Tải bản đầy đủ (.pdf) (65 trang)

Pháp luật về giải phóng mặt bằng thực tiễn tại tỉnh ninh thuận

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.1 MB, 65 trang )

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ TP. HCM
KHOA LUẬT

KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP

PHÁP LUẬT VỀ GIẢI PHÓNG MẶT BẰNG –
THỰC TIỄN TẠI TỈNH NINH THUẬN

Ngành: LUẬT KINH TẾ

TP. HỒ CHÍ MINH-2018


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ TP. HCM
KHOA LUẬT

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

PHÁP LUẬT VỀ GIẢI PHÓNG MẶT BẰNG –
THỰC TIỄN TẠI TỈNH NINH THUẬN
Ngành: LUẬT KINH TẾ

Giảng viên hướng dẫn: ThS. NGUYỄN THỊ BÍCH PHƢỢNG
Sinh viên thực hiện: HOÀNG THỊ THU THẢO
MSSV: 1511271288

TP. HỒ CHÍ MINH-2018

Lớp: 15DLK10




LỜI CẢM ƠN
Sau bốn năm học tập và rèn luyện tại Trường Đại học Công Nghệ thành phố
Hồ Chí Minh, bằng sự biết ơn và kính trọng, em xin gửi lời cảm ơn chân thành và
sự tri ân sâu sắc đối với các Thầy, Cô của Trường Đại học Công Nghệ thành phố
Hồ Chí Minh, đặc biệt là thầy cô Khoa Luật của trường đã chỉ dạy em những kiến
thức bổ ích.
Với lòng biết ơn chân thành nhất, em xin gửi lời cảm ơn đến Cô Nguyễn Thị
Bích Phượng đã hết lòng tạo điều kiện và hướng dẫn em hoàn thành khóa luận tốt
nghiệp. Hoàn thành khóa luận tốt nghiệp cũng như em đã hoàn thành được 2/3
chặng đường học tập hiện tại của mình. Em cũng xin cảm ơn tất cả gia đình, bạn bè
luôn là động lực và sự ủng hộ cho em từ khi em bước chân vào giảng đường đại học
đến nay.
Trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành khóa luận tốt nghiệp, do kiến thức
bản thân, trình độ lý luận và kinh nghiệm thực tiễn còn hạn chế nên bài báo cáo khó
tránh khỏi sai sót, kính mong nhận được sự góp ý của các Thầy, Cô để em có thể rút
ra được những kinh nghiệm quý báu có thể hoàn thiện hơn vốn hiểu biết của mình
cũng như học hỏi thêm nhiều kinh nghiệm.
Em xin chân thành cảm ơn!

Sinh viên
(ký tên, ghi đầy đủ họ tên)

Hoàng Thị Thu Thảo


LỜI CAM ĐOAN
Tôi tên: Hoàng Thị Thu Thảo, MSSV: 1511271288, Lớp: 15DLK10
Tôi xin cam đoan các số liệu, thông tin sử dụng trong bài Khóa luận tốt

nghiệp này được thu nhập từ nguồn thực tế tại trên các sách báo và các tạp chí khoa
học chuyên ngành (có trích dẫn đầy đủ và theo đúng quy định).
Nội dung trong Khóa luận KHÔNG SAO CHÉP từ các nguồn tài liệu khác.
Nếu sai sót, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm theo qui định của nhà trường
và pháp luật.

Sinh viên
(ký tên, ghi đầy đủ họ tên)

Hoàng Thị Thu Thảo


CÁC TỪ VIẾT TẮT
Nghị định

Chính phủ
Nghị quyết
Quyết định
Bộ Tài nguyên - Môi trường
Bộ Xây dựng
Đầu tư
Thông tư
Hội đồng nhân dân
Giải phóng mặt bằng
Sử dụng đất
Ủy ban nhân dân


CP
NQ


BTNMT
BXD
ĐT
TT
HĐND
GPMB
SDĐ
UBND


MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU ............................................................................................................. 1
1. Lý do chọn đề tài ........................................................................................................ 1
2. Mục đích nghiên cứu của đề tài ................................................................................ 2
3. Phạm vi, đối tƣợng nghiên cứu của đề tài ................................................................ 3
4. Phƣơng pháp nghiên cứu........................................................................................... 4
5. Kết cấu của đề tài ....................................................................................................... 4
Chƣơng 1. TỔNG QUAN VỀ THU HỒI, BỒI THƢỜNG GIẢI PHÓNG MẶT
BẰNG .............................................................................................................................. 6
1.1. Khái quát về thu hồi, bồi thƣờng, giải phóng mặt bằng ...................................... 6
1.1.1. Thu hồi ................................................................................................................... 6
1.1.2. Vai trò của bồi thường, giải phóng mặt bằng khi Nhà nước thu hồi đất ............. 11
1.2. Pháp luật hiện hành về bồi thƣờng, giải phóng mặt bằng ................................ 13
1.2.1. Thẩm quyền thu hồi đất ........................................................................................ 13
1.2.2. Phạm vi và đối tượng được bồi thường khi thu hồi đất, giải phóng mặt bằng .... 16
1.2.3. Nguyên tắc và điều kiện được bồi thường khi thu hồi đất, giải phóng mặt
bằng ................................................................................................................................ 17
1.2.4. Hỗ trợ khi nhà nước thu hồi đất, giải phóng mặt bằng ....................................... 22
Chƣơng 2. THỰC TRẠNG VỀ GIẢI PHÓNG MẶT BẰNG TẠI TỈNH NINH

THUẬN VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN ................................................................. 27
2.1. Thực trạng về giải phóng mặt bằng tại tỉnh Ninh Thuận ................................. 27
2.1.1. Thực tiễn triển khai công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng tại tỉnh Ninh
Thuận .............................................................................................................................. 27
2.1.2. Tình hình áp dụng các quy định về tài chính và áp giá đất bồi thường tại tỉnh
Ninh Thuận ..................................................................................................................... 32
2.1.3 Một số thuận lợi trong quá trình bồi thường, giải phóng mặt bằng tại tỉnh
Ninh Thuận ..................................................................................................................... 34
2.1.4 Một số khó khăn, hạn chế trong quá trình bồi thường giải phóng mặt bằng tại
tỉnh Ninh Thuận.............................................................................................................. 36
2.1.5. Nguyên nhân của những khó khăn, tồn tại trong quá trình thu hồi, bồi
thường, giải phóng mặt bằng tại tỉnh Ninh Thuận......................................................... 40
2.2. Kiến nghị hoàn thiện các quy định của pháp luật về thu hồi đất, giải phóng
mặt bằng. ....................................................................................................................... 43
2.2.1 Một số kiến nghị về quy định pháp luật ................................................................ 43
2.2.2 Một số kiến nghị về các công tác khác có liên quan ............................................. 47
KẾT LUẬN ................................................................................................................... 52


DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO .................................................................... 54


PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong những năm trở lại đây, với chính sách đổi mới đúng đắn của Nhà
nước, nền kinh tế nước ta đạt tốc độ tăng trưởng cao. Bên cạnh những thành tựu đã
đạt được của việc đổi mới, hoàn thiện chính sách, pháp luật về đất đai vẫn tồn tại
nhưng bất cập chưa được giải quyết kịp thời. Trong khi đó, nhu cầu sử dụng đất để
xây dựng kết cấu hạ tầng, phát triển công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước ngày
càng tăng. Quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa ngày càng diễn ra mạnh mẽ ở các

địa phương đã làm ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống kinh tế và văn hóa của người
dân, làm biến đổi xã hội nông thôn truyền thống. Sự biến đổi đời sống của người
nông dân có đất khi Nhà nước thu hồi là một vấn đề mang tính thời sự cấp bách.
Vấn đề thiếu việc làm ở nhiều địa phương, đặc biệt là có sự di chuyển tự do của lao
động nông thôn lên thành phố để tìm việc làm đã làm phát sinh các vấn đề xã hội:
quản lý hộ tịch, hộ khẩu, an ninh trật tự, bố trí chỗ ở, vệ sinh môi trường… tại các
khu tập trung đông lao động của các khu công nghiệp.
Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách về bồi thường,
hỗ trợ ổn định đời sống, giải quyết việc làm cho người lao động có đất bị Nhà nước
thu hồi và đạt nhiều kết quả tích cực. Tuy nhiên, tình trạng lao động trong vùng thu
hồi đất không tìm được việc làm hoặc tìm được việc làm nhưng không ổn định.
Thực tế hiện nay cho thấy, công tác thu hồi đất của công dân để phục vụ phát
triển các dự án đầu tư trong nước, nước ngoài và việc bồi thường, GPMB giải quyết
không tốt, không thỏa đáng quyền lợi của người dân có đất khi Nhà nước thu hồi và
những người bị ảnh hưởng khi thu hồi đất để dẫn đến bùng phát khiếu kiện, đặc biệt
là những khiếu kiện tập thể đông người, sẽ trở thành vấn đề xã hội phức tạp, ảnh
hưởng nghiêm trọng đến tình hình an ninh trật tự, mất ổn định xã hội và phần nào
ảnh hưởng đến lòng tin của người dân đối với các chính sách của Nhà nước. Nếu
việc thu hồi đất bị lạm dụng, quỹ đất nông nghiệp bị giảm dần, về lâu dài có thể ảnh
hưởng tới an ninh lương thực quốc gia.
Việc bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất thực hiện việc giao đất, cho thuê
đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất để xây dựng các công trình quốc phòng,
an ninh, lợi ích quốc gia, công cộng, phát triển kinh tế là một nhiệm vụ quan trọng
trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội, an ninh – quốc phòng. Công tác bồi
1


thường giải phóng mặt bằng là điều kiện tiên quyết để triển khai thực hiện các dự án
nhưng cũng là một vấn đề hết sức nhạy cảm và phức tạp; xã hội và cộng đồng dân
cư; ảnh hưởng trực tiếp tới lợi ích của Nhà nước, của chủ đầu tư, đặc biệt đối với

các hộ gia đình, cá nhân có đất bị thu hồi.
Hiện nay, các quy định của pháp luật về bồi thường giải phóng mặt bằng khi
Nhà nước thu hồi đất cơ bản đã đáp ứng được yêu cầu quản lý của Nhà nước và giải
quyết được quyền lợi của người bị thu hồi đất; từng bước khắc phục được những
tồn tại, vướng mắc trước đây.
Tuy nhiên, do đặc thù của từng địa phương khác nhau, một số quy định về
chính sách bồi thường, GPMB còn mang tính chất chung chung, chưa quy định chi
tiết đến từng trường hợp cụ thể; việc ban hành các văn bản vi phạm pháp luật của
địa phương theo thẩm quyền chưa đầy đủ, thiếu chặt chẽ nên công tác giải phóng
mặt bằng cũng còn không ít khó khăn, vướng mắc và chính sách pháp luật về thu
hồi, bồi thường, GPMB còn chưa đồng bộ, bất cập, chưa đáp ứng yêu cầu thực tiễn
đang diễn ra hiện nay
Vì vậy, việc điều tra xã hội học, khảo sát thực tế, phân tích, đánh giá trên cơ
sở khoa học nhằm đề xuất việc bổ sung, hoàn thiện chính sách bồi thường và đưa ra
các giải pháp cụ thể nhằm thực hiện tốt công tác giải phóng mặt bằng, đảm bảo lợi
ích hợp pháp của người bị thu hồi đất, góp phần thiết lập trật tự, kỉ cương pháp luật,
hạn chế tranh chấp, khiếu kiện về đất đai trong việc bồi thường giải phóng mặt
bằng.
Do vậy, em chọn đề tài: “Pháp luật về giải phóng mặt bằng – thực tiễn
tại tỉnh Ninh Thuận” làm đề tài nghiên cứu cho khóa luận của mình.
2. Mục đích nghiên cứu của đề tài
- Nghiên cứu những vấn đề lý luận chung pháp luật về thu hồi, bồi thường,
GPMB theo quy định của pháp luật đất đai.
- Phân tích các vấn đề pháp lý và thực tiễn liên quan đến thực trạng về pháp
luật GPMB tỉnh Ninh Thuận
- Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả GPMB tỉnh
Ninh Thuận nói riêng, về GPMB nói chung; về pháp luật GPMB.

2



3. Phạm vi, đối tƣợng nghiên cứu của đề tài
* Đối tượng nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu đánh giá thực thi pháp luật về bồi thường,
GPMB khi Nhà nước thu hồi đất qua thực tiễn thi hành trên địa bàn tỉnh Ninh
Thuận. Đề tài nghiên cứu thực trạng áp dụng các quy định pháp luật về bồi thường,
GPMB khi Nhà nước thu hồi đất để làm rõ những kết quả đạt được và đưa ra khó
khăn, vướng mắc trong quá trình Nhà nước thu hồi đất. Nghiên cứu để tìm ra những
nguyên nhân, những khó khăn tồn tại và đề xuất những giải pháp nâng cao hiệu quả
thực thi pháp luật về bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất.
* Phạm vi nghiên cứu
Trong khuôn khổ có hạn của một bài khóa luận, đề tài tập trung nghiên cứu
hệ thống pháp luật thực định, các nguyên tắc pháp lý cũng như các quy định pháp
luật của Việt Nam hiện hành trong lĩnh vực bồi thường, GPMB khi Nhà nước thu
hồi đất.
Bài khóa luận đã tiếp cận và phân tích, bình luận các quy định của Luật Đất
đai năm 2013 và các văn bản hướng dẫn thi hành như: Nghị định số 43/NĐ-CP
ngày 15/05/2014 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai; Nghị định
số 47/NĐ-CP ngày 15/05/2014 về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu
hồi đất, Nghị định số 44/NĐ-CP ngày 15/05/2014 quy định về giá đất…Bên cạnh
đó, Bài khóa luận cũng tìm hiểu các quy định khác của pháp luật cũng như quy chế
có liên quan đến bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Ninh
Thuận như: Quyết định Số 81/2013/QĐ-UBND về ban hành quy chế thực hiện dân
chủ trong công tác bồi thường, hỗ trợ, giải phóng mặt bằng, tái định cư, định canh
trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận. Qua việc nghiên cứu những quy định của pháp luật,
em mong muốn làm rõ, cụ thể hóa các vấn đề liên quan đến bồi thường, GPMB, hỗ
trợ khi Nhà nước thu hồi đất để rút ra những kết quả đạt được trong công tác thực
thi pháp luật về mảng đề tài này. Đồng thời, tôi cũng đưa ra những đánh giá, nêu ra
những khó khăn, nguyên nhân và đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hơn
nữa trong công tác bồi thường, GPMB.


3


4. Phƣơng pháp nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu, trong quá trình thực hiện bài khóa luận sẽ
sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau đây: phương pháp luận nghiên cứu Khoa
học của Chủ nghĩa Mác – Lênin, phương pháp duy vật biện chứng lịch sử, tư tưởng
Hồ Chí Minh và quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng về xây dựng Nhà nước
pháp quyền trong nền kinh tế thị trường, bài báo cáo sử dụng phương pháp thu thập
thông tin, điều tra- tổng hợp và phân tích dữ liệu từ các nguồn văn bản pháp luật
liên quan, tổng hợp thống kê, kết hợp nghiên cứu lý thuyết với phân tích thực trạng
GPMB ở tỉnh Ninh Thuận (kế thừa những tài liệu, số liệu đã có; tham khảo các báo
cáo, kiến nghị của các tổ chức, cá nhân) và đưa ra một số đề xuất giải pháp nâng
cao chất lượng hoạt động GPMB.
Bên cạnh đó, với mục tiêu tìm hiểu và đánh giá thực tiễn thi hành về pháp
luật bồi thường, GPMB khi Nhà nước thu hồi đất, bài khóa luận còn sử dụng các
phương pháp sau:
- Phương pháp thống kê, tổng hợp, phân tích, đánh giá: Phân tích, tổng hợp
số liệu, dữ liệu thu thập được tại Sở Tài nguyên và Môi trường. Phân tích thực trạng
pháp luật về bồi thường, GPMB, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất.
- Phương pháp so sánh: Phương pháp này được sử dụng để đối chiếu các quy
định pháp luật, tìm ra các điểm bất cập, chưa phù hợp, chưa thống nhất trong hệ
thống pháp luật về bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất; điểm chưa phù hợp
giữa quy định pháp luật với thực tiễn thi hành.
- Phương pháp quy nạp, diễn dịch: Phương pháp này được sử dụng khi
nghiên cứu một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về vấn đề này. Bài khóa luận đã
tiếp cập, thu thập kế thừa các thông tin, tài liệu tổng kết thi hành Luật Đất đai năm
2013 của Bộ Tài nguyên và Môi trường, các số liệu của các công trình khoa học đã
công bố để trên cơ sở đó phân tích, đánh giá pháp luật về bồi thường, GPMB khi

Nhà nước thu hồi đất, đồng thời nhận diện những tồn tại, bất cập của pháp luật về
vấn đề này để đề xuất các giải pháp phù hợp theo mục tiêu đặt ra.
5. Kết cấu của đề tài
Ngoài lời cam đoan, lời cảm ơn, lời nói đầu, phụ lục, danh mục tài liệu tham
khảo, Khóa luận gồm 2 chương:

4


Chương 1: Tổng quan về thu hồi, bồi thường giải phóng mặt bằng
Nội dung chủ yếu của chương 1 tập trung tìm hiểu sơ lược về khái niệm và
vai trò của thu hồi và bồi thường GPMB cũng như sự tác động của nó ảnh hưởng
trực tiếp đến cuộc sống của người dân và sự ổn định chính trị. Đánh giá thực trạng
áp dụng và việc định hướng hoàn thiện pháp luật về nguyên tắc cũng như điều kiện
về bồi thường, hỗ trợ GPMB khi Nhà nước thu hồi đất.
Chương 2: Thực trạng về giải phóng mặt bằng tại tỉnh Ninh Thuận và kiến
nghị hoàn thiện
Nội dung chương này tập trung tìm hiểu rõ hơn và đi sâu hơn về vấn đề
“tổng quan pháp luật về thu hồi, bồi thường GPMB” qua thực trạng áp dụng pháp
luật về thu hồi, bồi thường GPMB ở tỉnh Ninh Thuận. Qua đó có thể biết được kết
quả và cả khó khăn cũng như nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của người dân,
định hướng chính sách của Đảng và Nhà nước. Thực trang về giải phóng mặt bằng
ở tỉnh Ninh Thuận đã cho thấy rõ vấn đề và qua đó cần hòan thiện hơn và đổi mới
hơn giúp cho xã hội ngày càng phát triển.

5


Chƣơng 1. TỔNG QUAN VỀ PHÁP LUẬT THU HỒI, BỒI THƢỜNG
GIẢI PHÓNG MẶT BẰNG

1.1. Khái quát về thu hồi, bồi thƣờng, giải phóng mặt bằng
1.1.1. Thu hồi đất
Trước khi các công trình được xây dựng nhằm phục vụ cho mục đích quốc
phòng, an ninh, lợi ích công cộng, lợi ích quốc gia được triển khai thì đòi hỏi Nhà
nước cần phải có mặt bằng để thực hiện dự án. Thế nhưng đất đai là tài nguyên vô
cùng quý giá của mỗi người dân, là điều kiện sinh tồn và phát triển của con người
và nó thuộc sở hữu toàn dân, với tư cách là người quản lý, nhằm đảm bảo được lợi
ích của Nhà nước, lợi ích của nhân dân, khi đó Nhà nước sẽ ra quyết định thu hồi
quyền sử dụng đất của người dân hoặc đất được Nhà nước giao quản lý.
Từ điển Tiếng Việt phổ thông định nghĩa: “Thu hồi là việc thu về lại, lấy lại
cái trước đó đã đưa ra, đã cấp phát hoặc bị mất vào tay kẻ khác”1. Từ đó, ta có thể
hiểu thu hồi đất là việc Nhà nước lấy lại đất đã giao, đã cho thuê vì lý do nào đó.
Việc thu hồi đất có thể xuất phát từ những nguyên nhân khác nhau nhưng đều
hướng đến hai mục đích: thu hồi đất nhằm bảo vệ quyền sở hữu đất đai của Nhà
nước khi người SDĐ có hành vi vi phạm pháp luật đất đai có khả năng gây tổn hại
đến tài sản của Nhà nước; và thu hồi đất để hỗ trợ cho quá trình điều phối đất đai
khi Nhà nước cần điều chỉnh lại việc sử dụng đất về mục đích, chủ thể sử dụng theo
quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất.2 Đối với Nhà nước, thu hồi đất là hoạt động (hay
một công cụ) mang tính “cưỡng chế” được đặt ra dựa trên cơ sở quyền sở hữu đất
đai và quyền lực công của Nhà nước, người đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai.
“Hai tư cách trong một” này giúp Nhà nước có thể phân phối đất đai hoặc lấy lại
đất đã chuyển giao cho các chủ thể khác một cách thuận lợi, dễ dàng. Đây là
phương tiện hữu hiệu giúp Nhà nước dễ dàng thực hiện các hoạt động điều phối đất
đai, cũng như bảo vệ quyền sở hữu đất đai của mình trong trường hợp cần phải
“cách ly” người SDĐ có hành vi gây nguy hại đối với tài sản thuộc sở hữu của Nhà
nước.

1

Gs. Hoàng Phê (2017), Từ điển Tiếng Việt, Nhà xuất bản Hồng Đức

Trường Đại Học Luật TP.HCM (2017), Giáo trình Luật đất đai, Nhà xuất bản Hồng Đức-Hội Luật Gia Việt
Nam
2

6


Khác với với giao đất, cho thuê đất là những hình thức pháp lý làm hình
thành một quan hệ pháp luật đất đai thì thu hồi đất là một biện pháp pháp lý làm
chấm dứt quan hệ pháp luật đất đai. Hình thức pháp lý này là một quyết định thu hồi
đất của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền giao đất, cho thuê đất. Biện pháp này thể
hiện quyền lực Nhà nước trong tư cách là người đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất
đai. Vì vậy, để thực thi nội dung này, quyền lực Nhà nước được thể hiện nhằm đảm
bảo lợi ích của Nhà nước, của xã hội đồng thời lặp lại trật tự, kỉ cương trong quản lý
Nhà nước về đất đai.
Thu hồi đất phải được hiểu dưới các khía cạnh sau đây:
-Là một quyết định hành chính của người có thẩm quyền nhằm chấm dứt
quan hệ sử dụng đất của người sử dụng.
-Quyết định hành chính thể hiện quyền lực Nhà nước nhằm thực thi nội dung
của quản lý Nhà nước về đất đai.
-Việc thu hồi đất xuất phát từ nhu cầu của Nhà nước và xã hội hoặc là biện
pháp chế tài được áp dụng nhằm xử lý các hành vi vi phạm pháp luật đất đai của
người sử dụng.
Từ đó ta có thể định nghĩa thu hồi đất như sau: là văn bản hành chính của cơ
quan Nhà nước có thẩm quyền nhằm chấm dứt một quan hệ pháp luật đất đai để
phục vụ lợi ích của Nhà nước, của xã hội hoặc xử lý hành chính hành vi vi phạm
pháp luật đất đai của người sử dụng đất. Và theo khoản 11 Điều 3 Luật Đất đai
2013, thì “Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước quyết định thu lại quyền sử đất
của người được Nhà nước trao quyền sử dụng đất hoặc thu lại đất của người sử
dụng đất vi phạm pháp pháp luật về đất đai”.

Trên thực tế công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng được thực hiện sau
khi Nhà nước có quyết định thu hồi đất để sử dụng vào các mục đích quốc phòng,
an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng, mục đích phát triển kinh tế nhằm đảm
bảo quyền lợi cho những tổ chức, cá nhân có đất bị thu hồi.
Việc xây dựng những khu công nghiệp cho mục tiêu phát triển kinh tế,
những con đường quốc gia để phục vụ lợi ích chung là rất cần thiết nhưng không vì
thế mà phải hy sinh quyền lợi của những cá nhân, những nhóm người. Do đó, khi
quyền sử dụng đất của người dân bị thu hồi thì Nhà nước sẽ bồi thường thiệt hại.
7


Theo từ điển Tiếng Việt thì “Bồi thường” có nghĩa là trái lại tương xứng giá
trị hoặc công lao cho một chủ thể nào đó bị thiệt hại vì một hành vi của chủ thể
khác gây ra hay là đền bù những tổn hại gây ra3. Trong giải phóng mặt bằng, cùng
với chính sách hỗ trợ và tái định cư, chính sách bồi thường là một phần quan trọng
trong chính sách đền bù thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất. Việc bồi thường này
nhằm giúp cho người bị thu hồi đất có thể tái lập, ổn định cuộc sống mới do những
thiệt hại vật chất hoặc thiệt hại phi vật chất do việc thu hồi đất gây ra, mặt khác giúp
họ giải quyết được những khó khăn khi phải thay đổi nơi ở mới.
Việc bồi thường được thực hiện bằng việc giao đất có cùng mục đích sử
dụng với loại đất thu hồi, nếu không có đất để bồi thường thì được bồi thường bằng
tiền theo giá đất cụ thể của loại đất thu hồi do UBND cấp tỉnh quyết định tại thời
điểm quyết định thu hồi đất theo khoản 2 Điều 74 Luật Đất đai 2013.
Bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước trả lại giá trị quyền
sử dụng đất, vật kiến trúc, hoa màu trên diện tích đất bị thu hồi cho người bị thu hồi
đất; trong đó giá trị quyền sử dụng đất là giá trị bằng tiền của quyền sử dụng đất đối
với từng loại đất trên một diện tích, vị trí đất và thời hạn sử dụng đất xác định. Điều
này có nghĩa: không phải tất cả thiệt hại của chủ thể nào đó đều được bồi thường
bằng tiền là xong mà chủ thể đó phải được đảm bảo về lợi ích hợp pháp; sự mất mát
của người bị thu hồi đất, tài sản trên đất không chỉ riêng là về mặt vật chất mà còn

mất mát cả về tinh thần nhất là khi họ phải rời chỗ ở cũ của mình đến nơi ở mới4.
Đặc điểm của công tác bồi thường mag tính chất phức tạp tốn kém thời gian
cụ thể là:
- Đối với đất nông nghiệp: trong khi trình độ sản xuất nông nghiệp của người
dân còn thấp, sản xuất hàng hóa chưa phát triển và cây trồng vật, nuôi cũng rất đa
dạng nên việt thu hồi đất nông nghiệp là ảnh hưởng không nhỏ đến việc làm của
người dân nên Nhà nước cần quan tâm đến chuyển đổi nghề nghiệp cho người bị
thu hồi đất.
- Đối với đất ở lại càng phức tạp hơn do những nguyên nhân sau:

3

Gs. Hoàng Phê (2017), Từ điển Tiếng Việt, Nhà xuất bản Hồng Đức
Nguyễn Thị Minh Tâm (2010), Đánh giá thực trạng công tác thu hồi, bồi thường giải phóng mặt bằng của
một số dự án trên địa bàn thị xã Từ Sơn – tỉnh Bắc Ninh, Nguồn: download ngày 15/09/2018
4

8


+Đất ở là tài sản có giá trị lớn, nó gắn bó trực tiếp với đời sống và sinh hoạt
của người dân và ảnh hưởng đến tâm lý “an cư, lập nghiệp” của người bị thu hồi đất
nên khi thu hồi đất ở Nhà nước cần quan tâm đến việc xây khu tái định cư mới.
+Nguồn gốc sử dụng đất khác nhau và do cơ chế chính sách không đồng bộ,
thiếu chặt chẽ dẫn đến tình trạng lấn chiếm đất đai xây nhà trái phép diễn ra thường
xuyên gây ra khó khăn cho việc xác định nguồn gốc sử dụng đất để làm cơ sở xác
định đối tượng và điều kiện bồi thường.
+Thiếu quỹ đất do xây dựng khu tái định cư cũng như khu tái định cư thấp
chưa đảm bảo được yêu cầu.
+Ở một số khu vực dân cư sống chủ yếu bằng nghề buôn bán nhỏ và sống

bám vào các trục đường giao thông của khu dân cư làm kế sinh nhai nay chuyển đến
ở khu vực mới thì điều kiện sống bị thay đổi nên họ không muốn di chuyển.
+Do tập quán sinh hoạt của gia đình.
+Do chính sách pháp luật chưa phù hợp.
+Việc áp dụng để tính bồi thường giữa thực tế và quy định của Nhà nước có
những khoảng cách khá xa cho nên việc triển khai thực hiện cũng không được sự
đồng thuận của người dân.
Vậy, so với Luật Đất đai 2003 thì Luật Đất đai 2013 ra đời thì đã có nhiều
điểm mới tiến bộ hơn so với luật cũ, trong đó có tiến bộ trong chế định bồi thường,
giải phóng mặt bằng khi Nhà nước thu hồi đất được tách ra một cách rõ ràng hơn
thành bồi thường về đất và bồi thường về chi phí đầu tư vào đất, bồi thường thiệt
hại về tài sản, ngừng sản xuất kinh doanh. Theo khoản 12 điều 3 Luật Đất đai 2013
quy định “Bồi thường về đất là việc Nhà nước trả lại giá trị quyền sử dụng đất đối
với diện tích đất thu hồi cho người sử dụng đất”. Và theo khoản 13 điều 3 Luật Đất
đai 2013 quy định “Chi phí đầu tư vào đất đai lại còn bao gồm chi phí san lấp mặt
bằng và chi phí khác liên quan trực tiếp có căn cứ chứng minh đã đầu tư vào đất
mà đến thời điểm Nhà nước thu hồi đất còn chưa thu hồi được”. Vì vậy, khi chủ thể
đáp ứng một số điều kiện theo luật định, Nhà nước sẽ bồi thường về đất và bồi
thường chi phí đầu tư vào đất khi thu hồi.

9


Về GPMB: tuy pháp luật không đưa ra khái niệm cụ thể nhưng có thể hiểu
đây là hoạt động của cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện sự di chuyển người
dân đang sinh sống, di chuyển nhà ở, các công trình xây dựng và các tài sản khác
gắn liền với đất…tại những nơi mà đất đai thuộc diện tích thu hồi để phục vụ mục
đích quốc phòng an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng, phát triển kinh tế.
Trong đó, vấn đề bồi thường giải phóng mặt bằng chủ yếu bao gồm các vấn đề: thu
hồi đất và vấn đề bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất. GPMB là

vấn đề vừa có tính “thời vụ” vừa mang tính “cấp bách” của phát triển mà nhiều
nước trên thế giới hiện nay cần có đất để phát triển sản xuất, kinh doanh đang phải
đối mặt. Trong những năm gần đây vấn đề này trở thành trung tâm của dư luận, là
một trong những mối quan tâm hàng đầu của các nhà hoạch định chính sách, nhà
quản lý, nhà đầu tư. Thực tiễn chứng minh rằng, làm tốt công tác GPMB không chỉ
tạo được môi trường thông thoáng cho phát triển, thu hút được đầu tư, mà còn góp
phần làm lành mạnh nhiều quan hệ xã hội, củng cố được lòng tin của nhân dân.5
Quá trình GPMB được tính từ khi bắt đầu hình thành Hội đồng giải phóng mặt bằng
đến khi giải phóng xong và giao cho chủ đầu tư mới. Đây là một quá trình đa dạng
và phức tạp thể hiện sự khác nhau giữa các dự án và liên quan trực tiếp đến các bên
tham gia và của toàn xã hội.
-Tính đa dạng thể hiện: mỗi dự án được tiến hành trên một vùng đất khác
nhau với điều kiện tự nhiên kinh tế, xã hội và trình độ dân trí khác nhau. Đối với
khu vực đô thị, có mật độ dân cư cao, ngành nghề đa dạng, giá trị đất và tài sản trên
đất lớn dẫn đến quá trình giải phóng mặt bằng có những điểm riêng biệt nhất định.
Đối với khu vực ven đô thị, mật độ tập trung dân cư khá cao, ngành nghề dân cư
phức tạp, hoạt động sản xuất đa dạng: công nghiệp, thương mại, buôn bán nhỏ…
quá trình giải phóng mặt bằng cũng có đặc trưng riêng của nó. Còn đối với khu vực
ngoại thành, hoạt động sản xuất chủ yếu của dân cư là sản xuất nông nghiệp, đời
sống phụ thuộc chính vào nông nghiệp, trình độ dân trí còn hạn chế do đó, giải
phóng mặt bằng cũng được tiến hành với những đặc điểm riêng biệt của vùng đó.
-Tính phức tạp thể hiện: đất đai là tài sản có giá trị cao, có vai trò quan trọng
trong đời sống kinh tế - xã hội đối với mọi người dân. Ở khu vực nông thôn, dân cư
chủ yếu sống nhờ vào sản xuất nông nghiệp mà đất đai lại là tư liệu sản xuất quan
trọng trong khi trình tự sản xuất của nông dân thấp, khả năng chuyển đổi nghề
5

Phan Ngọc Long (2012), Thực tiễn thi hành pháp luật về giải phóng mặt bằng ở tỉnh Hà Tỉnh, Nguồn:
/>Ru1000001%40%2CQphan+ng%E1%BB%8Dc+long&suite=def, download ngày 17/09/2018


10


nghiệp khó khăn do đó tâm lý dân cư vùng này là giữ được đất để sản xuất. Mặt
khác, cây trồng, vật nuôi trên vùng đó cũng đa dạng, không được tập trung vào một
loại nhất định nên gây khó khăn cho công tác GPMB.
Từ các điểm trên cho thấy mỗi dự án khác nhau thì công tác giải phóng mặt
bằng được thực hiện khác nhau. Giải phóng mặt bằng là một khái niệm được sử
dụng trong một số văn bản pháp luật đất đai. Tuy nhiên, Luật Đất đai 2013 và các
văn bản hướng dẫn thi hành khác lại không đưa ra định nghĩa cụ thể về khái niệm
này. Căn cứ vào nội dung quy định về giải phóng mặt bằng của Luật Đất đai 2013
và các văn bản hướng dẫn thi hành, Luật Xây dựng 2014, chúng ta có thể hiểu giải
phóng mặt bằng là hoạt động của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thực hiện sự di
chuyển người dân dang sinh sống, di chuyển nhà ở, các công trình xây dựng và các
tài sản khác gắn liền với đất…tại những nơi mà đất đai thuộc diện tích thu hồi để
phục vụ mục đích quốc phòng an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng, phát triển
kinh tế.6
Như vậy, việc Nhà nước thu hồi đất để phục vụ mục đích quốc phòng an
ninh, lợi ích công cộng,… cũng tạo nên những khó khăn nhất định cho người có đất
bị thu hồi do vậy công tác bồi thường, GPMB là không thể thiếu nhằm đảm bảo ổn
định cho đời sống người dân, đảm bảo lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất.
Công tác bồi thường, GPMB nếu được thực hiện tốt sẽ góp phần quan trọng giúp
cho việc GPMB được thực hiện suôn sẻ, rất cần thiết để xây dựng các công trình
mới đáp ứng nhu cầu đổi mới của xã hội, nhằm sử dụng đất đai hợp lý và đạt hiệu
quả.
1.1.2. Vai trò của bồi thường, giải phóng mặt bằng khi Nhà nước thu hồi đất
Thứ nhất, việc bồi thường, giải phóng mặt bằng khi Nhà nước thu hồi đất
nhằm bảo đảm giải quyết hài hòa lợi ích của Nhà nước và lợi ích của người thu hồi
đất. Về phía Nhà nước: Thông qua các cơ quan nhà nước, những lợi ích mà dự án
thu hồi đất mang lại được xác định trong các căn cứ thu hồi đất, mục đích thu hồi

đất. Từ khi lập dự thảo, thẩm định, phê duyệt quy hoạch, kế hoạch SDĐ, các cơ
quan nhà nước có thẩm quyền đã cân nhắc đến tất cả các yếu tố lợi ích về phương
diện chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội… một khi thực hiện dự án. Các yếu tố này
vẫn tiếp tục được xem xét trong quá trình phê duyệt những dự án phù hợp với kế
6

Phân tích mối quan hệ giữa thực tiễn áp dụng pháp luật bồi thường, giải phóng mặt bằng khi Nhà nước thu
hồi đất với việc duy trì ổn định chính trị - xã hội(26/11/2015), Nguồn: download ngày 18/9/2018

11


hoạch SDĐ hàng năm cũng như giám sát kiểm tra việc thực hiện dự án, bảo đảm
đúng với mục tiêu ban đầu. Còn về phía người bị thu hồi đất, nếu một dự án thực
hiện mà không mang lại bất kỳ lợi ích nào cho người dân với tư cách cộng đồng thì
không còn là một dự án có thu hồi đất đúng nghĩa nữa. Trực tiếp hay gián tiếp, một
bộ phận lớn người dân phải được hưởng lợi nhất định từ dự án. Ví dụ: Dự án mở
rộng đường phố sau khi thực hiện sẽ làm giảm ùn tắc giao thông, phục vụ tốt hơn
cho nhu cầu đi lại của người dân, đặc biệt là người dân địa phương7. Việc chia sẻ lợi
ích và bù đắp những thiệt hại cho các chủ thể SDĐ, đồng thời nhanh chóng ổn định
đời sống, sản xuất, tạo việc làm và thu nhập ổn định cho người bị thu hồi đất.
Thứ hai, việc bồi thường góp phần vào việc duy trì ổn định chính trị, trật tự
an toàn xã hội. Trong trường hợp đất bị thu hồi thì quyền và lợi ích hợp pháp của
người bị thu hồi đất bị xâm hại trực tiếp; và họ bị mất quyền sử dụng đất và bị buộc
phải dời đi nơi khác và cuộc sống của họ trở nên đảo lộn vì phải rời đi nơi họ đã gắn
bó lâu nay. Việc mất đất đai đối với họ tương đương với việc mất kế sinh nhai,
không có việc làm thì hậu quả thường dẫn đến các tệ nạn nguy hại cho xã hội: trộm
cắp… nên chính vì vậy nên họ sẽ có những phản ứng quyết liệt, phẫn nộ, gay gắt
thông qua khiếu kiện về bồi thường. Nên vai trò của công tác bồi thường, giải
phóng mặt bằng hết sức quan trọng và cần thiết; nó góp phần giúp cho người bị thu

hồi đất và gia đình của họ có cuộc sống ổn định nhanh chóng, an cư lạc nghiệp để
tập trung vào công việc sản xuất và nâng cao chất lượng đời sống. Hơn nữa, việc
bồi thường giúp củng cố thêm niềm tin của người dân vào chủ chương, chính sách
của Đảng.
Thứ ba, bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất trước hết nhằm bảo đảm lợi ích
công cộng. Trong đó việc cân bằng lợi ích là việc Nhà nước, thông qua pháp luật,
chủ trương, đường lối, cơ chế chính sách để giải quyết hài hoà mối quan hệ giữa lợi
ích công cộng và lợi ích chính đáng của những người có đất bị thu hồi. Đây được
xem như là một nguyên tắc, lựa chọn tối ưu cần phải được chọn để bảo vệ lợi ích
cho cả hai bên. Thực tế cho thấy, cân bằng là một trạng thái trong một khoảng thời
gian nhất định và trong một hoàn cảnh cụ thể. Ví dụ: Trong thời kỳ chiến tranh hay
khủng hoảng kinh tế, lợi ích công cộng cần phải được nhấn mạnh hơn. Tuy nhiên,
trong hòa bình, lợi ích công cộng là một trong những cách hiệu quả để hài hòa các
7,8

Phan Trung Hiền (2016), Điều tiết và cân bằng lợi ích giữa Nhà nước, chủ đầu tư và người dân khi Nhà
nước thu hồi đất, Nguồn: download ngày 18/9/2018

12


lợi ích cá nhân của các tầng lớp khác nhau trong xã hội và có vai trò quan trọng
trong phát triển kinh tế, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân.8
1.2. Pháp luật hiện hành về bồi thƣờng, giải phóng mặt bằng
1.2.1. Thẩm quyền thu hồi đất
Về cơ bản, thẩm quyền thu hồi đất được quy định trong Luật Đất đai 2013
trên cơ sở kế thừa quy định của Luật Đất đai 2003. Theo đó, UBND cấp tỉnh có
thẩm quyền thu hồi đất nông nghiệp thuộc quỹ đất công ích của xã, phường, thị
trấn; đối với tổ chức, cơ sở tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức
nước ngoài có chức năng ngoại giao, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Đối

với đất của hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư; đất ở của người Việt Nam định
cư ở nước ngoài được sở hữu nhà ở tại Việt Nam thuộc thẩm quyền của UBND cấp
huyện.
Tuy nhiên, Điều 66 của Luật Đất đai 2013 có sửa đổi thẩm quyền thu hồi đất
so với Luật đất đai cũ để cải cách hành chính khi thực hiện các dự án, cụ thể là
UBND cấp tỉnh có thẩm quyền quyết định thu hồi đất đối với trường hợp khu đất
thu hồi có cả tổ chức và hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất. Trường hợp trong
khu vực thu hồi đất có cả đối tượng thuộc thẩm quyền thu hồi đất của UBND cấp
tỉnh và đối tượng thuộc thẩm quyền thu hồi của UBND cấp huyện theo khoản 1, 2
Điều 66 Luật Đất đai 2013 thì UBND cấp tỉnh quyết định thu hồi đất hoặc ủy quyền
cho UBND cấp huyện quyết định thu hồi.9
UBND cấp tỉnh có thẩm quyền thu hồi đất nông nghiệp thuộc quỹ đất công
ích của xã, phường, thị trấn; đối với tổ chức, cơ sở tôn giáo, người Việt Nam định
cư ở nước ngoài, tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao, doanh nghiệp có vốn
đầu tư nước ngoài.
UBND cấp huyện có thẩm quyền thu hồi đất đối với đất của hộ gia đình, cá
nhân, cộng đồng dân cư; đất ở của người Việt Nam định cư ở nước ngoài được sở
hữu nhà ở tại Việt Nam.

9

Trường Đại Học Luật TP.HCM (2017), Giáo trình Luật đất đai, Nhà xuất bản Hồng Đức-Hội Luật Gia Việt
Nam

13


Trường hợp khu đất thu hồi có cả tổ chức và hộ gia đình, cá nhân đang sử
dụng đất thì UBND cấp tỉnh có thẩm quyền quyết định thu hồi đất hoặc ủy quyền
cho UBND cấp huyện quyết định thu hồi đất 10.

Trường hợp đất đã thu hồi theo quy định tại khoản 1 Điều 64 Luật Đất đai
2013 và các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều 65 của Luật Đất đai 2013 này là đất
nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân ở nông thôn thì giao cho UBND cấp xã quản
lý. Quỹ đất này được giao, cho thuê đối với hộ gia đình, cá nhân không có đất hoặc
thiếu đất sản xuất theo quy định của pháp luật.
UBND cấp có thẩm quyền quyết định thu hồi đất, quyết định phê duyệt
phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư trong cùng một ngày. Ngoài ra theo điểm
a khoản 1 điều 69 Luật Đất đai 2013 thì UBND cấp có thẩm quyền thu hồi đất ban
hành thông báo thu hồi đất và thông báo thu hồi đất được gửi đến từng người có đất
thu hồi, họp phổ biến đến người dân trong khu vực có đất thu hồi và thông báo trên
phương tiện thông tin đại chúng, niêm yết tại trụ sở UBND xã, địa điểm sinh hoạt
chung của khu dân cư nơi có đất thu hồi.
Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng có trách nhiệm phối
hợp với UBND cấp xã phổ biến và niêm yết công khai quyết định phê duyệt phương
án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư tại trụ sở UBND cấp xã và địa điểm sinh hoạt
chung của khu dân cư nơi có đất thu hồi; gửi quyết định bồi thường, hỗ trợ, tái định
cư đến từng người có đất thu hồi, trong đó ghi rõ về mức bồi thường, hỗ trợ, bố trí
nhà hoặc đất tái định cư (nếu có), thời gian, địa điểm chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ;
thời gian bố trí nhà hoặc đất tái định cư (nếu có) và thời gian bàn giao đất đã thu hồi
cho tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng.
Theo khoản 2 điều 69 Luật Đất đai 2013, thì tổ chức làm nhiệm vụ bồi
thường, giải phóng mặt bằng có trách nhiệm lập phương án bồi thường, hỗ trợ, tái
định cư và phối hợp với UNBD cấp xã nơi có đất thu hồi tổ chức lấy ý kiến về
phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư theo hình thức tổ chức họp trực tiếp với
người dân trong khu vực có đất thu hồi, đồng thời niêm yết công khai phương án
bồi thường, hỗ trợ, tái định cư tại trụ sở UNBD cấp xã, địa điểm sinh hoạt chung
của khu dân cư nơi có đất thu hồi. Việc tổ chức lấy ý kiến phải được lập thành biên
bản có xác nhận của đại diện UNBD cấp xã, đại diện Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam cấp xã, đại diện những người có đất thu hồi. Tổ chức làm nhiệm vụ bồi
10


Quốc hội (2013), Luật Đất đai năm 2013, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia-Sự thật, Hà Nội

14


thường, giải phóng mặt bằng có trách nhiệm tổng hợp ý kiến đóng góp bằng văn
bản, ghi rõ số lượng ý kiến đồng ý, số lượng ý kiến không đồng ý, số lượng ý kiến
khác đối với phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư; phối hợp với UNBD cấp xã
nơi có đất thu hồi tổ chức đối thoại đối với trường hợp còn có ý kiến không đồng ý
về phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư; hoàn chỉnh phương án trình cơ quan
có thẩm quyền. Cơ quan có thẩm quyền thẩm định phương án bồi thường, hỗ trợ, tái
định cư trước khi trình UNBD cấp có thẩm quyền quyết định thu hồi đất.
Tổ chức thực hiện việc bồi thường, hỗ trợ, bố trí tái định cư theo phương án
bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đã được phê duyệt. Tổ chức làm nhiệm vụ bồi
thường, giải phóng mặt bằng có trách nhiệm quản lý đất đã được giải phóng mặt
bằng.
UBND cấp xã có trách nhiệm là phối hợp với tổ chức làm nhiệm vụ bồi
thường, giải phóng mặt bằng triển khai thực hiện các kế hoạch thu hồi đất, điều tra,
khảo sát, đo đạc, kiểm đếm; khi đó người sử dụng đất có trách nhiệm phối hợp với
tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng thực hiện việc điều tra, khảo
sát, đo đạc xác định diện tích đất, thống kê về nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất để
lập lên phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư.
UBND huyện có thẩm quyền thu hồi đất ban hành thông báo thu hồi đất: 90
ngày đối với đất nông nghiệp và 180 ngày đối với đất phi nông nghiệp theo khoản 1
điều 67 Luật Đất đai 2013. Thông báo thu hồi đất sẽ được gửi đến từng người có đất
thu hồi, họp phổ biến đến những người dân trong khu vực có đất thu hồi và phải
thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng, niêm yết tại trụ sở UBND cấp
xã, địa điểm sinh hoạt chung của khu dân cư nơi có đất thu hồi. Trường hợp người
sử dụng đất trong khu vực thu hồi đất đồng ý để cơ quan nhà nước có thẩm quyền

thu hồi đất trước thời hạn quy định tại khoản 1 Điều 67 Luật đất đai 2013 này thì
UBND cấp có thẩm quyền quyết định thu hồi đất mà không phải chờ đến hết thời
hạn thông báo thu hồi đất. Và khi quyết định thu hồi đất có hiệu lực thi hành và
phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền
phê duyệt được công bố công khai, người có đất thu hồi phải chấp hành quyết định
thu hồi đất.
Trường hợp người sử dụng đất trong khu vực có đất thu hồi không phối hợp
với tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng trong việc điều tra, khảo
sát, đo đạc, kiểm đếm theo điểm d khoản 1 điều 69 Luật Đất đai 2013 thì UBND xã,
15


Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã nơi có đất thu hồi và tổ chức làm nhiệm
vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng tổ chức vận động, thuyết phục để người sử
dụng đất thực hiện. Và trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày được vận động, thuyết
phục mà người sử dụng đất vẫn không phối hợp với tổ chức làm nhiệm vụ bồi
thường, giải phóng mặt bằng thì Chủ tịch UBND cấp huyện ban hành quyết định
kiểm đếm bắt buộc. Người có đất thu hồi có trách nhiệm thực hiện quyết định kiểm
đếm bắt buộc. Trường hợp người có đất thu hồi không chấp hành thì Chủ tịch
UBND cấp huyện ban hành quyết định cưỡng chế thực hiện quyết định kiểm đếm
bắt buộc và tổ chức thực hiện cưỡng chế theo quy định tại Điều 70 của Luật Đất đai
2013.
Trường hợp thu hồi đất trong khu công nghệ cao, khu kinh tế thì do ban quản
lý khu công nghệ cao, khu kinh tế có trách nhiệm thu hồi đất đã giao lại hoặc cho
thuê theo quy định tại điều 150, 151 Luật đất đai 2013 và điều 52, 53 Nghị định
43/2014 NĐ-CP.11
1.2.2. Phạm vi và đối tượng được bồi thường khi thu hồi đất, giải phóng mặt bằng
Thứ nhất, phạm vi được bồi thường
Phạm vi được bồi thường quy định theo điều 61, 62, 64, 65 của Luật Đất đai
năm 2013 và các văn bản hướng dẫn thi hành, thì Nhà nước thu hồi đất trong một số

các trường hợp nhất định như: sử dụng vì mục đích quốc phòng, an ninh; để phát
triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng; do vi phạm pháp luật về đất đai
(sử dụng đất không đúng mục đích đã được Nhà nước giao cho, không đạt hiệu quả;
đất được giao, cho thuê không đúng thẩm quyền;…); do chấm dứt việc sử dụng đất
theo pháp luật, tự nguyện trả lại đất, có nguy cơ đe dọa tính mang con người (đất
giao cho tổ chức không thu tiền sử dụng đất hoặc có thu tiền sử dụng đất có nguồn
gốc từ ngân sách Nhà nước hoặc cho thuê đất thu tiền thuê đất hàng năm bị giải thể,
phá sản, chuyển đi nơi khác, giảm hoặc không có nhu cầu sử dụng đất; người sử
dụng đất tự nguyện trả lại đất; ngoài ra đất bị ô nhiễm, đất có nguy cơ sạt lở, sụt lún
bị ảnh hưởng bởi hiện tượng thiên tai khác có thể được bồi thường theo Điều 6, 16,
22 Nghị định 47/2014 NĐ-CP;…)…

11

Trường Đại Học Luật TP.HCM (2017), Giáo trình Luật đất đai, Nhà xuất bản Hồng Đức-Hội Luật Gia
Việt Nam

16


Tuy nhiên, việc bồi thường chỉ được thực hiện trong trường hợp Nhà nước
thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích
công cộng và phát triển kinh tế 12; thu hồi đất do vi phạm pháp luật về đất đai; thu
hồi đất do chấm dứt việc sử dụng đất theo pháp luật, tự nguyện trả lại đất, có nguy
cơ đe dọa tính mạng con người… người sử dụng đất mới được bồi thường. Bên
cạnh đó, tùy từng trường hợp Nhà nước sẽ thực hiện các chính sách hỗ trợ cho
người bị thu hồi đất.
Thứ hai, đối tượng được bồi thường
Theo quy định của Luật Đất đai 2013 thì đối tượng được bồi thường khi Nhà
nước thu hồi đất, GPMB gồm: tổ chức, cộng đồng, dân cư, cơ sở tôn giáo, hộ gia

đình, cá nhân trong nước, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có
vốn đầu tư nước ngoài, tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao đang sử dụng
đất đang sử dụng đất bị Nhà nước thu hồi đất (khoản 2 điều 2 Nghị định 47/2014
NĐ-CP).
Đối tượng phải bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất, GPMB đối với các nhà
đầu tư để sử dụng vào các mục đích khác nhau như vì lợi ích công cộng, quốc
phòng an ninh hay phát triển kinh tế.
1.2.3. Nguyên tắc và điều kiện được bồi thường khi thu hồi đất, giải phóng mặt
bằng
* Về nguyên tắc bồi thường
Các chế định bồi thường về đất, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi
đất trong Luật Đất đai năm 2003 trên thực tế đã không thể thể chế, truyền tải hết các
quy định mang tính nguyên tắc để thực hiện thống nhất khi xử lý những vấn đề
phức tạp phát sinh trong thực tiễn thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư tại các
địa phương, các bộ, ngành. Khắc phục hạn chế này, Luật Đất đai năm 2013 đã tách
nguyên tắc bồi thường về đất và nguyên tắc bồi thường thiệt hại về tài sản, ngừng
sản xuất, kinh doanh khi Nhà nước thu hồi đất thành 02 điều riêng biệt. Trong đó,
quy định cụ thể các nguyên tắc bồi thường về đất và các nguyên tắc bồi thường thiệt
12

Phan Ngọc Long (2012), Thực tiễn thi hành pháp luật về giải phóng mặt bằng ở tỉnh Hà Tỉnh, Nguồn:
/>Ru1000001%40%2CQphan+ng%E1%BB%8Dc+long&suite=def, download ngày 19/09/2018

17


hại về tài sản gắn liền với đất khi Nhà nước thu hồi đất để các bộ, ngành, địa
phương và người thu hồi đất căn cứ vào đó thống nhất thực hiện.
Nguyên tắc của bồi thường trong thu hồi đất được thể chế hóa ở hai quy định
trong Luật Đất đai 2013. Điều 74 về “Nguyên tắc bồi thường về đất khi Nhà nước

thu hồi đất quy định:
1. Người sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất nếu có đủ điều kiện được bồi
thường quy định tại Điều 75 của Luật này thì được bồi thường.
2. Việc bồi thường được thực hiện bằng việc giao đất có cùng mục đích sử
dụng với loại đất thu hồi, nếu không có đất để bồi thường thì được bồi thường bằng
tiền theo giá đất cụ thể của loại đất thu hồi do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định
tại thời điểm quyết định thu hồi đất.
3. Việc bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất phải bảo đảm dân chủ, khách
quan, công bằng, công khai, kịp thời và đúng quy định của pháp luật.’’
Quy định trên thể hiện khi Nhà nước lấy đi phần lợi ích của người dân mà
người dân có đầy đủ điều kiện được bồi thường thì Nhà nước có trách nhiệm phải
bồi thường thiệt hại. Khi Nhà nước thu hồi đất thì bồi thường bằng đất cùng loại,
nếu không có đất cùng loại thì bồi thường bằng tiền với giá trị tương đương. Cách
tiếp cận này xuất phát từ quan niệm coi đất đai là tài sản có thể quy đổi giá trị sang
tiền. Mức giá bồi thường được quyết định và thống nhất thực hiện bởi cơ quan hành
chính địa phương dựa trên nguyên tắc dân chủ, khách quan, công bằng, công khai
và kịp thời.
Nguyên tắc người sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất có đủ điều kiện được
bồi thường theo khoản 1 điều 74 Luật Đất đai 2013, thì mục đích của nguyên tắc
này nhằm đảm bảo việc bồi thường cho đúng đối tượng đủ điều kiện được được bồi
thường.13
Nguyên tắc việc bồi thường được thực hiện bằng việc giao đất có cùng mục
đích sử dụng với loại đất thu hồi, nếu không có đất để bồi thường thì được bồi
thường bằng tiền theo giá đất cụ thể theo khoản 2 điều 74 Luật Đất đai 2013, thì có
thể hiểu là giá đất tính bồi thường là giá đất cụ thể của loại đất thu hồi do UBND
13, 14

Trường Đại Học Luật TP.HCM (2017), Giáo trình Luật Đất Đai, Nhà xuất bản Hồng Đức-Hội Luật Gia
Việt Nam


18


×