, rất đoàn kết đùm bọc nhau trong thời kì chống ngoại xâm. Bên cạnh đó cũng có
nhiều điểm yếu cần phải khắc phục: thiếu kiến thức cơ bản, kém khả năng thực hành,
thiếu đức tính tỉ mỉ, không coi trọng nghiêm ngặt quy trình công nghệ, thiếu tính cộng
đồng trong làm ăn.
• Để đưa đất nước đi lên, chúng ta cần phát huy những điểm mạnh, khắc phục những điểm
yếu, hình thành những thói quen tốt ngay từ những việc nhỏ.
Chó sói và cừu trong thơ ngụ ngôn của La Phông-Ten (trích)
Hi-pô-lít Ten (1828-1893)
Bằng cách so sánh hình tượng con cừu và con chó sói trong thơ ngụ ngôn La Phông-ten với
những dòng viết về hai con vật ấy của nhà khoa học Buy-phông, H.Ten nêu bật đặc trưng
của sáng tác nghệ thuật là in đậm dấu ấn cách nhìn, cách nghĩ riêng của nhà văn.
Con cò
Chế Lan Viên (1920-1989)
• Khai thác hình tượng con cò trong những câu hát ru, bài thơ Con cò của Chế Lan Viên
ngợi ca tình mẹ và ý nghĩa của lời ru đối với cuộc sống của con người.
• Bài thơ thành công trong việc vận dụng sáng tạo ca dao, có những câu thơ đúc kết được
những suy ngẫm sâu sắc.
TRANG 13
HỌC ÔN THƠ LỚP 9
Mùa xuân nho nhỏ
Thanh Hải (1930-1980)
• Bài thơ Mùa xuân nho nhỏ là tiếng lòng tha thiết yêu mến và gắn bó với đất nước, với
cuộc đời; thể hiện ước nguyện chân thành của nhà thơ được cống hiến cho đất nước, góp
một “mùa xuân nho nhỏ” của mình vào mùa xuân lớn của dân tộc.
• Bài thơ theo thể năm tiếng, có nhạc điệu trong sáng, tha thiết, gần gũi với dân ca, nhiều
hình ảnh đẹp, giản dị, gợi cảm, những so sánh và ẩn dụ sáng tạo.
Viếng lăng Bác
Viễn Phương (1928-2005)
• Bài thơ Viếng lăng Bác thể hiện niềm thành kính và lòng xúc động sâu sắc của nhà thơ
và của mọi người đối với Bác Hồ khi vào viếng lăng Bác.
• Bài thơ có giọng điêu trang trọng và tha thiết, nhiều hình ảnh ẩn dụ đẹp và gợi cảm,
ngôn ngữ bình dị mà cô đúc.
Sang thu
Hưu Thỉnh (1963)
Từ cuối hạ sang đầu thu, đất trời có những chuyển biến nhẹ nhàng mà rõ rệt. Sự chuyển
biến này đã được Hữu Thỉnh gợi lên bằng cảm nhận tinh tế, qua những hình ảnh giàu sức
biểu cảm trong bài thơ Sang thu.
Nói với con
Y Phương (1948)
Qua bài thơ Nói với con, bằng những từ ngữ, hình ảnh giàu sức gợi cảm, Y Phương đã thể
hiện tình cảm gia đình ấm cúng, ca ngợi truyền thống cần cù, sức sống mạnh mẽ của quê
hương và dân tộc mình. Bài thơ giúp ta hiểu thêm về sức sống và vẻ đẹp tâm hồn của một
dân tộc miền núi, gợi nhắc tình cảm gắn bó với truyền thống, với quê hương và ý chí vươn
lên trong cuộc sống.
Mây và sóng
Ra-bin-đra-nát Ta-go (1861-1941)
Với hình thức đối thoại lồng trong lời kể của em bé, qua những hình ảnh thiên nhiên giàu ý
nghĩa tượng trưng, bài thơ Mây và sóng của Ra-bin-đra-nát Ta-go đã ngợi ca tình mẫu tử
thiêng liêng, bất diệt.
Bến quê (trích)
Nguyễn Minh Châu (1930-1989)
• Truyện ngắn Bến quê của Nguyễn Minh Châu chứa đựng những suy ngẫm, trải nghiệm
sâu sắc của nhà văn về con người, thức tỉnh sự trân trọng giá trị của cuộc sống gia đình
và những vẻ đẹp bình dị của quê hương.
• Nghệ thuật truyện nổi bật ở sự miêu tả tâm lí tinh tế, nhiều hình ảnh giàu tính biểu tượng,
cách xây dựng tình huống, trần thuật theo dòng tâm trạng của nhân vật.
TRANG 14
HỌC ÔN THƠ LỚP 9
Những ngôi sao xa xôi (trích)
Lê Minh Khuê (1949)
Truyện Những ngôi sao xa xôi của Lê Minh Khuê đã làm nổi bật tâm hồn trong sáng, mơ
mộng, tình thần dũng cảm, cuộc sống chiến đấu đầy gian khổ, hy sinh nhưng rất hồn nhiên,
lạc quan của những cô gái thanh niên xung phong trên tuyến đường Trường Sơn. Đó chính
là hình ảnh đẹp, tiêu biểu về thế hệ trẻ Việt Nam trong thời kì kháng chiến chống Mỹ.
Rô-bin-xơn ngoài đảo hoang (trích Rô-bin-xơn Cru-xô)
Đe-ni-ơn Đi-phô (1660-1731)
Qua bức chân dung tự họa và giọng kể của Rô-bin-xơn trong đoạn trích Rô-bin-xơn ngoài
đảo hoang của Đe-ni-ơn Đi-phô, ta hình dung được cuộc sống vô cùng khó khăn gian khổ
và cả tinh thần lạc quan của nhân vật khi chỉ có một mình nơi đảo hoang vùng xích đạo suốt
mười mấy năm ròng rã.
Bố của Xi-mông (trích)
Guy-đơ Mô-pa-xăng (1850-1893)
Nhà văn Guy-đơ Mô-pa-xăng đã thể hiện sắc nét diễn biến tâm trạng của nhân vật Xi-mông,
Blăng-sốt, Phi-líp trong đoạn trích truyện Bố của Xi-mông, qua đó nhắc nhở chúng ta về
lòng thường yêu bè bạn, mở rộng ra là lòng thương yêu con người, sự thông cảm với những
nỗi đau hoặc lỡ lầm của người khác.
Con chó Bấc (trích Tiếng gọi nơi hoang dã)
Giắc Lân-đơn (1876-1916)
Trong đoạn trích Con chó Bấc, nhà văn Mĩ Lân-đơn có những nhận xét tinh tế khi viết về
những con chó, thể hiện trí tưởng tượng tuyệt vời khi đi sâu vào “tâm hồn” của con chó
Bấc, đồng thời bộc lộ tình cảm yêu thương của mình đối với loài vật.
Bắc sơn (trích hồi bốn)
Nguyễn Huy Tưởng (1912-1960)
Ở đoạn trích hồi bốn của vở kịch Bắc Sơn, Nguyễn Huy Tưởng đã xây dựng một tình huống
làm bộc lộ xung đột cơ bản của vở kịch giữa lực lượng cách mạng và kẻ thù; đồng thời thể
hiện diễn biến nội tâm của nhân vật Thôm – một cô gái có chồng theo giặc, từ chỗ thờ ơ với
cách mạng, sợ liên luỵ về chỗ đứng hẳn về phía cách mạng. Qua đó tác giả khẳng định sức
thuyết phục của chính nghĩa cách mạng.
Hồi kịch cho thấy nghệ thuật viết kịch của Nguyễn Huy Tưởng, thành công nổi bật là tạo
dựng tình huống để bộc lộ xung đột, tổ chức đối thoại, thể hiện tâm lí và tính cách nhân vật.
Tôi và chúng ta (trích cảnh ba)
Lưu Quang Vũ (1948-1988)
Để phát triển sản xuất, để đem lại quyền lợi, hạnh phúc cho mọi người, cần phá bỏ cách
nghĩ, cơ chế lạc hậu, cũ kĩ, cần mạnh dạn đổi mới phương thức tổ chức, lề lối hoạt động.
Đây là một quá trình đấu tranh gay gắt, cần những con người có trí tuệ và bản lĩnh, dám
nghĩ dám làm. Vở kịch Tôi và chúng ta của Lưu Quang Vũ đã thể hiện những điều ấy qua
việc xây dựng tình huống kịch hấp dẫn và các nhân vật có tính cách rõ rệt.
TRANG 15