Tải bản đầy đủ (.pdf) (84 trang)

Pháp luật về bồi thường thiệt hại đối với khoản lợi trực tiếp đáng lẽ được hưởng trong thương mại

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (724.27 KB, 84 trang )

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ TP. HCM
KHOA LUẬT

KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP

PHÁP LUẬT VỀ BỒI THƢỜNG THIỆT
HẠI ĐỐI VỚI KHOẢN LỢI TRỰC TIẾP ĐÁNG
LẼ ĐƢỢC HƢỞNG TRONG THƢƠNG MẠI

Ngành: LUẬT KINH TẾ

Tp. Hồ Chí Minh- 2018


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ TP. HCM
KHOA LUẬT

KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP

PHÁP LUẬT VỀ BỒI THƢỜNG THIỆT
HẠI ĐỐI VỚI KHOẢN LỢI TRỰC TIẾP ĐÁNG
LẼ ĐƢỢC HƢỞNG TRONG THƢƠNG MẠI

Ngành:

LUẬT KINH TẾ

Giảng viên hướng dẫn: PGS.TS BÀNH QUỐC TUẤN
Sinh viên thực hiện: PHẠM HỒNG NHUNG


MSSV: 1511271195
Lớp: 15DLK11

Tp. Hồ Chí Minh - 2018


LỜI CẢM ƠN
Sau quá trình học tập và rèn luyện tại Khoa Luật - Trường Đại học Công Nghệ
TP. Hồ Chí Minh và khoảng 2 tháng làm khóa luận nghiên cứu về đề tài “Pháp luật
về bồi thường thiệt hại đối với khoản lợi trực tiếp đáng lẽ được hưởng trong thương
mại”. Em xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành tới các thầy, cô giảng viên, cán bộ các
phòng, ban chức năng Trường Đại học Công Nghệ TP. Hồ Chí Minh đã tận tình
giúp đỡ em để em có thể hoàn thành xuất sắc khóa luận này.
Em xin chân thành cảm ơn quý thầy, cô trong Khoa Luật - Trường Đại học
Công Nghệ TP. Hồ Chí Minh đã truyền đạt cho em những kiến thức quý báu trong
suốt những năm tại giảng đường Đại học. Với vốn kiến thức được tiếp thu trong quá
trình học không chỉ là nền tảng cho quá trình nghiên cứu khóa luận mà còn là hành
trang hữu ích để em bước vào đời vững chắc hơn.
Đặc biệt hơn em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Bành Quốc Tuấn
là thầy giáo đã trực tiếp hướng dẫn và chỉ bảo cho em, giúp em rất nhiều trong quá
trình làm khóa luận này .
Cuối cùng em xin cảm ơn gia đình,bạn bè đã luôn động viên, khích lệ và tạo
điều kiện giúp đỡ em trong trong suốt quá trình thực hiện để em có thể hoàn thành
bài luận văn một cách tốt nhất.

Sinh viên

PHẠM HỒNG NHUNG



LỜI CAM ĐOAN
Tôi tên: PHẠM HỒNG NHUNG

MSSV: 1511271195

Tôi xin cam đoan các số liệu, thông tin sử dụng trong bài Khoá luận tốt nghiệp
này được thu thập từ nguồn tài liệu khoa học chuyên ngành (có trích dẫn đầy đủ và
theo đúng qui định).
Nội dung trong khoá luận KHÔNG SAO CHÉP từ các nguồn tài liệu khác.
Nếu sai sót tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm theo qui định của nhà trường và
pháp luật.
Sinh viên

PHẠM HỒNG NHUNG


DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

Từ viết tắt

Tiếng Việt

Tiếng Anh

BLDS 2015

Bộ luật dân sự năm 2015

LTM 1997


Luật thương mại 1997

LTM 2005

Luật thương mại năm 2005

CISG

Công ước của Liên Hợp Quốc về

United Nations

hợp đồng mua bán hàng hóa
quốc tế (Công ước Viên 1980)

Convention on Contracts
for the International
Sale of Goods ( Vienna
Convention 1980)

UNIDROIT

Bộ nguyên tắc UNIDROIT về Hợp
đồng thương mại quốc tế 2004

PLHĐKT 1989

Pháp lệnh hợp đồng kinh tế ngày
25 tháng 09 năm 1989 ( Pháp lệnh


Principles of International
Commercial Contracts
(PICC)

hợp đồng kinh tế 1989)
PECL

Bộ nguyên tắc chung Châu Âu về
hợp đồng

BTHH

Bồi thường thiệt hại

The Principles of
European Contract Law


MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU ...........................................................................................................1
1. Lý do chọn đề tài ...................................................................................................1
2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài ............................................................................2
3. Phạm vi, đối tƣợng nghiên cứu của đề tài ...........................................................3
4. Phƣơng pháp nghiên cứu ......................................................................................3
5. Kết cấu của khóa luận...........................................................................................4
CHƢƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ BỒI THƢỜNG THIỆT HẠI ĐỐI VỚI
KHOẢN LỢI TRỰC TIẾP ĐÁNG LẼ ĐƢỢC HƢỞNG TRONG THƢƠNG
MẠI

.......................................................................................................................5


1.1 Khái niệm và Đặc điểm của bồi thƣờng thiệt hại trong thƣơng mại .............5
1.1.1 Khái niệm ..........................................................................................................5
1.1.2 Đặc điểm ...........................................................................................................9
1.2 Một số khái niệm về bồi thƣờng thiệt hại đối với khoản lợi trực tiếp đáng lẽ
đƣợc hƣởng trong thƣơng mại ...............................................................................10
1.2.1 Khái niệm khoản lợi trực tiếp đáng lẽ được hưởng trong thương mại ............10
1.2.2 Khái niệm pháp luật về bồi thường thiệt hại đối với khoản lợi trực tiếp đáng lẽ
được hưởng trong thương mại ..................................................................................13
1.3 Nội dung điều chỉnh của pháp luật về bồi thƣờng thiệt hại đối với khoản lợi
trực tiếp đáng lẽ đƣợc hƣởng trong thƣơng mại ..................................................15
1.3.1 Nguồn luật điều chỉnh bồi thường thiệt hại đối với khoản lợi trực tiếp đáng lẽ
được hưởng trong thương mại ..................................................................................15
1.3.2 Nội dung điều chỉnh của pháp luật về bồi thường thiệt hại đối với khoản lợi
trực tiếp đáng lẽ được hưởng trong thương mại .......................................................18


CHƢƠNG 2: THỰC TIỄN BỒI THƢỜNG THIỆT HẠI ĐỐI VỚI KHOẢN
LỢI TRỰC TIẾP ĐÁNG LẼ ĐƢỢC HƢỞNG TRONG THƢƠNG MẠI VÀ
GIẢI PHÁP GÓP PHẦN HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT THƢƠNG MẠI VIỆT
NAM

.....................................................................................................................43

2.1 Thực tiễn bồi thƣờng thiệt hại đối với khoản lợi trực tiếp đáng lẽ đƣợc
hƣởng trong thƣơng mại.........................................................................................43
2.1.1 Căn cứ áp dụng bồi thường thiệt hại đối với khoản lợi trực tiếp đáng lẽ được
hưởng trong thương mại ...........................................................................................44
2.1.2 Cách xác định thiệt hại đối với khoản lợi trực tiếp đáng lẽ được hưởng trong
thương mại ................................................................................................................47

2.2 Giải pháp góp phần hoàn thiện pháp luật về bồi thƣờng thiệt hại đối với
khoản lợi trực tiếp đáng lẽ đƣợc hƣởng trong thƣơng mại .................................50
2.2.1 Sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật về bồi thường thiệt hại đối với khoản
lợi trực tiếp đáng lẽ được hưởng trong thương mại .................................................50
2.2.2 Các yêu cầu đặt ra đối với việc hoàn thiện pháp luật về bồi thường thiệt hại
đối với khoản lợi trực tiếp đáng lẽ được hưởng trong thương mại ..........................51
2.2.3 Giải pháp cụ thể góp phần hoàn thiện pháp luật về bồi thường thiệt hại đối
với khoản lợi trực tiếp đáng lẽ được hưởng trong thương mại ................................52
KẾT LUẬN ..............................................................................................................56
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ...............................................................59


LỜI NÓI ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Nền kinh tế Việt Nam trong giai đoạn hiện nay được xây dựng và phát triển
dựa trên nền tảng, đường lối, chính sách của Đảng và nhà nước, đó là sự phát triển
nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, trên cơ sở đẩy mạnh công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Đảng ta đã khẳng định được đường lối phát triển
đúng đắn khi đưa đất nước ta từ một nước với nền nông nghiệp lạc hậu chuyển
mình thành một đất nước có nền kinh tế đa dạng, phong phú, kết hợp được sức
mạnh bên trong và sự hỗ trợ bên ngoài. Đặc biệt trong những năm gần đây, nền kinh
tế nước ta đang thay đổi từng ngày góp phần quan trọng cho sự phát triển của đất
nước. Nền kinh tế tự cung tự cấp biến mất, thay vào đó là các giao dịch thương mại
từ đơn giản, nhỏ lẻ cho đến các hợp đồng xuất nhập khẩu hàng hóa có giá trị lớn,
xuyên quốc gia. Cùng với những hoạt động thương mại đó là sự giao kết hợp đồng
giữa các bên . Khi một hợp đồng được xác lập và có hiệu lực pháp luật thì quyền và
nghĩa vụ của các bên thỏa thuận trong hợp đồng luôn được nhà nước thừa nhận, bảo
vệ. Việc vi phạm các nghĩa vụ trong hợp đồng như không thực hiện nghĩa vụ hoặc
thực hiện không đúng, không đầy đủ sẽ làm xâm hại đến các quyền, lợi ích hợp
pháp của đối tác hợp đồng. Khi xác lập hợp đồng, thông thường các bên sẽ tự giác

thực hiện đầy đủ các điều khoản mà họ đã tự nguyện cam kết. Tuy nhiên trong một
số trường hợp, vì những lý do chủ quan hoặc khách quan mà bên có nghĩa vụ không
thực hiện đúng nghĩa vụ đã cam kết, gây thiệt hại cho bên có quyền trong quan hệ
hợp đồng. Để khắc phục hậu quả bất lợi do hành vi vi phạm hợp đồng của bên có
nghĩa vụ mang lại, pháp luật các quốc gia đều dự liệu một biện pháp giúp bên bị
thiệt hại khắc phục những hậu quả mà hành vi vi phạm hợp đồng của bên có nghĩa
vụ gây ra đó là bồi thường thiệt hại. Năm 1989 Pháp lệnh hợp đồng kinh tế ra đời,
sau đó là Luật thương mại Việt Nam 1997, đến năm 2005 Luật thương mại được
ban hành thay thế Luật thương mại 1997. Luật thương mại 2005 ra đời đã đưa ra
những quy định cụ thể khi giao kết hợp đồng nhằm bảo vệ lợi ích cho các bên liên
quan trong quan hệ thương mại đã đánh dấu một bước phát triển lớn trong chặng
đường xây dựng và hoàn chỉnh hệ thống pháp luật thương mại nước ta. Trong thực
tiễn, những tranh chấp về kinh doanh thương mại rất phổ biến buộc các bên phải áp
dụng các biện pháp xử lý vi phạm để bảo vệ quyền và lợi ích của mình, trong đó
bồi thường thiệt hại là một trong những biện pháp được các bên áp dụng khá phổ
biến . Đặc biệt bồi thường thiệt hại đối với khoản lợi trực tiếp đáng lẽ được hưởng
trong thương mại là một khoản bồi thường khó xác định. Do đó, đề tài “Pháp luật về

1


bồi thường thiệt hại đối với khoản lợi trực tiếp đáng lẽ được hưởng trong thương
mại” với mong muốn làm rõ những quy định của pháp luật thương mại Việt Nam về
bồi thường thiệt hại đối với khoản lợi trực tiếp, thực tiễn áp dụng pháp luật bồi
thường thiệt hại đối với khoản lợi trực tiếp đáng lẽ được hưởng trong thương mại
trên cơ sở nghiên cứu các quy định của Luật thương mại Việt Nam 2005, Công ước
của Liên Hợp Quốc năm 1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế ( Công ước
Vienna 1980 ), Bộ nguyên tắc UNIDROIT, các vụ việc thực tiễn và các tài liệu khác
có liên quan đến bồi thường thiệt hại đối với khoản lợi trực tiếp đáng lẽ được hưởng
để từ đó hiểu rõ và áp dụng các quy định của pháp luật một cách có hiệu quả trong

quá trình giao kết và thực hiện hợp đồng . Qua đó đưa ra một số khuyến nghị, giải
pháp góp phần hoàn thiện hơn pháp luật thương mại Việt Nam .
2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Đối với khía cạnh bồi thường thiệt hại, ở Việt Nam đã có một số công trình
nghiên cứu như: Nguyễn Phú Cường (2009), Bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp
đồng trong kinh doanh - thương mại; Quách Thúy Quỳnh (2005), Pháp luật về
BTTH do vi phạm hợp đồng trong kinh doanh –thực trạng và phương hướng hoàn
thiện; Trần Trung Hiếu (2014), Bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng theo Luật
thương mại Việt Nam. Trong các công trình nghiên cứu trên đều nghiên cứu về
pháp luật về bồi thường thiệt hại, tuy nhiên chưa có đề tài nào nghiên cứu cụ thể về
bồi thường thiệt hại đối với khoản lợi trực tiếp đáng lẽ được hưởng trong thương
mại. Đây là luận văn đầu tiên nghiên cứu về vấn đề này . Mục tiêu nghiên cứu của
khóa luận là thông qua việc nghiên cứu các vấn đề lý luận và thực tiễn các quy định
của pháp luật Việt Nam về bồi thường thiệt hại đối với khoản lợi trực tiếp đáng lẽ
được hưởng trong thương mại, trên cơ sở so sánh, đối chiếu với các quy định của
một số văn bản quốc tế nhằm góp phần làm rõ và phong phú thêm về cơ sở lý luận,
thực tiễn và pháp lý của vấn đề bồi thường thiệt hại đối với khoản lợi trực tiếp đáng
lẽ được hưởng, tiếp thu, chọn lọc những điểm tiến bộ trong pháp luật quốc tế, đồng
thời đưa ra những kiến nghị cụ thể để sửa đổi, bổ sung các quy định còn bất cập,
thiếu sót trong pháp luật thương mại Việt Nam .

2


3. Phạm vi, đối tƣợng nghiên cứu của đề tài
Phạm vi nghiên cứu:
Thứ nhất, trên cơ sở những quy định của pháp luật về bồi thường thiệt hại đối
với khoản lợi trực tiếp đáng lẽ được hưởng trong thương mại, khóa luận sẽ tập trung
nghiên cứu và làm rõ cơ sở lý luận về bồi thường thiệt hại đối với khoản lợi trực
tiếp đáng lẽ được hưởng trong thương mại.

Thứ hai, khóa luận tập trung làm rõ các quy định của Luật thương mại 2005 và
một số văn bản pháp luật quốc tế có liên quan đến bồi thường thiệt hại đối với
khoản lợi trực tiếp đáng lẽ được hưởng trong thương mại. Qua đó nhằm làm rõ
những điểm tương thích, hạn chế trong pháp luật thương mại Việt Nam về bồi
thường thiệt hại đối với khoản lợi trực tiếp đáng lẽ được hưởng trong thương mại.
Đối tượng nghiên cứu trong đề tài này là các quy định của pháp luật về bồi
thường thiệt hại đối với khoản lợi trực tiếp đáng lẽ được hưởng trong thương mại
theo pháp luật thương mại Việt Nam và các văn bản pháp luật quốc tế. Bên cạnh đó
một số bản án của Tòa án Việt Nam cũng sẽ được sử dụng nghiên cứu trong khóa
luận nhằm minh họa cho các kết quả nghiên cứu.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
Đề tài “Pháp luật về bồi thường thiệt hại đối với khoản lợi trực tiếp đáng lẽ
được hưởng trong thương mại” đã dựa trên quan điểm của Chủ Nghĩa Mác- Lê Nin,
tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước về pháp luật.
Đề tài đã sử dụng kết hợp nhiều phương pháp như phương pháp thống kê để hệ
thống hóa các quy định của pháp luật, phương pháp tổng hợp được dùng trong việc
tổng hợp các quy định, thông tin, dữ liệu liên quan đến đề tài. Đồng thời đề tài cũng
sử dụng phương pháp phân tích để làm rõ các quy định của pháp luật, phương pháp
so sánh để hiểu rõ hơn các quy định về bồi thường thiệt hại đối với khoản lợi trực
tiếp đáng lẽ được hưởng trong pháp luật thương mại Việt Nam so với các văn bản
pháp luật quốc tế như Công ước Vienna 1980, Bộ nguyên tắc UNIDROIT và các
văn bản pháp luật khác có liên quan .

3


5. Kết cấu của khóa luận
Phần mở đầu : Lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu của đề tài, phạm vi, đối
tượng nghiên cứu của đề tài, phương pháp nghiên cứu, kết cấu của khóa luận .
Phần nội dung:

Chương 1 : Lý luận chung về bồi thường thiệt hại đối với khoản lợi trực tiếp đáng lẽ
được hưởng trong thương mại.
Chương 2: Thực tiễn bồi thường thiệt hại đối với khoản lợi trực tiếp đáng lẽ được
hưởng trong thương mại và giải pháp góp phần hoàn thiện pháp luật thương mại
Việt Nam
Kết luận
Danh mục tài liệu tham khảo
Phụ lục

4


CHƢƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ BỒI THƢỜNG THIỆT HẠI ĐỐI
VỚI KHOẢN LỢI TRỰC TIẾP ĐÁNG LẼ ĐƢỢC HƢỞNG TRONG
THƢƠNG MẠI
1.1 Khái niệm và Đặc điểm của bồi thƣờng thiệt hại trong thƣơng mại
1.1.1 Khái niệm
Mỗi người sinh ra trong xã hội đều có những mục đích sống của riêng mình và
trong bất cứ quan hệ nào cũng đều muốn bảo vệ lợi ích của mình. Tuy nhiên, mỗi
người được sinh ra và tồn tại trên đời đều có quyền bình đẳng như nhau, có quyền
và lợi ích như nhau, tôn trọng những quy tắc chung của xã hội, tuân thủ pháp luật và
được pháp luật bảo vệ nếu có chủ thể vì lợi ích của mình mà cố tình xâm phạm trái
pháp luật đến lợi ích chủ thể khác.
Trong quan hệ hợp đồng, sự vi phạm nghĩa vụ của một bên gây thiệt hại cho
bên còn lại sẽ làm ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích của bên kia. Khi một chủ thể vi
phạm những nghĩa vụ pháp lý và gây thiệt hại cho một chủ thể khác thì chủ thể gây
ra vi phạm phải chịu những hậu quả bất lợi do mình gây ra. Sự gánh chịu một hậu
quả bất lợi bằng việc bù đắp tổn thất cho chủ thể khác được gọi là bồi thường thiệt
hại.
Do đó, khi có thiệt hại xảy ra do hành vi vi phạm làm phát sinh trách nhiệm

bồi thường thiệt hại thì bên vi phạm gây thiệt hại phải bù đắp những lợi ích vật chất,
quyền lợi chính đáng mà bên kia đáng lẽ phải được hưởng .
Trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay, các quy phạm pháp luật thương mại
quốc gia ngày càng được hài hòa hóa với những quy phạm luật quốc tế về thương
mại1. Pháp luật thương mại luôn đặt ra yêu cầu hoàn thiện, nhằm điều chỉnh kịp thời
các quan hệ kinh doanh - thương mại không những trong nước mà còn ở ngoài
nước, trong đó có chế định về bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng. Bồi
thường thiệt hại là hình thức trách nhiệm do không thực hiện hay thực hiện không
đúng nghĩa vụ trong hợp đồng gây tổn thất cho một bên và được áp dụng phổ biến
trong hệ thống pháp luật của hầu hết các nước trên thế giới.
Pháp luật nhiều nước trên thế giới cũng quy định bồi thường thiệt hại là một
biện pháp mà bên bị vi phạm áp dụng để bảo vệ quyền lợi của mình, bắt buộc bên vi
1

Mai Hồng Qùy, Trần Việt Dũng (2012), Luật thương mại quốc tế, NXB. Đại học quốc gia TP.HCM, tr.13

5


phạm phải bồi hoàn những tổn thất mà mình bị xâm phạm. Hệ thống pháp luật Châu
Âu lục địa như Pháp, Nga quy định bồi thường thiệt hại và phạt vi phạm là hai hình
thức trách nhiệm do vi phạm hợp đồng, nhưng đối với pháp luật các nước thông luật
như Anh, Mỹ thì bồi thường thiệt hại là chế tài được sử dụng chủ yếu, trong trường
hợp chưa đến mức hủy bỏ hợp đồng, họ cho rằng áp dụng biện pháp này sẽ hợp lý,
khả thi và tiện lợi cho các bên trong hợp đồng 2.
Với nhu cầu phát triển của xã hội, để đảm bảo quyền được bảo vệ tính mạng,
sức khỏe, danh dự, uy tín, tài sản là một quyền tuyệt đối của mọi công dân, tổ chức
thì Nhà nước bắt buộc mọi người đều phải tôn trọng các quyền đó của các chủ thể
khác, không được thực hiện bất cứ hành vi nào xâm phạm đến các quyền của họ,
nếu vi phạm mà gây thiệt hại thì phải bồi thường. Xuất phát từ mục đích đó, cho

nên dù được quy định dưới các góc độ và phạm vi khác nhau nhưng bồi thường
thiệt hại đều có thể hiểu là một loại quan hệ dân sự phát sinh do lỗi cố ý hoặc vô ý,
xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản và các
quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức thì người gây thiệt hại phải bồi thường
cho người bị thiệt hại cả thiệt hại về vật chất và thiệt hại về tinh thần3.
Bồi thường thiệt hại trong pháp luật thương mại được quy định là một trong
những hình thức chế tài, tuy nhiên những quy định liên quan đến bồi thường thiệt
hại được thể hiện dưới nhiều hình thức pháp luật khác nhau trong pháp luật thương
mại.
Theo quy định của BLDS về trách nhiệm bồi thường thiệt hại nói chung và về
trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng nói riêng đều không nêu rõ khái
niệm trách nhiệm bồi thường thiệt hại mà chỉ nêu cơ sở phát sinh trách nhiệm,
nguyên tắc bồi thường, năng lực chịu trách nhiệm,.. Qua các điều khoản khác nhau
của Bộ luật dân sự, chúng ta có thể hiểu bồi thường thiệt hại là trách nhiệm dân sự
do vi phạm nghĩa vụ dân sự. Còn đối với LTM 2005, tại khoản 1 Điều 302 có quy
định về bồi thường thiệt hại như sau: “Bồi thường thiệt hại là việc bên vi phạm bồi
thường những tổn thất do hành vi vi phạm hợp đồng gây ra cho bên bị vi phạm”.
Theo tác giả Nguyễn Thị Dung, bồi thường trong khoa học pháp lý có thể được khái

2

Lê Thị Diễm Phương (2009), Hoàn thiện chế định phạt vi phạm trong pháp luật hợp đồng thương mại Việt
Nam, tr.25
3
Hội đồng phối hợp, phổ biến, giáo dục pháp luật của Chính Phủ (2010), Luật trách nhiệm bồi thường của
nhà nước, Đặc san tuyên truyền pháp luật, Hà Nội, tr.2

6



quát như một chế tài tiền tệ dùng để bù đắp những thiệt hại thực tế cho bên bị thiệt
hại4.
Qua phân tích các quy định của BLDS và LTM ta thấy, BTTH trong BLDS
được hiểu như trách nhiệm dân sự, còn theo LTM là chế tài. Chế tài trước tiên phải
được hiểu là “một phần của quy phạm pháp luật, chỉ ra các biện pháp mang tính
chất trừng phạt mà các chủ thể có thẩm quyền áp dụng quy phạm có thể áp dụng đối
với các chủ thể vi phạm pháp luật, không thực hiện đúng những mệnh lệnh đã được
nêu trong phần quy định của quy phạm pháp luật”. Chế tài là một trong những biện
pháp quan trọng để đảm bảo cho các quy định của pháp luật được thực hiện nghiêm
minh, thể hiện thái độ của nhà nước đối với các chủ thể có hành vi vi phạm pháp
luật5.
Tác giả Ngô Huy Cương cũng nêu: Trách nhiệm dân sự - đó là những chế tài
đối với vi phạm nghĩa vụ mà việc áp dụng những chế tài đó sẽ dẫn đến hậu quả
pháp lý bất lợi cho bên vi phạm dưới hình thức tước quyền dân sự ( như tước quyền
sở hữu, tước quyền thừa kế,..) hoặc bằng hình thức đặt ra cho họ những nghĩa vụ
mới hoặc nghĩa vụ bổ sung như nghĩa vụ BTTH, nộp phạt vi phạm hoặc trả tiền lãi
đối với khoản nợ chậm trả”6. Vậy giữa chế tài và trách nhiệm pháp lý có mối quan
hệ với nhau, trong đó chế tài là hình thức thể hiện của trách nhiệm pháp lý, còn
trách nhiệm pháp lý là nội dung của chế tài. Sau khi xác định được trách nhiệm
pháp lý mới áp dụng chế tài để thực hiện trách nhiệm pháp lý, chủ thể chịu trách
nhiệm pháp lý bị áp dụng chế tài tương ứng với hành vi vi phạm. Như vậy, bồi
thường thiệt hại nói chung có thể hiểu là chế tài, cũng có thể hiểu là trách nhiệm
dân sự.
Bồi thường thiệt hại trong thương mại dựa trên cơ sở có sự giao kết hợp đồng,
dù các bên tham gia trong hợp đồng không có điều khoản thỏa thuận về bồi thường
thiệt hại nhưng nếu có hành vi vi phạm của một bên gây thiệt hại cho bên còn lại thì
bên vi phạm vẫn phải có trách nhiệm bồi thường cho bên bị vi phạm . Cơ sở pháp lý
về bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng, Luật thương mại 2005 quy định khá
cụ thể. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại phát sinh khi có “hành vi vi phạm hợp
đồng”( tức một trường hợp của không thực hiện đúng nghĩa vụ hợp đồng .Tuy

4

Nguyễn Thị Dung (2001), Áp dụng trách nhiệm hợp đồng trong kinh doanh, NXB. Chính trị quốc gia Hà
Nội, tr.93
5
Trường Đại học Luật Hà Nội (2005), Giáo trình lý luận nhà nước và pháp luật, NXB. Tư pháp, Hà Nội,
tr.391
6
Ngô Huy Cương (2009), Trách nhiệm dân sự - So sánh và phê phán, Tạp chí lập pháp số 5

7


nhiên, trong lĩnh vực thương mại, hành vi vi phạm hợp đồng không đơn thuần chỉ là
vi phạm những quy định do nhà nước ban hành mà còn là vi phạm những cam kết
từ hợp đồng thương mại. Vì bản thân các hợp đồng thương mại, một khi hợp đồng
đã được xác lập phù hợp với ý chí của nhà nước thì nó sẽ có hiệu lực như pháp luật
đối với các bên giao kết, và từ thời điểm đó các bên bắt buộc phải thực hiện những
nghĩa vụ đã thỏa thuận trong hợp đồng. Do đó, bên nào có hành vi vi phạm những
cam kết từ hợp đồng thương mại thì điều tất yếu là họ sẽ phải gánh chịu những biện
pháp chế tài do pháp luật thương mại quy định.
Trong dân sự còn có trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng nghĩa là
các bên dù không có giao kết hợp đồng trước đó nhưng khi xảy ra tranh chấp gây
thiệt hại thì bên bị thiệt hại có quyền yêu cầu bên gây ra thiệt hại phải bồi thường.
Nói chung, bồi thường thiệt hại trong hợp đồng và bồi thường thiệt hại ngoài hợp
đồng đều là trách nhiệm dân sự, được áp dụng khi có hành vi vi phạm, có thiệt hại
xảy ra và mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm và thiệt hại. Thiệt hại đó có
thể là thiệt hại về vật chất và cũng có thể là thiệt hại về tinh thần, nhằm bù đắp
những tổn thất mà một bên hay nhiều bên phải gánh chịu do hành vi vi phạm của
bên kia. Trong đó, bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng được áp dụng khi một bên

có hành vi vi phạm nghĩa vụ do pháp luật quy định xâm phạm đến quyền và lợi ích
hợp pháp của bên khác thì phải bồi thường thiệt hại do mình gây ra, giữa các bên
không tồn tại mối quan hệ hợp đồng. Còn bồi thường thiệt hại trong hợp đồng được
áp dụng khi giữa các bên tồn tại một quan hệ hợp đồng mà một bên có hành vi vi
phạm nghĩa vụ trong hợp đồng gây ra thiệt hại cho bên kia thì phải chịu trách nhiệm
bồi thường những tổn thất mà mình đã gây ra.
Bồi thường thiệt hại trong hợp đồng, cụ thể Bộ luật Dân sự năm 2015 có quy
định nếu trong hợp đồng không có thỏa thuận về việc bồi thường thiệt hại mà có
thỏa thuận về phạt vi phạm thì chỉ được áp dụng phạt vi phạm, còn nếu không có
thỏa thuận về cả phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại thì chỉ bồi thường thiệt hại
được áp dụng. Đối với LTM 2005 thì bồi thường thiệt hại được áp dụng ngay cả khi
không có thỏa thuận trong hợp đồng, bởi nguyên tắc bồi thường trong thương mại
dựa vào tổn thất thực tế nghĩa là dù không có thỏa thuận trước trong hợp đồng
nhưng nếu một bên có hành vi vi phạm gây ra tổn thất thực tế, trực tiếp cho bên còn
lại thì sẽ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại. Hầu như trong mọi quan hệ hợp
đồng hành vi vi phạm hợp đồng của một bên là yếu tố bắt buộc, là điều kiện đầu
tiên không thể thiếu để bên còn lại có căn cứ để đòi bồi thường thiệt hại. Tuy nhiên

8


để đòi được bên kia bồi thường thiệt hại thì trước tiên bên bị vi phạm phải chứng
minh được bên vi phạm đã có hành vi vi phạm hợp đồng. Thông thường thì sau khi
hết hạn thực hiện nghĩa vụ sẽ có cơ sở để khẳng định một bên trong hợp đồng có
hành vi vi phạm hợp đồng hay không, dựa trên những gì mà họ đã thể hiện.
Từ những phân tích trên có thể hiểu bồi thường thiệt hại là một hình thức chế
tài được áp dụng cho bên vi phạm, theo đó bên vi phạm phải bồi thường những tổn
thất cho bên bị vi phạm do hành vi vi phạm hợp đồng của mình gây ra, trừ các
trường hợp được miễn trách nhiệm 7.
1.1.2 Đặc điểm

- Thứ nhất, bồi thường thiệt hại trong thương mại xuất phát từ hành vi vi phạm
hợp đồng
Điều này có nghĩa là giữa hai bên - bên vi phạm và bên bị thiệt hại phải tồn tại một
quan hệ hợp đồng có hiệu lực và sự thiệt hại đó phải do hành vi không thực hiện
hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trong hợp đồng. Như vậy, khi có thiệt hại xảy
ra do hành vi vi phạm, bên bị thiệt hại muốn yêu cầu bên gây ra thiệt hại bồi thường
cho mình thì trước đó hai bên phải có giao kết hợp đồng với nhau. Có thể nói hợp
đồng là nền tảng để bên bị thiệt hại có thể yêu cầu bên vi phạm gây ra thiệt hại phải
bồi thường .
-

Thứ hai, chủ thể có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại trong thương mại là
bên bị vi phạm

Hợp đồng thương mại một khi đã được xác lập hợp pháp thì sẽ có hiệu lực đối với
các bên giao kết, và điều đặc biệt đó là nó chỉ có hiệu lực riêng đối với các bên
trong hợp đồng đó mà thôi. Vì hợp đồng được xác lập dựa trên nguyên tắc dung hòa
lợi ích giữa các bên, cho nên việc các bên thực hiện đúng và đầy đủ các cam kết
trong hợp đồng sẽ là một yêu cầu bắt buộc để đáp ứng những quyền lợi tương ứng
cho phía bên kia, nếu có hành vi vi phạm hợp đồng xảy ra thì điều tất yếu là nó sẽ
ảnh hưởng trực tiếp tới quyền lợi của bên bị vi phạm8. Do đó, pháp luật thương mại
trao quyền cho bên bị vi phạm được yêu cầu bồi thường thiệt hại để bảo vệ lợi ích
chính đáng của mình.
7

Nguyễn Thị Thanh Nữ (2013), Chế tài bồi thường thiệt hại trong luật thương mại 2005 khóa luận tốt
nghiệp, Đại học Luật TP.HCM, tr.10
8
Đỗ Trần Hà Linh (2009), Chế tài bồi thường thiệt hại trong hoạt động thương mại, khóa luận tốt nghiệp cử
nhân luật, Đại học Luật TP.HCM, tr. 15


9


-

Thứ ba, bồi thường thiệt hại trong thương mại chỉ áp dụng khi có thiệt hại
thực tế xảy ra

Bồi thường thiệt hại không phải là một sự trừng phạt mà là biện pháp nhằm bù đắp
những tổn thất do hành vi vi phạm gây ra, nhằm khôi phục lại tình trạng như khi
không có sự vi phạm. Chính vì thế, bồi thường thiệt hại chỉ được áp dụng khi hành
vi vi phạm đã gây ra thiệt hại thực tế. Thiệt hại thực tế là những thiệt hại có thể tính
toán được một cách tương đối hợp lý mà bên bị vi phạm phải chịu do hành vi vi
phạm hợp đồng của bên kia. Đây cũng là một trong những căn cứ để có thể áp dụng
bồi thường thiệt hại trong thương mại.
-

Thứ tư, bồi thường thiệt hại giúp cân bằng quan hệ lợi ích của các bên được
pháp luật bảo vệ, góp phần ngăn ngừa các hành vi vi phạm

Khi đã tham gia vào hoạt động thương mại, một điều tất yếu là các thương
nhân đều mong muốn đạt được những lợi nhuận đã dự tính trước, không ai muốn lợi
ích của mình bị xâm phạm do hành vi vi phạm hợp đồng của bên kia. Tuy nhiên
trong thực tế vì rất nhiều lý do việc vi phạm cam kết trong hợp đồng vẫn thường
xảy ra và bên bị vi phạm phải gánh chịu những tổn thất từ hành vi vi phạm đó. Vì
vậy, để góp phần khôi phục lại lợi ích kinh tế cho bên bị vi phạm, đảm bảo cho các
quan hệ kinh doanh thương mại ổn định, công bằng lợi ích giữa đôi bên, pháp luật
đã đặt ra quy định cho bên bị vi phạm có quyền đòi bồi thường thiệt hại do hành vi
vi phạm của bên kia gây ra.

1.2 Một số khái niệm về bồi thƣờng thiệt hại đối với khoản lợi trực tiếp đáng lẽ
đƣợc hƣởng trong thƣơng mại
1.2.1 Khái niệm khoản lợi trực tiếp đáng lẽ được hưởng trong thương mại
Khoản lợi trực tiếp đáng lẽ được hưởng là một trong những khoản thiệt hại
được bên bị vi phạm yêu cầu bồi thường do hành vi vi phạm của bên vi phạm gây
ra. Thiệt hại đối với khoản lợi trực tiếp đáng lẽ được hưởng là thiệt hại do hậu quả
của hành vi vi phạm do bên vi phạm hợp đồng gây ra. Tức là nếu các bên thực hiện
đúng với những gì các bên đã thỏa thuận, cam kết trong hợp đồng thì mục đích của
việc giao kết hợp đồng mà các bên đã dự tính ngay từ ban đầu khi tham gia giao kết
hoàn toàn có thể đạt được.

10


Hiện nay pháp luật chưa đưa ra một khái niệm nào về khoản lợi trực tiếp mà
bên bị vi phạm đáng lẽ được hưởng là gì và căn cứ nào để xác định thiệt hại đối với
khoản lợi này. Đặc trưng cơ bản nhất trong các hoạt động thương mại đó là các bên
khi giao kết hợp đồng đều hướng đến mục đích lợi nhuận. Nhưng do hành vi vi
phạm hợp đồng của một bên gây thiệt hại nên lợi nhuận của bên bị thiệt hại cũng sẽ
bị ảnh hưởng, khoản lợi trực tiếp đáng lẽ được hưởng cũng là một trong số những
thiệt hại đó. Có thể hiểu đơn giản khoản lợi trực tiếp là một khoản tiền lời mà một
bên trong hợp đồng bán lại cho bên thứ ba với giá cao hơn, đây cũng được xem là
một khoản lợi nhuận mà một bên đã dự tính được khi giao kết hợp đồng.
Tuy không giống như những thiệt hại về chất lượng hàng hóa, hay giao thiếu
hàng, rõ ràng là những thiệt hại thực tế và có thể kiểm định, tính toán được mức độ
thiệt hại để có thể yêu cầu bên vi phạm bồi thường. Trái lại thiệt hại đối với khoản
lợi trực tiếp đáng lẽ được hưởng phải dựa trên những chứng từ, hợp đồng mà bên bị
vi phạm đã ký với bên thứ ba để xem xét có đúng mục đích của việc giao kết hợp
đồng mà bên bị vi phạm đã ký kết không và hành vi vi phạm của bên vi phạm đã
ảnh hưởng mức độ như thế nào đến khoản lợi trực tiếp mà bên bị vi phạm đáng lẽ

được hưởng .
Khoản lợi trực tiếp mà bên bị vi phạm đáng lẽ được hưởng nếu không có hành
vi vi phạm được quy định tại khoản 2 Điều 302 Luật thương mại 2005 về giá trị bồi
thường thiệt hại. Tuy nhiên LTM 2005 không đưa ra khái niệm về khoản lợi trực
tiếp đáng lẽ được hưởng trong thương mại là gì mà chỉ thông qua những tranh chấp
trong thực tiễn để có thể hiểu một cách khái quát về khoản lợi này. Xem xét ví dụ
sau để hiểu rõ hơn về khoản lợi trực tiếp này là gì, khi có tranh chấp xảy ra thì yêu
cầu bồi thường đối với khoản lợi này ra sao.
Ví dụ 1: Sắp đến dịp Tết Nguyên Đán nên nhu cầu mua hàng hóa của mọi người
càng tăng đặc biệt đối với các mặt hàng bánh kẹo, nhận thấy được nhu cầu đó của
khách hàng nên Công ty TNHH A đã ký hợp đồng mua một số nguyên liệu để sản
xuất bánh kẹo của Công ty Cổ Phần B và hai bên có thỏa thuận thời hạn giao hàng
là vào ngày 1/12/2017 để Công ty TNHH A kịp sản xuất và bán hàng được thuận
lợi. Nhưng do một số lý do về tranh chấp giữa nhân viên trong công ty về việc trả
lương nên nhiều nhân viên đã nghỉ làm dẫn đến hoạt động sản xuất của công ty bị
trì trệ nên Công ty Cổ Phần B đã giao chậm hàng cho Công ty TNHH A, đến ngày
20/1/2017 mới giao hàng. Điều này làm cho Công ty TNHH A không có cơ hội bán
hàng được nhiều, do đó sau dịp Tết thì lượng mua hàng lại giảm sút và hơn nữa thời
11


điểm Công ty TNHH A bán hàng ra thị trường giá đã bị giảm đáng kể, cụ thể đối
với một số sản phẩm bánh giảm 1000 đồng/gói, một số sản phẩm khác giảm 800
đồng/ gói so với thời điểm bán hàng dự kiến. Công ty A đã yêu cầu Công ty B bồi
thường các khoản thiệt hại bao gồm tiền lương công nhân, ngừng sản xuất do không
có nguyên liệu để sản xuất, lợi nhuận bị giảm sút và một số chi phí khác.
Rõ ràng trong ví dụ trên có thể thấy được hành vi vi phạm của Công ty B, cụ
thể là chậm giao hàng đã làm cho Công ty A mất đi cơ hội bán được hàng và giá
bán sau tết đã bị giảm sút. Giả sử nếu Công ty B giao hàng như đúng thời hạn đã
thỏa thuận với Công ty A thì thực tế là A sẽ có cơ hội bán được nhiều hàng hơn và

giá thị trường vào thời điểm đó cũng sẽ mang lại nhiều lợi nhuận hơn cho A. Do đó,
hành vi vi phạm của Công ty B đã ảnh hưởng đến lợi nhuận của A. Tuy nhiên lợi
nhuận mà A bị mất đó có phải là khoản lợi trực tiếp mà A đáng lẽ được hưởng nếu
không có hành vi vi phạm của B không thì vấn đề này còn nhiều tranh cãi trên thực
tế, bởi nếu trong trường hợp B không giao hàng cho A làm cho A không có kịp
hàng để bán dẫn đến A phải mua hàng ở một nơi khác với giá cao hơn thì lúc này
khoản tiền chênh lệch mà A mua của một đối tác khác cao hơn so với mua của B
mới được xem là khoản lợi trực tiếp mà A đáng lẽ được hưởng nếu không có hành
vi vi phạm của B. Vì vậy trong tình huống trên việc yêu cầu bồi thường đối với các
khoản thiệt hại như tiền lương công nhân, ngừng sản xuất,... không được xem là các
khoản lợi trực tiếp mà A đáng lẽ được hưởng nếu không có hành vi vi phạm của B .
Ví dụ 2: Thương nhân A ký hợp đồng mua tiêu của thương nhân B để bán lại cho
Công ty C và trong hợp đồng hai bên có thỏa thuận cụ thể thời gian giao hàng là
vào ngày 1/3/2018, địa điểm giao hàng tại cơ sở của thương nhân A và giá cũng như
phương thức thanh toán cũng được hai bên thoản thuận rõ ràng . Vào thời điểm đó,
Thương nhân A mua tiêu của thương nhân B với giá là 77.000 đồng/kg và A cũng
đã ký hợp đồng bán cho C với giá 80.000 đồng/kg. Đến ngày giao hàng nhưng A
không thấy B giao hàng cho mình, liên lạc với B cũng không thấy B giao hàng cho
mình, đợi mãi đến một tuần sau không thấy phản hồi gì từ B nên A đã đi mua một
lô hàng khác của D với giá 80.000 đồng /kg để kịp thời gian giao hàng cho C. Sau
khi đã giao hàng cho C, A yêu cầu B phải bồi thường thiệt hại do đã vi phạm chậm
giao hàng dẫn tới A phải mua hàng nơi khác với giá cao hơn để giao cho C .
Như vậy, yêu cầu bồi thường của A trong tình huống này là phù hợp với thực
tế bởi hành vi vi phạm của B đã làm A mất thêm 3.000 đồng/kg để mua hàng của D
và khiến cho lợi nhuận so với tính toán ban đầu A dự định bán cho C cũng đã bị
12


giảm sút 3.000 đồng/kg. Điều này làm cho A bị mất một khoản lợi trực tiếp mà
đáng lẽ ra được hưởng nếu bán hàng cho C nhưng do B không giao hàng đúng hạn

đã khiến cho A phải mua hàng từ một nơi khác với giá cao hơn để giao cho C nên A
không nhận được khoản lợi đó. Vì vậy số tiền 3.000 đồng/kg ở đây chính là khoản
tiền lời mà hay nói cách khác đó là khoản lợi trực tiếp mà lẽ ra A sẽ được hưởng từ
việc bán hàng cho C. Tuy nhiên do hành vi vi phạm của B nên A đã không được
nhận khoản lợi trực tiếp đáng lẽ được hưởng này, do đó việc bên A yêu cầu bên B
bồi thường đối với khoản lợi này là hợp lý .
Qua hai tình huống trên có thể phần nào hiểu được khoản lợi trực tiếp đáng lẽ
được hưởng trong thương mại là gì, làm thế nào khi xảy ra thiệt hại thì có thể biết
được đó là thiệt hại đối với khoản lợi trực tiếp mà bên bị vi phạm đáng lẽ được
hưởng nếu không có hành vi vi phạm của bên vi phạm để từ đó các bên sẽ có được
những kiến thức cần thiết để tránh vi phạm xảy ra và nếu lỡ đã xảy ra thì cũng sẽ có
những kinh nghiệm để có thể đưa ra những yêu cầu bồi thường hợp lý, dễ dàng
được chấp thuận, tránh mất thời gian, công sức, tiền bạc cho các bên .
1.2.2 Khái niệm pháp luật về bồi thường thiệt hại đối với khoản lợi trực tiếp
đáng lẽ được hưởng trong thương mại
Khoản lợi trực tiếp đáng lẽ được hưởng là một trong những khoản thiệt hại
được liệt kê tại khoản 2 Điều 302 LTM 2005. Để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp
của các bên trong quan hệ hợp đồng thương mại, việc tính toán, xác định thiệt hại
đối với khoản lợi trực tiếp có ý nghĩa hết sức quan trọng. Việc tính toán và đưa ra
những chứng cứ chứng minh thiệt hai đối với khoản lợi trực tiếp là căn cứ để cơ
quan tiến hành tố tụng buộc bên vi phạm hợp đồng thực hiện trách nhiệm bồi
thường thiệt hại cho bên bị vi phạm. LTM 2005 không đưa ra những quy định như
khái niệm hay các căn cứ để xác định thiệt hại đối với khoản lợi trực tiếp đáng lẽ
được hưởng mà chỉ quy định chung nhất về giá trị bồi thường thiệt hại trong đó bao
gồm khoản lợi trực tiếp. Đối với quy định về khoản lợi trực tiếp đáng lẽ được
hưởng, LTM 2005 đã đưa ra quy định hợp lý hơn LTM 1997. Cụ thể, trong quy
định của LTM 1997 về khoản lợi đáng lẽ được hưởng không có từ “trực tiếp” dẫn
đến việc hiểu không nhất quán trong các quy định của pháp luật, theo đó khoản lợi
đáng lẽ được hưởng này là khoản lợi trực tiếp hay gián tiếp. Khi ban hành LTM
2005, các nhà làm luật đã bổ sung thêm cụm từ “trực tiếp” vào cụm từ “khoản lợi

đáng lẽ được hưởng” là cần thiết vì như vậy sẽ giúp quy định rõ ràng hơn.

13


Luật thương mại 2005 không đưa ra các căn cứ pháp lý cụ thể để xác định
thiệt hại đối với khoản lợi trực tiếp này, do đó việc xác định thiệt hại là nghĩa vụ
của bên yêu cầu bồi thường thiệt hại. Khoản lợi trực tiếp cũng là một trong những
lợi ích của các bên trong giao kết hợp đồng, vì vậy khi một bên gây ra thiệt hại đối
với khoản lợi trực tiếp mà bên kia đáng lẽ được hưởng thì phải có trách nhiệm bồi
thường.
Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung, do nhà
nước ban hành hoặc thừa nhận và đảm bảo thực hiện, thể hiện ý chí của giai cấp
thống trị trong xã hội nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội theo mục tiêu, định
hướng cụ thể.9
Như vậy từ những thuộc tính của pháp luật, tác giả đưa ra khái niệm pháp luật
về bồi thường thiệt hại đối với khoản lợi trực tiếp đáng lẽ được hưởng trong thương
mại như sau: “pháp luật về bồi thường thiệt hại đối với khoản lợi trực tiếp đáng lẽ
được hưởng trong thương mại” là hệ thống những quy phạm về bồi thường thiệt hại,
trong đó thiệt hại là khoản lợi trực tiếp mà bên bị vi phạm đáng lẽ được hưởng.
Khoản lợi trực tiếp đáng lẽ được hưởng mà bên có quyền lợi bị vi phạm không
thu được do hành vi vi phạm hợp đồng là một trong những khoản được bồi thường.
Khoản lợi này cũng phải là lượng giá trị tài sản có thể tính toán được và có tính thực
tế, không được suy diễn một cách thiếu căn cứ.
Ví dụ: Trong hợp đồng, A thuê B gia công cửa để lắp ráp vào nhà mà B xây để cho
thuê, hạn giao hàng là ngày 1/4/1999. Vì sắp xếp kế hoạch sản xuất không phù hợp,
đến hạn B không có hàng để giao cho A. Sau nhiều lần yêu cầu không có kết quả,
ngày 1/4/1999 A đã kiện B trước Tòa, yêu cầu bồi thường thiệt hại gồm:
-


-

Tổng giá trị khoản chênh lệch giá giữa giá gia công theo hợp đồng giữa A và
B với giá gia công theo hợp đồng mà A đã phải ký với C để có được số cửa
nói trên.
Khoản tiền cho thuê nhà mà A đã không thu được do không có cửa để ráp
vào đúng như thời gian dự định.

Trong trường hợp này, khoản tiền cho thuê nhà dự tính thu được là khoản lợi
đã bị bỏ lỡ do hậu quả của việc B không giao hàng. Tất nhiên bên đòi bồi thường
9

/>
14


phải chứng minh khoản lợi đó đáp ứng các yêu cầu của một tổn thất được bồi
thường10.
Việc đặt ra quy định bồi thường thiệt hại đối với khoản lợi trực tiếp đáng lẽ
được hưởng trong thương mại là một điểm mới, tiến bộ của pháp luật trong việc
nhìn nhận các vấn đề từ thực tế. Từ đó đảm bảo quyền lợi bình đẳng cho tất cả các
bên trong hợp đồng thương mại, không bên nào được lợi hơn và tôn trọng sự thỏa
thuận, đàm phán giữa các bên nhưng những thỏa thuận đó không được trái với quy
định của pháp luật .
1.3 Nội dung điều chỉnh của pháp luật về bồi thƣờng thiệt hại đối với khoản
lợi trực tiếp đáng lẽ đƣợc hƣởng trong thƣơng mại
1.3.1 Nguồn luật điều chỉnh bồi thường thiệt hại đối với khoản lợi trực tiếp đáng
lẽ được hưởng trong thương mại
Bên cạnh việc tìm hiểu những văn bản pháp luật trong nước về vấn đề bồi
thường thiệt hại đối với khoản lợi trực tiếp mà bên bị vi phạm đáng lẽ được hưởng

thì việc tìm hiểu những quy định trong các văn bản pháp luật quốc tế là vô cùng cần
thiết để làm rõ những điểm tương đồng và sự khác biệt từ đó xem xét và sửa đổi
những quy định chưa phù hợp, bổ sung những quy định còn thiếu, góp phần tạo
điều kiện thuận lợi cho các bên trong giao kết hợp đồng thương mại bảo vệ được tối
đa quyền lợi của mình.
Luật thương mại Việt Nam 1997, 2005, Công ước Vienna 1980, Bộ nguyên
tắc UNIDROIT là những văn bản pháp luật trong nước và quốc tế có điều chỉnh về
bồi thường thiệt hại đối với khoản lợi trực tiếp đáng lẽ được hưởng trong thương
mại.
+ Điều ước quốc tế Việt Nam là thành viên
Ngày 18/12/2015 vừa qua, Việt Nam đã chính thức phê duyệt việc gia nhập
Công ước Viên về Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế của Liên hợp quốc
(“CISG”) để trở thành viên thứ 84 của Công ước này. Công ước Viên về Hợp đồng
Mua bán Hàng hoá Quốc tế của Liên hợp quốc được thông qua năm 1980, là một
mô hình hữu ích cho các nước đang nổi lên đang xem xét việc ban hành luật hợp
đồng và mua bán hiện đại. Công ước này áp dụng đối với các hợp đồng mua bán
10

Bùi Ngọc Hồng (1999), Chế tài trong thương mại theo Luật thương mại, luận văn cử nhân luật, Đại học
Luật TP.HCM, tr.40

15


giữa người mua và người bán có trụ sở thương mại tại các nước là thành viên của
Công ước, song Công ước có sự nhất quán trong việc nhấn mạnh yếu tố tự do của
hợp đồng, theo đó các bên có quyền quy định các điều khoản cụ thể theo thỏa
thuận.Việc gia nhập CISG đã đánh dấu một mốc mới trong quá trình tham gia vào
các điều ước quốc tế đa phương về thương mại, tăng cường mức độ hội nhập của
Việt Nam, góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam về mua bán hàng hóa

quốc tế và cho các doanh nghiệp Việt Nam một khung pháp lý hiện đại, công bằng
và an toàn để thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế. Đây là công ước có
điều chỉnh về bồi thường thiệt hại đối với khoản lợi trực tiếp đáng lẽ được hưởng
đối với các hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế mà Việt Nam là một trong những
thành viên đã tham gia công ước này.
Việc gia nhập CISG sẽ đem lại nhiều lợi ích cho cả Nhà nước và giới doanh
nghiệp Việt Nam. Về phía Nhà nước, gia nhập CISG sẽ giúp thống nhất pháp luật
về mua bán hàng hóa quốc tế của Việt Nam với nhiều quốc gia trên thế giới và giúp
hoàn thiện pháp luật về mua bán hàng hóa quốc tế nói chung và pháp luật về mua
bán hàng hóa quốc tế của Việt Nam nói riêng. Đối với doanh nghiệp Việt Nam, gia
nhập CISG, các doanh nghiệp Việt Nam có thể tiết kiệm được chi phí và tránh được
các tranh chấp trong việc lựa chọn luật áp dụng cho hợp đồng. Thêm nữa họ sẽ có
được một khung pháp lý hiện đại, công bằng và an toàn để thực hiện hợp đồng mua
bán hàng hóa quốc tế và có căn cứ hợp lý để giải quyết tranh chấp nếu phát sinh11 .
Các điều khoản về trách nhiệm BTTH được ghi nhận từ Điều 74 đến Điều 77 CISG,
thuộc Mục II, Chương V về những quy định chung về nghĩa vụ của bên bán và bên
mua. Do đó, những quy định này đều có thể được sử dụng để tính toán trách nhiệm
BTTH của cả bên bán và bên mua.
Các điều khoản về BTTH là những điều khoản quan trọng trong các quy định
về luật hợp đồng. Về cơ bản, hợp đồng sinh ra là để được thực hiện nhằm giúp các
bên đạt được mục đích mà họ nhắm tới khi tiến hành giao kết. Tuy nhiên, khi xuất
hiện hành vi vi phạm và có thiệt hại xảy ra, điều mà các bên quan tâm nhiều nhất là
làm thế nào để bảo vệ tối đa được quyền lợi của mình. Chế tài thường được các bên
viện dẫn đến trong trường hợp này là BTTH, bởi lẽ đây là biện pháp khá hiệu quả,
không những giúp bên bị thiệt hại khắc phục được hậu quả do bên vi phạm gây ra
mà còn bồi thường cả những khoản lợi ích mà họ trông đợi từ hợp đồng. CISG được
đánh giá cao nhờ vào cấu trúc các điều khoản của các chế tài khắc phục thiệt hại,
trong đó bao gồm BTTH, thể hiện tư duy pháp lý tiến bộ, hài hòa hóa các quy định
11


Phan Thị Thanh Thủy / Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Luật học, Tập 30, Số3 (2014) 50-60

16


của cả hệ thống dân luật và thông luật, đồng thời cũng đưa ra được những khái niệm
“trung tính, đơn giản”, phản ánh được mối quan tâm chung của các quốc gia thành
viên.
Bồi thường thiệt hại được quy định từ Điều 74 đến Điều 77 CISG, trong đó
điều 74 được xem là quy định mấu chốt, xác lập những nguyên tắc chung khi áp
dụng BTTH. Điều 75,76 CISG bổ sung cách tính thiệt hại trong trường hợp hợp
đồng bị hủy và Điều 77 CISG quy định về nghĩa vụ hạn chế tổn thất.
+ Văn bản pháp luật trong nước
Trước đây PLHĐKT 1989, sau đó là LTM 1997 là những văn bản pháp luật
trong nước điều chỉnh các vấn đề trong hoạt động thương mại. Khắc phục được
nhược điểm của các văn bản pháp luật cũ hiện nay LTM 2005 ra đời đã thay thế
những văn bản pháp luật trên điều chỉnh những vấn đề trong hoạt động thương mại,
trong đó có quy định về bồi thường thiệt hại đối với khoản lợi trực tiếp đáng lẽ được
hưởng.
Cụ thể tại Điều 302 LTM 2005 đã đề cập đến bồi thường thiệt hại như sau:
Khoản 1 Điều 302 LTM 2005 đưa ra định nghĩa thế nào là bồi thường thiệt hại thì
tại khoản 2 Điều 302 LTM 2005 lại đưa ra những yếu tố như thế nào để xác định
giá trị phải bồi thường và khoản lợi nào thì sẽ được bồi thường, cụ thể quy định như
sau : “Giá trị bồi thường thiệt hại bao gồm giá trị tổn thất thực tế, trực tiếp mà bên
bị vi phạm phải chịu do bên vi phạm gây ra và khoản lợi trực tiếp mà bên bị vi
phạm đáng lẽ được hưởng nếu không có hành vi vi phạm”. Phân tích điều khoản
này, ta có thể thấy:
- Thứ nhất, phạm vi thiệt hại bao gồm giá trị tổn thất thực tế, trực tiếp mà bên bị vi
phạm phải chịu do bên vi phạm gây ra và khoản lợi trực tiếp mà bên bị vi phạm
đáng lẽ được hưởng nếu không có hành vi vi phạm.

- Thứ hai, phạm vi thiệt hại được mở rộng hơn so với PLHĐKT 1989 và LTM
1997. Bởi lẽ cụm từ “thiệt hại thực tế” có thể hiểu là thiệt hại về vật chất và thiệt
hại về tinh thần, phù hợp với quy định của BLDS 2015, Bộ nguyên tắc UNIDROIT.
Cụm từ này có nội hàm rộng hơn cụm từ “thiệt hại vật chất” được quy định tại
khoản 2 Điều 230 LTM 1997. Bên cạnh đó, cụm từ “khoản lợi trực tiếp mà bên bị
vi phạm đáng lẽ được hưởng” quy định tại khoản 2 Điều 302 LTM 2005 cũng dễ
hiểu và dễ áp dụng hơn cụm từ “ khoản lợi đáng lẽ được hưởng” theo quy định tại
khoản 2 Điều 299 LTM 1997.

17


1.3.2 Nội dung điều chỉnh của pháp luật về bồi thường thiệt hại đối với khoản lợi
trực tiếp đáng lẽ được hưởng trong thương mại
Bồi thường thiệt hại nhằm bù đắp những tổn thất do hành vi vi phạm hợp đồng
của một bên đã gây ra cho bên bị vi phạm. Bồi thường thiệt hại còn có tác dụng như
là một thông điệp mang tính răn đe tất cả những chủ thể khác khiến họ phải kiềm
chế, tự giữ mình không vi phạm pháp luật nói chung và vi phạm trong hợp đồng
thương mại nói riêng .
Pháp luật về bồi thường thiệt hại nói chung là một biện pháp giáo dục các tổ
chức cũng như các cá nhân có ý thức tôn trọng, thực hiện nghiêm minh pháp luật và
các quy tắc của cộng đồng . Đặc biệt về bồi thường thiệt hại đối với khoản lợi trực
tiếp đáng lẽ được hưởng trong thương mại là vấn đề cần được quan tâm và tìm hiểu
kỹ để trên thực tiễn các bên tham gia giao kết hợp đồng nếu có xảy ra tranh chấp về
bồi thường thiệt hại có liên quan đến khoản lợi trực tiếp đáng lẽ được hưởng này thì
sẽ nắm rõ và bên bị thiệt hại sẽ đưa ra được những yêu cầu bồi thường hợp lý .
Pháp luật đặt ra bồi thường thiệt hại đối với khoản lợi trực tiếp đáng lẽ được
hưởng trong thương mại là vô cùng hợp lý bởi khoản lợi trực tiếp là một khoản lợi
nhuận mà bên bị vi phạm không được hưởng do hành vi vi phạm hợp đồng của bên
vi phạm nên đây được xem là một thiệt hại, do đó bên nào gây ra thiệt hại thì phải

bồi thường.
Mặc dù thiệt hại là khoản lợi trực tiếp đáng lẽ được hưởng nhưng bồi thường
đối với khoản lợi này cũng phải dựa trên pháp luật về bồi thường trong thương mại
nói chung, do vậy để có thể yêu cầu bồi thường thì phải đủ các căn cứ sau đây:
+ Có hành vi vi phạm hợp đồng
+ Có thiệt hại là khoản lợi trực tiếp đáng lẽ được hưởng
+ Hành vi vi phạm là nguyên nhân trực tiếp gây ra thiệt hại
-

Hành vi vi phạm hợp đồng

Hành vi vi phạm hợp đồng là yếu tố đầu tiên không thể thiếu để làm phát sinh
trách nhiệm bồi thường thiệt hại của bên vi phạm. Vì vậy nếu muốn bên vi phạm

18


×