MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Nhà nước ta coi giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ là quốc sách hàng
đầu, là nền tảng và động lực thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước. Trong giai đoạn mới, giáo dục nước ta tiếp cận với các xu thế mới, tri thức mới,
những mô hình giáo dục hiện đại, tranh thủ các nguồn lực bên ngoài; tạo điều kiện để
đổi mới nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức dạy học, đáp ứng nhu cầu của xã
hội và từng cá nhân người học.
Khái niệm "dự án" trong dạy học đã được sử dụng từ thế kỷ XVI ở các trường
dạy nghề tại Italia, sau đó lan rộng sang các nước châu Âu và Mỹ vào cuối thế kỷ
XVIII. Đến thế kỷ XX, dạy học theo dự án (DHTDA) đã được sử dụng rộng rãi trong
các trường phổ thông ở các nước phát triển trên thế giới. DHTDA là một hình thức dạy
học quan trọng để thực hiện quan điểm dạy học định hướng vào người học, quan điểm
dạy học định hướng hoạt động và quan điểm dạy học tích hợp. DHTDA góp phần gắn
lý thuyết với thực hành, tư duy và hành động, nhà trường và xã hội, tham gia tích cực
vào việc đào tạo năng lực làm việc tự lực, năng lực sáng tạo, năng lực giải quyết các
vấn đề phức hợp, tinh thần trách nhiệm và khả năng cộng tác làm việc của người học.
Ở Việt Nam gần đây, thông qua hoạt động của Dự án Việt - Bỉ và chương trình
"Dạy học cho tương lai - Intel Teach in to Future", Bộ Giáo dục và Đào tạo đã tổ chức
thí điểm DHTDA trong ở nhiều trường học trong cả nước nhưng việc vận dụng
phương pháp DHTDA vào dạy học môn Toán ở trường THPT vẫn còn chưa được
quan tâm. Đặc biệt trong nội dung Đại số lớp 10 có một số chủ đề có nội dung rất phù
hợp để tổ chức dạy học theo dự án. Do đó, việc nghiên cứu và vận dụng DHTDA vào
giảng dạy nội dung này có ý nghĩa cả về mặt lý luận và thực tiễn.
Xuất phát từ những lý do trên, tôi chọn đề tài nghiên cứu “Tổ chức dạy học
theo dự án một số nội dung Đại số lớp 10 cho học sinh Trung học phổ thông”.
2. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu cơ sở lý luận về DHTDA để tổ chức vận dụng phương pháp
DHTDA trong dạy học Đại số lớp 10 nhằm phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo
của HS, hướng tới phát triển kỹ năng tư duy, rèn luyện khả năng giải quyết các vấn đề
thực tiễn cho HS Trung học phổ thông.
1
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu: Quy trình tổ chức DHTDA trong dạy học môn Toán
ở trường THPT.
3.2. Phạm vi nghiên cứu: Vận dụng phương pháp dạy học theo dự án trong dạy
học Đại số lớp 10 THPT.
4. Giả thuyết khoa học
Dựa trên cơ sở lý luận DHTDA và việc phân tích nội dung chương trình Đại số
lớp 10, nếu GV tổ chức DHTDA một cách phù hợp thì sẽ phát huy khả năng phát hiện
và giải quyết vấn đề, tăng cường mối liên hệ kiến thức toán học với thực tiễn, kỹ năng
làm việc theo nhóm, tính tích cực, tự lực trong học tập của HS, góp phần nâng cao
hiệu quả dạy học môn Toán ở trường THPT.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận của DHTDA, quy trình thiết kế dự án, hướng dẫn
HS lập dự án vào việc tổ chức hoạt động dạy học nhằm phát triển các hoạt động nhận
thức tích cực của HS.
- Vận dụng phương pháp DHTDA vào tổ chức dạy học một số nội dung Đại số
lớp 10 cho HS THPT.
- Thực nghiệm sư phạm nhằm kiểm định tính khả thi và hiệu quả của phương
pháp DHTDA trong dạy học Đại số lớp 10 ở trường THPT.
6. Phƣơng pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu lý luận: Nghiên cứu các tài liệu về tâm lý học, lý
luận dạy học, phương pháp dạy học môn Toán, các tài liệu về DHTDA nhằm hệ thống
hóa cơ sở lý luận của việc tổ chức DHTDA trong dạy học môn Toán ở trường THPT.
- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Đánh giá thực trạng tổ chức DHTDA
trong dạy học Đại số lớp 10 ở trường THPT qua các hình thức dự giờ, quan sát, điều
tra.
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Tổ chức thực nghiệm sư phạm đối tượng
là HS lớp 10 THPT, xử lý số liệu bằng phương pháp thống kê toán học để đánh giá
tính hiệu quả và khả thi của phương pháp DHTDA trong dạy học Đại số lớp 10 ở
trường THPT.
2
7. Đóng góp của đề tài
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về DHTDA nói chung và phương pháp DHTDA
trong dạy học môn toán ở trường THPT nói riêng.
- Đề xuất quy trình và hình thức tổ chức DHTDA trong dạy học Đại số lớp 10 ở
trường THPT theo những nội dung được lựa chọn.
8. Cấu trúc của đề tài
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, nội dung đề tài gồm 3 chương:
Chương 1. Cơ sở lý luận và thực tiễn.
Chương 2. Tổ chức dạy học theo dự án một số nội dung Đại số lớp 10 cho HS
Trung học phổ thông.
Chương 3. Thực nghiệm sư phạm.
Đề tài sử dụng 11 tài liệu tham khảo.
3
Chƣơng 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1. Phƣơng pháp dạy học theo dự án
1.1.1. Một số khái niệm cơ bản
Cách học dựa trên dự án (Project Based Learning - PBL) là một hoạt động học
tập dựa trên dự án được thiết kế cẩn thận, mang tính lâu dài, liên quan đến nhiều lĩnh
vực học thuật, lấy HS làm trọng tâm, hòa nhập với những vấn đề thực tiễn của thế giới
thực tại. Trong phương pháp DHTDA, GV là người cung cấp thông tin nền và đưa ra
những chỉ dẫn, nhưng HS phải có trách nhiệm tìm ra phương hướng và cách giải quyết
vấn đề trong phạm vi những tiêu chí do GV đặt ra.
Từ các khái niệm trên, theo tôi: Phương pháp DHTDA là một hình thức dạy
học, trong đó người học thực hiện một nhiệm vụ học tập phức hợp, có sự kết hợp giữa
lý thuyết và thực hành, có tạo ra các sản phẩm có thể giới thiệu. Nhiệm vụ này được
người học thực hiện với tính tự lực cao trong toàn bộ quá trình học tập, từ việc xác
định mục đích, lập kế hoạch, đến việc thực hiện dự án, kiểm tra, điều chỉnh, đánh giá
quá trình và kết quả thực hiện. Kết quả dự án là những sản phẩm có thể trình bày, giới
thiệu.
DHTDA hướng người học đến việc tiếp thu các kiến thức và hình thành các kỹ
năng thông qua quá trình giải quyết một vấn đề có tính chất phức hợp. Các DAHT cho
phép tạo ra cho người học có nhiều cơ hội học tập hơn, đa dạng hơn về chủ đề và quy
mô, có thể được tổ chức rộng rãi ở các cấp học, bậc học khác nhau. DAHT đặt người
học vào những vai trò tích cực như: Người giải quyết vấn đề, điều tra viên hay người
viết báo cáo... Các nhiệm vụ này được người học thực hiện với tính tự lực cao trong
toàn bộ quá trình học tập.
1.1.2. Đặc điểm của phƣơng pháp dạy học theo dự án
- Định hướng thực tiễn: Chủ đề của dự án xuất phát từ những tình huống của
thực tiễn xã hội, thực tiễn nghề nghiệp cũng như thực tiễn đời sống. Nhiệm vụ dự án
cần chứa đựng những vấn đề phù hợp với trình độ và khả năng của người học.
- Định hướng hành động: Trong quá trình thực hiện dự án có sự kết hợp giữa
nghiên cứu lý thuyết và vận dung lý thuyết vào trong hoạt động thực tiễn, thực hành.
- Định hướng hứng thú người học: HS được tham gia chọn đề tài, nội dung học
tập phù hợp với khả năng và hứng thú cá nhân.
4
- Có ý nghĩa thực tiễn xã hội: Các dự án học tập góp phần gắn việc học tập
trong nhà trường với thực tiễn đời sống, xã hội. Trong những trường hợp lý tưởng,
việc thực hiện các dự án có thể mang lại những tác động xã hội tích cực.
- Tính tự lực cao của người học: Trong DHDA, người học cần tham gia tích
cực và tự lực vào các giai đoạn của quá trình dạy học.
- Cộng tác làm việc: Các dự án học tập thường được thực hiện theo nhóm, trong
đó có sự cộng tác làm việc và sự phân công công việc giữa các thành viên trong nhóm.
- Tạo ra môi trường học tập tương tác: DHTDA sẽ tạo ra một môi trường thuận
lợi cho các hoạt động tương tác đa chiều: Tương tác giữa GV - người học, người học người học, người học - xã hội….
- Hoạt động của GV trong DHTDA: Trong dạy học dự án, GV không còn là
người chiếm giữ kiến thức và truyền tải kiến thức đến HS mà là người trung gian
mang đến cho HS những sự hỗ trợ khi cần như các nguồn thông tin, các phương tiện.
GV còn là người đồng hành của các nhóm dự án, giúp đỡ các nhóm giải quyết các vấn
đề khó khăn, thảo luận với các nhóm về phương pháp làm việc và động viên; khích lệ
các nhóm. GV là người hướng dẫn, định hướng, tư vấn, trợ giúp và đôi khi là người
cùng học với HS chứ không phải là người “cầm tay chỉ việc” cho HS; GV là người tạo
ra các cơ hội học tập, tiếp cận với thông tin, làm mẫu, tư vấn, trợ giúp và hướng dẫn
cho HS.
- Hoạt động của HS trong DHTDA: Trong DHTDA, dưới sự hỗ trợ của GV,
HS tham gia tích cực và chủ động vào rất nhiều hoạt động học tập khác nhau trong
suốt quá trình dự án. HS tự đề xuất các vấn đề nghiên cứu, tự tổ chức công việc và các
hoạt động học tập: tìm kiếm thông tin; khai thác các công cụ; chế tạo sản phẩm, tự
đánh giá bản thân và tham gia đánh giá bạn bè trong dự án, .... và qua đó tự xây dựng
cho mình các kiến thức và năng lực bổ ích.
1.2. Tổ chức dạy học theo dự án ở trƣờng THPT
Dạy học theo dự án được thực hiện theo 5 bước như sau:
- Bước 1: Xác định chủ đề, nhiệm vụ học tập và nghiên cứu gắn với yêu cầu của
môn học.
- Bước 2: Các nhóm hình thành đề cương và lập kế hoạch thực hiện.
- Bước 3: Các nhóm thực hiện nhiệm vụ.
- Bước 4: Giới thiệu phẩm trước tập thể lớp.
5
- Bước 5: Đánh giá kết quả đạt được so với mục tiêu xác định.
Trong quá trình thực hiện dự án, GV hướng dẫn HS thể hiện các kỹ năng: kỹ
năng giao tiếp, hợp tác; kỹ năng lập phiếu phỏng vấn, thống kê; kỹ năng làm các thí
nghiệm; kỹ năng thu thập xử lý thông tin; kỹ năng tổng hợp và trình bày báo cáo...
Có thể tóm tắt các bước hướng dẫn HS học theo dự án như sau:
Bảng 1.1: Quy trình dạy học theo dự án
TT
Hoạt động của GV
Mục tiêu
Giới thiệu phương pháp học dự HS xây dựng ý tưởng và chọn tiểu chủ đề
1
án. Giới thiệu chủ đề. Hướng dẫn cho dự án theo sở thích.
phát triển tiểu chủ đề
Hướng dẫn HS lập kế hoạch, trình HS lập kế hoạch và phân công nhiệm vụ
2
bày kế hoạch
trong nhóm. Trình bày, hoàn thiện kế
hoạch.
3
4
5
6
Hướng dẫn HS thu thập thông tin
HS biết cách thu thập thông tin từ nhiều
nguồn khác nhau
Hướng dẫn HS xử lý, tổng hợp HS biết cách phân tích và tổng hợp thông
thông tin
tin.
Hướng dẫn HS trình bày, báo cáo HS biết xây dựng và trưng bày/trình bày
kết quả.
sản phẩm với các hình thức đa dạng.
Hướng dẫn HS đánh giá, nhìn lại HS đánh giá lẫn nhau và chia sẻ, rút kinh
quá trình.
nghiệm.
1.3 Thực trạng vận dụng dạy học theo dự án trong dạy học môn Toán ở
trƣờng THPT
- Việc sử dụng tài liệu phục vụ chuyên môn: Nhìn chung các GV ở những trường
tôi điều tra đã có đủ SGK, sách GV và một số sách tham khảo phục vụ cho việc dạy
học bộ môn Toán.
- Cách soạn giáo án: Nhìn chung trong bài soạn, GV thực hiện đủ các bước lên
lớp theo quy định, song một số bài soạn chưa xác định đúng trọng tâm kiến thức bài
học, soạn theo kiểu diễn giảng là chính. Phần lớn các GV chưa đầu tư vào việc thiết kế
các hoạt động tương thích với nội dung dạy học và chưa xây dựng được hệ thống câu
6
hỏi phát vấn đòi hỏi phát triển tư duy ở HS, ít xây dựng tình huống có vấn đề trong
học tập.
- Phương pháp giảng dạy: Phần lớn GV không biết dạy thế nào cho phù hợp với
mục tiêu đã đề ra, thế nào là có chất lượng và có hiệu quả cao, không biết cải tiến việc
giảng dạy của mình như thế nào. Đa số GV sắp xếp, phân bố thời gian chưa hợp lí,
nhất là dành quá nhiều thời gian cho việc trình bày bảng của thầy và việc ghi chép bài
của trò.
- Trình độ nhận thức của HS: Thực tiễn sư phạm cho thấy, chất lượng đại trà của
HS còn yếu. Số HS tự mình tiếp thu và giải được các bài toán không nhiều, hầu hết HS
còn yếu các kĩ năng kiến tạo kiến thức (yếu về định hướng giải toán, yếu về kĩ năng
chuyển đổi bài toán, kĩ năng chuyển đổi ngôn ngữ, kĩ năng phát hiện vấn đề để giải
quyết vấn đề,...).
- Phương pháp và thái độ học tập môn toán: Đa số HS chưa biết phương pháp
học, nên hiệu quả học tập trong nhà trường là chưa cao. Điều này ảnh hưởng rất lớn tới
việc học ở những bậc học cao hơn. Có đến 80% HS chỉ học thuộc lòng những gì GV
cho ghi trong vở và những định nghĩa ở SGK, chỉ khoảng 10% HS tự giác làm bài tập
ở sách bài tập và sách tham khảo.
1.4. Kết luận chƣơng 1
Dựa trên những cơ sở lý luận về DHTDA đã được trình bày, chúng ta có thể
thấy DHTDA là một hình thức dạy học quan trọng để thực hiện quan điểm dạy học định
hướng vào người học, định hướng hành động, tích hợp. DHTDA góp phần gắn lý thuyết
với thực hành, tư duy với hành động, nhà trường với xã hội, tham gia tích cực vào việc
đào tạo năng lực làm việc tự lực, sáng tạo, năng lực giải quyết các vấn đề phức hợp, tinh
thần trách nhiệm và khả năng cộng tác làm việc của người học, phù hợp với xu thế đổi
mới phương pháp dạy học ở nước ta. Việc nghiên cứu cơ sở lí luận và thực tiễn ở
chương này là những cơ sở quan trọng để đề xuất các định hướng và tổ chức DHTDA
một số nội dung Đại số lớp 10 cho HS THPT ở Chương 2.
7
Chƣơng 2
TỔ CHỨC DẠY HỌC THEO DỰ ÁN MỘT SỐ NỘI DUNG ĐẠI SỐ LỚP 10
CHO HS TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
2.1. Định hƣớng tổ chức dạy học theo dự án một số nội dung Đại số lớp 10
Trung học phổ thông
- Dạy học tập trung vào những mục tiêu học tập gắn với các chuẩn: DHTDA
không chỉ bó hẹp trong phạm vi của một buổi học, một bài học… mà còn được mở
rộng ra trong cả một chủ đề, một môn học và thậm chí trong nhiều môn học thì mới có
thể phát huy được hết những ưu điểm của DHTDA.
- Dạy học phải chú ý tới hứng thú của người học, lấy người học làm trung tâm:
DHTDA là một trong những hình thức dạy học tích cực, nó phát huy cao độ tính tích
cực, tự lực, chủ động, sáng tạo… của HS trong quá trình học tập.
- Dạy học phải đảm bảo sự phù hợp giữa lý thuyết với thực hành và giữa lý
luận với thực tiễn: Trong DHTDA, các DAHT GV tổ chức để HS thực hiện phải là
một cơ hội tốt để HS được làm việc, được tự mình khám phá ra tri thức. Quan trọng
hơn nó còn là cơ hội giúp cho HS được vận dụng những kiến thức, những kinh
nghiệm, những kỹ năng... đã có vào thực tế cuộc sống của bản thân.
2.2. Vận dụng phƣơng pháp dạy học theo dự án vào dạy học một số nội
dung Đại số lớp 10 cho học sinh Trung học phổ thông theo hƣớng liên hệ với thực
tiễn
Trên cơ sở những định hướng tổ chức DHTDA một số nội dung Đại số lớp 10
cho HS THPT và những tiêu chí lựa chọn chủ đề theo hướng tăng cường liên hệ kiến
thức toán học với thực tiễn, tôi đã lựa chọn chương 4 - "Bất đẳng thức. Bất phương
trình". Tôi xây dựng ý tưởng thực hiện DAHT trong dạy học gồm:
2.2.1. Xây dựng bộ câu hỏi định hƣớng cho dự án " Vận dụng bất đẳng
thức Cô-si giải bài toán có nội dung thực tiễn"
Câu hỏi khái quát (CHKQ): Khả năng vận dụng bất đẳng thức Cô-si trong đời
sống như thế nào ?
Các câu hỏi bài học (CHBH):
CHBH1: Bất đẳng thức Cô-si cho n số không âm được phát biểu như thế
nào ?
8
CHBH2: Xác định những dấu hiệu thường gặp của bài toán để sử dụng bất
đẳng thức Cô-si?
CHBH3: Những dạng bài toán tìm giá trị lớn nhất, giá trị nhỏ nhất có sử dụng
bất đẳng thức Cô-si?
CHBH4: Nêu quy trình giải một bài toán bằng bất đẳng thức Cô-si trong
chương trình Đại số lớp 10 THPT?
Các câu hỏi nội dung (CHND):
CHND1: Người ta phải cưa một thân cây hình trụ để được một cây xà hình
khối chữ nhật có thể tích cực đại. Hỏi cây xà phải có tiết diện như thế nào?
CHND2: Với một tấm kim loại hình chữ nhật, phải làm một cái máng mà tiết
diện là một hình thang cân. Bề rộng của mặt bên và góc giữa nó với một đáy phải
bằng bao nhiêu để tiết diện của máng có diện tích cực đại?
z
x
y
z
x
CHND3: Cần phải làm cái cửa sổ mà, phía trên là hình bán nguyệt, phía dưới
là hình chữ nhật, có chu vi là a mét (a chính là chu vi hình bán nguyệt cộng với chu vi
hình chữ nhật trừ đi độ dài cạnh hình chữ nhật là dây cung của hình bán nguyệt). Hãy
xác định các kích thước của nó để diện tích cửa sổ là lớn nhất?
S1
S2
9
CHND4: Ta có một miếng tôn phẳng hình vuông với kích thước a cm, ta muốn
cắt đi ở 4 góc 4 hình vuông để uốn thành một hình hộp chữ nhật không có nắp. Phải
cắt như thế nào để hình hộp có thể tích lớn nhất?
2.2.2. Xây dựng kế hoạch triển khai dự án học tập
a. Lập kế hoạch dạy học dự án
- Kế hoạch xin phép triển khai và hỗ trợ dự án
- Kế hoạch nội dung dự án
- Kế hoạch trình bày sản phẩm của HS : Mỗi nhóm HS tìm hiểu và thu thập dữ liệu
từ các nguồn thông tin khác nhau để thiết kế và biên soạn thành một quyển tài liệu trình bày
các kiến thức liên quan đến dự án thực hiện. Mỗi nhóm HS được phép thuyết trình sản
phẩm (thuyết trình tài liệu bằng Powerpoint và giới thiệu về sản phẩm minh họa).
b. Thiết kế nhóm và lập kế hoạch cho HS hoạt động
- Thiết kế nhóm: Lớp học được chia làm 4 nhóm (số thành viên trong mỗi nhóm
nằm trong khoảng từ 6 đến 10 người và có nhóm trưởng). Việc phân chia phải đảm
bảo tính đồng đều về trình độ nhận thức và tính tích cực trong các hoạt động giữa các
nhóm.
- Thiết lập nhiệm vụ học tập: Với mỗi dự án, căn cứ vào mục tiêu và bộ câu hỏi
định hướng cũng như yêu cầu chung của toàn bộ dự án, các nhóm HS thảo luận và xác
định nội dung và nhiệm vụ mà phải thực hiện, kiến thức trọng tâm cần đạt sau dự án.
Dự án: “Vận dụng bất đẳng thức Cô-si giải bài toán có nội dung thực tiễn”
- Nhiệm vụ 1: Thực hiện CHBH1 và CHND1.
- Nhiệm vụ 2: Thực hiện CHBH2 và CHND2.
- Nhiệm vụ 3: Thực hiện CHBH3 và CHND3.
- Nhiệm vụ 4: Thực hiện CHBH4 và CHND4.
c. Lập kế hoạch triển khai dự án
- Thông báo đến HS nội dung của dự án, thời gian thực hiện dự án, các yêu cầu
của dự án. Thời gian dành cho HS chuẩn bị dự án trong khoảng từ 2 đến 3 tuần.
- Chuẩn bị đầy đủ các phương tiện, công cụ hỗ trợ HS thực hiện dự án.
- Theo sát các phần việc ở nhà của HS: tăng tiết 1 buổi nghe báo cáo đề cương
nội dung và tiến độ các dự án (việc phân chia công việc, thời gian, kinh phí, tiến hành
dự án, lên kế hoạch tiếp xúc tối thiểu hai lần trên tuần, có báo cáo thử...).
- Hướng dẫn HS báo cáo tại lớp và thảo luận.
10
- Kết thúc dự án và phản hồi dự án.
- Rút ra các bài học kinh nghiệm từ dự án
2.2.3. Kế hoạch kiểm tra, hƣớng dẫn hỗ trợ thực hiện dự án
a. Giai đoạn 1: Lựa chọn đề tài và xác định mục tiêu dự án
Kế hoạch hướng dẫn hỗ trợ:
- Cung cấp những thông tin, gợi ý HS chú ý đến những vấn đề mang tính thời
sự, thách thức liên quan đến kiến thức về bất đẳng thức Cô-si, tạo điều kiện để HS
cùng với GV xác định đề tài và mục tiêu của dự án.
- Tập huấn kỹ năng thực hiện dự án cho HS: kỹ năng thu thập và khai thác
thông tin, kỹ năng xây dựng và biểu diễn bài thuyết trình bằng PowerPoint, . . .
b. Giai đoạn 2: Triển khai dự án và xây dựng kế hoạch thực hiện
Kế hoạch hướng dẫn hỗ trợ:
- Hướng dẫn các nhóm HS lập kế hoạch thực hiện dự án, xác định và thực hiện
các nhiệm vụ học tập dựa trên bộ câu hỏi khung định hướng.
- Gợi ý các nhóm trưởng phương thức điều hành nhóm và phân công nhiệm vụ
đến từng thành viên trong nhóm.
- Chỉ dẫn HS cách thức liên lạc và trao đổi với GV thông qua mạng internet
(xây dựng cho mỗi nhóm một hộp thư điện tử, . . .).
c. Giai đoạn 3: Thực hiện dự án
Kế hoạch hướng dẫn hỗ trợ:
- Cung cấp tài liệu (sách tham khảo, tạp chí khoa học, . . .) và các địa chỉ thông
tin hữu ích liên quan đến nội dung dự án trên mạng Internet.
- Thông qua hộp thư điện tử (mạng Internet) hoặc qua điện thoại di động GV
thường xuyên giám sát, kiểm tra, đôn đốc các nhóm HS hoạt động, kịp thời đưa ra
những chỉ dẫn và các định hướng hoạt động.
- Hướng dẫn HS chỉnh sửa và hoàn thành tài liệu lý thuyết và sản phẩm minh
họa, phương pháp chuyển thể và chọn lọc một tài liệu lý thuyết thành một bài thuyết
trình bằng Powerpoint.
d. Giai đoạn 4: Trình bày sản phẩm dự án
Kế hoạch hướng dẫn hỗ trợ: Hướng dẫn HS các bước trình bày bài thuyết trình,
phương pháp lôi cuốn người nghe. Định hướng HS đặt câu hỏi tìm hiểu, phản biện vấn
đề cũng như phương pháp giải thích và bảo vệ quan điểm.
11
Kế hoạch kiểm tra: GV đưa ra một vài câu hỏi liên quan đến những kiến thức
cơ bản của dự án và chỉ định một thành viên bất kì trong các nhóm trả lời.
e. Giai đoạn 5: Đánh giá dự án
Kế hoạch hướng dẫn hỗ trợ: Giới thiệu và hướng dẫn HS thực hiện các tiêu chí
đánh giá dự án. Gợi ý giúp HS suy nghĩ và tự đánh giá việc học của chính mình.
Kế hoạch kiểm tra:
- HS giữa các nhóm cùng với GV sẽ đánh giá kết quả đạt được.
- Cuối dự án, tất cả HS phải hoàn thành một bài kiểm tra 45 phút ngay tại lớp
học để đánh giá về kiến thức tiếp thu, những kỹ năng giải quyết vấn đề trong cuộc
sống liên quan đến dự án.
2.3 Thể chế hóa kiến thức dự án “Vận dụng bất đẳng thức Cô-si giải bài
toán có nội dung thực tiễn”
Bất đẳng thức Cô-si được phát biểu như sau: Cho n số không âm a1 , a2 ,..., an
khi đó ta có bất đẳng thức:
a1 a2 ... an n
a1a2 ...an , dấu bằng xảy ra khi
n
a1 a2 ... an .
Một số dấu hiệu sử dụng bất đẳng thức Cô-si thường gặp:
- Dấu hiệu 1 (Sử dụng hệ quả 1): Nếu tích của n số không âm x1 , x2 ,..., xn
không đổi thì tổng S x1 x2 ... xn đạt giá trị nhỏ nhất khi x1 x2 ... xn .
- Dấu hiệu 2 (Sử dụng hệ quả 2): Nếu tổng của n số không âm x1 , x2 ,..., xn
không đổi thì tích P x1.x2 ....xn đạt giá trị lớn nhất khi x1 x2 ... xn .
- Dấu hiệu 3 (Sử dụng hệ quả 3): Nếu tổng của n số dương x1 , x2 ,..., xn đạt giá
trị lớn nhất khi x1 x2 ... xn thì tổng các nghịch đảo Q
1 1
1
đạt giá trị
...
x1 x2
xn
nhỏ nhất khi x1 x2 ... xn .
Những dạng bài toán sử dụng bất đẳng thức Cô-si tìm giá trị lớn nhất, giá trị
nhỏ nhất như:
- Dạng toán 1 (Sử dụng dấu hiệu 1): Tìm giá trị nhỏ nhất của hàm số y f x
. Trong đó, f x cho dưới dạng: f x là tổng của các số hạng không âm mà tích của
chúng không đổi, hoặc sau một số bước biến đổi ta có thể đưa f x về được dạng
tổng của các số hạng không âm mà tích của chúng không đổi.
12
- Dạng toán 2 (Sử dụng dấu hiệu 2): Tìm giá trị lớn nhất của hàm số y f x
. Trong đó f x cho dưới dạng tích của các số không âm mà tổng của chúng không
đổi, hoặc sau một số bước biến đổi ta có thể đưa f x về dạng tích của các số không
âm mà tổng của chúng không đổi.
- Dạng toán 3 (Sử dụng dấu hiệu 3): Tìm giá trị nhỏ nhất của các biểu thức
dạng: Q
1 1
1
... . Trong đó, các mẫu thức có giá trị dương.
x1 x2
xn
Lưu ý khi sử dụng Bất đẳng thức Cô-si để tìm giá trị nhỏ nhất, giá trị lớn nhất
của hàm số: Có nhiều bài toán tìm giá trị nhỏ nhất, giá trị lớn nhất nếu sử dụng Bất
đẳng thức Cô-si sẽ đem lại lời giải hay, ngắn gọn, dễ hiểu. Khi học phần này HS cần
chú ý các kỹ năng: phân tích số hạng, phân tích thừa số để sử dụng các dấu hiệu của
Bất đẳng thức Cô-si. Một số dấu hiệu thường gặp là: Trong bài toán có chứa các đại
lượng mà tổng (hoặc tích) của chúng không đổi; các bài toán tìm giá trị nhỏ nhất, giá
trị lớn nhất cho dưới dạng phân thức mà tổng các mẫu thức có giá trị lớn nhất. Từ đó
giúp xây dựng được những thuật giải và vận dụng chúng một cách linh hoạt trong giải
toán. Một trong những việc quan trọng khi sử dụng Bất đẳng thức Cô-si là dự đoán
dấu “ = ” xảy ra khi nào. Thông qua việc dự đoán ta mới tìm ra sự phân tích hợp lí.
Trong Bất đẳng thức Cô-si có hai ý quan trọng là các số không âm, và dấu bằng
xảy ra, và cũng có hai hệ quả quan trọng: nếu có khả năng xuất hiện tổng không đổi
của các số không âm, thì có thể tìm được tích lớn nhất; tích không đổi của các số
không âm thì có thể tìm được tổng nhỏ nhất. Quy trình có tính chất thuật giải sau khi
gặp bài toán bất đẳng thức là:
Bước 1: Bài toán yêu cầu tìm cái gì, có xuất hiện các số không âm không, có
thể đánh giá để thấy được điều đó không;
Bước 2: Đã biết cách đánh giá biểu thức theo chiều nào chưa ?;
Bước 3: Có thể dự đoán được dấu bằng xảy ra không;
Bước 4: Có cần biến đổi các dữ kiện bài toán theo hướng phù hợp không? (như
cần tách như thế nào, nâng hệ số ra sao hay cần thêm bớt số hạng gì)
Bước 5: Đã có thể giải bài toán này chưa?
Trong quy trình trên là một cách chung nhất cho nhiều trường hợp, trong đó
quan trọng nhất là bước 2, bước 4. Ở bước 2, trong nhiều trường hợp việc đánh giá dấu
13
bằng dựa nhiều vào vai trò bình đẳng của các biến (cụ thể trong trường hợp vai trò của
các biến bình đẳng, nếu dấu “=” xảy ra khi biến này thuộc cực trị của miền X nào đó,
thì biến kia cũng vậy; vậy nên dẫn tới dấu “=” xảy ra khi các biến bằng nhau), dẫn tới
việc dự đoán dấu bằng được tinh giản hơn. Do vai trò các biến trong biểu thức có thể
không bình đẳng, thì việc kiểm tra, dấu bằng, nên chăng căn cứ vào những số đẹp. Ở
bước 4, khi dự đoán được dấu bằng rồi, thì cần phải tách số hạng như thế nào, nâng hệ
số ra làm sao, có cần phải thêm bớt số hạng thích hợp không (đây là kĩ thuật khó nhất
khi dùng Bất đẳng thức Cô-si) có đảm bảo dấu "=" xảy ra không.
Lời giải các câu hỏi nội dung như sau:
CHND1: Gọi x, y là các cạnh của tiết diện. Theo Định lí Pytago ta có:
x 2 y 2 d 2 ( d là đường kính của thân cây). Thể tích của cây xà sẽ cực đại khi diện
tích của tiết diện là cực đại, nghĩa là khi x. y cực đại. Do x. y lớn nhất khi và chỉ khi
x 2 y 2 lớn nhất và tổng x 2 y 2 d 2 không đổi, nên x 2 y 2 cực đại khi
x 2 y 2 x y . Vậy cây xà phải có tiết diện là hình vuông.
CHND2: Gọi l là chiều rộng của tấm kim loại, x là chiều rộng của mặt bên và
y là chiều rộng của đáy, ta thêm vào ẩn z như hình vẽ sau: Diện tích của tiết diện là:
S
z y z y .
2
x2 z 2
y z x2 z 2
2
(1)
Ta cần tìm x, y, z để S cực đại với 2x y l không đổi.
Từ (1) ta có 3S 2 y z y z x z 3x 3z .
z
Áp dụng Bất đẳng thức Cô-si ta có:
l4
y z y z x z 3x 3z
3S
4
16
4
x
y
z
x
2
Do đó S cực đại khi y z x z 3x 3z x y
l
l
, z .
3
6
Vì cạnh z bằng nửa cạnh huyền nên góc đối diện cạnh z bằng 30 , do đó góc
tạo bởi mặt bên và mặt đáy của máng là 90 30 120 .
Như vậy, máng sẽ có tiết diện cực đại nếu các cạnh của tiết diện là 3 cạnh liên
tiếp của một lục giác đều.
CHND3: Gọi x là bán kính của hình bán nguyệt. Ta có chu vi của hình bán
nguyệt là x , tổng ba cạnh của hình chữ nhật là a x .
14
Diện tích cửa sổ là:
S S1 S2
x2
2
2x
a x 2x
2
S1
a
ax 2 x 2 2 x
x .
2
2
2
2
S2
2x
a
S lớn nhất khi x
x lớn nhất, điều này xảy ra khi và chỉ khi
2
2
x
2
a
2
x x
a
.
4
Vậy để diện tích cửa sổ lớn nhất thì các kích thước của nó là: chiều cao bằng
a
2a
; chiều rộng bằng
.
4
4
a
CHND4: Gọi cạnh của hình vuông bị cắt là x 0 x .
2
1
2
2
Ta có thể tích hình hộp là: V x a 2 x .4 x a 2 x .
4
Áp dụng Bất đẳng thức Cô-si cho 3 số dương 4 x, a 2 x, a 2 x .
1 8a 3 2a 3
1 4x a 2x a 2x
Ta có V
.
.
4 27
27
4
3
3
V lớn nhất khi và chỉ khi 4 x a 2 x x
x
a
6
a - 2x
a
Vậy để thể tích hộp lớn nhất, cần cắt bốn góc bốn hình vuông có cạnh
.
6
2.4. Kết luận chƣơng 2
Vận dụng các phương pháp dạy học tích cực vào trường THPT hiện nay đang là
vấn đề thật sự cần thiết. Nghiên cứu DHTDA trong thời điểm mà các phương tiện hiện
đại đã trở thành nhu cầu không thể tách rời trong quá trình dạy học có thể giúp HS
phát triển đáng kể khả năng tư duy bậc cao.
15
Trên cơ sở nghiên cứu mục tiêu dạy học, cấu trúc và nội dung chương trình Đại
số lớp 10 trường THPT. Với mong muốn tạo hứng thú học tập, bồi dưỡng kỹ năng tư
duy, kỹ năng giải quyết vấn đề, kỹ năng làm việc theo nhóm của HS, trong chương
này đề tài đã nghiên cứu, xây dựng kế hoạch dạy học theo dự án một số nội dung Đại
số lớp 10 cho HS THPT. Thông qua các tiếu chí của dự án, tôi đã xây dựng một số dự
án học tập có nội dung mang tính thực tiễn, nhằm kích thích sự say mê học tập và
khám tìm hiểu những ứng dụng của Toán học trong thực tiễn cuộc sống cũng như sự
ứng dụng của Toán học trong các môn học khác.
16
Chƣơng 3
THỰC NGHIỆM SƢ PHẠM
3.1. Mục đích thực nghiệm
Kiểm nghiệm giả thiết khoa học mà đề tài đã đề xuất trong cách tổ chức dạy
học theo dự án một số nội dung Đại số lớp 10 cho HS THPT.
Xem xét tính khả thi và hiệu quả của việc tổ chức vận dụng phương pháp
DHTDA trong dạy học Đại số lớp 10 nhằm phát huy tính tích cực chủ động của HS,
rèn luyện khả năng giải quyết vấn đề thực tiễn cho HS THPT.
Căn cứ vào kết quả thực nghiệm, phân tích và xử lý các số liệu thu được để
đánh giá ưu điểm, khuyết điểm của từng biện pháp trong điều kiện thực tế ở trường
THPT trên địa bàn.
3.2. Tổ chức và nội dung thực nghiệm
3.2.1. Tổ chức thực nghiệm
Thực nghiệm sư phạm được tiến hành ở cặp lớp 10A2 và lớp 10A4 của
trường…..làm thực nghiệm (TN) và đối chứng (ĐC) thể hiện cho các kết quả của đề
tài. Giáo viên chủ nhiệm cho biết trình độ HS các lớp là tương đương nhau.
Đối với lớp TN 10A2: GV tổ chức dạy học theo phương pháp DHTDA ở phòng
chức năng trong các buổi: triển khai dự án học tập đến HS, lấy ý kiến, định hướng hoạt
động và kiểm tra tiến độ thực hiện dự án, sau cùng là buổi báo cáo và thuyết trình sản
phẩm. Các hoạt động còn lại các nhóm HS có thể tiến hành ngoài nhà trường.
Đối với lớp ĐC 10A4: GV sử dụng phương pháp dạy học truyền thống có sử
dụng lồng ghép các phương pháp đàm thoại, nêu vấn đề, cho phép sử dụng tối đa các
công cụ hổ trợ nếu có thể.
3.2.2. Nội dung thực nghiệm
Nội dung TNSP gồm các công việc sau:
Tổ chức tiến trình dạy học một số kiến thức Đại số lớp 10 THPT, chương trình
nâng cao ở lớp ĐC và lớp TN đúng theo phân phối chương trình trong cùng một
khoảng thời gian.
Tổ chức cho HS lớp thực nghiệm thực hiện hai dự án học tập thuộc chương 4 Bất đẳng thức, bất phương trình gồm:
Dự án: “Vận dụng bất đẳng thức Cô-si giải bài toán có nội dung thực tiễn”
17
Đối với lớp TN, GV tổ chức triển khai dự án đến HS, tổ chức nhóm, thông báo
mục đích và yêu cầu của dự án học tập. Bên cạnh đó, GV tiến hành giám sát, kiểm tra
tiến độ thực hiện dự án của HS. HS báo cáo sản phẩm, GV nghiệm thu sản phẩm và
thể chế hóa kiến thức kỹ năng mới.
Trong quá trình tiến hành TN, thường xuyên lấy ý kiến thăm dò về hứng thú
học tập, thái độ học tập của HS thông qua các phiếu khảo sát và những các buổi trao
đổi thông tin với HS. Tất cả các giờ học ở lớp TN và ĐC đều được quan sát và ghi
chép về hoạt động của GV và HS theo các nội dung:
+ Tiến trình lên lớp của GV và hoạt động của HS trong giờ học.
+ Tính hợp tác hóa trong hoạt động nhận thức (thông qua bài học dựa trên dự án).
Ngoài ra với lớp TN, còn tiến hành ghi nhận mức độ lĩnh hội tri thức của HS
thông qua hoạt động của cá nhân HS, qua tương tác nhóm, qua sản phẩm, qua kiểm tra
cuối dự án đối. Cuối dự án GV trao đổi với bạn đồng nghiệp và với HS để rút kinh
nghiệm cho các dự án sau.
Cuối đợt TN sư phạm, HS ở cả hai nhóm thực nghiệm và đối chứng làm bài
kiểm tra tự luận tổng hợp để đánh giá kết quả của việc chiếm lĩnh tri thức, các khả
năng tư duy bậc cao của HS.
Tham gia dự giờ các giờ Toán của lớp TN và lớp ĐC.
Tiến hành kiểm tra và đối chiếu hiệu quả học tập của HS ở lớp TN và ĐC để
đánh giá tính khả thi của việc dạy học một số kiến thức Đại số 10 trên cơ sở vận dụng
phương pháp DHTDA. Qua đó có những sửa đổi, điều chỉnh, bổ sung để hoàn thiện
các nhiệm vụ trong từng dự án đã xây dựng.
Sau tuần lễ đầu tiên tính từ lúc bắt đầu TNSP, HS ở hai nhóm TN và ĐC sẽ làm
một bài kiểm tra 15 phút, mục đích của bài kiểm tra là:
- Đánh giá định tính về mức độ lĩnh hội các khái niệm, định lý, quy tắc phương
pháp cơ bản của kiến thức bất đẳng thức và bất phương trình.
- Đánh giá định lượng mức độ vận dụng kiến thức để giải một số bài tập cụ thể
trong chương 4 Đại số lớp 10.
- Phát hiện những khó khăn và sai lầm thường gặp của HS khi giải toán bất
đẳng thức Cô-si và hệ bất phương trình bậc nhất hai ẩn.
Qua bài kiểm tra đầu tiên, GV ở hai nhóm TN và ĐC có thể đưa ra những điều
chỉnh kịp thời cho phương pháp dạy học mà mình đang tiến hành.
18
Cuối đợt TN sư phạm, HS ở cả hai nhóm TN và ĐC làm một bài kiểm tra tổng
hợp để đánh giá kết quả của việc chiếm lĩnh tri thức, các khả năng tư duy bậc cao, kỹ
năng làm việc theo nhóm.
Thông qua bài kiểm tra cuối đợt, tiến hành thống kê, lập các bảng phân phối và
đồ thị phân phối để rút ra nhận xét kết quả TN sư phạm. Căn cứ trên vào kết quả thống
kê toán học, đối chiếu hiệu quả học tập của HS ở lớp TN và ĐC để đánh giá tính khả
thi của việc vận dụng phương pháp DHTDA vào dạy học một số kiến thức chương Bất
đẳng thức, bất phương trình Đại số 10 THPT. Qua đó có những sửa đổi, điều chỉnh, bổ
sung để hoàn thiện các nhiệm vụ trong từng dự án đã xây dựng.
3.3. Kết quả thực nghiệm sƣ phạm
3.3.1. Nhận xét chung về tiến trình dạy học
Tiến trình dạy học Đại số theo phương pháp DHTDA về cơ bản được tiến hành
không giống những tiết học bình thường. Vì HS cần nhiều thời gian để thực hiện dự án
như: họp nhóm để xây dựng kế hoạch, xác định mục tiêu, thu thập kiến thức,… và
cuối cùng khi kết thúc dự án phải tạo được sản phẩm thực tế. Về phương tiện học tập,
HS cần được trang bị nhiều phương tiện hiện đại, do đó sau khi kết thúc dự án HS có
thêm được nhiều kỹ năng mới. Đối với GV đòi hỏi cần có sự đầu tư thực sự công phu
trong việc xây dựng ý tưởng, đặt tên cho dự án, xác định mục tiêu dự án, xây dựng bộ
câu hỏi định hướng, lập kế hoạch triển khai, kiểm tra đánh giá; sao cho tạo được trí tò
mò, phù hợp với từng đối tượng HS và đáp ứng được các yêu cầu về chuẩn kiến thức,
kỹ năng của Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định cũng như việc tăng cường các kỹ năng
tư duy bậc cao cho HS. Việc phân chia nhóm bảo đảm sự đồng đều về năng lực học
tập và tính tích cực trong các hoạt động của HS giữa các nhóm, mỗi nhóm có HS biết
ứng dụng CNTT.
Với phương pháp DHTDA, sau khi kết thúc dự án, ngoài việc HS nắm vững
kiến thức theo quy định ở chương trình khung của Bộ Giáo dục, các em còn tự nghiên
cứu, tự chiếm lĩnh tri thức và phát triển tốt các kỹ năng tư duy bậc cao như làm việc
nhóm, ứng dụng tri thức vào thực tế, kỹ năng ứng dụng CNTT, trình bày trước đám
đông,... phương pháp DHTDA tốt hơn các PPDH khác trong việc tạo hứng thú học tập
cho HS.
Tóm lại phương pháp DHTDA giúp HS tiếp cận kiến thức một cách đa dạng và
phong phú. Việc dạy học một số phần kiến thức có tính thực nghiệm, ứng dụng thực tế
19
cao trên cơ sở phương pháp DHTDA đã mang lại những hiệu quả khả quan hơn so với
các PPDH khác hiện nay.
3.3.2. Đánh giá kết quả học tập của học sinh
a. Tiêu chí đánh giá
Kết quả thực nghiệm sư phạm được đánh giá dựa trên các tiêu chí sau:
- Về mức độ lĩnh hội kiến thức: Đánh giá tập trung vào chất lượng kiến thức HS
tiếp thu: tức là đánh giá mức độ biết, hiểu, vận dụng kiến thức của HS thông qua điểm
trung bình kiểm tra.
- Về kỹ năng và thái độ: Đánh giá tập trung vào không khí học tập của lớp, tinh
thần hợp tác của các thành viên trong nhóm; số HS hoàn thành tốt các nhiệm vụ học
tập, trả lời đúng các câu hỏi; ý thức thực hiện các nhiệm vụ được phân công.
b. Đánh giá định tính
Qua quá trình TN sư phạm dạy học chương 4 Đại số 10 theo phương pháp
DHTDA ở nhóm TN, căn cứ vào các phiếu đánh giá sản phẩm nhóm, kết hợp với
phiếu đánh giá của GV, tôi thiết lập bảng đánh giá kết quả sản phẩm học tập của các
nhóm như sau:
Bảng 3.1. Bảng đánh giá sản phẩm nhóm
Đánh giá từng phần
Kĩ năng
làm việc
Đánh
giá
chung
Tốt
Tốt
Tốt
Tốt
Tốt
Tốt
Tốt
Tốt
Tốt
Tốt
Tốt
Tốt
Khá
Khá
Trung bình
Khá
Tốt
Tốt
Tốt
Tốt
Tốt
Tốt
Tốt
Tốt
Sản phẩm nhóm
Dự án
Nhóm
Tài liệu
biên soạn
Thuyết trình
sản phẩm
Sản phẩm
minh họa
1
1
2
3
4
Tốt
Tốt
Khá
Tốt
Tốt
Khá
Tốt
Khá
2
1
2
3
4
Tốt
Khá
Tốt
Tốt
Tốt
Tốt
Tốt
Tốt
Căn cứ vào tinh thần thực làm việc, kỹ năng và tác phong làm việc của HS,
cộng với chất lượng sản phẩm nhóm và các bảng kết quả thu nhận đươc, có thể thấy
rằng PBL đã hỗ trợ phát triển các kỹ năng hiện đại ở HS. Cụ thể:
20
- Kỹ năng hợp tác, làm việc theo nhóm: đa số HS thể hiện tốt khả năng làm việc
theo nhóm. Các nhóm trưởng năng động, thể hiện tốt khả năng lãnh đạo và điều hành
nhóm ; các thành viên còn lại thích ứng với những vai trò và trách nhiệm khác nhau,
đa số thực hiện tốt công việc được giao ; HS trong các nhóm biết đồng cảm; tôn trọng
và giúp đỡ nhau, tinh thần thi đua giữa các nhóm đôi khi được đẩy lên rất cao.
- Khả năng thích ứng và tinh thần trách nhiệm: mỗi HS thể hiện rõ trách nhiệm
cá nhân, năng động trong quá trình thực hiện dự án. HS giỏi luôn có ý thức giúp đỡ
các bạn yếu hơn mình, các HS yếu luôn có ý thức phấn đấu và thể hiện bản thân.
- Kỹ năng giao tiếp: việc giao tiếp, trao đổi thông tin giữa HS với GV hoặc giữa
HS và HS với nhau là khá tốt và hiệu quả trong suốt quá trình thực hiện dự án. HS
trong các nhóm biết chia sẽ thông tin với nhau, thể hiện được tinh thần đoàn kết, luôn
có sự thống nhất về cách thức giải quyết vấn đề. HS hiểu, nói, viết tương đối có hiệu
quả dưới nhiều hình thức và ngữ cảnh khác nhau.
- Tính sáng tạo và sự ham hiểu biết về tri thức: HS biết xây dựng và trao đổi
các ý tưởng mới với những người khác, luôn cởi mở và thích ứng với viễn cảnh mới.
HS thể hiện được tính sáng tạo trong quá trình thiết kế và chế tạo và trình bày sản
phẩm.
- Kỹ năng sử dụng thông tin và phương tiện truyền thông: đa số HS biết phân
tích, tiếp cận, quản lý, tích hợp, đánh giá và tạo ra thông tin dưới nhiều hình thức và
phương tiện khác nhau. Qua quá trình thực hiện dự án, kỹ năng sử dụng CNTT của HS
được nâng lên rõ rệt: các em biết sử dụng và khai thác Internet hiệu quả, biết cách xây
dựng và trình bày một bày thuyết trình bằng Powerpoint, . . .
- Xác định, Trình bày và Giải quyết vấn đề: các nhóm HS phát huy tốt khả năng
nhận biết, phân tích và giải quyết vấn đề. Trong quá trình báo cáo dự án, đa số HS thể
hiện được khả năng trình bày logic.
- Tự định hướng: các nhóm HS biết cách tự xác định, chọn lựa tài liệu và những
nguồn tài nguyên thích hợp để tạo ra sản phẩm, HS biết phân tích và xác định các
nhiệm vụ cần thực hiện ở mỗi giai đoạn khác nhau.
Từ những thống kê đánh giá trong các bảng 3.1 có thể kết luận: với phương
pháp DHTDA, những kiến thức khô khan, trừu tượng về bất đẳng thức, bất phương
trình đã trở nên sinh động, hết sức gần gũi với cuộc sống, dễ tiếp thu và có thể khám
phá được dễ dàng nếu HS biết cách tổ chức hoạt động học tập thích hợp. Tuy nhiên,
21
với mong muốn đánh giá chất lượng học tập của HS khi vận dụng phương pháp
DHTDA một cách khách quan, thực chất hơn, tôi tiến hành đánh giá định lượng thông
qua các bài kiểm tra, hình thức tiến hành và kết quả đạt được được trình bày ở mục
sau.
c. Đánh giá định lƣợng
Nhằm đánh giá kết quả học tập của HS, tôi tiến hành kiểm tra phần kiến thức đã
dạy theo phương pháp DHTDA sau khi đã thực hiện hai dự án bằng một bài kiểm tra
trắc nghiệm,trong đó 7/10 điểm là phần kiến thức cần đạt theo chuẩn kiến thức (giống
các lớp học bình thường khác) và 3/10 điểm là kiểm tra mức độ phát triển tư duy bậc
cao của HS. Nội dung kiểm tra là những kiến thức cơ bản về bất đẳng thức
Cô-si, hệ bất phương trình bậc nhất hai ẩn, yêu cầu HS phải biết được các mục tiêu cơ bản
của dự án, biết vận dụng kiến thức để giải các bài tập thực tế, đồng thời đạt được các kỹ
năng tư duy bậc cao.
Kết quả làm bài kiểm tra của HS lớp TN và HS lớp ĐC được thể hiện qua bảng
thống kê sau:
Dự án: “Vận dụng bất đẳng thức Cô-si giải bài toán có nội dung thực tiễn”
Bảng phân bố tần số về điểm của lớp 10A2 và 10A4
Lớp
Điểm 1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
Số lượng bài
TN 10A2
0
0
1
3
6
8
9
8
4
1
40
ĐC 10A4
0
1
3
8
7
8
6
5
2
0
40
22
Bảng tỷ lệ phần trăm về điểm của lớp 10A2 và 10A4
Điểm
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
0,0
0,0
2,5
7,5
15,0
20,0
22,5
20,0
10,0
2,5
0,0
2,5
7,5
20,0
17,5
20,0
15,0
12,5
5,0
0,0
Lớp
TN: 10A2
Tỷ lệ %
ĐC: 10A4
Tỷ lệ %
3.4. Kết luận chƣơng 3
Kết quả TNSP của việc dạy học một số kiến thức Bất đẳng thức, bất phương
trình 10 THPT theo phương pháp DHTDA đã cho phép khẳng định giả thuyết khoa học
của đề tài nghiên cứu là thuyết phục. Các bước của tiến trình dạy học Đại số theo dự án
ở một số kiến thức có nhiều ứng dụng thực tế, có tính thực nghiệm cao là phù hợp và
khả thi. Việc sử dụng phương pháp DHTDA trong dạy học môn Toán đã tạo cho HS
động cơ hoạt động tích cực, gây hứng thú cho các em ở mức độ cao, kích thích tính tò
mò, óc sáng tạo và lòng ham hiểu biết một cách tự giác, đặc biệt là phát triển khả năng
tư duy bậc cao ở HS như tự chiếm lĩnh kiến thức, khả năng ứng dụng kiến thức vào
thực tế cuộc sống, kỹ năng hợp tác nhóm, kỹ năng đánh giá và tự đánh giá. Tiến trình
tổ chức dạy học theo dự án một số nội dung Đại số lớp 10 cho HS THPT đã giúp HS
hiểu được kiến thức một cách chắc chắn hơn, khắc sâu cao hơn, vận dụng tri thức tự
chiếm lĩnh vào giải quyết các tình huống cụ thể linh hoạt và hiệu quả hơn. Kết quả các
bài kiểm tra tổng hợp cho phép chúng ta khẳng định rằng: Việc sử dụng phương pháp
DHTDA đã góp phần đáng kể nâng cao hiệu quả của quá trình dạy học môn Toán ở
trường PT.
23
KẾT LUẬN
Sau quá trình thực hiện đề tài “Tổ chức dạy học theo dự án một số nội dung
Đại số lớp 10 cho HS Trung học phổ thông”, tôi đã đạt được những kết quả sau:
1. Góp phần khẳng định cơ sở lý luận của việc sử dụng phương pháp DHTDA
nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả của quá trình dạy học nói chung và dạy học môn
Toán nói riêng.
2. Nghiên cứu phương pháp triển khai ứng dụng DHTDA ở một số kiến thức
Đại số lớp 10 THPT theo hướng tăng cường liên hệ với thực tiễn.
3. Kết quả TNSP cho phép rút ra được kết luận bước đầu về tính khả thi và tính
hiệu quả của phương pháp DHTDA góp phần tích cực hoá hoạt động nhận thức của
HS. Xây dựng kế hoạch dạy học chi tiết ở một số kiến thức chương Bất đẳng thức, bất
phương trình thuộc môn Đại số 10 THPT trên cơ sở vận dụng phương pháp DHTDA
đã đáp ứng được những yêu cầu cơ bản của quá trình dạy học, tạo ra một môi trường
dạy học với đặc tính tương tác mạnh, gây hứng thú, kích thích trí tò mò, tính tự lực,
năng động, sáng tạo nhằm phát triển tư duy bậc cao của HS và nâng cao hiệu quả dạy
học môn toán ở trường THPT.
Mặc dù đã có nhiều cố gắng, song phần trình bày đề tài không thể tránh khỏi
những sai sót. Kính mong nhận được sự bổ sung, góp ý của quý thầy cô và bạn đọc để
đề tài được hoàn thiện hơn.
24
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1]. Nguyễn Ngọc Bảo (1995), Phát huy tính tích cực, tự lực của học sinh trong quá
trình dạy học, Vụ Giáo viên, Hà Nội.
[2]. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2008), Tài liệu tập huấn: Đồng đẳng về 3 phương
pháp dạy học: theo góc, theo hợp đồng, theo dự án, Dự án Việt – Bỉ.
[3]. Nguyễn Văn Cường (1997), "Dạy học Project hay dạy học theo dự án", Thông
báo khoa học Trường ĐHSP, Đại học Quốc gia Hà Nội.
[4]. Trần Việt Cường (2012), Tổ chức dạy học theo dự án học phần Phương pháp
dạy học môn Toán góp phần rèn luyện năng lực sư phạm cho sinh viên khoa
Toán, Luận án Tiến sĩ Giáo dục học, Viện KHGD Việt Nam.
[5]. Trần Văn Hạo (2009), Đại số 10, NXB Giáo dục.
[6]. Trần Văn Hạo (2007), Đại số 10, Sách giáo viên, NXB Giáo dục.
[7]. Nguyễn Thị Hương (2009), Sử dụng phương pháp dạy học theo dự án trong
dạy học Đại học, Tạp chí Giáo dục, số 214.
[8]. Đào Tam, Lê Hiển Dương (2008), Tiếp cận một số phương pháp dạy học
không truyền thống trong dạy học môn Toán ở trường đại học và trường phổ
thông, NXB Đại học sư phạm.
[9]. Đào Tam, Trần Trung (2010), Tổ chức hoạt động nhận thức trong dạy học môn
Toán ở trường Trung học phổ thông, NXB Đại học sư phạm.
[10]. Vũ Văn Tảo (2003), Dạy cách học, Tài liệu Dự án đào tạo giáo viên THCS, Bộ
Giáo dục và Đào tạo, tr.8.
[11]. Nguyễn Cảnh Toàn (Chủ biên), Nguyễn Kỳ, Lê Khánh Bằng, Vũ Văn Tảo
(2004), Học và dạy cách học, NXB ĐHSP, Hà Nội.
25